Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển

Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển thuộc chuyên ngành Du lịch là bài luận tốt nghiệp được tác giả dựa trên kiến thức về Du lịch mà triển khai. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngành du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thu hút đầu tư; tạo nhiều việc làm; xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc; xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam năng động, thân thiện và hòa bình. Dưới đây là Đề tài: Một số giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng trong giai đoạn 2021 -2025, mời các bạn đọc giả tham khảo. 

2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DU LỊCH BIỂN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1.1. Đặc điểm về lịch sử, điều kiện tự nhiên của Hải Phòng

2.1.1.1 Lịch sử

Là vùng đất đầu sóng, ngọn gió, Hải Phòng có vị thế chiến lược trong toàn bộ tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Người Hải Phòng với tinh thần yêu nước nồng nàn, tính cách dũng cảm, kiên cường, năng động, sáng tạo, đã từng chứng kiến và tham gia vào nhiều trận quyết chiến chiến lược trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Hải Phòng là vùng đất in đậm dấu ấn trong lịch sử chống giặc ngoại xâm phương Bắc với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng: trận Bạch Đằng, 938 của Ngô Quyền, trận Bạch Đằng, 981 của Lê Hoàn, trận Bạch Đằng, 1288 của Trần Hưng Đạo.Thời nhà Mạc, vì đây là quê hương của nhà Mạc nên vùng này được chú ý xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh.

Năm 1870 – 1873, Bùi Viện, được vua Tự Đức giao phó, đã thực hiện việc xây dựng một bến cảng bên cửa sông Cấm mang tên Ninh Hải và một căn cứ phòng ngự bờ biển ở liền kế bên, gọi là nha Hải Phòng sứ. Khi Pháp đánh chiến Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873-1874, tại cảng Ninh Hải này, nhà Nguyễn và Pháp lập nên một cơ quan thuế vụ chung, quản lý việc thương mại ở vùng này gọi là Hải Dương thương chính quan phòng.

Thành phố Hải Phòng ngày nay được Quốc Hội Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là Quốc Hội Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Quyết định thành lập vào ngày 27/10/1962, trên cơ sở hợp nhất thành phố Hải Phòng cũ và tỉnh Kiến An, trở thành thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc bộ của Việt Nam.

Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Hải Phòng có nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung tâm dịch vụ, du lịch, giáo dục, y tế và thủy sản của vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Naml, là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, nằm ngoài Quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Ngoài ra, Hải Phòng còn giữ vị trí tiền trạm của miền Bắc, nơi đặt trụ sở của Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân và Bộ Tư lệnh Quân Chủng Hải quân Việt Nam.

Không chỉ là một thành phố cảng công nghiệp, Hải Phòng còn là một trong những nơi có tiềm năng du lịch rất lớn. Hải Phòng hiện lưu giữ nhiều nét hấp dẫn về kiến trúc, bao gồm kiến trúc truyền thống với các chùa, đình, miếu cổ và kiến trúc tân cổ điển Pháp tọa lạc trên các khu phố cũ. Đồng thời, Hải Phòng hiện đang sở hữu một khu dự trữ sinh quyển thế giới của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) nằm tại Quần đảo Cát Bà, cùng với các bãi tắm và khu nghỉ dưỡng ở Đồ Sơn.

2.1.1.2. Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

  • Vị trí địa lý

Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 21001’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình.

Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ diện tích 42,4 km2 do dãy núi Rồng vươn dài ra biển 5 km với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 đến 130 m, nằm ở phía đông nam thành phố Hải Phòng ở 20°42’ vĩ độ bắc, 106°45’ kinh độ đông, cách trung tâm thành phố khoảng 22 km về hướng đông nam, có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây giáp huyện Kiến Thụy, phía bắc giáp quận Dương Kinh. Do ở phía bắc và phía nam là hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc thuộc hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển đem theo nhiều phù sa, nên nước biển ở khu vực này đục (nhất là khu II) nhưng vẫn có sức thu hút du khách.

Quần đảo Cát Bà là một quần đảo gồm 367 đảo, có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300 km², trong đó có đảo Cát Bà ở phía nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải   Phòng khoảng   30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km. Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Lan Hạ nối tiếp với vùng đảo vịnh Hạ Long. Đảo chính Cát Bà ở độ cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100 km2, cách thành phố 30 hải lý.

Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang – một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc. Bên cạnh đó, với vị trí địa lý và hệ thống giao thông quan trọng, thuận lợi và tiềm năng tài nguyên phong phú cả tự nhiên và nhân văn, Hải Phòng hội tụ đầy đủ mọi điều kiện thuận lợi và luôn giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch nói riêng, kinh tế xã hội nói chung của vùng và của cả nước. Trong đó tuyến du lịch Hà Nội – Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long là một trong 3 hành lang phát triển du lịch Hà Nội – Hải Phòng đã thực sự trở thành động lực phát triển du lịch của các vùng trong cả nước, góp phần thực hiện các mục tiêu của ngành và sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Đối với vùng duyên hải bắc bộ, Hải Phòng cũng được xác định là một trong ba hạt nhân để tập trung phát triển mang tính động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch của cả vùng. Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của cả vùng Duyên hải Bắc bộ thì Hải Phòng có vị trí quan trọng trên hai tuyến du lịch ven biển quan trọng theo đường bộ đó là:

Ninh Bình – Nam Định – Thái Bình – Hải Phòng – Hạ Long nối Hạ Long cạn theo đường ven biển đến vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế giới (theo quốc lộ 10). Tuyến đường này cùng với tuyến đường quốc lộ 5 nối Hà Nội – Hải Phòng là các trục đường bộ quan trọng nối Hải Phòng với các thị trường khách du lịch của cả vùng.

Hải Phòng – Huế – Đà Nẵng – Quảng Ngãi – Bình Định – Phú Yên – Nha Trang, Ninh Chữ – Đà Lạt – thành phố Hồ Chí Minh, nối cố đô Huế – di sản văn hoá thế giới với thành phố Hồ Chí Minh – đô thị lớn nhất Việt Nam (theo quốc lộ 1A).

Về đường biển, Hải Phòng là địa phương có ưu thế hơn hẳn các địa phương khác trong vùng Bắc Bộ để phát triển tuyến du lịch đường biển. Thông qua Hải Phòng, vùng Bắc Bộ không những tiếp cận được với các thị trường khách du lịch từ các vùng khác trong cả nước mà còn nối với quốc tế.

Về đường hàng không, Hải Phòng có sân bay Cát Bi là sân bay thứ hai của vùng Bắc Bộ, nối Hải Phòng với các thị trường khách du lịch trong cả nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… đồng thời là cửa khẩu quốc tế nối Hải Phòng với Ma Cao (Trung Quốc), bằng đường hàng không, đáp ứng được việc vận chuyển khách bằng các máy bay hành khách lớn.

Về đường sắt, Hải Phòng được nối với Hà Nội bằng tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội và tiếp nối với tuyến đường sắt đi Lào Cai – Vân Nam (Trung Quốc), đi Lạng Sơn – Quảng Tây (Trung Quốc) và nối với tuyến đường sắt xuyên Việt Bắc – Nam. ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

  • Địa hình:

Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1.519 km2 bao gồm cả huyện đảo (Cát Hải và Bạch Long Vĩ). Hải Phòng có địa hình khá phức tạp, đa dạng, gồm cả lục địa và hải đảo, bị chia cắt bời sông và kênh đào, có mật độ sông lớn nhất Vùng đồng bằng Bắc bộ. Toàn bộ lãnh thổ Hải Phòng được phân chia thành 3 vùng chính: (1) Vùng đá thấp chia cắt mạnh chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và một số đảo khác trong Vịnh Lan Hạ, Hạ Long; (2) Vùng đồi chia cắt mạnh, chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên, chủ yếu tập trung ờ phía Bắc huyện Thủy Nguyên; (3) Vùng đồng bằng, chiếm khoảng 85% diện tích tự nhiên, phân bổ ở hầu hết các huyện và khu vực nội thành.

Đồi núi phân bố chủ yếu ở phía Bắc, do vậy địa hình phía bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của vùng trung du với những đồng bằng xen đồi, ngả thấp dần về phía nam ra biển; khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc – Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu. Dãy Kỳ Sơn – Tràng Kênh và An Sơn – Núi Đèo, gồm hai nhánh: nhánh An Sơn – Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn – Trang Kênh có hướng tây tây bắc – đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi.

Phía nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển, có độ cao từ 0,7 – 1,7 m so với mực nước biển. Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km2, thấp và khá bằng phẳng, chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra biển.

Địa hình khu du lịch biển Đồ Sơn thuộc dạng đồi, chạy dài theo hướng tây bắc – đông nam nhô khỏi mặt biển, kéo dài hình 9 con rồng cùng vươn về phía đảo Hòn Dáu, cấu tạo chủ yếu là đá cát kết và đá phiến sét thuộc trầm tích trung sinh, kết quả của cuộc vận động kiến tạo Đại Trung Sinh và bị sụt lún sau vận động Tân Kiến Tạo. Trong quá trình phong hóa kéo dài, đá núi biến chất, làm cho lớp vỏ núi có dạng đất feralit, thích hợp với nhiều loại cây trồng nhất là loại thân cây nhỏ. Vùng đất chân núi, cánh đồng lúa Ngọc Xuyên, ruộng muối Bàng La vốn do phù sa bồi tích tạo thành. Phần còn lại là bãi cát ven biển.

Ngoài ra, còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ…. đẹp và kì thú. Cát Bà là đảo lớn nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long. Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi. Phía đông nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía tây nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp.

Hệ thống sông ngòi: Mạng lưới sông ngòi của Hải Phòng có mật độ trung bình từ 0,6 – 0,8 km/km2. Có 6 sông chính và 9 nhánh sông với tổng chiều dài khoảng 300 km là các sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Luộc… ngoài các sông chính là các nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa hình thành phố như sông Giá (Thủy Nguyên), sông Đa Độ (An Lão – Kiến An – Kiến Thụy – Dương Kinh – Đồ Sơn), sông Tam Bạc…

  • Khí hậu:

HảiPhòng nằm trong khu vực gió mùa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, ít mưa. Khí hậu vừa mang đặc điểm chung khí hậu vùng đồng bằng miền Bắc Việt Nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Trong đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô, mùa đông là 20,3°C; từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5°C; vừa có những đặc điểm riêng của vùng ven biển, nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C – 26oC, tháng nóng nhất (tháng 6,7) nhiệt độ có thể lên đến 44oC và tháng lạnh nhất (tháng 1,2) nhiệt độ có thể xuống dưới 5oC. Độ ẩm trung bình vào khoảng 80 – 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 1, tháng 12.. Do nằm sát biển nên vào mùa đông, Hải Phòng ấm hơn và mùa hè mát hơn so với Hà Nội.

Chế độ thủy văn: Vùng biển Hải Phòng có chế độ nhật chiều thuần nhất điển hình là thủy triều theo chế độ nhật chiều: Độ cao 3,7-3,9m, cao nhất là

+4,44m, chu kỳ triều ổn định kéo dài 24 giờ, nước ròng xuất hiện trong tháng 7,8; nước cường xuất hiện trong tháng 12 và tháng 1.

Khí hậu Đồ Sơn mang đặc điểm chung miền ven biển vịnh Bắc Bộ, nhưng với vị trí một bán đảo nên mùa đông thường ấm hơn và mùa hè thường mát mẻ hơn. Cùng với địa hình thấp lại giáp biển nên thực vật chủ yếu là cây lá kim.

Quần đảo Cát Bà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Lượng mưa: 1.700- 1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8. Nhiệt độ trung bình: 25-28 °C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30 °C, về mùa đông trung bình 15-20 °C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10 °C (khi có gió mùa đông bắc). Độ ẩm trung bình: 85%. Dao động của thủy triều: 3,3-3,9 mét. Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)

2.1.1.3 Tiềm năng du lịch biển của Hải Phòng ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Hải Phòng nằm ở ven bờ Tây Bắc vịnh Bắc Bộ có đường bờ biển dài khoảng 125 km kể cả bờ biển chung quanh các đảo khơi, có 6 cửa sông chính đổ ra biển. Bờ biển có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra. Trên đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo, đây là điểm mút của dải đồi núi chạy ra từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa thạch) tuổi Đevon, đỉnh cao nhất đạt 125 m, độ dài nhô ra biển 5 km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có quần đảo Cát Bà, xa nhất là đảo Bạch Long Vỹ. Biển hình thành nên tính cách người Hải Phòng ‘ăn sóng nói gió”, tạo nên nét đặc trưng riêng biệt. Biển cũng là nguồn lực hình thành nền kinh tế biển, dấu mốc là sự ra đời của Cảng Hải Phòng. Đồng thời, nơi đây còn có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp.

