Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam và một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Một số khái niệm liên quan

2.1.1. Khái niệm du lịch

Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ của nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được La tinh hóa thành “ tornus” và sau đó thành “ tourisme” ( Tiếng Pháp) và “ tourism” ( Tiếng Anh)… Trong Tiếng Việt thuật ngữ “ tourism” được dịch thông qua tiếng Hán “ du” có nghĩa là đi chơi, “ lịch” có nghĩa là từng trải.

Khái niệm du lịch của tổ chức du lịch thế giới (WTO – 1990): “Du lịch một tập hợp các hoạt động và các dịch vụ đa dạng liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ nghơi, văn hóa, dưỡng sức…và nhìn chung những lý luận đó không phải đi kiếm sống”.

Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “ Du lịch là các hoạt động có liên quan tới chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”

Như vậy có khá nhiều khái niệm về du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa những nội dung tiêu biểu như sau:

  • Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.
  • Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
  • Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú, đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
  • Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của các cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2.Tài nguyên du lịch

2.1.2.1.Khái niệm tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên có đặc điểm giống những loại tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành du lịch.

Khoản 4 (điều 4, chương 1) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định:

“ Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.

2.1.2.2.Phân loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

a.Tài nguyên du lịch tự nhiên Bao gồm các yếu tố như địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên được khai thác hoặc được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Gồm các đặc điểm sau:

  • Phần lớn các loại tài nguyên du lịch tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm.
  • Hầu hết việc khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện thời tiết.
  • Một số điểm phong cảnh và du lịch dựa vào tài nguyên du lịch tự nhiên thường nằm xa các khu đông dân cư.

Tóm lại: Tài nguyên du lịch tự nhiên có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển các hoạt động du lịch. Vì vậy, trong khai thác cần có sự quy hoạch thận trọng và hạn chế tới mức thấp nhất các tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên du lịch quý giá này. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình và có giá trị phục vụ cho du lịch. Gồm đặc điểm sau:

  • Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính phổ biến
  • Tài nguyên du lịch mang tính tập trung dễ tiếp cận
  • Tài nguyên du lịch nhân văn có tính truyền đạt nhận thức nhiều hơn là hưởng thụ giải trí.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn thường ít chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thời gian, thiên nhiên và do chính con người. Vì vậy dễ bị suy thoái, huỷ hoại và không có khả năng tự phục hồi ngay cả khi không có tác động của con người.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những giá trị đặc sắc riêng, góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo có sức cạnh tranh và hấp dẫn du khách riêng.

Các nhà nghiên cứu phân tài nguyên du lịch nhân văn thành hai loại chính là tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể:

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hoá, khoa học bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Gồm:

  • Di sản văn hoá thế giới vật thể.
  • Các di tích lịch sử văn hoá, danh thắng cấp quốc gia và địa phương.
  • Các cổ vật và bảo vật quốc gia.
  • Các công trình đương đại.

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền miệng truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu truyền. Gồm các dạng tài nguyên dưới đây:

  • Di sản văn hoá thế giới truyền miệng và phi vật thể.
  • Các lễ hội truyền thống.
  • Nghề và làng nghề thủ công cổ truyền.
  • Văn hoá nghệ thuật.
  • Văn hoá ẩm thực.
  • Văn hoá ứng xử, phong tục. tập quán, tôn giáo tín ngưỡng…
  • Thơ ca và văn học.
  • Văn hoá các tộc người.
  • Các phát minh, sáng kiến khoa học.
  • Các hoạt động văn hoá thể thao, kinh tế – xã hội có tính sự kiện.

2.1.3. Các loại hình du lịch

Phân loại theo môi trường tài nguyên Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

  • Du lịch văn hóa: bao gồm các di tích lịch sử, lễ hội, phong tục tập quán, tôn giáo – tín ngưỡng…..
  • Du lịch thiên nhiên: du lịch biển, du lịch núi, du lịch thôn quê, du lịch sinh thái…..

Phân loại theo mục đích chuyến đi

  • Du lịch thăm quan
  • Du lịch khám phá
  • Du lịch thể thao
  • Du lịch chữa bệnh
  • Du lịch giải trí
  • Du lịch nghỉ dưỡng
  • Du lịch lễ hội
  • Du lịch thăm thân
  • Du lịch hội nghị, hội thảo
  • Du lịch tôn giáo…

Phân loại theo phạm vi lãnh thổ

  • Du lịch quốc tế
  • Du lịch nội địa

Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch

  • Du lịch biển
  • Du lịch núi
  • Du lịch thôn quê
  • Du lịch thành thị

Phân loại theo phương tiện giao thông

Gồm có du lịch bằng ô tô, xe máy, xe đạp, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay…

Phân loại theo loại hình lưu trú Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Có một số loại hình lưu trú như sau: khách sạn, motel, bungalow, làng du lịch, camping, nhà trọ thanh niên…

Phân loại theo độ dài chuyến đi

  • Du lịch dài ngày
  • Du lịch ngắn ngày

Phân loại theo hình thức tổ chức chuyến đi

  • Du lịch có tổ chức theo đoàn
  • Du lịch cá nhân
  • Du lịch gia đình

Phân loại theo lứa tuổi du khách

  • Du lịch thanh thiếu niên
  • Du lịch trung niên
  • Du lịch cao niên

Phân loại theo phương thức hợp đồng

  • Du lịch trọn gói
  • Du lịch từng phần

Từ hai khái niệm về tài nguyên du lịch và các loại hình du lịch ta có thể khẳng định được các nhà thờ Công giáo được xếp vào loại tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và nó tương ứng với loại hình du lịch tôn giáo tín ngưỡng.

2.1.4. Khái niệm văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Mặc dù ra đời sớm trong ngôn ngữ Phương Tây cũng như Phương Đông nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ “ văn hóa” mới được đưa vào khoa học, sử dụng như một thuật ngữ khoa học. Từ đó đến nay khái niệm văn hóa được nhiều người đề cập.

Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa khác nhau nhưng ta có thể dẫn ra các khái niệm cơ bản sau:

Khái niệm văn hóa của Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.

Năm 2002, tổ chức UNESCO đã đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm tới văn hóa, Người đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ta ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó được gọi là văn hóa”.

2.2. Quá trình ra đời và phát triển của nhà thờ Công giáo Việt Nam

Sự ra đời và phát triển của nhà thờ Công giáo Việt Nam gắn rất chặt với lịch sử phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam. Quá trình ra đời và phát triển nhà thờ Công giáo Việt Nam trải qua 5 thời kì sau:

2.2.1. Thời kì sơ khai đến năm 1659

Giáo sử Công giáo Việt Nam ghi nhận giáo sĩ đầu tiên đến Việt nam truyền đạo ở làng Ninh Cường, Quần Anh và làng Trà Lũ (Nam Định) tên là I – NÊ – KHU. Thời điểm mà giáo sĩ đến truyền giáo là vào năm 1533 đời vua Lê Trang Tông.

Dòng Đa Minh là dòng truyền giáo đầu tiên ở Đàng Trong và Chân Lạp (Nam Bộ) trong khoảng thời gian 1550 – 1631. Tiếp theo là hoạt động của Dòng Tên ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài từ năm 1615 tới 1644.

Cuối năm 1615, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635) cho phép Buzomi xây hai thánh đường: một ở Hải Phố và một ở Quảng Nam. Có thể xem đây là những thánh đường được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam.

Năm 1659, dựa vào sự chia cắt của Trịnh – Nguyễn, Giáo hội La Mã thiết lập hai địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài. Địa phận  thời kì này mang tính chất sơ khai, chưa có trụ sở cụ thể và cố định. Đó là loại địa phận hiệu tòa, các phẩm trật chưa được thiết lập đủ. Đây cũng là thời kì chưa có sự phân định xứ, họ đạo và cũng chưa có cơ sở thờ tự của xứ đạo.

Trong cuốn “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam” của Linh mục nguyễn Hồng và cuốn “Lịch sử giáo hội Công giáo” của Linh mục Bùi Đức Sinh, cả hai đều liệt kê về số lượng của các nhà thờ, nhà nguyện ở miền Bắc thời kì 1650 – 1656: Ở kinh đô có 4 nhà thờ, 12 nhà thờ ở vùng ngoại ô. Ở vùng Nghệ An có 120 nhà thờ, Kẻ Nam 114, vùng Thanh Hóa là 74, Kẻ Đông là 50, Kẻ Bắc là 25, Kẻ Tây là 15. Những cơ sở tôn giáo trên hết sức nhỏ bé. Nó vừa là nơi để các giáo sĩ truyền giáo và là nơi cử hành những bí tích. Dân gian gọi các cơ sở trên là “nhà giáo”. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

2.2.2. Thời kì từ năm 1659 đến năm 1862

Giữa thế kỉ XVII công cuộc truyền giáo ở Việt Nam nổi lên vai trò của Hội thừa sai Paris thành lập năm 1658. Ngoài ra còn có dòng Tên, dòng Phanxico và dòng Đa Minh trở lại Việt Nam từ 1676, tại địa phận Đông Đàng Ngoài.

Đây là thời kì đạo Kito bị cấm rất gắt gao bắt đầu từ thời vua Minh Mạng đến đời vua Thiệu Trị và đến đầu đời Tự Đức. Song đạo Công giáo ở Việt Nam vẫn rất phát triển. Nhà thờ Công giáo trong giai đoạn này đã được xây dựng nhưng mới chỉ là các nhà thờ xứ đạo, họ đạo.

Quy cách xây dựng cũng như kiểu dáng nhà thờ như thế nào, nguồn tư liệu còn lại rất ít vì nhiều nguyên nhân như: thời tiết tàn phá, vật liệu không bền vững, đặc biệt phải chịu chính sách cấm đạo của Nhà nước Phong kiến Việt Nam. Về vật liệu đại đa số các nhà thờ đều được làm bằng gỗ, hoặc tranh tre, nứa lá. Nhà thờ được kết cấu như thế nào để mỗi khi có lệnh cấm đạo các tín đồ có thể dỡ ra một cách dễ dàng để cất giấu. Hầu hết các nhà thờ thời kì này đều giống như nhà dân, nhưng cửa được mở ra hai bên cho tín đồ đến dự lễ khi trong nhà thờ chật người.

Theo “Kỷ yếu Năm Thánh giáo phận Vinh” có viết: “Ngày chủ nhật có những người đi bộ 4 hay 5 tiếng đồng hồ để dự lễ Noel, Phục sinh, hiện xuống. người ta kéo nhau đi mấy ngày đường để xưng tội rồi ở lại rước lễ”. Để đáp ứng được yêu cầu trên, một số xứ đạo ngoài việc xây dựng nhà thờ xứ còn xây dựng nhà dãy ở hai bên. Gọi là nhà dãy vì chúng được làm dài, thông gian song song với nhà xứ.

Giáo sử Công giáo cho biết vào cuối thế kỉ XVIII việc xây dựng nhà thờ xứ được tiến hành đúng quy cách, có làm phép nhà thờ.

2.2.3. Thời kì từ năm 1862 đến năm 1954

Thời kì này được mở đầu bằng Hòa ước năm Nhâm Tuất (1862) của nhà Nguyễn, trong đó có nội dung nhà Nguyễn bỏ lệnh cấm đạo. Đáng chú ý nhất là năm 1869, vua Tự Đức ra hai sắc dụ, mà một tron hai sắc dụ đó cho phép người Công giáo tụ họp thành những làng riêng biệt, được có lí trưởng người Công giáo. Tuy nhiên, từ năm 1862 đến năm 1885 các văn thân sĩ phu dấy lên phong trào “Bình Tây sát tả” nghĩa là đánh Tây (Pháp) tàn sát tả đạo (đạo Công giáo). Họ đã tràn vào các làng Công giáo, xứ họ đạo tàn phá các cơ sở tôn giáo. Vì vậy mà hàng loạt các nhà thờ Công giáo tiếp tục bị phá hủy.

Sau 1885, khi thực dân Pháp đặt xong ách thống trị trên đất nước ta, đạo Công giáo mới có điều kiện để phát triển.

Về phương diện tổ chức, các địa phận đều có đủ cơ cấu gồm hạt, giáo xứ, giáo họ.

