Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

I. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Ngày 12/12/2016, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 17/06/2022) và Luật các Tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 15/06/2023), thay thế cho Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1990 và Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990. Đây là một bước tiến quan trọng trong lịch sử xây dựng pháp luật ngân hàng, là bước ngoặt pháp lý to lớn, đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lập pháp, tạo ra các chuẩn mực mới về môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam . Cùng với việc ban hành hai luật nói trên, một hệ thống các văn bản pháp luật, từ các luật liên quan cho đến các văn bản dưới luật ngày càng được xây dựng, hỗ trợ, cụ thể hoá, từng bước hoàn thiện pháp luật về ngân hàng, tạo cơ sơ pháp lý vững chắc cho hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển và ổn định.

Tại Điều 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 06/2016/QHX có quy định:

  1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
  2. NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các Tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
  3. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các Tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng XHCN.

Trên thực tế, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước được quy định trong chương III của Luật này bao gồm nhiều mục như: thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; phát hành tiền; hoạt động tín dụng; mở tài khoản, hoạt động thanh toán và ngân quỹ; quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối; hoạt động thông tin. Trong bài viết này chỉ đề cập đến hoạt động chủ yếu nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm thực hiện chức năng Ngân hàng Trung ương, đó là thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bằng các công cụ phổ biến được quy định tại Điều 16 của Luật Ngân hàng Nhà nước bao gồm: tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước

Tái cấp vốn theo Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng.

Các hình thức tái cấp vốn theo Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước (đã sửa đổi, bổ sung năm 2022) bao gồm những hình thức:

  • Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng;
  • Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác (bao gồm cả giấy tờ có giá ngắn hạn và dài hạn, khác với Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2016 chỉ quy định chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn).
  • Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.

Dựa trên những hình thức này, các văn bản pháp luật đã được ban hành để điều chỉnh theo từng vấn đề cụ thể của hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng, bao gồm: Quyết định (QĐ) số 648/2022/QĐ-NHNN ngày 24/06/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định về xử lý tài sản cấm cố của các ngân hàng vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước; QĐ số 898/2022 ngày 12/08/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng; QĐ số 1452/2022 ngày 03/11/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay có bảo đảm bằng cấm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng, được sửa đổi một số điều bằng QĐ số 94 ngày 20/01/2023; QĐ số 1509/2022 ngày 14/11/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước đối với các Ngân hàng Thương mại Nhà nước có bảo đảm bằng cấm cố Trái phiếu đặc biệt… Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Cho vay có bảo đảm bằng cấm cố giấy tờ có giá (gọi tắt là cho vay cấm cố): Là hình thức cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng xin vay trên cơ sở cầm cố các giấy tờ có giá của bên vay để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ (Điều 3 QĐ số 1452/2022). Nghiệp vụ này được thực hiện theo nguyên tắc:

  • Cấp tín dụng có bảo đảm;
  • Cung ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng;
  • Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn.

Lãi suất cho vay cầm cố do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định và điều chỉnh phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Khi đến hạn thanh toán mà ngân hàng xin vay vẫn không có nguồn trả nợ để khoản vay bị quá hạn thì khoản vay phải được chuyển sang nợ quá hạn và phải áp dụng lãi suất phạt quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay cầm cố trong từng thời kỳ.

Các tài sản cầm cố (đã sửa đổi theo QĐ số 94 ngày 20/01/2023), bao gồm:

  • Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước
  • Trái phiếu Chính phủ: Tín phiếu Kho bạc, Trái phiếu Kho bạc; Trái phiếu công trình Trung ương; Trái phiếu ngoại tệ; Công trái xây dựng Tổ quốc;
  • Các giấy tờ có giá khác được sử dụng làm tài sản cầm cố do Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ.

Trong quy chế cũng quy định cụ thể về điều kiện của các ngân hàng xin vay vốn và điều kiện về các tài sản cầm cố của ngân hàng (Điều 5, Điều 8 QĐ 1452/2022), để khi đáp ứng đủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ căn cứ vào giá trị và thời hạn thanh toán của giấy tờ có giá được chấp nhận cầm cố để xác định giá trị tài sản cầm cố, thời hạn cầm cố và số tiền cho vay trên Bảng kê giấy tờ có giá được chấp nhận cầm cố để vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Mức cho vay cầm cố tối đa không vượt quá tổng số tiền được thanh toán của giấy tờ có giá cầm cố khi đến hạn.