Với vùng biển có diện tích khoảng 4.000 km2, gấp 2,6 lần diện tích đất đai của thành phố, chiếm 5,4% diện tích vịnh Bắc Bộ, có 8/15 quận, huyện tiếp giáp với biển và 2 huyện đảo Cát Hải và Bạch Long Vĩ, tài nguyên du lịch biển Hải Phòng tập trung chủ yếu ở Cát Bà, Đồ Sơn, một phần tại Bạch Long Vĩ. Có hơn 400 đảo, tập trung ở quần đảo Cát Bà (367 đảo) với diện tích 334,1 km2, trong đó đảo đá vôi Cát Bà là một trong ba đảo lớn nhất ở nước ta và là đảo đá vôi lớn duy nhất. Các hệ sinh thái biển quan trọng như rạn san hô phân bố ở ven bờ Cát Bà, Long Châu và Bạch Long Vĩ, rừng ngập mặn và thảm rong tảo – cỏ biển phân bố ở vùng triều, trên các bãi bồi cửa sông, ven biển, ven đảo. Vùng biển Hải Phòng có 135 loài thực vật nổi, 138 loài rong, 23 loài thực vật ngập mặn, 500 loài động vật đáy vùng triều, 150 loài san hô, 189 loài cá, tôm. Trên các đảo có các hệ sinh thái rừng nhiệt đới còn giữ được tính đa dạng sinh học cao với điều kiện tự nhiên rất phong phú, đa dạng có những nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa và nhiều nét văn hóa đặc sắc gắn với những địa danh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch biển.

Hải Phòng còn là địa phương có nhiều di tích lịch sử, văn hóa có giá trị. Theo Sở Du lịch Hải Phòng, toàn thành phố hiện có 470 di tích được xếp hạng, trong đó có 02 di tích quốc gia đặc biệt (danh lam thắng cảnh quần đảo Cát Bà và Khu di tích Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm); 112 di tích cấp quốc gia và hàng trăm di tích cấp thành phố. Nhiều lễ hội lớn như: Lễ hội Chọi Trâu (Đồ Sơn) – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Lễ hội Minh thề (Kiến Thụy) – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Lễ hội Làng cá Cát Bà (Cát Hải); Lễ hội hát Đúm (Thủy Nguyên); Lễ hội Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Bảo);

Lễ hội Hoa Phượng Đỏ – một Lễ hội độc đáo được tổ chức thường niên đã trở thành sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân thành phố. Nhiều làng nghề truyền thống được phục dựng, duy trì và phát triển. Ẩm thực Hải Phòng nổi tiếng với các món ăn đặc sản mang hương vị biển như: bánh đa cua, chả chìa Hạ Lũng, tu hài Cát Bà và nhiều món ăn dân dã thu hút và hấp dẫn du khách như: bánh mỳ cay, bánh bèo, giá bể, nộm sứa…

Tiềm năng du lịch biển của thành phố là rất lớn, song sự phát triển còn nhiều hạn chế, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chưa khẳng định được vị trí, lợi thế so sánh trong vùng và khu vực. Hiệu quả kinh tế du lịch thấp, cơ cấu và tỷ trọng du lịch trong nhóm ngành dịch vụ còn nhỏ bé. Chưa có những điểm du lịch, khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, mua sắm lớn. Sản phẩm du lịch chưa được đầu tư chiều sâu, chủ yếu dựa trên khai thác giá trị sẵn có, chưa có sản phẩm du lịch độc đáo, bắt kịp xu hướng và nhu cầu thị hiếu của du khách; thiếu các sản phẩm có sức hấp dẫn và tính cạnh tranh cao. Phần lớn các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là doanh nghiệp lữ hành có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp. Hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch còn rất hạn chế về cả kinh phí và nhất là cách thức tổ chức thực hiện. Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, nhất là ở các khu vực biển đảo là thế mạnh du lịch của thành phố. Cơ sở vật chất có chất lượng và nguồn nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp còn hạn chế.

2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Trong giai đoạn 2016 -2020, với sự năng động của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục trong nhiều năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, Hải Phòng có thế và lực để thu hút đầu tư vào ngành du lịch.

Hải Phòng hội tụ đầy đủ các lợi thế về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế giới. Do có cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các thành tựu khoa học – công nghệ từ nước ngoài để rồi lan toả chúng trên phạm vi rộng lớn từ bắc khu Bốn cũ trở ra. Cảng biển Hải Phòng cùng với sự xuất hiện của cảng Cái Lân (Quảng Ninh) tạo thành cụm cảng có quy mô ngày càng lớn góp phần đưa hàng hoá của Bắc bộ đến các vùng của cả nước, cũng như tham gia dịch vụ vận tải hàng hoá quá cảnh cho khu vực Tây Nam Trung Quốc.

Giai đoạn 2016 -2020 đánh dấu những bước phát triển bứt phá của kinh tế Hải Phòng. Kinh tế thành phố phát triển toàn diện, luôn duy trì tốc độ tãng trưởng cao, đạt được những bước tiến dài trong phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ, GRDP bình quân 5 năm 2016- 2020 tăng 13,94%/năm, gấp 1,97 lần giai đoạn 2011-2015 (7,08%/năm). Quy mô kinh tế tiếp tục được mở rộng, năm 2020 đạt 276,6 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 12 tỷ USD), gấp 2,1 lần so với năm 2015 (131,3 nghìn tỷ đồng), đứng thứ 2 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 5.863 USD, gấp gần 2 lần so với năm 2015 (3.042 USD), gấp gần 2 lần của cả nước (3.000 USD). Chỉ số sản xuất công nghiệp bình quân 05 năm tăng 20,55%/năm, (tăng 14%/năm), gấp 2,12 lần so với giai đoạn 2011-2015 và gấp hơn 2 lần tốc độ tăng chung của cả nước; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 36,4%/năm, năm 2020 đạt 20,38 tỷ USD, gấp 4,7 lần năm 2015…

Đóng góp vào sự phát triển chung của thành phố là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp. Công nghiệp thành phố phát triển cả về quy mô, chất lượng và tốc độ. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2020 đạt 86.482 tỷ đồng, gấp 2,57 lần so với năm 2015 (33.626 tỷ đồng), tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 20,8%/năm, gấp 1,78 lần giai đoạn 2011-2015 (11,69%/năm). Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo tăng nhanh từ 16,4% năm 2015 lên 45,5% năm 2020.

Giai đoạn 2016-2020, có 89,7% vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp thành phố, trong đó có 89,5% vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến chế tạo, với nhiều dự án trên dưới 1 tỷ USD của nhiều nhà đầu tư lớn, trong đó đóng góp chủ lực của Tập đoàn LG (Hàn Quốc) đầu tư trên 06 tỷ USD vào Tổ hợp nhà máy sản xuất linh kiện điện tử hiện đại, có giá trị thương mại cao.

Bên cạnh các dự án FDI đầu tư góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp thành phố, các dự án đầu tư trong nước cũng khẳng định sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp truyền thống như: Đóng tàu, sản xuất xi măng, sản xuất phôi thép, thép cán, kết cấu thép; sản xuất và phân phối điện; sản xuất da giày, dệt may; sản xuất, lắp ráp ô tô; gia công lắp ráp linh phụ kiện…

Kinh tế dịch vụ phát triển nhanh, ngày càng khẳng định vai trò chủ lực của kinh tế thành phố. Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ năm 2020 đạt 72,3 nghìn tỷ đồng, gấp 1,57 lần năm 2015, tăng bình quân 9,46%/năm. Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại phát triển khá mạnh và toàn diện, từng bước khẳng định vị trí là trung tâm thương mại lớn của cả nước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 12,63%/năm giai đoạn 2016- 2020; năm 2020 đạt 144,7 nghìn tỷ đồng, gấp 1,81 lần năm 2015. Đặc biệt với sự khai trương Trung tâm Thương mại AEON MALL Hải Phòng – Lê Chân vào 24/12/2020 là TTTM Nhật Bản đầu tiên và lớn nhất tại thành phố Hải Phòng, đồng thời là TTTM lớn thứ 3 tại miền Bắc đã đánh dấu sự phát triển lớn mạnh của TM-DV thành phố.

Bên cạnh đó, với vị trí là một trung tâm dịch vụ hàng hải và vận tải biển lớn của cả nước, hạ tầng cảng biển Thành phố được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới theo hướng đồng bộ, hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển vận tải biển khu vực và quốc tế. Cảng nước sâu Nam Đình Vũ và cảng Container quốc tế Hải Phòng được đưa vào khai thác từ tháng 5/2018 làm giảm tải cho các cảng nằm sâu trong nội địa và tăng năng lực tiếp nhận hàng hóa, đóng góp vào tăng trưởng của ngành vận tải, kho bãi. Tổng lượng hàng hóa qua cảng tăng nhanh, tăng bình quân 15,9%/năm, năm 2018 đạt gần 110 triệu tấn, năm 2020 đạt 142,87 triệu tấn gấp 2,1 lần năm 2015, khẳng định rõ vai trò cảng cửa ngõ lớn nhất miền Bắc. ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Nhờ đó dịch vụ vận tải và hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố ngày càng phát triển, khối lượng vận chuyển hành khách, hàng hóa tăng trưởng ổn định qua các năm, bình quân tăng 10%/năm; hoạt động vận tải phát triển ở cả 4 loại hình: đường bộ, đường biển, đường sắt, hàng không.

9 tháng đầu năm 2021, tăng trưởng kinh tế đạt12,28%, gấp 8,65 lần cả nước (1,42%), dẫn đầu các địa phương trong cả nước, 10 tháng đầu năm 2021, Hải Phòng là địa phương thu hút FDI cao nhất cả nước; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 19,22%; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt hơn 73.000 tỷ đồng, tăng hơn 17%; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 18 tỷ USD, tăng hơn 25%. Thu hút đầu tư nước ngoài đạt gần 3 tỷ USD, gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ. Sản lượng hàng hóa qua cảng đạt hơn 119 triệu tấn, tăng 7%…

Những năm gần đây, Hải Phòng đều đứng trong tốp đầu cả nước về chỉ số PCI. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được tập trung tăng cường đầu tư, đã khởi công nhiều dự án, công trình hạ tầng giao thông, đô thị quan trọng. Các lĩnh vực văn hóa – xã hội, công tác an sinh, phúc lợi xã hội tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

Kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ đã tạo nền tảng cho ngành du lịch có nhiều bước tiến đáng kể. Ngành du lịch thành phố luôn duy trì mức tăng trưởng và có nhiều phát triển đột phá. Công tác quản lý nhà nước, quảng bá, xúc tiến du lịch ngày càng được chú trọng. Chất lượng sản phẩm du lịch được nâng cao. Nổi bật là từ cuối năm 2016, thành phố đã thu hút đầu tư du lịch với sự có mặt của hàng loạt các tập đoàn lớn như Vingroup, Sungroup, Him Lam, FLC, Xuân Trường, Flamingo… Lượng khách du lịch tăng bình quân 5,72%/năm; năm 2018 đón 7,8 triệu lượt khách.

Có thể bạn quan tâm:

→  DỊCH VỤ NHẬN VIẾT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

2.1.2.2 Dân số, lao động và việc làm

Hải Phòng với dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao, có chỉ số phát triển giáo dục với hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh là cơ sở để cung cấp nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng cho ngành du lịch.

Dân số của Hải Phòng hiện nay (2020) là 2.053.493 người; mật độ dân số bình quân là 1.315 người/km2. Dân số khu vực thành thị là 932.547 người, chiếm 45,9%; nam chiếm 49,45% và nữ chiếm 50,55% dân số. Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 2011-2021 là 0,94%/năm. Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế là 1.075,7 nghìn người, chiếm tỷ lệ 52,38% tổng số dân và chiếm 97.87% so với tổng số lực lượng lao động.

Năng suất lao động tăng trung bình giai đoạn 2016 -2020 là14,04%/năm, gấp 2,42 lần bình quân chung cả nước (5,8%/năm); năm 2020 đạt 254,99 triệu đồng/lao động (theo giá hiện hành), gấp 2,12 lần so với năm 2015 và gấp 2,05 lần bình quân chung cả nước (124,4 triệu đồng/lao động).