Thời kì này hàng loạt các cơ sở tôn giáo được xây dựng nhiều với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Kiến trúc nhà thờ Công giáo trong giai đoạn này khá đa dạng. Có nhiều nhà thờ được kiến trúc theo mô hình của Tây phương, nhưng cũng có nhiều nhà thờ được iến trúc mang phong cách Á Đông mà người dân theo đạo Công giáo gọi là nhà thờ Nam. Từ đó tạo nên phong cách nhà thờ Nam, như chồng mái, 6 hàng cột, lối ra vào mở ra hai bên. Trong các nhà thờ Nam này, vách cung thánh cũng được kiến tạo mang tính cách đặc thù, như vách được làm bằng gỗ với những đường nét trang trí hoa văn cách điệu, tất cả đều được sơn son thếp vàng. Trên cung thánh còn có những tòa được trạm trổ bằng gỗ, bên trong đặt tượng Chúa hoặc Đức Mẹ hay Thánh giá.

Thời kì này ở các xứ đạo bên cạnh nhà thờ và nhà xứ dần xuất hiện trường dạy trẻ, nhà thương, nhà tiểu nhi.

2.2.4. Thời kì từ năm 1954 – 1975 Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Đây là thời kì nước ta chia làm hai miền. Giáo hội Công giáo ở miền Bắc tương đối ổn định. Các địa phận, hạt đạo, xứ đạo, họ đạo không phát triển thêm. Thời kì này một số cơ sở tôn giáo như nhà thờ xứ đạo, họ đạo bị xóa sổ. Đó là những nhà thờ bị máy bay Mỹ bắn phá trong hai cuộc chiến tranh phá hoại. những nhà thờ bị đổ nát do thiên tai.

Đối với giáo hội Công giáo miền Nam thì đây là thời kì phát triển mạnh về tín đồ, kéo theo đó là việc gia tăng các xứ đạo, họ đạo, lập thêm nhiều địa phận và hạt đạo mới.

Các giáo xứ ra đời kèm theo đó là các nhà thờ xứ. Những năm đầu di cư các nhà thờ thường làm bằng những vật liệu tạm thời, dần chúng mới được làm kiên cố.

Kiến trúc nhà thờ thời kì này khá đa dạng. Hầu hết được làm bằng vật liệu xi măng cốt thép. Kiến trúc theo kiểu hiện đại, không theo mẫu gothique hoặc phong cách Á Đông như những nhà thờ cổ ở các xứ đạo miền Bắc. Nhiều nhà thờ xứ đạo do xây dựng ở thành phố, không gian chật hẹp nên xây thành hai tầng. Cấu trúc nhà thờ cũng không theo một khuôn mẫu thống nhất.

Những nhà thờ xây dựng ở thời kì này không có đường kiệu, nhà dãy, nhà hội quán, nhà kèn. Thường thì bên cạnh nhà thờ có nhà cha sở, phòng khách, có thêm phòng học giáo lí hoặc văn hóa.

Từ năm 1971 khi tiến hành xây dựng, củng cố Giáo hội cơ sở, mỗi xứ đạo lập ra những khu đạo, phân khu đạo thì các khu đạo hoặc có nhà nguyện hoặc có đài tưởng niệm. Những cơ sở tôn giáo mới vì vậy mà được ra đời.

2.2.5. Thời kì từ năm 1975 đến nay

Năm 1975 nước ta thống nhất, Giáo hội Công giáo Việt Nam từ đó quy về một mối. Thời kì này Giáo hội Công giáo Việt Nam dần đi vào thế ổn định. Năm 1980, Hội đồng Giám mục Việt Nam họp, ra thư chung, chủ trương “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”.

Đối với giáo hội Công giáo, đây là thời kì nhiều cơ sở tôn giáo được xây dựng, sửa chữa. Các xứ đạo họ đạo thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhiều nơi phá bỏ nhà thờ xứ đạo, họ đạo cũ xây dựng nhà thờ mới với kinh phí từ vài trăm triệu đến vài tỉ đồng. Có thể nói đây là thời kì phục hưng của cơ sở tôn giáo Côn giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ. Còn ở miền Nam việc xây dựng sửa chữa không tiến hành ồ ạt như ở miền Bắc. Hàng năm ở đây số lượng các nhà thờ được xây dựng thêm rất khiêm tốn.

Về đặc trưng kiến trúc của nhà thờ Công giáo giai đoạn này có thể nói là lai tạp. Chúng được thiết kế không theo kiểu Tây phương cũng không theo kiểu dân tộc. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Việc xây dựng theo lối cấy, cơi nới, chắp vá không theo một quy hoạch tổng thể đã làm cho không ít cơ sở Công giáo xứ đạo (bao gồm nhà thờ, nhà xứ, trường học, phòng thuốc…) trở nên xô bồ, thiếu một không gian tôn giáo như vẫn thấy ở các xứ đạo cổ.

Tuy kiến trúc mang nhiều sắc vẻ, song các cơ sở tôn giáo đều theo một quy định chung của giáo luật khi tiến hành xây dựng cơ sở thờ tự.

Nhà thờ Công giáo của Giáo hội Công giáo Việt Nam rất đa dạng về kiểu dáng kiến trúc. Nó được xây dựng phụ thuộc vào các dòng truyền giáo, vào cá nhân mỗi giám mục, linh mục, vào không gian thời gian xây dựng. Gạt bỏ một số kiểu kiến trúc cơi nới, thiết kế thiếu quy hoạch đồng bộ, thì sự hiện diện của nhà thờ Công giáo Việt Nam đã đóng góp vào kho tàng văn hóa vật chất Việt Nam những thành tựu đáng trân trọng.

2.3. Vai trò chức năng của nhà thờ Công giáo

Chức năng của nhà thờ Công giáo chính là nơi diễn ra các nghi lễ Roma. “Nghi lễ Roma là thể thức cử hành thánh lễ, thi hành các bí tích và á bí tích, đọc kinh thần vụ và làm các việc khác của Giáo hội Công giáo, như đã được phép làm ở thành phố và giáo phận Roma”.

Khác với các tôn giáo và tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, lịch lễ của đạo Công giáo tính theo dương lịch. Các ngày lễ Công giáo trải đều trong năm, không theo lễ xuân hay lễ thu. Hàng tuần vào ngày chủ nhật, giáo dân “nghỉ phần xác” đến nhà thờ xứ tham dự thánh lễ, chuyên lo phần việc linh hồn.

Trước cách mạng tháng Tám 1945, một năm đạo Công giáo ở Việt Nam có 4 ngày lễ trọng liên quan đến cuộc đời chúa Giesu được nhân dân gọi là tứ quý:

  1. Lễ sinh nhật chúa Giesu (25/12).
  2. Lễ Phục sinh kỷ niệm chúa sống lại. Vào một ngày của tháng tư.
  3. Lễ Chúa Giesu lên trời. Sau lễ Phục sinh 40 ngày.
  4. Lễ Chúa thánh thần hiện xuống. Sau lễ Chúa Giesu lên trời 10 ngày.

Hiện tại Công giáo có 6 ngày lễ trọng, buộc tín đồ phải nghỉ để tham dự. Đó là:

  1. Lễ sinh nhật chúa Giesu (25/12).
  2. Lễ Phục sinh kỷ niệm chúa sống lại. Vào một ngày của tháng tư
  3. Lễ Chúa Giesu lên trời. Sau lễ Phục sinh 40 ngày
  4. Lễ Chúa thánh thần hiện xuống. Sau lễ Chúa Giesu lên trời 10 ngày.
  5. Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời (15/8)
  6. Lễ các thánh (1/11) Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Ngoài ra còn có một số ngày lễ không phải là lễ trọng nhưng cũng được đông đảo mọi người tham dự:

  1. Lễ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội (8/12)
  2. Lễ Tro: lễ được cử hành thứ tư nào là tùy thuộc lễ Phục sinh được mừng vào ngày nào.
  3. “Tuần thánh” bắt đầu từ chủ nhật lễ Lá đến chủ nhật Phục sinh, kỷ niệm chúa Giesu chịu nạn chịu chết rồi sống lại.
  4. Lễ Thánh tông đồ Phero và Phaolo (29/6).
  5. Lễ Cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục (2/11).

Một trong những nghi lễ Roma là việc thi hành các bí tích. “theo quan niệm của Công giáo, bí tích là do chúa Giesu lập, là dấu hiệu khả giác để thống ban cho linh hồn ân sủng vô hình và sự thánh hóa nội tâm”. Có 7 bí tích: Rửa tội, Thêm sức, Mình thánh Chúa, Giải tội, Xức dầu Thánh, Truyền chức Thánh, Hôn phối. Các bí tích này đều được thực hiện một cách giống nhau ở tất cả các nhà thờ.

Bí tích rửa tội (hay còn gọi là bí tích Thánh tẩy): Bí tích này được thực hiện là nhằm tẩy sạch mọi tội lỗi của con người để người đó trở thành tín đồ của đạo Kito, được gia nhập Hội thánh và được tái sinh vào ngày phán xét. Bí tích này được thực hiện đối với trẻ sơ sinh của những gia đình có đạo. Còn đối với người lớn thì phải trải qua một thời kỳ chuẩn bị về tâm lý trước khi được nhận bí tích này. Nghi lễ rửa tội rất đơn giản: dùng nước lã vẩy lên đầu người chịu phép rửa tội và đọc lời kinh nguyện theo quy định của giáo hội. Bí tích này thường do các linh mục thực hiện.

Bí tích thêm sức: Bí tích này giúp cho tín đồ được ơn Chúa Thánh thần mà liên kết chặt chẽ với giáo hội, vững lòng tin để đi sâu vào đời sống tín ngưỡng. Trước đây sau khi Chúa về trời, các Thánh tông đồ bơ vơ, chúa Thánh thần hiện xuống an ủi và ban sức mạnh cho họ. Bí tích thêm sức chỉ thực hiện đối với những người đã chịu phép rửa tội. Nghi lễ này được tiến hành bằng việc bôi dầu thảo mộc đã làm phép lên trán của người chịu bí tích này và đọc lời kinh nguyện như quy định của giáo hội. Bí tích này thường được các giám mục thực hiện, các linh mục chỉ được thực hiện khi có sự ủy quyền của giám mục.

Bí tích giải tội: Bí tích này được thực hiện nhằm tha thứ cho tội lỗi mà bản thân con người mắc phải. Người được giải tội phải tự xét về hành vi của mình trên cơ sở đối chiếu với lời răn dạy, khuyên bảo của Thiên chúa và giáo hội rồi xưng những tội đã mắc với linh mục một cách trung thành. Linh mục với tư cách thay mặt Thiên chúa ngồi trong tòa giải tội, luận xét tha tội hoặc định ra những hình thức sửa chữa đền tội bằng những việc làm nhân đức. Luật giáo hội quy định các tín đồ mỗi năm phải xưng tội ít nhất một lần. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Bí tích Mình Thánh Chúa (hay bí tích Thánh thể): Là sự tái diễn việc Chúa Giesu đã hiến dâng thân thể cho sự nghiệp Cứu Chuộc. Theo quan niệm của Kito giáo công cuộc Cứu Chuộc của Thiên Chúa sẽ được tiếp tục trong mầu nhiệm của bí tích Thánh thể. Bí tích được coi là đỉnh cao là nguồn mạch trong đời sống tín ngưỡng của những tín đồ. Nghi lễ này được của hành trọng thể tại các nhà thờ, gọi là thánh lễ Misa. Vị chủ tế đọc lời truyền phép Mình Thánh theo quy định của giáo hội để bánh (làm bằng bột mỳ) và rượu (làm bằng nho) trở thành Thịt Chúa và Máu Chúa. Tín đồ sau khi đã xưng tội và rửa tội thì sẽ nhận được một phần chiếc bánh nhỏ đã làm phép để Thiên chúa ngự trị trong lòng họ. theo quy định của Giáo hội người thực hiện bí tích này là giám mục hoặc linh mục và những người sau khi chịu Mình thánh lần đầu đều phải chịu Mình Thánh mỗi năm ít nhất một lần.

Bí tích xức dầu Thánh: Bí tích này được thực hiện đối với những bệnh nhân trong cơn nguy ngập để xin được Thiên chúa nâng đỡ và cứu vớt. Dầu thảo mộc được giám mục làm phép chuyển thành dầu Thánh, sau đó các linh mục là người thực hiện bí tích này bằng việc xoa dầu thánh lên trán hoặc thân thể bênh nhân và đọc lời nguyện cầu Thiên chúa theo quy định của Giáo hội.

Bí tích truyền chức Thánh: Bí tích này chỉ được thực hiện đối với các tín đồ có ơn riêng của Thiên chúa như giám mục, linh mục, phó tế, họ được coi là các thừa tác viên thay mặt Thiên chúa để chăn dắt các tín đồ. Giáo luật quy định rất cụ thể về điều kiện và cử hành nghi lễ bí tích truyền chức Thánh.