Thời hạn cho vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và ngân hàng xin vay thoả thuận và xác định các kỳ hạn trả nợ trên cơ sở mục đích của khoản vay và thời hạn thanh toán còn lại của các giấy tờ có giá được chấp nhận cầm cố, nhưng thời hạn cho vay tối đa không quá 1 năm. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Việc xử lý tài sản cầm cố khi phải thu hồi nợ bắt buộc thực hiện theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc xử lý tài sản cầm cố của các ngân hàng vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước.

Hiện tại, việc xử lý tài sản cầm cố của các ngân hàng vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước được thực hiện theo QĐ số 648/2022/QĐ-NHNN ngày 24/06/2022. Văn bản này quy định chi tiết về các trường hợp xử lý tài sản cầm cố; các nguyên tắc; quy trình xử lý tài sản cầm cố, thu hồi nợ cùng các phương thức sau:

Đối với tài sản cầm cố là các giấy tờ có giá đã đến hạn thanh toán: Ngân hàng Nhà nước xem xét chấp thuận cho các ngân hàng thực hiện việc thanh toán với tổ chức phát hành giấy tờ có giá hoặc các ngân hàng phải chuyển giao ngay quyền sở hữu tài sản cầm cố cho Ngân hàng Nhà nước để yêu cầu tổ chức có trách nhiệm thanh toán giấy tờ có giá đang cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước, thanh toán trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước theo nghĩa vụ mà người thụ hưởng đã cam kết.

Đối với tài sản cầm cố là giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán: Ngân hàng Nhà nước xem xét, chấp thuận cho các ngân hàng thực hiện theo một trong các phương thức xử lý: + Chiết khấu giấy tờ có giá tại Ngân hàng Nhà nước; + Bán giấy tờ có giá cho tổ chức tài chính-tín dụng trên thị trường tiền tệ; + Chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cầm cố cho Ngân hàng Nhà nước để thay thế nghĩa vụ trả nợ.

Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng là nghiệp vụ tái cấp vốn, theo đó Ngân hàng Nhà nước mua các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, mà các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàng mua trên thị trường sơ cấp hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp. Hiện nay, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng được ban hành kèm theo QĐ số 898/2022/QĐ-NHNN ngày 12/08/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có các điều khoản về lãi suất chiết khấu; hình thức chiết khấu; các giấy tờ có giá được chiết khấu; hạn mức chiết khấu; đơn vị thực hiện; phương thức thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; trình tự, thủ tục thực hiện nghiệp vụ chiết khấu… hướng dẫn cụ thể việc thực hiện cho các ngân hàng xin vay vốn theo nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá tại Ngân hàng Nhà nước.

Trong quy chế về chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thì đáng chú ý nhất là quy định về lãi suất chiết khấu: “lãi suất chiết khấu do Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.” Chính vì vậy, cho đến nay đã có rất nhiều quyết định do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu đối với các Tổ chức tín dụng, nhằm đảo bảo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia phù hợp với từng thời kỳ. Gần đây nhất, mức lãi suất đã chính thức được nâng lên theo QĐ số 1746/QĐ-NHNN ngày 01/12/2024, cụ thể với lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm và được duy trì ổn định cho đến nay đã là 22 tháng liên tiếp.

Đây là một động thái đúng đắn trước việc GDP tăng trưởng nóng (8,34% năm 2024) trong những năm qua và đặc biệt khi tỷ lệ lạm phát lên cao đến 9,5% ở thời điểm cuối năm 2023, ở mức 8,4% năm 2024, 6,6% năm 2025, lại tăng đến 7% trong nửa đầu năm 2026 và có xu hướng tiếp tục tăng.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về dự trữ bắt buộc Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Theo Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước, dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, được quy định chi tiết tại Điều 20 như sau:

  1. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi với mức từ 0% đến 20% tổng số dư tiền gửi tại mỗi Tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ.
  2. Việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc của từng loại hình Tổ chức tín dụng, từng loại tiền gửi trong từng thời kỳ do Chính phủ quy định.