Là một trong những tỉnh, thành phố đông dân nhất cả nước, dân số trẻ và năng động, Hải Phòng có nhiều lợi thế để phát triển nguồn nhân lực không chỉ dồi dào về số lượng mà còn mạnh về chất lượng. Trong những năm vừa qua, Hải Phòng đã thu hút hàng loạt dự án đầu tư thuộc nhiều lĩnh vực từ các công ty, tập đoàn lớn bao gồm cả các dự án phát triển du lịch của Vingroup, Himlam, Hilton, Sun Group, Geleximco…, thành phố nhanh chóng trở thành một trung tâm kinh tế, thương mại và công nghệ quan trọng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Làn sóng đầu tư mạnh mẽ kéo theo nhu cầu về số lượng lao động không ngừng tăng lên. Theo số liệu từ Ban Quản lý Khu Kinh tế Hải Phòng, mức tăng bình quân của nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hải Phòng là 15,7%. Trong quá trình tìm hiểu thực tế trước khi đầu tư vào Hải Phòng, những công ty lớn luôn quan tâm đến vấn đề cung ứng lao động. Đây vừa là cơ hội để thêm nhiều người lao động Hải Phòng tìm được việc làm, gia tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, vừa là thách thức bởi người lao động có nguy cơ bị đào thải nếu trình độ chuyên môn, tay nghề của họ không đáp ứng yêu cầu cao của doanh nghiệp. Nhận thức được vấn đề đó, song song với việc tăng cường công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động, hoạt động đào tạo nghề cũng được Hải Phòng chú trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhờ đẩy mạnh các dự án kêu gọi FDI cộng với cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh và mạnh, Hải Phòng đang là “thỏi nam châm” thu hút ngày càng nhiều tập đoàn trong và ngoài nước đến đầu tư. Nhờ đó, nhu cầu về lực lượng lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao rất lớn. ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Theo thống kê năm 2020, Hải Phòng có nguồn nhân lực trẻ lên tới 1,3 triệu người, trong đó có tới 82,5% lao động đã qua đào tạo, chưa kể đến một phần khá lớn người lao động nhập cư từ các địa phương lân cận như Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình… Có thể nói, Hải Phòng đang có nguồn nhân lực chất lượng cao và dồi dào. Với xu hướng các nhà đầu tư vào thành phố đất cảng ngày càng nhiều, người lao động có rất nhiều cơ hội được làm việc trong các doanh nghiệp lớn đa dạng mọi lĩnh vực, trong đó có du lịch, với mức thu nhập khủng, tạo nên một thị trường việc làm hấp dẫn và sôi động.

Những kết quả trên cho thấy, sự phát triển kinh tế thành phố đã gắn liền với quá trình cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân; nhân dân thực sự là người thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế của thành phố. Đồng thời khẳng định đời sống nhân dân cải thiện, nâng cao chính là khẳng định chủ trương đúng đắn, hiệu quả từ việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế – xã hội.

Riêng đối với ngành du lịch thành phố, số lượng lao động trong ngành này toàn thành phố tăng qua các năm. Điều này cho thấy du lịch đã ngày càng thu hút nhiều lao động tham gia, tạo ra nhiều việc làm. Nhân lực du lịch biển là lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế du lịch biển, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch biển. Nhân lực du lịch biển giữ vai trò quyết định đến sự phát triển ngành du lịch biển của một địa phương, góp phần xây dựng và phát triển hình ảnh địa phương, khẳng định chất lượng, kiến tạo ra những sản phẩm du lịch biển đặc sắc, đặc thù, đề xuất những ý tưởngmới, xây dựng và triển khai những chiến lược marketing có khả năng cạnh tranh cao nhằm quảng bá và thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đạt được những mục tiêu vềkinh tế – xã hội – môi trường của địa phương cũng như mục tiêu định vị thương hiệu của điểm đến trong tâm trí du khách trong và ngoài nước.

Số lượng lao động trong du lịch biển tại thành phố chiếm tỷ lệ lớn nhất. Phân theo khu vực địa lý, du lịch biển tại Hải Phòng có 02 khu du lịch biển nổi tiếng Cát Bà và Đồ Sơn thuộc hai đơn vị hành chính của thành phố là huyện đảo Cát Hải và quận Đồ Sơn. Tỷ trọng lao động du lịch biển trong tổng lao động ngành du lịch qua các năm chiếm tỷ trọng lớn, dao động từ 78,34% tới 91,9%. Điều này cho thấy du lịch biển là ngành quan trọng trong giải quyết công ăn việc làm của Hải Phòng. Ngoài những kết quả tích cực đã đạt được, số lượng lao động trực tiếp, gián tiếp trong những năm qua có tăng qua các năm, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu để triển khai các hoạt động du lịch đang ngày càng đa dạng về sản phẩm, loại hình du lịch và chất lượng các loại hình, sản phẩm du lịch. Đội ngũ công chức làm công tác quản lý Nhà nước về du lịch còn thiếu và yếu, cán bộ chuyên trách làm công tác du lịch ở quận, huyện không nhiều. Cán bộ quản trị kinh doanh du lịch chưa được đào tạo chuyên sâu. Đội ngũ nhân viên nghiệp vụ du lịch còn thiếu tính chuyên nghiệp, kỹ năng nghề chưa thuần thục, sử dụng được ngoại ngữ và tin học phục vụ công việc không nhiều. Phần lớn nguồn nhân lực du lịch chỉ qua các khóa học “cấp tốc” ngắn hạn nên kỹ năng nghề nói chung còn chiếm tỉ lệ thấp. Số lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỉ lệ thấp trong tổng số lao động đã qua đào tạo, nhưng rất ít người được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch, chủ yếu là từ các ngành khác như ngoại ngữ, khoa học xã hội và tự nhiên.

2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng

Trong giai đoạn 2016 -2020, Hải Phòng đã có những chuyển biến mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng được đầu tư, nâng cấp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố, không gian đô thị thành phố được mở rộng; kết cấu hạ tầng giao thông phát triển mạnh mẽ. Khu vực đô thị trung tâm thành phố đã hình thành nhiều khu đô thị mới phù hợp với bản sắc kiến trúc đô thị Hải Phòng, như: Khu đô thị Vinhomes Imperia của Tập đoàn Vingroup, các khu đô thị của Tập đoàn Hoàng Huy, khu đô thị ven sông Lạch Tray của Tập đoàn Agape, một số khách sạn 5 sao, Trung tâm thương mại Aeon Mall. Các công trình phúc lợi công cộng được quan tâm đầu tư như mở rộng, xây dựng mới một số bệnh viện, trường học; cải tạo, mở rộng sông Tam Bạc; hoàn thiện chỉnh trang toàn bộ dải trung tâm thành phố và một số công viên cây xanh. Các ngõ phố, hè đường được đầu tư chỉnh trang đồng bộ, hình thành một số cầu vượt, nút giao thông hiện đại.

Không gian đô thị đã được mở rộng. Hướng phát triển về phía Cát Hải – Cát Bà: đã hoàn thành Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast, hệ thống cáp treo vượt biển Cát Hải – Cát Bà, một số dự án nghỉ dưỡng cao cấp tại Cát Bà, 02 bến khởi động Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng. Hướng phát triển về phía Đồ Sơn, ven sông Lạch Tray: đã hình thành một số khu đô thị sinh thái, trung tâm thương mại, bệnh viện quốc tế, khách sạn 5 sao, khu vui chơi giải trí, bãi biển nhân tạo Đồ Sơn.

Điểm nổi bật nhất giai đoạn 2016 – 2020 là thành phố đã hoàn thành hàng chục tuyến đường liên tỉnh, liên huyện, cùng 46 cây cầu các loại, trong đó có nhiều cây cầu lớn. Các công trình đều đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật, hiện đại, góp phần làm thay đổi căn bản hạ tầng giao thông thành phố.

2.1.3 Tình hình chính trị và điều kiện an toàn với các du khách ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Trong vài năm trở lại đây, trong bối cảnh tình hình thế giới rất phức tạp, Việt Nam được đánh giá là điểm an toàn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Giải thưởng Du lịch Thế giới vừa qua cũng vinh danh Việt Nam là Điểm đến hàng đầu Châu Á trong năm 2021, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 10 trong danh sách các quốc gia tốt nhất cho du khách nước ngoài. Hiện nay với tình hình dịch bệnh trên Thế giới và Việt Nam đang diễn biến phức tạp, bên cạnh đó, sự bất ổn về tình hình chính trị, xã hội ở một số quốc gia đã và đang tác động trực tiếp đến quyết định chính của du khách trong việc đi du lịch của mình, và điểm đến du lịch an toàn và thân thiện sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của du khách khi dịch bệnh được kiểm soát và mọi hoạt động sinh hoạt trở lại trong trạng thái bình thường mới.

Đối với Hải Phòng, bằng sự nỗ lực của mình, tình hình an ninh trật tự của thành phố được đảm bảo, tạo sự yên tâm cho du khách Đại dịch COVID-19 sẽ vẫn còn diễn biến phức tạp, tiếp tục tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó có Hải Phòng, và du lịch là một trong số những ngành dịch vụ chịu thiệt hại nặng nề nhất. Tuy nhiên, dịch COVID-19 đem đến cơ hội để tái cơ cấu và tập trung giải quyết triệt để những hạn chế, bất cập trong ngành du lịch. Đồng thời, khi dịch bệnh được kiểm soát, xu hướng mở cửa, thu hút đầu tư, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh để phát triển du lịch được đẩy mạnh.

Thành phố đã có những hành động cấp bách để khôi phục hoạt động của ngành du lịch: định hướng ưu tiên phát triển thị trường du lịch nội địa, đảm bảo yếu tố an toàn sức khỏe, vệ sinh.. Thành phố ưu tiên thúc đẩy nhanh, hiệu quả chiến dịch tiêm vaccine phòng, chống dịch COVID-19 cho người dân, người lao động tại các trung tâm du lịch. Ngành Du lịch đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền du lịch với thông điệp “Hải Phòng- điểm đến an toàn”; tiếp tục đề xuất ban hành chương trình kích cầu du lịch; hỗ trợ doanh nghiệp kết nối lại thị trường cả trực tuyến và trực tiếp.

2.1.4 Các chính sách phát triển du lịch biển

Với chủ trương đẩy mạnh phát triển du lịch, xác định phát triển du lịch là một trong những trọng tâm, trong đó có du lịch biển, chính quyền thành phố Hải Phòng thực hiện nhiều chính sách như mở rộng cơ chế thu hút đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Du lịch; cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư, ưu đãi phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm phát triển du lịch đặc thù, các sản phẩm hỗ trợ và sản phẩm du lịch tại các vùng xa thành phố; Cơ chế, chính sách hỗ trợ, nghiên cứu phát triển thị trường, tăng cường xúc tiến quảng bá, hợp tác về du lịch; Cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch…nhằm tạo điều kiện cho du lịch biển Hải Phòng bứt phá và trở thành điểm sáng về du lịch biển của cả nước.

2.2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DU LỊCH BIỂN HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016-2020

2.2.1. Thực trạng chất lượng du lịch biển Hải Phòng theo từng tiêu chí ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

2.2.1.1. Thực trạng tài nguyên du lịch

  • Sự đa dạng và độc đáo của tài nguyên 

Tài nguyên du lịch biển của Hải Phòng hiện nay tập trung chủ yếu ở Cát Bà, Đồ Sơn với nhiều nét độc đáo, đa dạng. Rừng quốc gia Cát Bà – Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới – là khu rừng nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú về số lượng loài động thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế giới. Với diện tích rộng 15.200 ha với hệ thống động thực vật vô cùng phong phú, rừng quốc gia Cát Bà là nơi lưu giữ những nguồn gen quý hiếm có trong sách đỏ thế giới mà đặc trưng là loài Voọc Cát Bà là loài linh trưởng đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới và cây kim giao. Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà đã được ghi nhận là “Phòng thí nghiệm học tập về sự phát triển bền vững” đầu tiên trên thế giới về các giá trị đa dạng sinh học, với 3.154 loài động vật và thực vật; trong đó, có 60 loài thực vật và 22 loài động vật quý hiếm, đặc hữu có tên trong sách đỏ Việt Nam, có 29 loài thực vật và 7 loài động vật trong sách đỏ thế giới. Các loài đặc hữu, quý hiếm, đang bị đe doạ về sự tồn vong, về động vật gồm có: Voọc Cát Bà, Sơn Dương, Thạch sùng mí Cát Bà; về thực vật có: Tuế Hạ Long, Chò Đãi, Kim Giao, Lát Hoa…

Cát Bà nổi tiếng với việc sở hữu quần thể gồm 367 đảo với kho lưu trữ sinh học tự nhiên vô giá, được Unesco công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Chưa kể hệ sinh thái quần đảo đá vôi thuộc diện lớn nhất Châu Á, tạo thành chuỗi kế tiếp những rừng nhiệt đới nguyên sinh, rừng ngập mặn, vùng triều, hồ nước mặn, rạn san hô… Điều quan trọng là, qua hàng chục nghìn năm tiến hóa, Cát Bà vẫn cơ bản giữ được tính nguyên thủy, tạo sức hút lý tưởng đối với du khách thập phương. Hiếm có nơi nào ở Việt Nam có một quần thể đảo và hang động trên biển hoang sơ tuyệt đẹp như Cát Bà. Những dãy núi đá vôi tại Cát Bà hình thành những đường bờ biển khúc khuỷu, tạo nên những bãi tắm lớn nhỏ với bãi cát trắng mịn màng và làn nước trong xanh như bãi Cát Cò 1, 2 và 3, bãi Cát Dừa, bãi Tùng Thu…

Không chỉ nổi tiếng với những bãi tắm đẹp, vịnh Lan Hạ nằm ở phía Đông đảo Cát Bà cũng là một địa điểm nguyên sơ hấp dẫn khách du lịch. Vịnh thanh bình ôm trọn Cát Bà thành hình vòng cung, gồm hơn 400 đảo lớn nhỏ.