Bí tích hôn phối: Bí tích này là sự nhìn nhận của Thiên chúa đối với việc chung sống đến trọn đời của đôi trai gai đã chịu phép Rửa tội. Bí tích này nhằm tăng thêm tính duy nhất và bền vững trong hôn nhân và quan hệ gia đình của tín đồ Kito giáo.

2.4. Tổng quan về Hải Phòng

2.4.1. Địa lí và cảnh quan

Hải Phòng là một thành phố cảng chính thức được thành lập từ năm 1888 và cùng với Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng phát triển thành 3 đô thị lớn nhất của Việt Nam. Về ranh giới hành chính: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây giáp tỉnh Hải Dương; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình; phía Đông giáp biển Đông. Hải Phòng ngày nay bao gồm 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 quận (Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh), 8 huyện (An Dương, An Lão, Bạch Long Vĩ, Cát Hải, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo).

Hải Phòng là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và là đô thị loại trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng, Cần Thơ, đây là nơi đăng cai năm du lịch quốc gia 2013. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho Hải Phòng phát triển du lịch trong những năm tới.

Hải Phòng là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, là thành phố cảng, cửa chính ra biển quan trọng của Việt Nam, là đầu mối giao thông quan trọng Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang – một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc. Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc.

  • Địa hình, đất đai Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Địa hình của Hải Phòng thay đổi rất đa dạng. Phía Bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của một vùng trung du với những đồng bằng xen đồi. Phía nam có dạng địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần túy nghiêng ra biển.

Đồi núi chiếm hơn 15% diện tích, phân bố hơn nửa phía bắc thành phố tạo 2 dải chạy liên tục theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Trong đó dải thứ nhất chạy từ An Lão đến Đồ Sơn gồm: Núi Voi, Phù Lãng, Xuân Sơn, Xuân Áng, Núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu và dải thứ hai chạy từ Kỳ Sơn – Tràng Kênh đến An Sơn – Núi Đèo bao gồm: Phù Lưu, Thanh Lãng, Núi Đèo và các núi đá vôi. Cấu tạo địa chất của Hải Phòng gồm những loại đá cát kết, phiến sét, đá vôi.

Hiện nay Hải Phòng có 1503,1 km² diện tích đất tự nhiên chiếm 0,45% diện tích đất tự nhiên của cả nước. Trong đó có 62.127 ha đất canh tác, hình thành phần lớn từ hệ thống sông Thái Bình và vùng đất bồi ven biển nên chủ yếu mang tính chất đất phèn và phèn mặn, địa hình đan xen cao thấp và nhiều đồng trũng. Đất nông nghiệp bình quân tính theo đầu người đạt 360m²/người.

  • Khí hậu

Hải Phòng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt.

Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C.Cả năm là trên 23.9 °C Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 – 1800 mm.

Độ ẩm trong không khí trung bình 85 – 86%.Thấp nhất vào tháng 12, đỉnh điểm vào tháng 2 ( 100% ).

  • Sông ngòi

Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, trung bình từ 0,6 – 0,8 km trên 1 km².Độ dốc khá nhỏ,chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con người nơi đây.

  • Các con sông ở Hải Phòng
  • Sông Đá Bạc – Bạch Đằng dài hơn 32 km
  • Sông Cấm dài trên 30 km
  • Sông Lạch Tray dài 45 km
  • Sông Văn Úc dài 35 km
  • Sông Thái Bình là ranh giới giữa Hải Phòng với Thái Bình.
  • Ngoài ra còn có nhiều con sông khác khá nhỏ nằm ở khu vực nội thành quận Hồng Bàng.

Bờ biển, biển và hải đảo Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng, chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra biển.Chính vì điều này đã làm cho biển Đồ Sơn thường xuyên bị vẩn đục.

Mũi Đồ Sơn nhô ra biển như một bán đảo, tạo cho Đồ Sơn một vị trí chiến lược quan trọng và đây cũng là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng.

Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác như đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ.

Có thể nói bờ biển, biển và hải đảo đã tạo nên cảnh sắc thiên nhiên vô cùng độc đáo, tạo nên tiềm năng và thế mạnh trong kinh tế của Hải Phòng.

2.4.2. Kinh tế – xã hội

  • Dân cư

Địa danh Hải Phòng mới chỉ xuất hiện cách đây 100 năm, tuy nhiên vùng đất này xưa kia đã có nhiều cư dân sinh sống. Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại di chỉ Cái Bèo đã cho thấy dấu vết cư trú của người cổ xưa tồn tại cách đây 6000 – 7000 năm. Hải Phòng còn có nhiều địa điểm mang dấu ấn của nền văn hóa Đông Sơn – một nền văn hóa của thời đại kim khí đồng thau.

Dân số Hải Phòng hiện nay đã hơn 1.726,9 người, chiếm hơn 2,5% dân số cả nước, mật độ dân số của Hải Phòng khá đông, đứng thứ tư trong các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ sau Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình. Dân cư thành thị chiếm 629,7 nghìn người, dân nông thôn chiếm 1097,2 nghìn người.

Về cơ cấu dân cư: Có nhiều tầng lớp dân cư từ nơi khác đến đây sinh sống nhất là người Trung quốc. Người Việt ở đây chủ yếu là từ các tỉnh lân cận đến mang đến cho Hải Phòng các đặc trưng văn hóa khác nhau.

  • Kinh tế

Đặc điểm nổi bật của kinh tế Hải Phòng là kinh tế biển và cảng biển. Nhiều dự án công trình được hoàn thành và đưa vào sử dụng làm tăng vị thế trung tâm của vùng duyên hải Bắc Bộ, bộ mặt đô thị được củng cố và chuyển biến rõ nét như dựa án: Đường ngã 5 – Sân bay Cát Bi; đường Cầu Rào – Đồ Sơn; Trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế hải Phòng… Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 32/NQ – TU về “Xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kì Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước” là một mốc son lịch sử ghi nhận những thành tựu phát triển của thành phố, nâng cao vị thế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho Hải Phòng phát triển bền vững tương xứng với tiềm năng vốn có của mình.

Văn hóa – giáo dục Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

  • Giáo dục – đào tạo tiếp tục phát triển, giữ vững là một trong những địa phương liên tục dẫn đầu cả nước thực hiện tốt nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
  • Các phương tiện thông tin đại chúng như báo, báo điện tử, đài phát thanh… phát triển nhanh cả về nội dung và hình thức, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của thành phố.
  • Công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đã bám sát và phục vụ đắc lực cho các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
  • Y tế: nhằm đưa nghị quyết 32 của Bộ chính trị từng bước trở thành hiện thực, bệnh viện Đa khoa Việt Tiệp thực hiện đề cương dự án nâng cấp trở thành trung tâm y tế chuyên sâu chất lượng cao khu vực Duyên hải Bắc Bộ. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ mới, nhiều kĩ thuật hiện đại được áp dựng trong khám chữa bệnh.

Với vị trí địa lí thuận lợi, cảnh quan phù hợp, dân cư đông đúc, kinh tế xã hội phát triển…..tất cả những điều kiện đó làm cho du lịch của Hải Phòng không ngừng đi lên.

2.4.3.Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch ở Hải Phòng rất phong phú, đa dạng bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

Tài nguyên du lịch ở đây được hình thành bởi tổng hợp các yếu tố địa chất, địa hình, khí hậu,thủy văn và hệ động thực vật đa dạng phong phú phân bố tập trung ở dải ven biển Đồ Sơn và Cát Bà, ngoài ra còn phân bố ở khu vực đá vôi Tràng Kênh- Thủy Nguyên .

Tài nguyên du lịch tự nhiên của Hải Phòng tập trung chủ yếu ở khu vực biển đảo Cát Bà, biển Đồ Sơn. Ngoài ra còn một số địa điểm khác có thể đưa vào khai thác phục vụ du lịch như: khu sinh thái Núi Voi (An Lão), khu vực núi Thiên Văn (Kiến An), suối khoáng nóng Tiên Lãng, khư vực sông Giá- Tràng Kênh (Thủy nguyên)…

Tài nguyên du lịch nhân văn của Hải Phòng khá phong phú tập trung chủ yếu trong nội thành và một số huyện ngoại thành. Khu vực nội thành có: Nhà hát thành phố, chùa Dư Hàng, đình Hàng Kênh, bảo tàng Hải Quân, tượng nữ tướng Lê Chân…. Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Bảo)…… Suối Rồng, Đình Ngọc, tháp Tường Long (Đồ Sơn).

Ngoài các di tích lịch sử thì Hải Phòng còn có lễ hội chọi Trâu- đây là một trong 15 lễ hội Quốc Gia ở nước ta.

2.5. Lịch sử hình thành và phát triển của Công giáo tại Hải Phòng

2.5.1. Lịch sử hình thành và phát triển Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Khi nói tới việc truyền bá đạo Kito ở nước ta người ta thường nhắc đến nhiều tài liệu khác nhau nhưng đa số chỉ là những lưu truyền thiếu chứng cớ xác thực. Chỉ có một sử liệu vắn tắt dưới đây, nhưng đáng tin cậy. Trong bộ “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục” được soạn thảo dưới triều vua Tự Đức từ năm 1856, quyển 33, phần chính biên, tờ 5- 6 khi nói đến chỉ dụ cấm đạo Thiên chúa hay Công giáo, năm 1533 dưới triều vua Lê Huyền Tông đã chú thích như sau: “Gia-tô, dã lục, Lê Trang Tông, Nguyên Hòa nguyên niên, tam nguyệt nhật, dương nhân I- NÊ- KHU tiềm lai Nam Chân chi Ninh Cường, Quần Anh; Giao Thủy chi Trà Lũ âm dĩ Gia-tô tả đạo truyền giáo”. Dịch nghĩa như sau: “Đạo Gia-tô, theo bút kí của tư nhân, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời vua Lê Trang Tông, có người Tây dương tên là I- NÊ- KHU, lén đến truyền đạo Gia-tô ở làng Ninh Cường và Quần Anh huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy” thuộc tỉnh Nam Định giáo phận Bùi Chu hiện nay, lúc đó là một phần của địa phận Đông Đàng Ngoài. Nên ta có thể tự hào địa phận Đông Đàng Ngoài là nơi đón rước Tin Mừng trước hết.

Trong khu vực Địa phận Đông Đàng Ngoài được thành lập (1679) thì gồm 6 tỉnh: Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Giang (Bắc Ninh), An Bang (Quảng Yên), Nam Sách (Hải Dương), và Sơn Bang (Nam Định).

Theo truyền khẩu thì quanh miền Địa phận Đông có xứ Yên Trì (Quảng Yên) xưa kia chỉ là những đảo hoang vu, đất tốt, đời Trần Hưng Đạo đem quân đi đánh giặc Nguyên, sau khi thắng trận một số anh em binh sĩ ở lại cư ngụ và khai phá, đem vợ con và nhiều người ra sống thành làng trại. Đến thế kỉ 15 – 16 các linh mục Dòng Phanxico đến giảng đạo và đưa cả làng theo đạo. Vùng Nam Am, Vĩnh Bảo Hải Phòng ngày nay cũng là vùng đất tân bồi, hoang vu, cách đấy 600 năm theo lưu truyền của các dòng họ Ngô, Khổng, Đặng, Đào, Vũ kéo nhau đến ở lâu ngày thành đông đúc nên chia ra thành nhiều làng và cùng lấy tên là Am, ngày nay có tới 18 làng Am: Nam Am, Tiên Am, Cổ Am, Hội Am, Lạng Am…cùng nhiều tên khác như Xuân Điện, Cựu Điện, Vạn Hoạch, Liêm Khê…Khi có các thừa sai đến giảng đạo thì có rất nhiều làng xin trở lại. Xứ Đông Xuyên (Tiên Lãng- Kiến An xưa ) đã theo đạo và thành lập Giáo xứ 1682. Xứ Kẻ Sặt là một giáo xứ lớn trong tỉnh Hải Dương, tương truyền cũng theo đạo từ rất sớm từ cuối thế kỉ 16 sang đàu thế kỉ 17. Trong miền Nam Định cũng có nhiều nơi đón ánh sáng Tin Mừng đầu tiên như các xứ: Kiên Lao, Trung Ninh, Ninh Cường…

Như vậy có thể nói rằng các tỉnh thuộc Địa phận Đông Đàng Ngoài xưa kia đều được đón nhận Tin Mừng trên dưới 400 năm nay. Nhiều Giáo xứ còn nhớ tên các Linh mục, Thừa sai đến giảng đạo và làm Cha xứ đầu tiên của mình.