Quy định chi tiết hơn về dự trữ bắt buộc, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các Tổ chức tín dụng kèm theo QĐ số 581/2022/QĐ-NHNN ngày 09/06/2022, được sửa đổi, bổ sung một số điều bằng QĐ 1130/2024/QĐ-NHNN ngày 01/08/2024. Quyết định này thay thế QĐ số 51/2018/QĐ-NHNN1 ngày 10/02/2018 về việc ban hàn Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các Tổ chức tín dụng, QĐ số 191/2018/QĐ-NHNN1 ngày 31/05/2018 về tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các Tổ chức tín dụng, QĐ số 303/2019/QĐ-NHNN1 ngày 11/09/2019, QĐ số 700/2021/QĐ-NHNN ngày 04/07/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về gửi tiền dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với các Tổ chức tín dụng tham gia thanh toán điện tử liên ngân hàng.

Theo quy chế này, dự trữ bắt buộc được tính toán trên cơ sở số dư tiền gửi huy động bình quân của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc tại Hội sở chính và các chi nhánh của Tổ chức tín dụng trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc và tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình Tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định tuỳ thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Theo quy định mới nhất (QĐsố 1141/QĐ-NHNN, ngày 28/05/2026 về việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các Tổ chức tín dụng) thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng đồng Việt Nam áp dụng cho các Ngân hàng Thương mại Nhà nước, Ngân hàng Thương mại cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính là 10% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, gấp đôi so với mức cũ là 5 % (theo QĐ số 796/2023/QĐ-NHNN ngày 25/06/2023). Riêng với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), tỷ lệ này được áp dụng ở mức 8%; đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần nông thôn, quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác, tỷ lệ trên được áp dụng ở mức thấp hơn (4% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc). Đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng bằng đồng Việt Nam của tất cả các Tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tỷ lệ này là 4% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc.

Quyết định về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc mới này đang gây khó khăn đến hoạt động cho vay của các ngân hàng vì tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đồng nghĩa với việc nguồn vốn cho vay sẽ bị cắt giảm, cũng có nghĩa là lợi nhuận của các ngân hàng sẽ giảm vì đối với một ngân hàng, nguồn thu mang về lớn nhất chính là lợi nhuận từ khoản cho vay. Để đảm bảo và cân đối được nguồn lợi nhuận trong kinh doanh, các ngân hàng sẽ buộc phải nghĩ đến bài toán tăng lãi suất cho vay hoặc giảm lãi suất huy động trong tình hình huy động vốn ngày càng khó khăn trước sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường chứng khoán.

Theo Ngân hàng Nhà nước, hiện mức dư thừa vốn khả dụng của các ngân hàng cổ phần rất lớn, chẳng hạn như mức huy động vốn của các ngân hàng cổ phần trên địa bàn Tp.HCM 5 tháng đầu năm 2026 đạt trên 268.000 tỷ đồng, tăng 61,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi, dư nợ cho vay mới chỉ hơn 190.000 tỷ đồng, tăng 44,9%. Do vậy, việc tăng dự trữ bắt buộc vào thời điểm này không những không làm tăng chi phí vốn mà ngược lại sẽ hỗ trợ được chi phí cho các ngân hàng. Vì đối với lượng tiền gửi của các ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước thì chỉ có tiền gửi dự trữ mới được hưởng lãi suất. Hơn nữa, trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước chỉ điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống, vì vậy, việc các Ngân hàng Thương mại tăng lãi suất với lý do Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc là không thoả đáng. Quyết định về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là để nhằm hạn chế các khoản huy động ngắn hạn và khuyến khích các ngân hàng tăng huy động vốn dài hạn để đáp ứng việc cho vay một cách an toàn, bền vững.

Quay trở lại với Quy chế dự trữ bắt buộc theo QĐ số 581/2022, theo Điều 6, việc trả lãi đối với số tiền phải dự trữ bắt buộc của từng loại hình Tổ chức tín dụng, từng loại tiền gửi cũng được thực hiện theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ.

Trong Quy chế cũng quy định cụ thể về các nguyên tắc mà theo đó các Tổ chức tín dụng phải duy trì đầy đủ dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc (Điều 11), các loại tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc (Điều 12), cách tính dự trữ bắt buộc (Điều 13), xác định, xử lý thừa thiếu dự trữ bắt buộc cũng như quy định trách nhiệm của các tổ chức, ban ngành trong việc thực hiện Quy chế dự trữ bắt buộc (chương III). Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

3. Quy định của pháp luật Việt Nam về nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá ngắn hạn do Ngân hàng Nhà nước thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước). Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán ngắn hạn tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (Điều 21 Luật Ngân hàng Nhà nước đã sửa đổi, bổ sung năm 2022).