Cát Bà còn được biết đến một vùng đất gắn liền với nền văn minh ngàn năm, điển hình cho cộng đồng dân cư miền biển đảo Bắc Bộ, nơi những người Việt cổ đầu tiên đi theo mép biển tìm kế sinh nhai và dần tập hợp, đoàn tụ lại qua các biến cố thiên tai và lịch sử để hình thành nên nền móng của cộng đồng dân cư Cát Bà ngày nay. Quần đảo Cát Bà còn là một vùng giàu có về khảo cổ, lịch sử với 77 điểm khảo cổ đã được phát hiện và nghiên cứu.

Cũng như Cát Bà, khu du lịch Đồ Sơn thu hút khách nhờ được thiên nhiên ban tặng một địa thế lý tưởng, với dãy núi 9 ngọn kéo thành một bán đảo dài hơn 20km trên miền thềm lục địa, được ví như con rồng hướng ra biển, tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình. Chính vì vậy, sự hấp dẫn của Đồ Sơn mang sắc thái đặc trưng thuần túy của du lịch biển, với mọi sự thưởng ngoạn đều gắn với biển. Ưu thế về cấu trúc tự nhiên này đã tạo cho Đồ Sơn có một vị trí chiến lược quan trọng trên mặt biển; đồng thời cũng là một thắng cảnh nổi tiếng. Dưới chân những đồi đá cát kết có bãi tắm, có nơi nghỉ mát nên thơ và khu an dưỡng có giá trị.Riêng bãi biển Đồ Sơn với những dải cát mịn, bằng phẳng, mà khoảng có thể khai thác thành bãi tắm đã tới gần 5km, là một trong những bãi tắm tiềm năng được đánh giá lớn nhất Việt Nam.

Ngoài vẻ đẹp cảnh quan như đã nói ở trên, vùng đất Đồ Sơn chứa đựng rất nhiều nét văn hóa đặc sắc. Đặc biệt nhất có lẽ là văn hóa tín ngưỡng, với những ngôi chùa cổ, điểm nhất ấn tượng có thể kể đến chùa Hang (Cốc Tự) nằm ở ngay khu 1, tựa vào một hang đá tự nhiên có chiều cao 3,5m, rộng 7m, xuyên theo hình thang sâu vào lòng núi. Theo lịch sử Phật giáo Việt Nam, cách đây hơn hai nghìn năm, một nhà sư Ấn Độ đã chọn nơi đây làm để tịnh tâm tu hành và truyền bá đạo Phật, bởi vậy chùa Hang cũng chính là di chỉ ghi dấu nơi phát tích đầu tiên của nền Phật giáo tại Việt Nam. Một điểm nhấn nữa phải kể đến chùa tháp Tường Long, ngôi chùa nằm trên đỉnh núi Rồng thuộc phường Ngọc Xuyên, được xây dựng từ thời nhà Lý. Theo truyền tích, năm Mậu Tuất 1058 vua Lý Thánh Tông sau khi ngự giá qua biển đã dừng chân ghé lại, trong giấc mộng vua gặp rồng vàng bèn cho xây một tòa tháp đặt tên là Tường Long.

Bên cạnh những tài nguyên thiên nhiên, Hải Phòng còn có nhiều tài nguyên nhân văn, là địa phương bảo tồn được nhiều loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian phi vật thể, trong các làng xã đều có chùa, đình, đền, miếu, am. Hải Phòng còn đan xen văn hóa biển, bên cạnh việc thờ thần Cao Sơn (thần núi) còn thờ thủy thần (thần nước) với dấu tích còn lại của tục thờ trăng và thờ trâu.

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, thời kỳ nào Hải Phòng cũng có những di tích tiêu biểu. Thống kê cho thấy, Hải Phòng có hơn 50 di tích tôn thờ các nhân vật có nguồn gốc từ thời Hùng Vương. Hệ thống di tích tiêu biểu có giá trị lịch sử, số lượng di tích, và quy mô kiến trúc đó là những di tích liên quan đến ba lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng dưới các triều đại phong kiến. Sông Bạch Đằng là dòng sông lớn và hùng vĩ. Năm 1835, Vua Minh Mạng sai đúc Cửu đỉnh đặt trước Thế miếu thì Bạch Đằng được khắc vào một trong 9 đỉnh và ghi vào từ điển thờ cúng… Sự dung hòa, đan xen văn hóa đó đã làm cho văn hóa Hải Phòng không bị khép kín mà mở rộng, phong phú và đa dạng.

Ngoài ra, nhiều điểm di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng của Hải Phòng phải kể đến như Đền Nghè (đền thờ Nữ tướng Lê Chân), sông Bạch Đằng lịch sử, Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bến tàu không số K15 – điểm khởi đầu của con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển, các làng nghề truyền thống… ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

  • Thực trạng bảo vệ và tôn tạo tài nguyên:

Cát Bà: Hiện nay tồn tại một số vấn đề về môi trường và nguồn lợi thủy sản ở Cát Bà như: Suy giảm các loài san hô, ô nhiễm nguồn nước tại một số khu vực, thủy triều đỏ,…Một số nguyên nhân chính có thể chỉ ra: Tác động do quá trình lắng đọng trầm tích: Quần đảo Cát Bà nằm gần cửa sông lớn như cửa Cấm, cửa Bạch Đằng và cửa Lục. Do đó, môi trường nước khu vực này chịu tác động mạnh mẽ của khối nước lục địa, các rạn san hô và các vùng ven đảo ở xung quanh đảo này thường bị trầm tích phù sa bồi lắng, bao phủ. Xói lở trầm tích, lắng đọng trầm tích được xác định như là một trong những tác nhân chính ảnh hưởng đến khu vực sinh sống của rạn san hô và các loài động vật đáy ven biển Cát Bà. Khai thác san hô và hải sản quá mức, phá vỡ quy hoạch nuôi trồng thủy hải sản.

Để bảo tồn, phát triển bền vững giá trị tài nguyên sinh vật ven biển quần đảo Cát Bà, thành phố đã tiến hành các biện pháp như: Thiết lập Khu bảo tồn biển: Đẩy mạnh việc thiết lập khu bảo tồn biển Cát Bà, xây dựng hạ tầng, thiết lập chế tài quản lý, triển khai bảo tồn đa dạng sinh học là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động bảo tồn và phục hồi rạn san hô và phát triển nguồn lợi các loài sinh vật biển đang đị đe dọa. Nâng cao nhận thức tại các cộng đồng địa phương: Tổ chức và khuyến khích cư dân ven biển tham gia vào việc quản lý, bảo vệ rạn san hô, đồng thời thực hiện giám sát và sử dụng bền vững nguồn lợi biển và ven bờ, nhằm cải thiện năng lực cộng đồng địa phương đối với bảo tồn và phát triển nguồn lợi. Tái tạo nguồn lợi ven biển: Thiết lập các chương trình thả rạn san hô nhân tạo, trồng phục hồi san hô cứng tại các vùng suy thoái nghiêm trọng. Định hướng kế hoạch sinh sản nhân tạo, thả giống nuôi phục hồi và phát triển nguồn lợi trong tự nhiên phù hợp với điều kiện sinh thái môi trường từ nhiên tại khu vực ven biển quần đảo Cát Bà. Bảo tồn khôi phục 2 loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế cao, quý hiếm trong tự nhiên như bào ngư chín lỗ, ốc đụn cái tại Cát Bà.

Thành phố đã thực hiện một số biện pháp tại Vườn quốc gia Cát Bà nhằm bảo tồn kết hợp phát triển tài nguyên đa dạng sinh học; tập trung vào các loài nguy cấp, quý hiếm; xây dựng các mô hình ứng dụng với nhiều nhiệm vụ, dự án cụ thể; xây dựng nhiều mô hình sinh kế tại 3 xã vùng đệm; nâng cao nhận thức, tăng thu nhập cho người dân nhằm hạn chế áp lực khai thác tài nguyên đa dạng sinh học.

Theo đó, Vườn quốc gia Cát Bà đã trồng mới trên 450ha rừng các loại, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trên 1.000ha, xây dựng 2 khu vườn sưu tập các loài phong lan, hoàn thiện 13,5ha vườn thực vật… nhằm bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học, môi trường sinh thái, cảnh quan, phát huy chức năng phòng hộ, chống xói mòn, rửa trôi, cải thiện nguồn nước, tạo hành lang di chuyển, mở rộng nơi trú ngụ cho động vật hoang dã, cải thiện đời sống người dân vùng lõi khu dự trữ sinh quyển; đồng thời, nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư, giảm thiểu sức ép lên các hệ sinh thái rừng và biển.

Đồ Sơn: UBND thành phố vừa có văn bản đồng ý để Công ty CP du lịch Vạn Hương cải tạo bãi biển công cộng khu 4, Khu du lịch Đồ Sơn. Vị trí bãi tắm này nằm ngay cạnh bãi tắm nhân tạo của Khu du lịch quốc tế Đồi Rồng, đối diện với khu ẩm thực tập trung, thuộc phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn. Theo đó, doanh nghiệp sẽ đầu tư khoảng hơn 200 tỷ đồng trên diện tích 39 ha bao gồm cả diện tích đất và mặt nước.

Như vậy, người dân Hải Phòng và du khách có thể nghĩ tới một bãi tắm mới đẹp như mơ với biển xanh, cát trắng, nắng vàng. Sự cải tạo này chắc chắn sẽ góp phần thu hút thêm nhiều khách du lịch. Hơn nữa, dự án do doanh nghiệp đảm nhiệm nên chắc chắn sẽ rất nhanh, tính khả thi cũng cao hơn. Theo UBND quận Đồ Sơn, việc đầu tư xây dựng bãi biển công cộng là rất cần thiết và phù hợp định hướng phát triển quận theo tinh thần Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị; quy hoạch tổng thể phát triển quận Đồ Sơn… Bãi biển công cộng này cùng với các dự án du lịch khác chung quanh như: Khu du lịch quốc tế Đồi Rồng, Khu du lịch Hòn Dáu, Bến tàu không số, Khu vui chơi giải trí Casino Đồ Sơn, ThápTường Long, Biệt thự Bảo Đại… sẽ làm toàn thể Khu du lịch Đồ Sơn thêm thơ mộng, hấp dẫn du khách.

2.2.1.2. Thực trạng sản phẩm và dịch vụ ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

  • Cung cấp thông tin cho khách hàng

Các website giới thiệu về du lịch Cát Bà và Đồ Sơn rất phong phú, chi tiết, dễ theo dõi như: catbabay.com.vn của Ban quản lý Vịnh Cát Bà cho phép khách du lịch theo dõi bản đồ các tuyến tham quan, giới thiệu về các địa danh nổi tiếng, danh sách các tàu du lịch, các địa điểm ẩm thực, đặt tour du lịch, và liên hệ – góp ý đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch sau trải nghiệm. Khu du lịch Đồ Sơn tuy chưa có một website riêng nhưng du khách có thể tìm kiếm trên website wikipedia.org với nhiều thông tin hữu ích.