Nhiều xứ đạo lâu năm và toàn tòng, được các Đấng tin cậy lập Tòa Giám mục, Tiểu và Đại Chủng Viện, các cơ sở của đạo…. như xứ Nam Am, Đông Xuyên, Liễu Dinh, Mỹ Động, Kẻ Sặt, Tiên Chu, Cao Xá, Kiên Lao, Ninh Cường…

Năm 1923, Tòa Thánh muốn quan sát tình hình học vấn của các chủng viện cả Đông Dương, nên cử Đức Khâm Mạng Henri Lecroat, dòng Tên và hiện đang làm Giám mục Địa phận Thiên Tân (Trung Hoa) sang thăm các địa phận Việt Nam. Trong buổi đại hội tại trường Thánh Tô-ma, Khoái Đồng, Nam Định, Đức Khâm Mạng ra chỉ thị sửa đổi nhằm nâng cao chương trình học vấn các chủng viện. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Nhân dịp này, các Đức Cha xin Tòa Thánh cho đổi tên các Địa phận ở Đông Dương ngày 30/6/1924. Trước đây, các địa phận này mang tên: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đàng Trong với Đàng Ngoài. Từ nay, Địa phận mang tên các thành phố có Tòa Giám mục như:

  • Địa phận Đông Đàng Ngoài từ nay gọi là Hải Phòng
  • Địa phận Tây Đàng Ngoài từ nay gọi là Hà Nội
  • Địa phận Trung Đàng Ngoài từ nay gọi là Bùi Chu
  • Địa phận Bắc Đàng Trong từ nay gọi là Huế
  • Địa phận Tây Đàng Trong từ nay gọi là Sài Gòn
  • Chỉ có Địa phận Cao Bằng Lạng Sơn là giữ nguyên tên cũ

Lời yêu cầu của các Đức Cha đã được Đức Pio XI chuẩn y ngày 14/7/1924 và Đức Hồng Y Van Rossum, Thánh Bộ Truyền Giáo ký tên và đóng dấu ngày 3/12/1924.

2.5.2. Danh sách các nhà thờ Công giáo ở Hải Phòng

Giáo phận Hải Phòng gồm 4 tỉnh: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương và một phần của tỉnh Hưng Yên. Giáo phận được chia làm 3 hạt: hạt Hải Phòng, hạt Quảng Ninh, hạt Hải Dương trong các hạt này lại chia làm các giáo xứ khác nhau và có tất cả 78 giáo xứ. Trong các giáo xứ lại có nhiều nhà thờ không chỉ có nhà thờ của chính xứ mà còn có nhà thờ của các giáo họ khác nhau. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết tác giả không thể liệt kê hết toàn bộ các nhà thờ trong giáo phận Hải Phòng. Vì vậy chỉ xin được trình bầy các nhà thờ chính trong hạt Hải Phòng.

  1. Nhà thờ Gx. An Hải. Đc: Ngô Quyền, Tp.Hải Phòng.
  2. Nhà thờ Gx. Thư Trung. Đc: Hải An, Tp. Hải Phòng.
  3. Nhà thờ Gx. Lãm Hà. Đc: Kiến An, Tp. Hải Phòng
  4. Nhà thờ Gx. Trang Quan. Đc: An Dương, Tp. Hải Phòng.
  5. Nhà thờ Gx. An Toàn. Đc: Kiến Thuỵ, Tp. Hải Phòng.
  6. Nhà thờ Gx. Hữu Quan. Đc: Thuỷ Nguyên, Tp. Hải Phòng.
  7. Nhà thờ Gx. Xuân Điện. Đc: Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng.
  8. Nhà thờ Gx. Bạch Xa. Đc: Tiên Lãng, Tp. Hải Phòng.
  9. Nhà thờ Gx. Tiên Đôi. Đc: Tiên Lãng, Tp. Hải Phòng.
  10. Nhà thờ Gx. Xuân Hoà. Sth: 2.298. Đc: Xuân Hoà, Bạch Đằng, Tiên Lãng, TP. Hải Phòng.
  11. Nhà thờ Gx. Đông Xuyên. Sth: 2.212. Đc: Đoàn Lập, Tiên Lãng, TP. Hải Phòng.
  12. Nhà thờ Gx. Nam Pháp. Sth: 431. Đc: P. Đằng Giang, Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng.
  13. Nhà thờ Gx. Hải Phòng. Sth: 4.079. Đc: 46 Hoàng Văn Thụ, Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng.
  14. Nhà thờ Gx. An Tân. Sth: 955. Đc: Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng.
  15. Nhà thờ Gx. Liễu Dinh. Sth: 2.666. Đc: Trường Thọ, An Lão, TP. Hải Phòng.
  16. Nhà thờ Gx. Khúc Giản. Sth: 713. Đc: H. An Lão, TP. Hải Phòng.
  17. Nhà thờ Gx. Cựu Viên. Sth: 1.898. Đc: P. Quán Trữ, Kiến An, TP. Hải Phòng.
  18. Nhà thờ Gx. Nam Am. Sth: 4.899. Đc: Tam Cường, Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
  19. Nhà thờ Gx. Hội Am. Sth: 1.822. Đc: Cao Minh, Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
  20. Nhà thờ Gx. An Quý. Sth: 1.841. Đc: Cộng Hiền, Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
  21. Nhà thờ Gx. Thiết Tranh. Sth: 1.183. Đc: Vĩnh An, Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
  22. Nhà thờ Gx. Trung Nghĩa. Sth: 1.084. Đc: Hùng Tiến, Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
  23. Nhà thờ Gx. Xâm Bồ. Sth: 4.912. Đc: P. Nam Hải, Q. An Hải, TP. Hải Phòng.
  24. Nhà thờ Gx. Đồng Giới. Sth: 780. Đc: An Đồng, An Dương, Hải Phòng.
  25. Nhà thờ Gx. Văn Khê. Sth: 239. Đc: An Thọ, Kiến Thuỵ, Hải Phòng.
  26. Nhà thờ Gx. Kim Côn. Sth: 426. Đc: Chiến Thắng, Kiến Thuỵ, Hải Phòng.
  27. Nhà thờ Gx. Đồng Giá. Sth: 2.374. Đc: Thiên Hương, Thuỷ Nguyên, TP. Hải Phòng.
  28. Nhà thờ Gx. Gia Đước. Sth: 209. Đc: Gia Đức, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.
  29. Nhà thờ Gx. My Sơn. Sth: 762. Ngũ Lão, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.
  30. Nhà thờ Gx. Đông Côn. Sth: 1.648. Đc: Tiên Minh, Tiên Lãng, TP. Hải Phòng.
  31. Nhà thờ Gx. Suý Nẻo. Sth: 3.381. Đc: Bắc Hưng, Tiên Lãng, TP. Hải Phòng.
  32. Nhà thờ Gx. Lão Phú. Sth: 3.384. Đc: Tân Phong, Kiến Thuỵ, TP. Hải Phòng.

2.6. Một số nhà thờ Công giáo tại Hải Phòng

2.6.1. Nhà thờ Chính tòa Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Có thể nói rằng sự ra đời của nhà thờ Chính tòa Hải Phòng gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của chính Giáo phận Hải Phòng.

Ngày 9/9/1659, với đoản sắc Super Cathedram Principis,Đức Alexander VII(1655- 1667) thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận: Đàng Ngoài và Đàng Trong

Ngày 27/11/1679, Đức Innocens XI (1676-1689) chia giáo phận Đàng Ngoài làm hai: Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng ngoài, lấy sông Hồng và sông Lô làm ranh giới. Cha Fancois Deydier Phan, thuộc Hội Thừa Sai Pais được đặt làm giám mục tiên khởi của địa phận Đông Đàng Ngoài, lúc đó tòa giám mục được đặt ở Phố Hiến, sau chuyển về vùng Bùi Chu, Kẻ Sặt, Hải Dương.

Ngày 5/9/1848, Đức Pio IX (1848- 1878) ban chiếu thư chia tỉnh Nam Định và Hưng Yên, lập thành giáo phận Trung, phần đất còn lại giữ tên cũ là giáo phận Đông, do Đức Cha Jeronimo Hermosilla Liêm, O.P, giám mục tiên khởi người Tây Ban Nha coi sóc. Ngày 6/11/1861 ngài tử đạo tại khu Năm Mẫu( Hải Dương).

Ngày 29/5/1883: Đức Lêo XIII (1878- 1889) công bố chiếu thư lập giáo phận Bắc, một phần tách ra từ giáo phận Đông gồm các tỉnh Hải Dương ( bấy giờ gồm cả Kiến An), Quảng yên và Hải Ninh ( tức Móng Cái) và vẫn giữ tên cũ là giáo phận Đông do Đức Cha Jose Terres Hiến coi sóc, tòa giám mục đặt tại Hải Dương. Hải Phòng khi ấy chưa là sở cha chính nhưng đến năm 1880 được ủy quyền của Đức Giám mục địa phận là Đức cha An-tôn Colomer Lễ ( còn gọi là Đức Cha Nguyên), Cha Salvado Masso Tế đã mua đất và thiết lập Giáo xứ Hải Phòng. Nhà thờ chính tòa được khởi công xây dựng năm 1876 đời vua Tự Đức năm thứ 29.

Việc xây dựng nhà thờ Chính Tòa Hải Phòng đã được ghi chép trên một trụ đá vuông cao khoảng 1m, được đặt dưới chân tượng Thánh Giesu, tạc năm 1886.Mặt trước được khắc bằng tiếng Pháp, mặt trái được khắc bằng chữ Nho, mặt phải được khắc chữ La- tinh. Mặt khắc chữ Nho có ghi lại như sau:

“ THẠCH TRỤ NHẤT.

Y PHA NHO HỘI TRƯỞNG LINH MỤC TẾ THUỘC ĐA MINH NGÃ (?) GIẢNG GIÁO HỘI TÂN MÃI CỘNG (?) THIẾT LẬP (?) ĐẠO ĐƯỜNG ĐẠO QUÁN TẠI HẢI PHÒNG TỰ THIÊN CHÚA GIÁNG SINH NHẤT THIÊN BÁT BÁCH THẤT THẬP LỤC TẢI / THỜI TỰ ĐỨC NHỊ THẬP CỬU NIÊN” Dịch nghĩa: “Một trụ đá. Linh mục Hội trưởng Tế Y – PHA – NHO, thuộc hội Đa – Minh giảng giáo, mới mua cùng xây dựng nhà thờ nhà xứ, tại Hải Phòng. Từ Thiên Chúa giáng sinh, một nghìn tám trăm bảy mươi sáu năm. Thời Tự Đức năm thứ hai mươi chín.” Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Ngày 3/2/1924 Tòa thánh đã chính thức cho phép giáo phận đổi tên thành Giáo phận Hải Phòng do Đức cha Francisco Ruiz de Azua Minh O.P (1919_ 1929) coi sóc.

Ngày 14/1/1953, cha Guise Trương Cao Đại nhận sắc chỉ của Tòa Thánh làm giam mục Hải Phòng và thụ phong tại Hồng Kông. Sau khi về nước nhận giáo phận ông xây dựng giáo phận cả về vật chất lẫn tinh thần. Công việc đang ổn định thì cha lại phải di cư vào Nam theo hiệp đinh geneve.

Ngày 24/11/1960, Tòa thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, giáo phận HP được nâng lên hàng chính tòa thuộc Tổng giáo phận Hà Nội, Đức cha Phêro Maria Khuất Văn Tạo được bổ nhiệm làm giám mục chính tòa của giáo phận Hải Phòng. Đức cha đã cai quản giáo phận trong hơn 21 năm thì qua đời.

Hai năm sau đức cha Guise maria nguyễn Tùng Cương thụ phong giám mục lên thay ngài nhận giáo phận ngày 24/2/1979. Ngài đã trùng tu tòa giám mục, nhà thờ chính tòa và kiến tạo hơn 100 nhà thờ xuống cấp ở các giáo xứ và họ đạo, đào tạo và truyền chức cho hơn 20 linh mục. Ngài qua đời ngày 10/3/1999 và được an táng tại Nhà thờ Chính tòa Hải Phòng.

Sau khi Nhà thờ Chính tòa Hải Phòng dược khánh thành, trải qua nhiều thời gian biến động, nhà thờ bị xuống cấp, hư hỏng nặng, năm 2000 linh mục Nguyễn Văn Hiện cắm xứ tại nhà thờ đã làm đơn xin cải tạo sửa chữa nâng cấp toàn bộ nội thất nhà thờ và giữ nguyên kiến trúc như xưa. Đến nay Nhà thờ Chính tòa, khuôn viên, tháp chuông đã được chỉnh trang và sửa chữa một cách đồng bộ. Đây là một trong những nhà thờ lớn và đẹp nhất Hải Phòng.