Hiện nay ở Việt Nam, nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo QĐ số 01/2026/QĐ-NHNN ngày 05/01/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. QĐ này thay thế cho QĐ số 85/2019/QĐ-NHNN14 ngày 09/03/2019 ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở, QĐ số 1439/2020/QĐ-NHNN ngày 20/11/2020 về việc sửa đổi một số điều trong Quy chế nghiệp vụ thị trường mở, QĐ số 877/2021/QĐ-NHNN ngày 19/08/2021 về việc sửa đổi Điều 1 QĐ số 1439/2020/QĐ-NHNN, QĐ số 1085/2022/QĐ-NHNN ngày 16/09/2022 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều trong Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo QĐ số 85/2019/QĐ-NHNN14 ngày 09/03/2019 và khoản 4 Điều 1 QĐ số 1439/2020/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Theo quy chế mới ban hành, nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất. Tại mỗi phiên đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng một phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất.

Căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ; kết quả dự báo vốn khả dụng; khối lượng, lãi suất trúng thầu của các loại giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước đã mua hoặc đã bán qua nghiệp vụ thị trường mở tại phiên đấu thầu gần nhất; tham khảo các loại lãi suất hiện hành trên thị trường; và tình hình hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng, Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở quyết định các nội dung chủ yếu trong phiên giao dịch nghiệp vụ thị trường mở, bao gồm:

  • Khối lượng các loại giấy tờ có giá cần mua hoặc bán tính theo giá thanh toán giữa Ngân hàng Nhà nước với Tổ chức tín dụng;
  • Quyết định thông báo hoặc không thông báo khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán trước mỗi phiên đấu thầu; Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
  • Các loại giấy tờ có giá cần mua, bán;
  • Tỷ lệ giao dịch các loại giấy tờ có giá;
  • Phương thức đấu thầu;
  • Phương thức xét thầu (trường hợp đấu thầu lãi suất);
  • Thời hạn của giao dịch mua, bán có kỳ hạn (một thời hạn mua, bán đối với các loại giấy tờ có giá tại mỗi phiên đấu thầu);

Lãi suất mua hoặc bán.

Thời gian, cách thức xem xét và quyết định các nội dung chủ yếu trong phiên giao dịch nghiệp vụ thị trường mở do Trưởng ban hoặc người được Trưởng ban uỷ quyền quyết định. Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở sẽ thông báo cho Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước các nội dung mà Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở đã quyết định về phiên giao dịch để Sở giao dịch thông báo cho các thành viên.

Vào ngày thông báo, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước gửi thông báo mua hoặc bán giấy tờ có giá cho các thành viên qua mạng máy vi tính. Vào ngày đấu thầu, các Tổ chức tín dụng căn cứ vào thông báo mua hoặc bán giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước cũng qua mạng máy vi tính.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao cho Giám đốc Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện xét thầu với sự chứng kiến của thành viên trong Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở. Đồng thời, việc xét thầu được thực hiện theo nội dung thông báo của Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở, Quy chế này và Quy trình nghiệp vụ thị trường mở. Khi có kết quả đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước thông báo kết quả đấu thầu cho các Tổ chức tín dụng tham gia đấu thầu qua mạng máy vi tính.

Triển khai thực hiện Quy chế này, Vụ tín dụng có trách nhiệm: Phối hợp với các đơn vị có liên quan chủ trì thực hiện Quy chế này; Cung cấp thông tin về hoạt động tái cấp vốn cho Ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở; Trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở trong từng thời kỳ.