Thông tin về hòm thư điện tử, số điện thoại đường dây nóng của Sở Du lịch, Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn, Công an quận Đồ Sơn và lãnh đạo đơn vị quản lý được công bố công khai, rõ ràng trên mạng internet, Bảng nội quy, Bảng niêm yết giá và những nơi dễ nhận biết.

Ngoài ra, các website dịch vụ du lịch của các công ty lữ hành cũng thường xuyên cập nhật thông tin giới thiệu về 2 khu du lịch này. Đây là một lợi thế lớn cho du lịch biển Hải Phòng.

  • Chỉ dẫn thông tin trong toàn bộ khu du lịch

Cát Bà và Đồ Sơn đều đáp ứng tốt tiêu chí chỉ dẫn thông tin trong khu du lịch rõ ràng, thuận tiện tra cứu cho du khách với biển báo chỉ dân đầy đủ, từng địa điểm du lịch đều có bảng nội quy, bảng niêm yết các thông tin: đối tượng khách được phép hoặc không được phép tham gia hoạt dộng; mô tả sơ lược về hoạt động và cách thức tham gia hoạt động du lịch có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe; hướng dẫn về công tác đảm bảo an toàn cho khách du lịch; các yêu cầu về hoạt động bảo vệ môi trường, cảnh quan, biển cảnh báo, chỉ dẫn rõ ràng tại các khu vực khách du lịch dễ nhận biết.

  • Trung tâm thông tin du lịch

Cát Bà: Ban quản lý các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà (số 204 đường Núi Ngọc – Thị trấn Cát Bà) với chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ nhằm bảo tồn, phát triển và phát huy giá trị các di tích, danh lam, thắng cảnh; giữ gìn vệ sinh môi trường và trật tự an toàn trên biển, bảo vệ giá trị khu dự trữ sinh quyển thế giới. Tham gia thực hiện các chương tình, kế hoạch nhằm quảng bá hình ảnh, thu hút khách du lịch tới tham quan, du lịch tại các khu vực các Vịnh thuộc quần đảo Cát Bà. Đồng thời theo dõi tình hình biến động về môi trường, ảnh hưởng hệ sinh thái và các giá trị về di tích, danh lam, thắng cảnh, kịp thời phát hiện hiện tượng ô nhiễm, sự cố về môi trường, báo cáo Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải và thông báo cho các cơ quan chức năng để có biện pháp ngăn ngừa, xử lý các vi phạm, khắc phục hậu quả những tác động xấu đến môi trường và giá trị văn hóa các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà, đảm bảo trật tự an toàn trên các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà; phối hợp xây dựng, tổ chức thực hiện phương án phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, xử lý các sự cố xảy ra trong khu vực các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà; Tổ chức thực hiện thu các loại phí và lệ phí theo quy định.

Đồ Sơn: Trung tâm dịch vụ du lịch và Quản lý di tích lịch sử Đồ Sơn (địa chỉ số 1 – Lý Thái Tổ – Quận Đồ Sơn – Hải Phòng) với chức năng quản lý hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tour du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tour du lịch. Bảo vệ, quản lý, trùng tu tôn tạo các di tish lịch sử trên địa bàn quận Đồ Sơn

  • Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ lưu trú và dịch vụ cung cấp cho khách trong các khu lưu trú:

Giai đoạn 2016 – 2020, thành phố thu hút hơn 30 dự án đầu tư phát triển về hạ tầng du lịch sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách với tổng kinh phí gần tỷ đồng. Nhờ vậy, hệ thống cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố trong thời gian qua có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng. Năm 2016, toàn thành phố có 427 cơ sở lưu trú với 9.316 phòng thì năm nay có 509 cơ sở với 12.254 phòng. Trong đó, năm 2016 Cát Bà và Đồ Sơn có 318 cơ sở với 955 phòng thì đến năm 2020 đã tăng lên 357 cơ sở với 6.362 phòng. (Khu du lịch Đồ Sơn có 101 cơ sở lưu trú với 2.113 phòng, Khu du lịch Cát Bà có 256 cơ sở lưu trú với 4.249 phòng) ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Các cơ sở lưu trú ngày càng được nâng cấp về chất lượng dịch vụ. Số cơ sở lưu trú có điều kiện tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên là 26 cơ sở (3.668 phòng), gấp 2 lần so với năm 2016.

Thống kê số tổng cơ sở lưu trú du lịch tại Đồ Sơn và Cát Bà qua các năm: Thời điểm hiện tại, thành phố có 4 dự án khách sạn 5 sao đang được thực hiện với 3 thương hiệu lớn về khách sạn cao cấp trên thế giới là Khách sạn 5 sao Hilton, Pullman, Nikko và 1 khách sạn 5 sao nằm trong Dự án FLC Diamond 72 Tower của Tập đoàn FLC. Các dự án khi hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng sẽ nâng tổng số khách sạn 5 sao trên địa bàn thành phố lên 10 khách sạn.

Trong những năm gần đây, đã có sự xuất hiện của những resort đẳng cấp, bước đầu phục vụ được cho các khách du lịch có mức chi trả cao như: Hòn Dấu Resort, Đồ Sơn Resort & Casino, Flamingo Cát Bà, Monkey Island resort,..

  • Hệ thống nhà hàng phục vụ khách du lịch và dịch vụ ăn uống

Xét về hệ thống nhà hàng phục vụ khách du lịch và dịch vụ ăn uống, cả 2 khu du lịch Cát Bà và Đồ Sơn đều phong phú về thực đơn, đa dạng về chủng loại từ bình dân đến cao cấp. Du khách có thể thưởng thức các món ăn đồng quê, ẩm thực, đặc sản theo vùng ( đồng bằng, miền núi, miền biển), theo 3 miền Bắc, Trung, Nam và các món ăn Á – Âu… Nhưng nhìn chung các cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng còn khá nhỏ lẻ, manh mún, chưa có sự đồng bộ, đầu tư một cách bài bản. Cần đầu tư hoàn thiện hơn nữa về cơ sở vật chất cũng như nâng cao chất lượng phục vụ khách.

  • Cơ sở phục vụ vui chơi giải trí

Trong phạm vi toàn thành phố nói chung và ở vùng biển Hải Phòng nói riêng, các cơ sở vui chơi – giải trí còn hạn chế, đây là một trong những nguyên nhân không giữ được khách lưu lại dài ngày. Mặc dù đã có một số điểm vui chơi như: Sân golf Đồ Sơn, Casino Đồ Sơn (chỉ giành cho người nước ngoài), Khu vui chơi giải trí Hòn Dấu, vũ trường nhưng chỉ đáp ứng được một phần đối tượng khách có khả năng chi trả cao, thanh, thiếu niên và khách du lịch trẻ tuổi. Các hình thức vui chơi giải trí mang tính chất quần chúng hầu như không có.

  • Dịch vụ vui chơi, giải trí

Từ những tiềm năng về tài nguyên tự nhiên biển, tài nguyên nhân văn, lợi thế về địa hình, vị trí địa lý của các quận huyện có bờ biển, bãi biển và các hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật… của địa phương, thành phố Hải Phòng đang tồn tại các sản phẩm du lịch biển gồm: Du lịch sinh thái biển, nghỉ dưỡng; Du lịch biển kết hợp hội thảo, hội nghị, hội chợ; Du lịch biển thể thao mạo hiểm kết hợp tìm hiểu và khám phá những văn hóa của địa phương…Các sản phẩm du lịch ngày càng phong phú, được phát triển theo nguyên tắc: Du lịch sinh thái biển làm cốt lõi kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng, thể thao; Các sản phẩm du lịch hỗ trợ có tính lan tỏa như du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, nông thôn và du lịch văn hóa tâm linh.

Cụ thể, những sản phẩm du lịch biển đã và đang được tổ chức và khai thác gồm có:

  • Trekking: Cát Bà là một điểm đến đang được chú ý cho loại hình trekking của những du khách quốc tế trong vài năm gần đây. Thiên nhiên ưu đãi cho Cát Bà nhiều cảnh quan đẹp. Địa hình ở Cát Bà đa dạng và có sự tương phản: dạng địa hình núi thấp, dạng địa hình đồi đá phiến, dạng địa hình thung lũng giữa núi, dạng địa hình đồng bằng khá bằng phẳng. Cảnh quan có sự kết hợp nhiều hệ sinh thái khác nhau. Tại đây có một kiểu chính là rừng nhiệt đới thường xanh mùa mưa ở đai thấp và một số kiểu phụ như: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn, rừng ngập nước với đặc trưng là cây và nước ở khu Ao Ếch,… cùng với đó là hệ sinh vật phong phú với 745 loài thực vật, trên 30 loài động vật đặc hữu tạo ra cảnh quan đa dạng, đặc sắc. Tài nguyên nhân văn ở Cát Bà ít phong phú hơn về số lượng và chủng loại nhưng độc đáo có giá trị lịch sử cao. Cát Bà có nhiều điểm đến đẹp, có giá trị và có sự mạo hiểm thích hợp với loại hình du lịch trekking như động Trung Trang, Hang Quân Y, động Đá Hoa, Ao Ếch, làng Việt Hải,…
  • Lặn biển: Ven bờ biển thuộc quần đảo Cát Bà có thềm san hô bao quanh. Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện 193 loài thuộc lớp san hô ở vùng biển Cát Bà. Cát Bà có hơn 10 điểm có thể đưa vào phục vụ du khách lặn biển.

Tuy nhiên, lặn biển ở Cát Bà chưa phổ biến, du khách lặn biển với thời gian ngắn, chưa khai thác hết được những tiềm năng, doanh thu không đáng kể.

  • Leo núi: Có hàng chục điểm leo núi ở trên các đảo thuộc vịnh Lan Hạ, trên đất liền và xung quanh khu vực Cát Bà tạo ra điểm nhấn cho du lịch đảo Ngọc với những vách đá cheo leo như: Đảo Đầu Bê; Bến Bèo; Hòn Bút; Vân Bôi; Hang Cá; Vách đá Ba anh em. Phần lớn những du khách sử dụng dịch vụ này đều là người nước ngoài, có sức khỏe và thích mạo hiểm.
  • Chèo thuyền Kayaking: Chèo thuyền kayak tham quan vịnh Lan Hạ là một sản phẩm du lịch biển. Việc lựa chọn thuyền kayak khám phá vịnh Lan Hạ sẽ mang lại những trải nghiệm mới mà tàu du lịch không thể có. Thuyền kayak có thể đưa người tham gia đến sát chân núi đá, đi qua những hòn đảo và hang nhỏ, chiêm ngưỡng những đảo đá vôi đẹp ở cự ly gần. Đây sẽ là trải nghiệm khám phá thú vị cho những vị khách ưa mạo hiểm.
  • Đạp xe dã ngoại: Với con đường bao quanh Đồ Sơn sát bờ biển hay con đường xuyên đảo Cát Bà quanh co có nhiều đèo dốc, trên cung đường đi có những bãi biển hoang sơ, những hàng cây, những thảm cỏ,… Những điều này có thể thấy Cát Bà và Đồ Sơn đều có thể phát triển xe đạp dã ngoại tốt. ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )
  • Du thuyền thăm vịnh: Vịnh Lan Hạ được bao quanh bỏi hơn 400 đạo lớn nhỏ, được phủ đầy thảm thực vật tạo nên một bức tranh thiên nhiên khổng lồ cuốn hút du khách khám phá. Du thuyền thăm vịnh có thể được thực hiện trong 1 hoặc 2- 3 ngày đêm.
  • Dịch vụ thể thao trên nước như moto nước hay dù bay tại Đồ Sơn: đây là những môn thể thao mạo hiểm rất hấp dẫn trên biển, tạo ấn tượng khó quên và đang dần thu hút nhiều du khách.
  • Dịch vụ câu cá, câu mực trên biển: Dịch vụ câu cá, câu mực đêm tại Đồ Sơn và Cát Bà chưa được tổ chức bài bản để trở thành một sản phẩm du lịch thu hút du khách. Cung cấp dịch vụ này thường do ngư dân tự tổ chức khi du khách có nhu cầu, do đó tính an toàn đối với du khách chưa được đảm bảo đặc biệt vào buổi tối, cơ quan quản lý Nhà nước không kiểm soát được.
  • Sản phẩm du lịch như tắm biển, nghỉ dưỡng tại các bãi tắm chính Cụm bãi tắm Cát Cò, bãi tắm Đảo Khỉ, bãi biển Tùng Thu, bãi tắm khu I, II, III Đồ Sơn, khu du lịch Hòn Dáu, bể bơi tạo sóng nhân tạo lớn nhất Châu Á ở Đồ Sơn, kết hợp với thưởng thức văn hóa ẩm thực, du lịch tham quan các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh; du lịch tham quan làng nghề, du lịch văn hóa – lễ hội; du lịch công vụ hội nghị, hội thảo, du lịch thể thao như đu bay, môtô nước đã và đang cung ứng tại Cát Bà, Đồ Sơn nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách.