2.6.1.2. Tổ chức điều hành của nhà thờ

Nhà thờ Chính tòa Hải Phòng có địa chỉ ở 46 Hoàng Văn Thụ, Hồng Bàng, TP. Hải Phòng

  • Tổ chức điều hành của nhà thờ như sau:
  • Giám mục: Giuse Vũ Văn Thiên
  • Tổng Đại Diện: Lm. Anton Nguyễn Văn Ninh
  • Thư ký Tòa Giám mục: Lm. Phaolo Vũ Đình Viết
  • Quản lý Tòa Giám mục: Lm. Gioan Vũ Văn Kiện
  • Ngoài ra còn có các Ủy ban Giám mục khác:
  • Ủy ban Bác ái Xã hội: Lm. Giuse Nguyễn Xuân Đài
  • Ủy ban Giáo dân: Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông
  • Ủy ban Giáo lý Đức tin: Lm. Anton Nguyễn Văn Thăng
  • Ủy ban Giáo sỹ và Chủng sinh: Lm. Anton Nguyễn Văn Uy
  • Ủy ban Loan báo Tin Mừng: Lm. Giuse Nguyễn Xuân Đài
  • Ủy ban Phựng tự: Lm. Anton Khổng Minh Số
  • Ủy ban Thánh nhạc và Nghệ thuật Thánh: Lm. Anton Trần Văn Minh
  • Ủy ban Tu sĩ: Lm. Anton Khổng Minh Số
  • Phụ trách thông tin: Lm. Phaolo Vũ Đình Viết

2.6.1.3. Giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Toàn bộ công trình kiến trúc Nhà thờ lớn Hải Phòng được xây dựng ở một khu đất rộng có chu vi xấp xỉ 400m. Bao gồm Tháp chuông, Thánh đường, tòa nhà của ban giám mục, nhà xứ, nhà dãy và khuôn viên.Toàn bộ các công trình kiến trúc tôn giáo rộng lớn này được xây dựng vào thập kỉ 20 của thế kỉ XIX.

Phong cách kiến trúc được xây dựng ở Nhà thờ lớn Hải Phòng gồm 2 phần: Thánh đường và tháp chuông được xây dựng theo phong cách kiến trúc kiểu Gothic. Đặc điểm tiêu biểu nhất của kiến trúc Gothic là mái vòm và đầu nhọn. Phong cách này nhấn mạnh vào những hình khối theo chiều thẳng đứng, và tập trung vào những hệ cột mảnh, trần cao mở rộng với sự kết hợp của những vật liệu như kính. Nhờ kiến trúc mái vòng cung và có đầu nhọn, cộng với hệ thống cửa sổ kính rộng nhiều màu sắc nên nhà thờ thường có nhiều ánh sáng đẹp và rất lạ. Ngoài cửa chính để ra vào thì nhà thờ cũng có thêm các cửa ngang nhà thờ.

Thứ hai là các công trình xung quanh nhà thờ như: nhà xứ, nhà của Tòa Giám mục, nhà dãy thì thường được xây dựng theo lối kiến trúc của người Việt đó là nhà mái bằng, có hiên, không có quá nhiều cửa sổ, cửa chính thường làm rộng.

Nhà thờ cấu trúc theo chiều dọc hình chữ nhật bao gồm có : tháp chuông ở bên ngoài nhà thờ, tiền sảnh, gác đàn, lòng nhà thờ, cung thánh, gian mặc áo lễ.

Thánh đường: Khi bước qua cổng chính vào nhà thờ là thánh đường.

Thánh đường của nhà thờ được xây dựng theo kiểu kiến trúc Gotic dài 47m, rộng 17m nơi đây có thể chứa được hàng ngàn giáo dân đến tham gia dự lễ.

Lòng nhà thờ là nơi dành cho giáo dân ngồi để tham dự thánh lễ. Nhà thờ Công giáo có quy định tín đồ vào nhà thờ dự thánh lễ, nam nữ phải ngồi riêng. Thường thấy nam tín đồ ngồi bên tay phải, nữ tín đồ ngồi bên tay trái. Nhưng ngày nay quy định này không còn quá khắt khe như trước.

Phía trên gian tiền sảnh là gác đàn, đó là nơi để đàn và hội hát (ca đoàn) đàn hát phục vụ cho thánh lễ.

Phía cuối nhà thờ có đặt 2 tòa giải tội. Đó là nơi linh mục ngồi để thực hiện các bí tích giải tội cho các tín đồ.

Trong lòng nhà thờ ở phía bên trên tường có gắn ảnh 14 đường (hay còn gọi là đàng) thánh giá. Mỗi ảnh là một đường diễn tả nỗi cực hình mà Chúa Giesu phải chịu. Nếu đứng từ cuối nhà thờ nhìn lên thì đường thánh giá được xếp thứ tự số 1 từ bên trái đầu cung thánh. Mỗi bên có 7 đường, cộng lại là 14 đường cũng có nghĩa là 14 ảnh. Các ảnh thánh giá mang những nội dung như sau: Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

  1. Chúa Giesu chịu xử án.
  2. Chúa Giesu kê vai vác lấy thánh giá.
  3. Chúa Giesu ngã xuống đất lần thứ nhất.
  4. Chúa Giesu gặp Đức Mẹ.
  5. Thánh Ximong vác đỡ thánh giá với Chúa.
  6. Thánh nữ Veronica lau mặt Chúa.
  7. Chúa Giesu ngã xuống đất lần thứ hai.
  8. Chúa Giesu an ủi người nữ tì Gierusalem.
  9. Chúa Giesu ngã xuống đất lần thứ 3.
  10. Quân dữ lột áo Chúa Giesu ra.
  11. Chúa Giesu chịu đóng đinh vào thập giá.
  12. Chúa Giesu chết trên thánh giá.
  13. Môn đệ hạ xác Chúa Giesu xuống.
  14. Táng xác Chúa Giesu vào hang đá.

Đầu lòng nhà thờ nơi giáp với cung thánh là tượng 2 thánh tông đồ Phero và Gioan.

Lòng nhà thờ vào những ngày lễ lớn có một số thay đổi. Như vào tháng 5, tháng Hoa Đức Mẹ phía trên giáp với cung thánh, nhiều hàng ghế của nhà thờ được kê gọn lại, tạo không gian cho hội hát, hội con hoa múa dâng hoa. Vào tháng 12, phía gian cuối nhà thờ người ta làm hang đá, tưởng niệm Chúa Giesu ra đời.

Cung thánh: Có thể nói rằng cung thánh là nơi trang trọng nhất và quan trọng nhất của nhà thờ, được trang trí và chạm khắc rất tinh xảo. Cung thánh được làm cao hơn so với lòng nhà thờ. Cung thánh còn được gọi là gian thánh – nơi dành cho các tác viên thánh như giám mục, linh mục, phó tế làm việc để phân biệt với lòng nhà thờ là nơi dành cho cộng đoàn.

Trên gian thánh nổi bật nhất là bàn thờ, đó là nơi dành cho các tác viên thánh (giám mục, linh mục)… cử hành thánh lễ. Giảng đài, nơi đọc các bài sách thánh và giảng lời chúa. Ghế của vị chủ chăn (hay còn gọi là chủ sự) nhằm biểu lộ chức vụ của người điều khiển cộng đoàn và người hướng dẫn kinh nguyện. Ngoài ra trên cung thánh còn cho đặt tượng thánh Giuse cả và tượng chúa Giesu chịu nạn.

Vách cung thánh được làm bằng gỗ, xây nhiều hình vòm, ba chiều, được chạm khắc tinh xảo sơn son thếp vàng. Chính giữa là tòa Đức Mẹ bế Chúa Con, hai bên viền bằng những khung ảnh các thánh.

Một phần kiến trúc không thể thiếu ở cung thánh chính là nhà tạm. Nhà tạm là nơi lưu giữ Mình thánh (thánh thể) nó thường được đặt ở vị trí trang trọng và dễ nhìn thấy. Nhà tạm được trang hoàng đẹp và thuận tiện cho việc cầu nguyện. Nhà tạm được gắn vào phần bậc mõ, phía chính giữa bàn thờ nhìn lên. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Theo điều 938, Bộ giáo luật quy định:

  1. Thường chỉ giữ Mình thánh trong một nhà tạm ở mối nhà thờ hay nhà nguyện.
  2. Nhà tạm có để Mình thánh phải để ở nơi trang trọng nhất của nhà thờ hay nhà nguyện mà ai cũng có thể nhìn thấy, trang hoàng xứng đáng và thích hợp cho việc cầu nguyện.
  3. Nhà tạm mà thường có để Mình thánh phải là bất di bất dịch làm bằng chất cứng không nhìn thấy bên trong và đóng kín để tránh mọi nguy cơ xúc phạm.
  4. Vì lý do quan trọng, có thể giữ Mình thánh ở nơi khác chắc chắn hơn và xứng đáng nhất là vào ban đêm.
  5. Ai coi sóc nhà thờ hay nhà nguyện phải liệu giữ rất cẩn thận chìa khóa nhà tạm có để Mình thánh.

Theo điều 940, Bộ giáo luật quy định như sau:

“Trước nhà tạm có giữ Mình thánh luôn luôn có đèn cháy sáng, để chỉ là có sự hiện diện của Chúa Kito và để tôn kính Người”. Bộ giáo luật cũ đòi hỏi đèn phải bằng nến sáp hay dầu nhưng Bộ giáo luật mới đã bỏ điều buộc ấy; do đó có thể dùng đèn điện hoặc đèn pin. Đèn chầu Mình thánh có hai phận sự chính:

  1. Chỉ cho mọi người biết nơi đặt nhà tạm.
  2. Canh thức thay chúng ta, để túc trực chầu trước thánh thể.

Phía sau cung thánh nhà thờ có để một gian nhỏ là nơi để mặc áo lễ. Đây là gian phòng dành cho linh mục mặc áo lễ trước khi tiến hành thánh lễ. Trong gian phòng này treo các loại áo lễ của linh mục và cũng là nơi lưu giữ đồ thánh.

Tháp chuông: Tháp chuông của nhà thờ cao 28m được đặt bên ngoài nhà thờ, hình khối cao vượt khỏi mái, trên cùng là chóp nhọn. Trong lòng tháp chuông có treo một quả chuông tây (chuông kéo dây). Ở phía trước của tháp chuông có dựng một bức tượng Đức Mẹ Maria bế Chúa con.

  • Các cơ sở quanh nhà thờ:

Nhà xứ: là nơi dành cho linh mục ăn, ở và tiếp khách. Nhà xứ xây dựng nhỏ hơn so với nhà thờ theo phong cách kiến trúc của người Việt, có hai tầng. Trong nhà xứ còn có phòng thường trực Ban hành giáo. Đây là nơi hội họp và là nơi bàn công việc đạo của ban hành giáo xứ.

  • Nhà dãy: Là nơi để dạy kinh, dạy hát cho trẻ thơ, cho người tân tòng.
  • Xưa kia nhà dãy làm ra để cho tín đồ ở xa nhà thờ mỗi dịp về nhà thờ tham dự thánh lễ có nơi nghỉ ngơi qua đêm.
  • Đường kiệu: Trong khuôn viên nhà thờ có đường kiệu uốn lượn quanh nhà thờ. Sở dĩ được gọi là đường kiệu vì con đường được làm dùng trong việc rước kiệu trong một số thánh lễ.
  • Trong công viên nhà thờ còn cho dựng thêm 3 bức tượng thánh: thánh Phero, thánh Phaolo, đấng bảo trợ thiếu nhi thánh thể.
  • Ngoài ra nhà thờ có thư viện Mân Côi, có phòng truyền thống, phòng họp, phòng tiếp khách….

2.6.2. Nhà thờ giáo xứ Nam Am (Tam Cường- Vĩnh Bảo) Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

2.6.2.1. Vài nét về giáo xứ Nam Am

Nam Am là trung tâm của một xứ đạo lớn gồm có 24 họ và 4 khu nhà xứ, trước đây thuộc lục tổng huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, tỉnh Hải Dương, nay thuộc xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Nam Am vinh dự là nơi đón nhận Tin Mừng đầu tiên của vùng Lục Tổng Vĩnh Lại, những thập niên 1628- 1630 của thế kỷ XVII. Năm 1631-1632 các thừa sai dòng Tên đã tới Nam Am giao rảng Tin Mừng của Chúa và đã được mọi người tình nguyện đón nhận. Vì vậy cả làng được chịu phép Thánh Tẩy cùng một dịp, trở thành một làng đạo Công giáo toàn tòng vào cuối 1632. 60 năm sau vào khoảng cuối năm 1689 Nam Am được thành lập xứ do các cha dòng thừa sai Đa Minh thành lập, từ đó trở thành trung tâm của xứ đạo có nhiều họ đạo trong vùng Lục Tổng Vĩnh Lại cùng thuộc xứ, nhận Đức Mẹ Mân Côi làm bổn mạng. Trên đất Nam Am lúc bấy giờ có 4 nhà thờ của 4 khu, mỗi khu có thánh bổn mạng riêng.

Giáo xứ Nam Am trải qua 376 năm kể từ ngày đón nhận Tin Mừng đến nay, trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, xứ đạo luôn giữ được truyền thống sống đạo tốt lành, lập nhiều công phúc, được Giáo phận Hải Phòng, Tòa Thánh Roma ghi nhận: “Nam Am một xứ đạo lớn và cổ kính, có tầm quan trọng ngay từ những ngày đầu khi Tin Mừng của Chúa được giao rảng tới mảnh đất của Giáo phận, và có nhiều công lao trong thời kì cấm cách” (Trích nguyên văn sắc phong năm toàn xá kỷ niệm 120 năm xây dựng nhà thờ gỗ lợp ngói).

2.6.2.2. Lịch sử xây dựng nhà thờ

Để có được một công trình kiến trúc to, đẹp và bề thế như ngày hôm nay thì nhà thờ Nam Am đã được xây dựng 2 lần: Lần đầu xây từ năm 1878 đến năm 1885 thì hoàn thành. Sau đó năm 2001 nhà thờ đã dược khởi công xây dựng lại và khánh thành vào năm 2006.

Dưới thời chủ chăn của Cha chính Guirro Toàn, người thấy nhà thờ xứ tọa lạc trên đất cổng hậu của nhà thờ bây giờ quá bé lại lợp tranh, nên Cha đã chính thức đề nghị Đức Giám Mục Giáo phận cho rỡ 4 nhà thờ của 4 khu để làm một nhà thờ gỗ lớn, xây tường, lợp ngói, theo kiến trúc Nam phương, dài 50m, rộng 16m, cao 11m. Nhà thờ cũ được khởi công xây dựng vào ngày 23/6 (âm lịch) năm 1878 đến tháng 7 (âm lịch) năm 1885 thì hoàn thành.

Đến năm 1998, nhà thờ đã được Tòa Thánh ban ơn toàn xá viếng nhà thờ một năm (từ 31/5/1998 đến 31/5/1999), Đức Cha Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương đã đến trịnh trọng dâng Thánh lễ khai mạc năm toàn xá và trao sắc năm thánh viếng nhà thờ. Đây là một thánh lễ hết sức long trọng có đông đủ các Cha trong giáo phận, các nam nữ tu sĩ, 62 ban hành giáo các xứ trong giáo phận và đông đảo bà con giáo dân trong và ngoài giáo phận về tham gia dự lễ một cách sốt sắng.

Cho đến ngày nay việc xây dựng nhà thờ Nam Am cũ vẫn còn được mọi người nhắc đến trong một bài vè như sau:

  • “Đội ơn Thiên Chúa cũng thương
  • Muốn lập nhà thờ các đấng cũng cho
  • Bốn khu thì bốn nhà thờ
  • Bề trên bắt dỡ mang về một nơi
  • Đàn anh cho chí đàn em
  • Ra công gắn bó mới nên việc này
  • ……………..
  • Có lệnh cha xứ phán truyền
  • Đào cừ cho gỗ về ngay mà làm
  • Phủ xứ tuân lệnh cha truyền
  • Đào sông khơi rãnh một tuần là xong
  • Cha đứng trong lũy cha trông
  • Con chiên kéo gỗ thật vui trong lòng
  • Phạt mộc hai ba tháng sáu Mậu Dần
  • Ất Dậu thất nguyệt khai niên nhà thờ
  • Tiếng đồn đi khắp gần xa

Trong Nam ngoài Bắc chẳng đâu cho bằng Nhà thờ Nam Am địa phận Đông”.

Từ một công trình nhà thờ gỗ, hơn 100 năm sau nhà thờ đã được khởi công xây dựng lại vào ngày 26/6/2001 và hơn 6 năm sau vào ngày 15/10/2006 nhà thờ mới được khánh thành và cung hiến với tên gọi Đền thánh Đức Mẹ Mân Côi. Nhà thờ giáo xứ Nam Am mới hiện nay là sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc nghệ thuật Đông- Tây cùng quy mô và kỹ thuật xây dựng hoành tráng.

2.6.2.3. Tổ chức điều hành nhà thờ Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Nhà thờ giáo xứ Nam Am hiện nay tọa lạc trên làng Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

  • Cha chánh xứ nhà thờ là cha Anton Nguyễn Văn Thục.
  • Chánh trương là cụ Giuse Khổng Trung Đề.
  • Trùm cả là cụ Visente Vũ Văn Đằng.

2.6.2.4. Giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật của nhà thờ

Đền thánh Đức Mẹ Mân Côi là một công trình kiến trúc nghệ thuật hội tụ của hai nền kiến trúc Đông- Tây.

Kiến trúc phương Tây thể hiện qua lối vào ra ở cuối, ở đầu và ở ngang nhà thờ, lòng nhà thờ rộng, cao vút, mái vòm cung đây là một trong nét đặc trưng của kiến trúc Gothic.

Kiến trúc Á Đông cụ thể là kiến trúc Việt Nam thể hiện qua cách bố trí những cột, kèo, xà, rường trụ, kẻ, tàu bẩy, ngưỡng, bạo, cánh cửa, các chi tiết chạm trổ hoa văn uyển chuyển, tinh tế nhẹ nhàng.

Nhà thờ được bố trí theo lối kiến trúc thượng thu hạ thách, tức là càng lên cao càng thu hẹp lại. Toàn bộ công trình Đền thánh Đức Mẹ Mân Côi được tọa lạc trên khuôn viên rộng 6500m², trong đó diện tích để xây dựng nhà thờ chiếm 2025m² với chiều dài là 75m chiều rộng là 27m, phần còn lại là để bố trí xây dựng kỳ đài, công viên và sân.

Ở mặt tiền nhà thờ ngoài ba tòa tháp chuông ta còn thấy sân khấu, bậc bước được ghép đá thiên nhiên, hai đầu bậc là hai con rồng chầu nhật nguyệt. Hai bên nam bắc rồng chầu là hai cầu trượt, được uốn lượn theo đúng quy cách giao thông, giúp cho xe tang, xe lăn, xe hội lên xuống được thuận lợi và dễ dàng. Đầu cầu trượt hai bên là hai cây đèn song song đối chiều hai cây đèn trên đầu nhà thờ.

Tháp chuông: Khác với nhà thờ Chính Tòa Hải Phòng tháp chuông được xây dựng bên ngoài thì với Đền thánh Đức Mẹ Mân Côi 3 tòa tháp chuông được xây dựng vô cùng hoành tráng và được đặt ở trước lối vào nhà thờ. Ba tòa tháp chuông của nhà thờ được tạc giống như hình chữ “sơn”. Với tòa tháp chính cao 50m, hai tháp phụ được xây tiến về phía trước tháp chính 2m, 2 tháp này mỗi tháp cao 28m.

Ba tháp chuông tọa lạc ở mặt tiền nhà thờ ta có thể dễ dàng nhận thấy sự kết hợp hài hòa giữa hai trường phái kiến trúc: Gothic và Á Đông đồ sộ bề thế. Đỉnh tháp chính là một thánh giá lớn dài 2m30, rộng 1m20 đứng trên quả bầu lớn, mang ý nghĩa cứu độ. Tiếp đó là đài hoa của chóp tháp, dưới mái hai là tòa Đức Mẹ Mân Côi, các của cuốn, cửa võng kép được đắp vẽ công phu, thành tòa vàng lộng lẫy trong tòa là tượng Đức Mẹ Mân Côi – Quan thầy bầu cử của làng của xứ, tượng cao 3m được làm bằng chất liệu nhựa cao cấp. Xung quanh tòa có hàng lan can bảo vệ, trên lan can mặt tiền có tước hiệu Đền Thánh Rosario. Dưới tầng để tượng là tầng treo hai quả chuông đồng nguyên chất, được đặt mua ở Pháp vào năm 1921, tầng treo chuông ở giữa mái ba và mái bốn, xung quanh cổ mái được cuốn 12 cửa hoa thoáng rộng nhằm cho tiếng chuông phát ra 4 phía không bị tức tiếng. Dưới mái 4 là một tầng rỗng bên trong, không có nền, quanh tháp được kiến trúc 12 cửa cuốn chớp, 20 vòng hoa thoáng nhằm hỗ trợ cho tiếng chuông khi phát ra được to. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Dưới chân các cửa chớp xung quanh tháp là một hiên quyện và có lan can bảo vệ. Ở tầng dưới cùng của tòa tháp chính, trên cửa võng vanh cuốn, một cuốn thư giữa có chữ: “Đền Thánh Đức Mẹ Mân Côi Nam Am” được làm bằng chất liệu INOX vàng.

Trên my cửa chính vào đền thờ có một bức Hán tự đề: “Ngã Chi Môn”. Ba từ này được trích trong sách phúc âm thánh Gioan đoạn 10 câu 9 được dịch nghĩa như sau: “Ta là cửa có nghĩa ai qua ta mà vào thì sẽ được cứu”. Điểm nổi bật của tòa tháp chính còn được thể hiện ở cánh cửa chính của nhà thờ. Cánh cửa này làm bằng gỗ lim xanh, dài 6m, rộng 4m, hai cánh mỗi cánh nặng 2 tấn. Hai cánh cửa được chạm khắc rất mỹ thuật, khi đóng lại ta thấy giữa cửa là một thánh giá lớn; hai tay thánh giá trên dưới được chạm khắc hoa hồng; giường và chân thánh giá ở hai bên là tám chữ phúc, chỉ tám mối phúc thật, là hiến chương của Chúa Giesu vẫn thường giảng dạy, dưới chân thánh giá là các đố chân của 2 cánh cửa được chạm khắc tứ quý là: tùng, trúc, cúc, mai.

Nhìn sang 2 tháp phụ ở hai bên của tháp chính, mỗi tháp phụ được kiến trúc tiến về phía trước tháp chính là 2m; đỉnh của tháp phụ có biểu tượng bông sen, có độ cao ngang chân tượng Đức Mẹ ở tháp chính, có ý tôn vinh dâng kính Đức Mẹ tinh tuyền “tội nguyên không nhiễm khác thường, hoa sen trên nước chẳng vương bùn lầm”. Mỗi tháp phụ còn có hai mái được kết cấu đưa về cạnh mặt tiền tháp chính là 2m, vì thế mái 3 và mái 4 của tháp chính được giao đầu với mái 1, mái 2 của tháp phụ, tạo nên biểu tượng tam quan có ý nghĩa thiên, địa, nhân hòa quyện vào làm một. Theo triết học phương đông tam tài còn nói lên mối quan hệ ràng buộc, hữu cơ trong vũ trụ; ngoài ra con số 3 còn giúp các tín hữu ý thức mầu nhiệm về một Thiên Chúa Ba Ngôi. Dưới tầng một của hai tháp phụ đều có một cuốn thư. Ở tháp bên trái cuốn thư đề ngày khởi công xây dựng công trình. Dưới cuốn thư có bức họa Chúa chiên lành, trên bức họa có đề 4 hán tự “Ngã chi mục tử” (Ta là mục tử). Ở tháp bên phải cuốn thư có đề ngày khánh thành công trình. Dưới cuốn thư có bức họa lấy từ phúc âm thánh Gioan cũng đề 4 hán tự “ngã chi chiếu minh” (Ta là ánh sáng).

Các tháp chính và phụ đều có hai tầng cột, các cột này đều được đắp dây thừng quấn quanh cột, bên cạnh cột tháp hai bên là hai cửa phụ ra vào đền thánh. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Toàn bộ mặt tiền nhà thờ và các tháp chuông mang dáng dấp kiến trúc đông tây kết hợp, hiên ngang, hoành tráng, kiên cố và thẩm mỹ. Những đường chông, hoa thoáng, con song con tiện, những bức đại tự, bức họa, những biểu tượng quả bầu, bông sen, những cành nho bông lúa…. Tất cả đều mang tính thẩm mỹ và mang đầy ý nghĩa Kinh Thánh cũng như nghệ thuật thánh.