Giai đoạn 2016-2020 có sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu sản phẩm du lịch: Du lịch chơi golf đang phát triển mạnh tại Hải Phòng, thu hút lượng du khách tham gia thường xuyên và ổn định trong 4 mùa. Thành phố hiện có 3 sân golf đạt tiêu chuẩn, hoạt động có hiệu quả với hàng triệu lượt khách mỗi năm là sân golf Sông Giá, Đồ Sơn, Vũ Yên. Ngoài ra, các sân golf đang được triển khai đầu tư xây dựng như sân golf Sakura, An Lão; sân golf tại khu du lịch Đồi Rồng, Đồ Sơn góp phần đa dạng sản phẩm du lịch thành phố.

Cùng với đó, du lịch biển đảo Cát Bà có bước phát triển mới, hình thành sản phẩm du lịch du thuyền trên Vịnh Lan Hạ kết hợp với du lịch cộng đồng làng Việt Hải hình thành chuỗi sản phẩm hấp dẫn, thu hút khách du lịch.

  • Các hoạt động trình diễn, biểu diễn nghệ thuật

Hiện nay Cát Bà và Đồ Sơn đều chưa phát triển các hoạt động trình diễn, biểu diễn nghệ thuật ngoài các buổi Lễ hội khai mạc đầu mỗi mùa du lịch, trong khi các khu du lịch biển khác như Quảng Ninh, Nha Trang..đều phát triển các hoạt dộng này.

  • Dịch vụ tham quan, nghỉ dưỡng, khám phá, tìm hiểu các giá trị về văn hóa

Du khách đến với loại hình du lịch này thường có trình độ văn hóa nhất định, những người thích tìm hiểu đặc trưng văn hóa vùng miền…Đồ Sơn và Cát Bà có rất nhiều các điểm di tích để phát triển loại hình du lịch này mà có thể kể đến như:

Đảo Hòn Dấu: là một phần dãy núi đã tách khỏi bán đảo Đồ Sơn trôi dần ra phía biển, trở thành cửa ngõ của Hải Phòng. Rừng ở đây còn vẹn nguyên cả ba tầng thực vật, nhiều gốc cây cổ thụ to lớn, điểm xuyết những cây thân thảo, thân bò, thân leo.

Biệt thự Bảo Đại là một công trình kiến trúc độc đáo hoà cùng cảnh quan thiên nhiên, núi non và biển cả tạo nên cảnh đẹp thu hút rất nhiều khách du lịch chiêm ngưỡng. Du khách tới đây tham quan có thể mặc triều phục, thưởng thức các loại bánh Huế, dự ngự thiện và mua đồ lưu niệm về biệt thự này.

Bến Nghiêng – Đồ Sơn hiện là bến đỗ của tàu ra thăm đảo Hòn Dáu. Nơi đây cũng là Cảng xuất phát của tàu du lịch đảo Cát Bà, vịnh Hạ Long, Móng Cái.

Ngày 15/5/1955, tại bến Nghiêng, chiếc tàu quân sự kiểu há mồm đợi sẵn đón đoàn quân thất trận, những lính Pháp cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Từ đây, Hải Phòng và miền Bắc sạch bóng quân xâm lược và bến Nghiêng trở thành di tích minh chứng cho thắng lợi hoàn toàn sau 9 năm kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta.

Tháp Tường Long – Đồ Sơn

Được xây dựng trên đỉnh Ngọc Sơn, ngọn tháp này đã từng được liệt vào hạng đại danh lam cùng với chùa Long Đọi (Duy Tiên – Nam Hà), chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, chùa Thắng Nghiêm, Chân Giáo… (Hà Nội), tháp Chương Sơn (ý Yên – Nam Hà)… dưới triều nhà Lý (1010 – 1225). Cùng với di tích lịch sử văn hóa đình Ngọc, suối Rồng, tháp Tường Long tạo ra một quần thể du lịch sinh thái – lịch sử – văn hoá nổi tiếng của miền sóng, miền gió Đồ Sơn Hải Phòng..

Đền Bà Đế: Cửa hướng ra biển Đông, lưng tựa vào vách núi Độc là đền bà Đế thuộc phường Ngọc Hải, quận Đồ Sơn, Hải Phòng. Hàng năm, nhất là vào mùa xuân, du khách thập phương lại tấp nập về với đền Bà, người cầu tài, xin lộc

Đền Vạn Ngang là nơi di tích văn hóa tâm linh từ lâu đời , nơi danh lam thắng cảnh của non nước Đồ Sơn. Đền được xây dựng trên 100 năm do một người phụ nữ Việt đứng hưng công xây dựng để thờ Đức Thánh Trần cùng bộ tướng là các con trai, con rể, con gái Ngài. Sau ngày giải phóng, ở giữa gian chính vẫn còn bức đại tự ghi 4 chữ Trần triều hiển thánh.

Đền Trần (còn gọi là Đền thờ Đức Thánh Trần) dưới chân đỉnh Mẫu Sơn, lưng tựa núi, mặt hướng ra biển , thuộc khu núi Chẽ, Vạn Sơn, Đồ Sơn, Hải Phòng. Đền được lập từ thời vua Minh Mạng ngũ niên thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Đền Vạn Chài nằm ở cửa biển Vạn Thốc, khu I Đồ Sơn. Đền thờ Đại càn quốc Mẫu – Dương Thái Hậu người đó giúp cho vua Trần Anh Tùng dẹp giặc ngoại xâm giành thắng lợi được triều Trần thế kỷ 13 tặng sắc phong “Đại càn quốc gia Nam Hải thánh mẫu thượng đẳng thần” Chùa Hang (Cốc Tự), có từ trước Công nguyên, nằm ở khu 1 thuộc phường Vạn Sơn, quận Đồ Sơn. Theo truyền ngôn, một nhà sư tên Bần, người xứ Thiên Trúc theo thuyền đi truyền bá đạo Phật đã đến cư trú tại ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Đền thờ Đức Nam Hải Đại Thần Vương, một nơi linh thiêng, sùng kính của người Đồ Sơn và dân đi biển quanh vùng.

Ngọn Hải Đăng Hòn Dáu là một trong số những ngọn đèn biển có lịch sử xây dựng lâu đời nhất nước ta. Đó là một tòa nhà hai tầng và chính giữa tòa nhà là tháp đèn. Cây đèn biển hơn trăm tuổi mệnh danh là mắt ngọc của tổ quốc lại là một nét nhìn mới lạ đối với khách du lịch.

Di chỉ Cái Bèo: thuộc thị trấn Cát Bà, nằm trên một bãi cát, rộng 18.000m2, thoải dần ra bờ biển, cao hơn mặt nước biển trung bình 4m. Cái Bèo là một di chỉ có quy mô lớn, địa tầng dày, với tổ hợp di vật phong phú về loại hình, nhiều về số lượng, có niên đại thuộc thời đại đá mới ở Việt Nam.

Di tích nơi Bác Hồ về thăm làng cá: thuộc thị trấn Cát Bà. Đây là nơi Bác về thăm làng cá vào mùa xuân năm 1959. Khi đó, Bác đã nói chuyện với nhân dân trên đảo tại sân của Xí nghiệp đánh cá Cát Bà.

Di chỉ Cát Đồn: thuộc xã Xuân Đám, nằm ở khu bờ vịnh biển kín gió, cách trung tâm xã khoảng 2 km về phía Nam, có diện tích khoảng 1000m2 (khoảng ½ số này nằm trong di chỉ thành cổ Xuân Đám). Trong các đợt điều tra và khai quật, đã phát hiện ở đây một số công cụ ghè đập bằng cuội, bàn mài, chày nghiền, hòn cuội có dấu lõm, mảnh tước cuội, mảnh vòng mài, một số mảnh gốm xốp mịn, cứng, có văn in vỏ sò. Theo đánh giá của các nhà khảo cổ, di chỉ Cát Đồn và Bãi Bến thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Hạ Long.

Quần đảo Long Châu

Nằm cách Cát Bà 15km về phía Đông Nam, Long Châu là đảo lớn nhất trong số 22 hòn đảo trong Quần đảo Long Châu, với diện tích hơn 1km2. Đảo gần như thuần đá và rất hiếm nước ngọt. Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, ngọn hải đăng trên đảo có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã dẫn đường cho các chuyến tàu từ nước ngoài vào viện trợ cho miền Bắc. Chính vì vậy mà ngọn hải đăng này đã bị máy bay Mỹ bắn phá, ném bom tổng cộng 248 lần.

  • Dịch vụ tổ chức sự kiện, hội nghị, hội thảo

Đây là thế mạnh của Đồ Sơn: tại đây có rất nhiều trung tâm tổ chức sự kiện tổ chức các hội nghị của thành phố cũng như các tỉnh lân cận; có thể tổ chức được các hội nghị quốc tế do thành phố đăng cai, hay các sự kiện hoạt động đối nội, đối ngoại của thành phố; đảm bảo chỗ ăn, nghỉ, họp cho các đoàn khách địa phương và quốc tế về làm việc tại thành phố.

  • Dịch vụ mua sắm

Đồ Sơn và Cát Bà có rất nhiều quầy hàng bán đồ lưu niệm, bán hải sản phục vụ cả ngày và đêm với nhiều mặt hàng phong phú. Hấp dẫn nhất với du khách là hải sản khô và các vật dụng được làm từ vỏ ốc, san hô, sò … Du khách có thể di chuyển bằng các phương tiện như xe khách, bus, taxi, xích lô, xe đạp đôi, xe điện để thực hiện hoạt động mua sắm.. Tuy nhiên, các trung tâm mua sắm hiện đại vẫn chưa xuất hiện tại đây, nên chưa khai thác được nhiều khả năng tiêu dùng và mua sắm của khách du lịch.

2.2.1.3. Thực trạng quản lý điểm đến

  • Quản lý chung

Thành phố đã ban hành: Quyết định số 01/2020/QĐ-UBND về Quy chế quản lý hoạt động du lịch tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn quận Đồ Sơn và Quyết định số 26/2020/QĐ-UBND ban hành Quy chế quản lý hoạt động du lịch trên các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng về các vấn đề bao gồm quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch và các hoạt động khác có ảnh hưởng đến môi trường du lịch   của hai khu du lịch này. Cụ thể, Quy chế quy định về: bảo vệ tài nguyên du lịch; bảo vệ môi trường; kinh doanh dịch vụ ăn uống và mua sắm; quy định về kinh doanh, sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ liên quan khác; kinh doanh, khai thác dịch vụ cảng, bến thủy nội địa: ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; đăng ký quy mô, nội dung, hình thức hoạt động dịch vụ với Cơ quan Quản lý chấp hành nghiêm các nội dung đã cam kết, chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng có liên quan. Cùng với người dân địa phương có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường du lịch, bảo tồn, tôn tạo, phát huy các giá trị của tài nguyên du lịch. Không xây dựng các công trình, dự án khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép

Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch phải đảm bảo không xâm hại đến đa dạng sinh học, nhất là các hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, rạn san hô, cỏ biển, hệ sinh thái hang động, thực vật tự nhiên; không làm ảnh hưởng đến môi trường cảnh quan của các di tích nói chung và di tích quốc gia đặc biệt nói riêng.

Không khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản trái phép; săn bắn, khai thác và mua bán các loài động, thực vật hoang dã

Thông tin công khai, minh bạch số lượng, chất lượng dịch vụ; niêm yết giá hoặc khung giá dịch vụ bằng VND tại các cơ sở kinh doanh và trên trang bán hàng dịch vụ trực tuyến nếu có. Cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch, lữ hành, ăn uống, vận tải hành khách, phải niêm yết giá phòng, giá dịch vụ, giá chương trình, thực đơn khác tại điểm dễ thấy ở khu vực lễ tân, nơi đón khách, quầy giao dịch, buồn phòng, phương tiện vận tải.

Có hòm thư góp ý, và các công cụ góp ý khác như hòm thư điện tử, số điện thoại đường dây nóng.

Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết với khách du lịch, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách du lịch theo quy định của pháp luật. Thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử văn minh du lịch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Có đầy đủ trang thiết bị, phương án đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch; có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan chức năng về tai nạn hoặc nguy hiểm, rủi ro có thể xảy ra đối với khách du lịch để có biện pháp giải quyết kịp thời và huy động lực lượng cứu hộ tham gia.

Chấp hành đầy đủ các quy định về công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội

  • Môi trường tự nhiên và vệ sinh chung

Thành phố ra nhiều quy định về bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên ở 2 khu Du lịch Cát Bà và Đồ Sơn, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trồng bổ sung cây xanh, thảm hoa, cây dây leo theo phương án quy hoạch được duyệt.

Đồng thời tuyên truyền và hướng dẫn pháp luật để người dân tuân thủ Luật bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Du lịch..quản lý các hoạt động kinh doanh không xâm hại cảnh quan, khu vực đồi rừng, bãi triều, hệ thống cây xanh, diện tích cảnh quan công cộng tại các điểm du lịch. Yêu cầu các tổ chức cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch phải cam kết và tuân thủ các quy định chung về bảo vệ môi trường, có phương án thu gom, xử lý rác thải, thoát nước thải, cùng người dân có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường du lịch, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị của tài nguyên du lịch.

Đặc biệt, các doanh nghiệp muốn đầu tư, thực hiện các dự án phải thẩm định qua nhiều vòng, thậm chí có ý kiến của cộng đồng dân cư để tránh phá vỡ cảnh quan, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến môi trường. Người dân Cát Bà và Đồ Sơn cũng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong phát triển du lịch bền vững.

Các nhà hàng, khách sạn tại 2 khu du lịch này đều xây dựng, lắp đặt hệ thống xử lý nước thải theo quy định và được cấp giấy phép xả thải ra môi trường.

  • Xử lý rác thải

Thành phố cũng như chính quyền quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Hải rất tích cực quan tâm đến vấn đề xử lý rác thải giữ vệ sinh môi trường cho các khu du lịch biển. Tại Đồ Sơn, Xí nghiệp Quản lý môi trường, Công ty CP Công trình công cộng và dịch vụ du lịch Hải Phòng là những đơn vị được thành phố giao trách nhiệm xử lý rác thải, không để ứ đọng, gây ô nhiễm môi trường biển, không để rác tồn đọng qua đêm, gây mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch thành phố. Để việc thu gom nhanh gọn và chuyên nghiệp, quận Đồ Sơn tiếp tục nâng cấp, mở rộng lối lên xuống bãi biển để tăng hiệu quả hoạt động của các phương tiện cơ giới thu gom rác.

Tại Cát Bà, để bảo đảm môi trường trên các vịnh, Ban Quản lý các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà bố trí gần 20 người thường xuyên làm công tác thu gom, vớt rác tại 3 khu vực vịnh (Cát Bà, Bến Bèo, Lan Hạ), các khu du lịch, khu trung tâm, luồng lạch giao thông chính, những nơi tập trung đông cơ sở nuôi trồng thủy sản và tăng cường thu gom rác vào các ngày nghỉ. Lượng rác thu gom bình quân trong mùa hè đạt khoảng 10m³/ngày. Không chỉ vậy, định kỳ 1 tuần/lần, các cán bộ, người lao động của Ban Quản lý Vịnh Cát Bà tập trung thu gom rác tại khu vực giáp ranh với vịnh Hạ Long như: Vạn Tà, Trà Báu, Gia Luận, đặc biệt chú trọng dọn rác các khu vực vịnh có lượng tàu lưu trú nghỉ đêm như: Trà Báu, Thoi Quý…

Bên cạnh đó, các địa phương cũng tổ chức các đợt ra quân làm sạch biển. Ban Quản lý các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà phối hợp các CLB du lịch cộng đồng tổ chức nhiều buổi ra quân làm sạch môi trường tại khu vực các bãi tắm trên vịnh Lan Hạ. Theo đó, Ban Quản lý vịnh Cát Bà và các CLB du lịch cộng đồng chia thành từng nhóm nhỏ, thường xuyên thu gom rác trên mặt biển, tại các bãi tắm trên vịnh. Đồng thời, tuyên truyền, kêu gọi các hộ dân sinh sống trên vịnh cam kết không xả rác ra môi trường, thường xuyên thu gom rác thải và làm sạch môi trường vịnh; tổ chức tốt phong trào “Ngày Chủ nhật xanh” hằng tháng, thu hút đông đảo người dân tham gia…

Ngoài ra, lực lượng kiểm tra liên ngành về trật tự đô thị, vệ sinh môi trường các cấp luôn tuyên truyền gắn với nhắc nhở, xử phạt, để nâng cao ý thức của người dân, du khách, thiết thực giữ gìn vệ sinh, môi trường khu du lịch.

  • Hệ thống nhà vệ sinh công cộng

Hai khu du lịch Cát Bà và Đồ Sơn chưa đảm bảo được tiêu chí có nhà vệ sinh công cộng miễn phí, đạt tiêu chuẩn. Một số nhà vệ sinh công cộng đã xây dựng nhiều năm trở thành nơi bán hàng, cho thuê tắm tráng, quần áo bơi..

  • Môi trường xã hội

Nhằm đảm bảo môi trường xã hội an toàn, tin cậy cho khách du lịch, chính quyền Thành phố, quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà nghiêm cấm và áp dụng nhiều biện pháp tuyên truyền, phát hiện, xử phạt các hành vi xả thải xuống sông, biển, trên bờ biển và những khu vực đang hoạt động kinh doanh du lịch, cấm sử dụng vỉa hè, lòng đường, bờ biển, bãi biển và các khu vực công cộng để tổ chức bán hàng và cung ứng dịch vụ khi chưa được phép, thả rông gia súc, gia cầm tại nơi tập trung đông khách du lịch, cấm bán hàng rong, bán hàng không đúng nơi quy định, ăn xin, các hành vi gây mất an ninh trật tự và các tệ nạn xã hội tại các khu vực công cộng, các điểm tham quan du lịch, di tích lịch sử văn hóa, tâmlinh.

  • Tổ chức lực lượng an ninh, trật tự, đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch

Chính quyền Thành phố, quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà đã quản lý chặt chẽ, đảm bảo an ninh trật tự cho các khu du lịch:

Yêu cầu các cơ sở lưu trú thực hiện đầy đủ chế độ đăng ký tạm trú, tạm vắng theo quy định; quản lý hộ tịch, hộ khẩu, hộ chiếu, visa với khách quốc tế

Phát hiện và ngăn chặn, xử lý các tệ nạn xã hội, các hành vi tàng trữ, buôn bán vận chuyển trái phép hàng hóa, chất cấm.

Đồng thời, bố trí lắp đặt bổ sung hệ thống camera an ninh tại trung tâm du lịch Cát Bà nhằm hỗ trợ công tác quản lý, chú trọng triển khai các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh, xử lý, triệt phá nạn chèo kéo khách; đảm bảo cao nhất về an toàn thực phẩm… qua đó giữ vững và tạo sự lan tỏa về hình ảnh du lịch Cát Bà an toàn, thân thiện, nghĩa tình

  • Cơ sở vật chất kỹ thuật

Tại huyện đảo Cát Hải nói chung và Cát Bà nói riêng đang thúc đẩy số hóa các dư địa chỉ, điểm du lịch, triển khai bán vé tham quan vịnh, nghỉ đêm bằng điện tử, tạo điều kiện cho du khách đến với Cát Bà.

Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng của Đồ Sơn còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đến việc đăng cai tổ chức các sự kiện và hoạt động du lịch lớn. Các cơ sở du lịch có quy mô lớn lại do các bộ, ngành quản lý và tổ chức khai thác nên tính chuyên nghiệp không cao, vẫn còn bao cấp trong thu hút khách và tổ chức hoạt động kinh doanh của các cơ sở trực thuộc gắn với các bộ, ngành. Đặc biệt, chưa có sự bình đẳng trong kinh doanh du lịch. Đây là vấn đề cần xử lý để du lịch Đồ Sơn chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, nâng cao tính chuyên nghiệp, năng lực cạnh tranh của các hoạt động kinh doanh du lịch

2.2.1.4. Thực trạng cơ sở hạ tầng ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

  • Hệ thống đường giao thông

Hệ thống giao thông thuận lợi với 5 phương thức vận tải (đường sắt, đường bộ, đường biển, đường thủy, hàng không); đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, Hải Phòng – Hạ Long hiện đại nhất Việt Nam kết nối cảng biển khu vực Hải Phòng với cả nước; dự án đầu tư, xây dựng khách sạn cao cấp và khu vui chơi giải trí tại nội thành, đảo Vũ Yên, Hòn Dấu; Cảng hàng không quốc tế Cát Bi được mở rộng và đưa vào khai thác. Đây là sân bay quốc tế cấp 4E cho phép bất kỳ máy bay dân dụng nào trên thế giới cất hạ cánh, có thể vận chuyển 800 hành khách/giờ cao điểm; cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện là dự án lớn nhất từ trước đến nay tại miền Bắc dành cho khu vực cảng biển đang gấp rút đẩy nhanh tiến độ.

Thành phố Hải Phòng hiện nay có khoảng trên 985 đầu xe du lịch và 63 tàu chuyên trở khách du lịch. So với những năm trước, chất lượng và hình thức các phương tiện vận chuyển đã được cải thiện đáng kể, các trang thiết bị tương đối hiện đại, đồng bộ đảm bảo yêu cầu phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế

Thành phố hiện có 114 tàu du lịch, trong đó địa bàn Cát Bà có 102 tàu, Đồ Sơn có 12 tàu (tuyến Hải Phòng – Cát Bà gồm 14 tàu cao tốc kinh doanh vận chuyển khách, tuyến Bến Gót – Cái Viềng có 11 tàu) .Ngoài ra còn hệ thống vận tải hành khách kết nối với các tỉnh, thành phố trong cả nước và hơn 36 hãng taxi đang khai thác, hoạt động trên địa bàn thành phố. Hệ thống sân bay mở rộng thêm nhiều tuyến để phục vụ cho khách trong và ngoài nước. Có thể đánh giá về cơ bản vận chuyển phục vụ du lịch biển tại Đồ Sơn và Cát Bà đã đáp ứng được yêu cầu của du khách.

  • Đường giao thông nội bộ

Giao thông tại Đồ Sơn và Cát Bà rất thuận tiện và an toàn. Tuyến đường Phạm Văn Đồng- “đường hoa phượng dài nhất Việt Nam” nối trung tâm thành phố với khu du lịch Đồ Sơn luôn được đánh giá là tuyến đường đôi rộng, đẹp. Các tuyến đường ở khu 1, khu 2, khu 3 trong khu du lịch Đồ Sơn được đầu tư làm mới và đưa vào sử dụng tạo điều kiện thuận lợi để du khách đi lại và tổ chức các sự kiện đường phố như giải đua xe đạp, tiến tới là phố đi bộ hay carnaval. Đường dẫn từ khu 1 ra khu 2, đường ven biển khu 1, đường đôi Vạn Hoa, đường ven biển phía đông và đường ven biển phía tây của khu du lịch Đồ Sơn đưa vào khai thác nhiều năm nay và đang phát huy công năng sử dụng. Chính vì thế mà ở Đồ Sơn rất ít khi xảy ra tắc đường, kể cả vào mùa du lịch hè, ngày cao điểm vào dịp khai mạc liên hoan du lịch, ngày cuối tuần, ngày nghỉ lễ luôn đông người.

Giao thông tại Cát Bà cũng ngày càng thuận tiện khi thành phố hoàn thành xong Cầu Tân Vũ – Lạch Huyện, và tuyến cáp treo vượt biển Cát Hải – Phù Long nối từ Cát Hải sang đảo Cát Bà- đây vừa là sản phẩm du lịch, vừa là loại hình giao thông cao cấp, giúp giảm tàu phà bến Gót, từng bước thực hiện mục tiêu đưa Cát Bà trở thành đảo du lịch sinh thái. Bên cạnh đó, tuyến đường xuyên đảo Cát Bà xuất phát từ bến phà Cái Viềng về trung tâm thị trấn Cát Bà với chiều dài 20km kéo dài dọc bờ biển dự kiến sẽ tiếp tục được cải tạo, nâng cấp để tuyến đường này rộng rãi, hiện đại, thuận tiện, phục vụ tốt hơn cho giao thông trên đảo. Huyện cũng đang phối hợp với các doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục đầu tư xây dựng bến phà Cát Hải – Phù Long góp phần hóa giải nút thắt về giao thông. Bên cạnh hệ thống giao thông thì công viên, cây xanh, điện chiếu sáng tương đối đồng bộ trong cả 2 khu du lịch.