Thánh đường: Ở nhà thờ Chính tòa Hải Phòng, ta bị lôi cuốn bởi phong cách kiến trúc phương Tây hiện đại, đặc biệt là phong cách kiến trúc kiểu Gothic. Nhưng khi bước vào Đền thánh Đức Mẹ Mân Côi ta sẽ phải ngỡ ngàng vì sự kết hợp hài hòa giữa hai trường phái kiến trúc Đông- Tây. Ở đây đã có sự giao lưu hội nhập văn hóa đó là văn hóa Thiên Chúa giáo và văn hóa dân gian Việt Nam.Thánh đường của nhà thờ rộng và hoành tráng với những bộ khung nhà, với những xà, trụ, rường, kẻ, cột…. toàn bằng gỗ lim xanh. Đặc biệt trong lòng nhà thờ có 4 hàng cột đứng song hàng bằng 44 cây cột cao lừng lững, vững vàng trên thạch tảng; trong đó hai hàng cột giữa gồm 22 cây cột có độ đồng đều bằng nhau, mỗi cột là 2m25. Nhà thờ được bố trí theo kiến trúc thượng thu hạ thách, nghĩa là càng lên cao thì càng thu vào, cụ thể là mỗi cây cột cứ cao lên một thước là nghiêng vào từ 1,5- 2cm. Ngoài hệ thống cột rất kiên cố nhà thờ còn có 11 vì kèo chính và 4 vì kèo phụ; mỗi vì kèo chính nặng chừng 30 tấn.

Phía trước của cung thánh là gác đàn, đó là nơi để đàn và hội hát (ca đoàn) đàn hát phục vụ cho thánh lễ.

Ở bên trên cổ mái chồng diềm của nhà thờ 2 bên ta thấy ngoài các cửa chớp lấy ánh áng; ta còn thấy 20 mầu nhiệm Mân Côi được hoa mầu trên những tấm kính lộng lẫy ánh sáng. Ở phía bên trái: Năm sự vui, Thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ, năm sự Sáng, Chúa Giesu giao rảng nước trời. Ở phía bên phải: Năm sự Thương, nói về cuộc tử nạn của Chúa và kết thúc ở bên phải năm sự Mừng: Khi Đức Mẹ được hưởng triều thiên trên thiên quốc.

Ở hai bên nách nhà thờ có treo ảnh 14 đường Thánh giá được chạm khắc tinh xảo, sơn son thiếp vàng rực rỡ, ảnh diễn tả sự tích từng đường thánh giá; mầu ảnh được lấy từ tòa thánh Roma, chất liệu làm bằng sơn dầu nên rất bền.

Cung thánh: Mới chỉ nhìn mặt tiền bên ngoài nhà thờ ta đã phải thán phục những người thợ xây dựng lên nó nhưng khi vào trong nhà thờ ta càng thấy khâm phục sự lao động vất vả và bộ óc sáng tạo của những người thợ hơn. Cung thánh của nhà thờ được xây dựng và trang trí rất công phu, đẹp mắt với 3 gian cung thánh tất cả đều được sơn son thếp vàng vô cùng trang trọng lộng lẫy và mỹ lệ. Tổng thể các hạng mục 3 gian cung thánh cùng các họa tiết hoa văn, tất cả đều được trưng bầy theo kiến trúc cung điện uy nghi và cung kính.

Ở trung tâm của cung thánh là một bàn thờ chính mới, được làm bằng gỗ mun quý hiếm. Bàn thờ được chạm khắc kiểu chân quỳ, dạ cá sang trọng; xung quanh 4 mặt của dạ cá là bức cửa võng gắn kết, được chạm thông phong với nhiều hình bông miến, cành nho. Trung tâm bức chạm mặt tiền, mặt hậu là biểu tượng 5 chiếc bánh trung tâm hai đầu biểu tượng hai con cá, có ý nghĩa kinh thánh “5 chiếc bánh phát cho 5 nghìn người ăn no”. Vai của chân quỳ chạy xung quanh là thành cuả bàn thờ, được chạm lộng những con tiện, những lá sồi được cách điệu thành những bức rèm che trông cực kỳ mỹ thuật và phong cách.

Phía trước cung thánh còn có tượng chịu nạn nằm trên một thánh giá, giường, tay là cây gỗ tròn, được cách điệu bởi các mấu đầu mặt xung quanh giường và tay, có ý diễn tả lại đích thực cây thánh giá nguyên thủy cách đây hai ngàn năm đã đóng đinh Chúa Giesu. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Ngoài bàn thờ và tượng Chúa chịu nạn thì ở trung tâm của cung thánh còn có một tòa giảnh cạnh phía trái gian thánh, mặt đứng của tòa biểu tượng: một cây gỗ tròn dài chừng 1m, đứng trên một bàn, mặt trên của cột là một tòa giảng, nơi để sách phúc âm, vành tòa giảng là một bức chạm thông phong mang hình cây trúc có ý công thẳng bộc trực của công lý, xung quanh cột được chạm lộng 3 con rồng.

Các gian thánh của nhà thờ là hệ thống các tòa vàng trong đó có đặt các bức tượng Chúa, Đức Mẹ, các Thánh nam nữ của Thiên Chúa ngự: Đức Mẹ Mân Côi Quan thầy làng xứ, trao tràng hạt cho thánh Đa Minh, thánh Cataxina hai bên. Tiếp đến trung tâm tượng trái tim Chúa Giesu: 4 tòa hai bên, 4 thánh quan thày 4 khu: Thánh Giuse khu Đông, Thánh Gioan khu Nam, Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội khu Trung, Thánh Ane Đồng trinh khu Đoài. Dưới tượng Trái tim Chúa là nhà tạm để Mình Thánh Chúa, cũng như các nhà thờ khác nhà tạm của nhà thờ giáo xứ Nam Am cũng được trang trí rất lộng lẫy và được bố trí đèn điện phía trước.

Nhìn lên mặt tiền các gian thánh, trung tâm trên cùng là một tòa cao nhất, trong tòa có một ngai vàng biểu tượng Thiên Chúa Cha. Dưới chân ngai là một bức đại tự mang dòng chữ: “Đấng ngự trên ngai phán: Ta là anpha và omega”. Những chữ trên được giải nghĩa bằng hai câu đối treo trên hai cột cái Nam – Bắc của lòng giữa nhà thờ như sau: “Anpha là đầu cội rễ mọi sự, Omega là cùng sau hết mọi loài”.

Kế tiếp dưới là một thánh giá kép trên mũ triều thiên, đến quả địa cầu; trên mặt giường thánh giá chạy hết Đông- Tây, tay thánh giá chạy hết Nam-Bắc quả địa cầu, xung quanh địa cầu là tràng hạt Mân Côi.

Khi nhìn lên mặt tiền các gian thánh chúng ta còn nhìn thấy ảnh trái tim Chúa Giesu chính giữa trên hình các ovan, nam bắc hai bên là sáu thánh tông đồ: Phero, Phaolo, Gioan, Anre, Giacobe, Mattheu; còn sáu thánh tông đồ khác là: Philiphe, Toma, Batolemeo, Simon, Giuda, Mathia. Tất cả các thánh được tọa lạc trên các hình ovan của các tấm bưng giữa và tấm bưng trong.

Ngoài gian cung thánh mặt tiền, ở nách bên phải của cung thánh cũng được kết cấu bằng ba tấm bưng. Ở tấm bưng mặt tiền là một hình trái tim Chúa rực lửa. Tấm bưng thứ hai là biểu tượng hình thánh giá kép bên trên một mũ triều thiên, dưới triều thiên là hai trái tim. Ở tấm bưng thứ hai có biểu tượng chén lễ và những hình dây quấn. Tương tự như vậy ở nách bên trái của cung thánh cũng được kết cấu bằng ba tấm bưng nhưng các hình trang trí trên những tấm bưng này có sự khác nhau. Ở tấm bưng mặt tiền là hình trái tim Đức Mẹ trên có một ngôi sao.Ỏ tấm bưng thứ hai là một thánh giá kép trên mũ triều thiên, ngoài ra còn có hai trái tim ở dưới mũ triều thiên. Ở trên tấm bưng thứ ba có biểu tượng một cây Thánh giá, dưới chân Thánh giá có một mỏ neo ý chỉ Thánh Phero làm nghề chài lưới trên biển, Thánh giá là bến tàu neo đậu để cứu mọi người trong giông tố bão táp.

Có thể nói rằng 3 gian cung thánh này là phần ấn tượng nhất của nhà thờ; bởi nó không chỉ được đầu tư nhiều tiền của mà còn có cả tâm huyết của biết bao người để rồi bất kỳ ai khi đến đây cũng phải ngỡ ngàng mà thốt lên rằng: Chưa từng thấy những gian cung thánh ở đâu lộng lẫy, rực rỡ, lại có nhiều họa tiết hoa văn phong phú của nền văn hóa dân gian đến vậy.

  • Các cơ sở quanh nhà thờ: Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Kỳ đài: Phía sau nhà thờ có dựng một kỳ đài, trung tâm của kỳ đài là một tượng Đức Mẹ bế Chúa Con, hai tay Chúa cầm vòng nguyệt quế đưa ra phía trước, có ý trao vòng chiến thắng đó cho 4 thánh tử đạo hiện đang yên nghỉ dưới chân Chúa và Đức Mẹ đứng. Xung quanh tượng đài từ dưới lên trên nóc có tứ vật là long, ly, quy, phượng chầu trực.

Núi đá nhân tạo: Phía sau kỳ đài là một vách núi dài 20m, rộng 3m, cao 6m với đá thiên nhiên được nhân tạo đúng quy cách của không gian ba chiều, nhìn rất giống với núi đá thật.

Công viên: Để hài hòa với không gian rộng lớn của nhà thờ, những người xây dựng nhà thờ đã khéo léo đưa những thảm cỏ, những chậu cây cảnh, trồng thêm nhiều cây cho bóng mát. Đồng thời ở xung quanh công viên còn rất nhiều hàng ghế đá để mọi người đến ngồi chiêm ngắm và cầu nguyện.

Cũng giống như tất cả các nhà thờ khác thì nhà thờ giáo xứ Nam Am cũng có một phòng thư viện, một phòng truyền thống của xứ, một phòng khách và một phòng họp.

2.6.3. Nhà thờ giáo xứ Hội Am

2.6.3.1. Lịch sử hình thành nhà thờ

Nhà thờ giáo xứ Hội Am hiện nay tọa lạc tại xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Lịch sử xây dựng nhà thờ gắn liền với lịch sử phát triển của cả xứ đạo Hội Am. Nguồn gốc tên gọi Hội Am xuất phát từ làng Hội Am. Mẹ của giáo xứ Hội Am chính là giáo xứ Nam Am. Muốn hiểu rõ hơn về giáo xứ Hội Am ta cần phải biết qua về làng Hội Am.

Làng Hội Am thuộc xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Làng có diện tích đất tự nhiên là 160 ha, với 2500 nhân khẩu. Hội Am chia làm ba khu vực: Hội Thượng (thôn 8); Hội Bến (thôn 10); và giữa làng (thôn9). Bà con giáo dân hầu hết sống ở Hội Thượng và Hội Bến còn người ngoài công giáo thì sống ở giữa làng. Người Hội Am sống chủ yếu bằng nghề nông, nghề mộc, nghề xây và ương cá giống Giáo xứ Hội Am trước kia thuộc xứ Nam Am, sau 1924 thì tách thành một xứ riêng. Cho tới ngày hôm nay, Hội Am không còn lưu giữ được bất cứ văn kiện nào về việc thành lập xứ nên các mốc thời gian chỉ là dựa vào trí nhớ của các vị cao niên và một số sổ sách ghi lại thời gian mà các cha thực hiện các bí tích. Như trong sổ “Thêm sức” của giáo xứ Nam Am có ghi lại: vào ngày 3/10/1921 Đức Cha Francisco Ruiz De Azua Minh đến Nam Am ban Bí tích Thêm Sức cho toàn xứ, trong đó chỉ ghi các em thuộc các họ Hội Thượng, Vạn Hoạch, Hội Bến, Cống Hiền, nhưng không thấy nói gì đến xứ Hội Am. Nhưng ngày 4/10/1938 thì sổ có ghi rõ Đức Cha Comez Lễ đã đến làm phép Thêm sức cho các trẻ tại nhà thờ xứ Hội Thượng.

Hiện nay giáo xứ vẫn còn giữ được bài “vè lập xứ” của Thày Già Khâm, bài gồm 116 câu, làm theo thể lục bát, có hai đoạn có thể giúp ta xác định được ngày tháng thành lập xứ. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Từ câu 5- 14, nói về ngày cắm xứ 1/12/1924.