  • Hệ thống điện và cấp thoát nước:

Đồ Sơn: Sử dụng hệ thống lưới điện quốc gia do Công ty điện lực Hải Phòng trực tiếp cấp. Chất lượng và dung lượng điện đảm bảo cung cấp ổn định 24h/ngày. Có trạm máy phát điện 2.000KVA để đảm bảo cung cấp điện ổn định cho từng khu du lịch.

Hệ thống cấp nước quản lý theo chất lượng ISO 9001:2000, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới đã được áp dụng như: Hệ thống theo dõi điều hành từ xa mạng lưới cấp nước(Telemetry) quản lý áp lực và lưu lượng trên mạng lưới cấp nước, cũng như điều hành hoạt động của các nhà máy, sử dụng công nghệ GIS, Quản lý mạng lưới và khách hàng (CNMS), sử dụng hệ thống thông tin quản lý (MIS) để quản lý tình hình sản xuất kinh doanh tại các phòng, ban chuyên môn và các nhà máy nước….

Cát Bà: hệ thống điện 35 KV đang được thay thế bằng hệ thống đường dây 110 KV đảm bảo nguồn điện ổn định cho các dịch vụ du lịch trên đảo. Huyện đảo cũng xây dựng, hoàn thiện các hồ chứa nước mặt, khai thác có hiệu quả hệ thống nước ngầm và hệ thống lọc từ nước biển đủ công suất cung cấp cho 5 triệu du khách/năm.

2.2.1.5. Thực trạng sự tham gia của cộng đồng địa phương

Tỷ lệ lao động là người địa phương hoạt động trong những khu du lịch biển Hải Phòng gần như chiếm đa số. Sự tham gia tích cực của lao động địa phương trong các dịch vụ du lịch mang lại lợi thế cho du lịch biển Hải Phòng, tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi, giá rẻ, đồng thời, du lịch làm nâng cao đời sống kinh tế của người dân địa phương.

Trước hết, người dân có được nguồn thu trực tiếp từ các dịch vụ cung cấp cho khách và những nguồn thu này đôi khi lớn hơn rất nhiều so với sản xuất nông nghiệp thuần túy. Tiếp đến là những lợi ích từ việc phát triển cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, còn những lợi ích thiết thực khác như công ăn việc làm, giao lưu văn hoá và đặc biệt là ý thức xã hội về bảo tồn văn hoá được nâng cao. Việc người dân tự ý thức được nguồn lợi từ du lịch đem lại từ việc giữ nếp sống hàng ngày, giữ bản sắc văn hoá và giữ chữ tín với du khách là một yếu tố quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch biển.

Lợi thế của người dân địa phương là nắm rõ về giao thông, địa chỉ các điểm du lịch, các nơi cung cấp dịch vụ ăn uống, giải trí, mua sắm cho khách hàng, họ thuộc từng ngóc ngách của rừng, núi, hang động nên họ trở thành những “hướng dẫn viên” vừa dẫn đường, vừa giới thiệu cho du khách những “bí ẩn” về các loài động, thực vật, cỏ cây, hoa lá…

Đặc biệt trong loại hình du lịch cộng đồng đang ngày càng được du khách ưa chuộng tại Cát Bà, khách du lịch tìm đến ngày càng đông. Người dân địa phương tự cung cấp các dịch vụ du lịch, làm hướng dẫn viên giới thiệu các địa danh, tài nguyên thiên nhiên cũng như giá trị văn hóa cộng đồng nơi đây, đồng thời đáp ứng dịch vụ cho thuê xe đạp, dịch vụ lưu trú, xe ôm…cho du khách

2.2.1.6. Thực trạng sự hài lòng của khách du lịch ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Nhìn vào bảng số liệu, các tiêu chí về lượng khách và doanh thu của du lịch biển Hải Phòng tăng đều qua các năm 2016-2019 cho thấy sự hài lòng của khách du lịch với dịch vụ du lịch biển của Hải Phòng không ngừng tăng lên. Có thể thấy, với những quyết sách đúng đắn mang tính quyết định trong giai đoạn này, du lịch Hải Phòng đã có sự bứt phá rõ nét, không chỉ hoàn thành, hoàn thành sớm các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà còn đang tạo đà để du lịch thành phố cất cánh bay cao, bay xa trong những năm tới đây.

Năm 2020, dịch COVID-19 đã ảnh hưởng trực tiếp đến Du lịch Việt Nam, trong đó Hải Phòng là một trong những địa phương phải chịu nhiều tổn thất nặng nề, nhất là ở ngành du lịch biển. Do vậy kết quả giảm cả ở số lượng khách du lịch và doanh thu dịch vụ nằm trong xu hướng chung của cả nước.

2.2.2. Kết quả và đóng góp của du lịch biển

Lượng khách và doanh thu : Năm 2017, 2018, 2019 doanh thu dịch vụ lưu trú, và lượng khách du lịch đều tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước đó. Trong năm 2018 thành phố đã tổ chức chuỗi các sự kiện quảng bá cho du lịch Hải Phòng cùng với việc cầu Tân Vũ-Lạch Huyện đi vào hoạt động giúp rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội đến Hải Phòng đã tạo sức hút đối với lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan thành phố. Ngay từ đầu năm, du lịch về tâm linh đã được chú trọng phát triển, một số đền chùa như tháp Tường Long, chùa Hang, đền Tràng Kênh… đã thu hút một lượng lớn khách đến tham quan, du lịch, đặc biệt là khách du lịch tới đảo Cát Bà tăng đột biến trong các tháng mùa hè. Du lịch Hải Phòng năm 2018 có nhiều chuyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch như các dự án đầu tư, khách sạn cao cấp, khu vui chơi giải trí phát triển đa dạng, công tác quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường. Bên cạnh đó là việc quảng bá tiềm năng du lịch của thành phố trên các phương tiện thông tin đại chúng, đẩy nhanh tiến độ các dự án khu vui chơi giải trí, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, các cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch đẳng cấp cao để thu hút ngày càng đông hơn lượng khách du lịch đến với thành phố

Năm 2019 , tổng lượng khách đến với du lịch biển Hải Phòng đạt hơn 8.1 triệu lượt, tăng 24 % so với cùng kỳ năm 2018. Để kích cầu du lịch, các tour du lịch của các doanh nghiệp lữ hành giảm giá cộng với vé máy bay khuyến mại nhiều nên lượng khách du lịch đến thành phố tăng so năm 2018.

Năm 2020, du lịch biển Hải Phòng đón và phục vụ là 5.5 triệu khách du lịch. Doanh thu du lịch biển của Hải Phòng đạt hơn 2 nghìn tỷ đồng, giảm gần 9% so với năm 2019. Năm 2020, dịch COVID-19 đã ảnh hưởng trực tiếp đến Du lịch Việt Nam, trong đó Hải Phòng là một trong những địa phương phải chịu nhiều tổn thất nặng nề, nhất là ở ngành du lịch biển. Do vậy kết quả giảm cả ở số lượng khách du lịch và doanh thu dịch vụ nằm trong xu hướng chung của cả nước.

Nhằm chung tay đẩy lùi những tổn thất của dịch bệnh và góp phần vực dậy ngành Du lịch, Sở Du lịch Hải Phòng đã tổ chức tuyên truyền, giám sát công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 đối với các cơ sở kinh doanh du lịch, yêu cầu các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn Thành phố thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng, kịp thời thông tin đến các doanh nghiệp và khách du lịch về chủ trương tạm dừng các đường bay từ Hải Phòng đi và đến các vùng có dịch, yêu cầu các công ty lữ hành quốc tế tạm dừng tổ chức các tour du lịch đến từ vùng dịch và hạn chế đi đến vùng có dịch… Đặc biệt, công tác tuyên truyền quảng bá thương hiệu và điểm đến được Sở Du lịch Hải Phòng chú trọng thông qua việc thường xuyên cập nhật các thông tin mới trên ấn phẩm du lịch của Hải Phòng; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, các cơ quan truyền thông ở Trung ương và của Thành phố… thực hiện các bài viết, video clip giới thiệu về các tour, tuyến và sản phẩm du lịch mới trên địa bàn Thành phố. Ngoài ra, một loạt các sự kiện, hội thảo, hội nghị nghiên cứu phát triển, xây dựng sản phẩm du lịch đã được tổ chức như Hội thảo nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch khu vực Đông Nam Thành phố (Đồ Sơn, Dương Kinh, Kiến Thụy); Thiết kế ấn phẩm Bộ Ảnh đẹp du lịch Hải Phòng; Cuộc thi “Checkin Hải Phòng – Thành phố tôi yêu” trên mạng xã hội… đã tạo ra điểm nhấn trong hoạt động du lịch 6 tháng đầu năm 2020.

2.2.3. Những hạn chế về chất lượng du lịch biển và nguyên nhân ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Trong những năm qua du lịch biển của Hải Phòng đã đạt được những thành công đáng khích lệ, tích cực khai thác và phát huy các lợi thế, tiềm năng du lịch của thành phố. Tuy nhiên, du lịch biển tại Hải Phòng còn nhiều hạn chế:

  • Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về phát triển du lịch còn nhiều hạn chế, mức chi tiêu của khách du lịch thấp; thời gian lưu trú bình quân ngắn; doanh thu du lịch biển chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế; Tỷ trọng lượng khách du lịch quốc tế trong tổng số khách du lịch nhỏ và có xu hướng giảm.
  • Chưa có bước phát triển đột phá để khẳng định du lịch biển thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn và đang có xu hướng tụt hậu so với các khu vực lân cận.
  • Công tác xúc tiến quảng bá du lịch biển thời gian qua vẫn ở phạm vi hẹp, công nghệ chưa cao và chưa thường xuyên và sâu rộng, hình ảnh du lịch Hải Phòng chưa đến được các thị trường quốc tế.
  • Đầu tư cơ sở hạ tầng cho du lịch biển còn dàn trải, manh mún, triển khai còn chậm, chưa đồng bộ.
  • Công tác đào tạo nhân lực du lịch còn hạn chế, trình độ nhân lực làm du lịch còn thấp chưa thật sự đáp ứng yêu cầu.
  • Tính liên kết du lịch của Hải Phòng với du lịch với các địa phương lân cận chưa đáp ứng yêu cầu phát triển…
  • Các sản phẩm du lịch biển chưa phong phú, chưa tạo được những sản phẩm du lịch có chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế, việc khai thác vẫn ở trong phạm vi hẹp, công nghệ chưa cao, chưa có sự khác biệt, chưa thể hiện đặc thù văn hóa du lịch.
  • Bộ máy quản lý gồm nhiều cơ quan có liên quan chéo, thiếu tập trung; Vi phạm của các cơ sở kinh doanh du lịch về giá, mất vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn phổ biến; Quản lý về môi trường còn hạn chế, chưa triệt để; Hoạt động du lịch còn phân tán, chưa bài bản, nhất là các công trình hạ tầng du lịch; Chưa tạo lập được môi trường kinh doanh du lịch hấp dẫn…

TIỂU KẾT CHƯƠNG II

Trong chương này, tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển thành phố Hải Phòng bao gồm: Đặc điểm về lịch sử, vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, đặc điểm kinh tế – xã hội , tình hình chính trị, các điều kiện an toàn với du khách và các chính sách phát triển du lịch biển thành phố, đồng thời, phân tích tiềm năng du lịch biển Hải Phòng. Qua phân tích các nhân tố trên, có thể đánh giá tiềm năng để phát triển ngành du lịch biển trên địa bàn thành phố là rất lớn, đòi hỏi việc nâng cao chất lượng du lịch phải càng được chú trọng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. ( Khóa luận: Thực trạng nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển )

Cũng trong chương này, khóa luận đã tập trung đi sâu phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng chất lượng du lịch biển Hải Phòng (chủ yếu ở Đồ Sơn – Cát Bà) trong giai đoạn 2016 -2020. Tác giả tập trung nêu các dẫn chứng, số liệu cụ thể nhằm đánh giá những mặt mạnh – mặt yếu, nhưng việc đã làm được và những việc còn chưa làm được của du lịch biển Hải Phòng, đồng thời chỉ rõ nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến thực trạng chất lượng du lịch biển Hải Phòng trong thời gian qua. Căn cứ đánh giá thực trạng chất lượng du lịch biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đồng thời vận dụng những kiến thức lý luận được khái quát, hệ thống hóa trong chương I, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp mang tính cơ bản góp phần nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng trong thời gian tới.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Khóa luận: Giải pháp nâng cao phát triển chất lượng du lịch biển

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537