  • “Cha nay vâng lệnh Đức Thầy
  • Đi lên Cắm Xứ giữa ngày thứ hai
  • Thứ ba ngày lễ Trông Sinh
  • Làm lễ Hội Am giảng khuyên một bài
  • Người giảng trong sách Evan
  • Kể tích ông thánh Gioan nói rằng
  • Có Đấng ở giữa đám đông
  • Có ít kẻ biết nhiều người thì không
  • Lại khuyên hợp ý vui lòng
  • Kẻ công người của giúp trong việc này”.
  • Và đoạn thứ hai từ câu 39- 40, nói về ngày đổ nền 8/12/1924 “Bắt đầu tháng một mười hai
  • Quan viên bàn tính một hai đổ nền”.

Từ hai đoạn của bài vè trên ta có thể xác định được chính xác ngày lập xứ là vào ngày 1/12/1924.

Ngày nay tên gọi giáo xứ Hội Am là tên của chính làng Hội Am. Giáo xứ ban đầu gồm có 8 giáo họ như sau: Hội Thượng, Hội Bến, Vạn Hoạch, Thủy Giang, Cống Hiền, Yên Quý, Trại Đồng và Thanh Khê. Năm 1933, Tòa Giám Mục lại tách ba họ Yên Quý, Trại Đồng và Thanh Khê để thành lập giáo xứ Yên Quý. Năm 1945 sau cơn đói, họ Thủy Giang chỉ còn lại vài gia đình với nền nhà thờ đang làm dở dang sau làng Vạn Hoạch. Sau 1954 những gia đình ấy chuyển vào Nam hết. Họ Thủy Giang từ đấy không còn chỗ đứng trong giáo xứ nữa. Giáo xứ Hội Am hiện nay chỉ còn lại bốn giáo họ: Hội Thượng, Hội Bến, Vạn Hoạch, Cống Hiền.

Quá trình ra đời giáo xứ đã dẫn đến việc hình thành và xây dựng nên các cơ sở để thờ tự. Vì vậy nhà thờ giáo xứ Hội Am đã ra đời để đáp ứng lòng mong mỏi của mọi người. Để chuẩn bị cho 80 năm ngày thành lập giáo xứ Hội Am (1924- 2004), vào ngày mùng tám Tết năm Nhâm Ngọ (2002) Hội nghị đại biểu toàn giáo xứ đã được họp và quyết định làm lại nhà thờ đã xuống cấp và quá bé nhỏ. Vì vậy ngày 23/4/2003 Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên đã chủ trì buổi lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng nhà thờ mới giáo xứ Hội Am, hiện nay nhà thờ được đặt tại giáo họ Hội Thượng, làng Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Tp Hải Phòng.

2.6.3.2. Tổ chức điều hành nhà thờ

Cùng với quyết định tách xứ, thì Tòa Giám Mục đã bổ nhiệm các Cha xứ cho Hội Am. Từ 1924 đến 1971, Hội Am đã có 6 đời Cha xứ và hiện nay giáo xứ do Cha GioanBaotixia Nguyễn Quang Sách, ngài làm chánh xứ Yên Quý và quản xứ Hội Am (từ 2004 đến nay) Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Để quản lý các công việc trong giáo xứ ngoài Cha GioanBaotixia Nguyễn Quang Sách còn có Ban Thường Trực Hội Đồng Mục Vụ giáo xứ gồm có:

  • Chánh trương: Luca Hoàng Văn Hứa
  • Phó trương: Isidoro Bùi Đức Nẩy
  • Phó trương: Stephano Phặm Văn Đăng

2.6.3.3. Giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật của nhà thờ

Nhà thờ giáo xứ Hội Am có phong cách kiến trúc khác lạ so với hai nhà thờ đã trình bầy bên trên. Nếu ở nhà thờ Chính tòa Hải Phòng ta bắt gặp phong cách kiến trúc theo kiểu Gothic với đỉnh nhọn, mái vòm cung, nhiều cửa kính. Khi vào nhà thờ giáo xứ Nam Am ta phải choáng ngợp trước sự kết hợp tài tình của hai trường phái kiến trúc Đông- Tây, ở đây có sự hài hòa của phong cách kiến trúc kiểu Gothic và phong cách kiến trúc dân gian. Nhưng khi đến nhà thờ giáo xứ Nam Am ta lại thấy một vẻ đẹp giản dị, chất phác nhưng cũng không kém phần trang nghiêm và tôn kính.

Nhà thờ giáo xứ Hội Am được khởi công xây dựng từ 23/4/2004 đến 28/12/2007 thì hoàn thành. Nhà thờ mang phong cách kiến trúc thời hiện đại nhưng vẫn có sự kết hợp với kiến trúc dân gian truyền thống.

  • phía mặt tiền của nhà thờ có đặt tượng 5 thánh tử đạo của vùng đất Hội Am đó là các ông:
  • Ông Phero Hoàng Văn Thận (anh hùng tử đạo Hội Thượng)
  • Ông Phero Bùi Văn Chuyển (anh hùng tử đạo Vạn Hoạch)
  • Ông Phero Bùi Văn Thế (anh hùng tử đạo Vạn Hoạch)
  • Ông Gioan Ất (anh hùng tử đạo Hội Bến)
  • Ông Toma Khoa (anh hùng tử đạo Cống Hiền)

Tháp chuông: Cũng giống với nhà thờ giáo xứ Nam Am, tháp chuông của nhà thờ giáo xứ Hội Am được thiết kế và xây dựng ngay trước lối vào của nhà thờ. Tháp chuông được xây cao vượt khỏi mái với chiều cao là 15m, có hai đỉnh nhọn song song hai bên và được kết cấu chia làm ba tầng mỗi tầng treo một quả chuông nhỏ. Trên đỉnh của tháp chuông đặt một cây thánh giá được làm bằng đồng có mạ vàng bên ngoài. Tiếp đó là đến tầng mái, mái của tháp chuông được xây dựng theo kiểu kiến trúc cung đình với mái nhọn uốn cong và được lợp ngói mũi hài. Một ngôi sao lớn được gắn ngay ngắn phía dưới của tầng mái với ý nghĩa Thiên Chúa dẫn đường cho mọi tín đồ. Ở ngay chính giữa của tháp chuông là bức tượng Đức Mẹ bế Chúa hài đồng.

Thánh đường: Trần của thánh đường được xây dựng đơn giản với trần bằng bê tông được quét một lớp sơn trắng giản dị. Nếu ở nhà thờ Chính Tòa ta cảm thấy mái cao vút, lộng lẫy với kiểu kiến trúc Gothic thường thấy ở các nhà thờ phương Tây. Nhà thờ Nam Am cổ kính với kiến trúc dân gian truyền thống, với chồng diềm, cột gỗ, vì kèo… thì ở đây ta lại cảm nhận được sự giản dị, thanh thoát nhưng lại không cũng kém phần linh thiêng của Thiên Chúa.

Cũng giống với Đền Thánh Đức Mẹ Mân Côi xung quanh hai bên tường của nhà thờ có trang trí 20 mầu nhiệm Mân Côi được hoa mầu trên những tấm kính lộng lẫy ánh sáng. Ở phía bên trái: Năm sự vui, Thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ; năm sự Sáng, Chúa Giesu giao rảng nước trời. Ở phía bên phải: Năm sự Thương, nói về cuộc tử nạn của Chúa và kết thúc ở bên phải năm sự Mừng: Khi Đức Mẹ được hưởng triều thiên trên thiên quốc. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Ngay phía dưới 20 mầu nhiệm Mân Côi là 14 bức phù điêu hay còn gọi là 14 đàng thánh giá tất cả đều được làm bằng xi măng và mang những nội dung ý nghĩa như sau:

  1. Chúa Giesu chịu xử án.
  2. Chúa Giesu kê vai vác lấy thánh giá.
  3. Chúa Giesu ngã xuống đất lần thứ nhất.
  4. Chúa Giesu gặp Đức Mẹ.
  5. Thánh Ximong vác đỡ thánh giá với Chúa.
  6. Thánh nữ Veronica lau mặt Chúa.
  7. Chúa Giesu ngã xuống đất lần thứ hai.
  8. Chúa Giesu an ủi người nữ tì Gierusalem.
  9. Chúa Giesu ngã xuống đất lần thứ 3.
  10. Quân dữ lột áo Chúa Giesu ra.
  11. Chúa Giesu chịu đóng đinh vào thập giá.
  12. Chúa Giesu chết trên thánh giá.
  13. Môn đệ hạ xác Chúa Giesu xuống.
  14. Táng xác Chúa Giesu vào hang đá.

Tiếp đó là đến hệ thống cửa hoa thoáng hình quả trám, với cách trang trí này làm cho tổng thể kiến trúc không bị nhàm chán ngoài ra công dụng của nó còn giúp cho thánh đường vô cùng thoáng mát.

Lòng của thánh đường rộng 22m, dài 45m nơi đây có thể chứa được hàng ngàn giáo dân mỗi khi vào dịp thánh lễ. Hai bên hông của thánh đường đều có cửa ra vào và rất nhiều cửa sổ. Hệ thống cửa sổ được bố trí suốt chiều dài của thánh đường.

Cung thánh: Phía trên thánh đường là một gian dành cho cung thánh. Vách cung thánh được làm bằng gỗ có cách điệu bằng những đường thẳng chạy dọc, ngang suốt chiều dài của cung thánh. Tượng chúa giesu chịu nạn được đặt trong một cây thánh giá lớn ở chính giữa của cung thánh. Phía dưới là nhà tạm, nơi đặt Mình Thánh Chúa. Như đã trình bầy ở trên thì nhà tạm luôn phải đóng cửa và có đèn điện bên ngoài. Ở hai bên nhà tạm có đặt tượng hai thánh tông đồ Phero và Phaolo, phía trên thì có tượng Chúa cả Giuse.

Phía tay phải của cung thánh có dựng tượng Đức Mẹ Maria bế chúa hài đồng. Bên tay trái là tượng thánh Đấng bảo trợ thiếu nhi thánh thể. Tất cả đều được làm bằng chất liệu gỗ quý.

Ở trên gian cung thánh còn có tòa giảng, nơi để sách phúc âm và là nơi để các cha quản xứ giảng kinh sách. Ngoài ra còn có một chiếc bàn nhỏ để đồ dùng phụng vụ cho thánh lễ. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

Phía sau cung thánh nhà thờ có để một gian nhỏ là nơi để mặc áo lễ. Đây là gian phòng dành cho linh mục mặc áo lễ trước khi tiến hành thánh lễ. Trong gian phòng này treo các loại áo lễ của linh mục và cũng là nơi lưu giữ đồ thánh

  • Các cơ sở quanh nhà thờ:

 Nhà xứ: nhà xứ của toàn giáo được đặt ở phía sau nhà thờ. Trong nhà xứ có 1 phòng truyền thống, 1 phòng khách. Trong phòng truyền thống của nhà thờ có treo nhiều ảnh của các cha phụng vụ cho giáo xứ, các anh hùng tử đạo cũng như Hội Đồng Mục vụ giáo xứ qua các khóa.

Khác với những nhà thờ khác trong khuôn viên nhà thờ không có công viên cũng như núi đá nhưng ở đây lại có một vườn cây ăn trái lúc nào cũng xum xuê tươi tốt.

Trong khuôn viên của nhà thờ có đặt mộ của cha già Cẩn, ngài là người có công đầu trong việc xây dựng và giúp cho giáo xứ phát triển như ngay nay.

2.7. Tiểu kết chương 2

Chương 2 của khóa luận đã nghiên cứu và xếp loại các nhà thờ Công giáo vào loại tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và loại hình du lịch tương ứng với nó chính là loại hình du lịch tôn giáo tín ngưỡng. Nội dung của chương 2 đã cho ta một cái nhìn bao quát hơn về lịch sử hình thành cũng như là các giai đoạn phát triển của nhà thờ Công giáo ở Việt Nam nói chung và ở Hải Phòng nói riêng. Những nhà thờ này có những công năng và vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tâm linh của các tín đồ.

Chương 2 của khóa luận nghiên cứu sâu hơn về ba nhà thờ Công giáo tiêu biểu tại Hải Phòng: Nhà thờ Chính tòa Hải Phòng, nhà thờ giáo xứ Nam Am, nhà thờ giáo xứ Hội Am. Việc nghiên cứu ba nhà thờ này sẽ như những gợi ý để có cái nhìn toàn diện về những nhà thờ Công giáo ở Hải Phòng và việc khai thác nhà thờ Công giáo để phục vụ cho du lịch. Khóa luận: Thực trạng một số nhà thờ Công giáo Hải Phòng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp một số nhà thờ Công giáo ở Hải Phòng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537