Vụ chính sách tiền tệ có trách nhiệm: quản lý, theo dõi và cung cấp kết quả dự báo vốn khả dụng của các Tổ chức tín dụng cho Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở theo quy định tại Quy chế quản lý vốn khả dụng; Đề xuất với Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở về khối lượng các loại giấy tờ có giá cần mua, cần bán, phương thức mua hoặc bán, thời hạn cần mua hoặc bán và dự kiến các mức lãi suất áp dụng khi mua, bán giầy tờ có giá; Phối hợp với Vụ tín dụng, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở trong từng thời kỳ. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Trách nhiệm của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước gồm có: xem xét, công nhận Tổ chức tín dụng là thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở; thực hiện các giao dịch mua, bán giấy tờ có giá với các Tổ chức tín dụng; ban hành quy trình nghiệp vụ thị trường mở; phối hợp với Vụ tín dụng và Vụ chính sách tiền tệ tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở trong từng thời kỳ; tham mưu cho Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở xác định cơ cấu, thời hạn cần mua, bán của các loại giấy tờ có giá; thực hiện thanh toán và hạch toán kế toán theo quy định; tổng hợp, theo dõi và báo cáo các thông tin về nghiệp vụ thị trường mở gửi Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở, Vụ tín dụng và Vụ chính sách tiền tệ; quản lý và cung cấp thông tin về nghiệp vụ thị trường mở cho Tổ chức tín dụng qua trang tin nghiệp vụ thị trường mở.

Vụ Kế toán – tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn quy trình hạch toán kế toán liên quan đến nghiệp vụ thị trường mở.

Cục Công nghệ tin học ngân hàng có trách nhiệm: cài đặt chương trình phần mềm và đảm bảo hạ tầng mạng truyền thông cho nghiệp vụ thị trường mở hoạt động ổn định, an toàn và bảo mật; quy định mã số, mã khoá, khoá ký chữ ký điện tử cho những người tham gia nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và các thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở.

Sau Quy chế nghiệp vụ thị trường mở, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 86/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 08/01/2026 về danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở, thay thế cho công văn số 1511/NHNN-TD ngày 28/12/2023 của Ngân hàng Nhà nước về việc điều chỉnh danh mục giấy tờ có giá giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở.

Theo QĐ này, các Tổ chức tín dụng là thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng các giấy tờ có giá được phát hành dưới hình thức ghi sổ trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở. Cụ thể là các loại giấy tờ có giá: Tín phiếu Kho bạc, Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, Trái phiếu Kho bạc, Trái phiếu công trình Trung ương, Công trái, một số loại Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu Ngân hàng phát triển Việt Nam phát hành và Trái phiếu chính quyền địa phương.

Tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán trong giao dịch mua, bán có kỳ hạn giữa Ngân hàng Nhà nước với Tổ chức tín dụng được quy định trong QĐ dựa trên cơ sở thời hạn còn lại của giấy tờ có giá và có quy định cụ thể đối với một số loại giấy tờ có giá.

Đối với một số loại Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu Ngân hàng phát triển Việt Nam phát hành và Trái phiếu chính quyền địa phương, các loại giấy tờ có giá này được quy định tỷ lệ giao dịch theo tỷ lệ tối đa không quá 50% tổng giá trị giao dịch của mỗi phiên giao dịch nghiệp vụ thị trường mở.

II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động nghiệp vụ ngân hàng của Ngân hàng Thương mại

1.1. Hoạt động huy động vốn:

Trong Luật các Tổ chức tín dụng năm 2016, hoạt động huy động vốn được quy định trong chương III mục I, từ Điều 45 đến Điều 48, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2023 như sau:

Các Tổ chức tín dụng có thể huy động vốn thông qua việc nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các Tổ chức tín dụng khác; hoặc thông qua việc phát hành giấy tờ có giá là các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác cho các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Các Tổ chức tín dụng cũng có thể vay vốn ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước hay vay vốn của nhau và của Tổ chức tín dụng nước ngoài.

Ở Việt Nam hiện nay tình trạng huy động vốn của các Ngân hàng Thương mại đang gặp một vài khó khăn do phải chia sẻ vốn với thị trường chứng khoán đang phát triển mạnh mẽ, một phần vốn gửi tiết kiệm ngân hàng của dân cư đang được rút ra để đầu tư vào chứng khoán, nhất là ở các thành phố lớn.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội, tiền gửi dân cư (tiết kiệm, mua kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi…) thường chiếm từ 48% đến gần 50% trong tổng vốn huy động của các ngân hàng ở Hà Nội nhưng đến cuối tháng 2-2026 đã giảm xuống còn 42,5% so với cùng kỳ của những năm trước. Trong khi đó, đánh giá của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TPHCM cũng cho thấy, sau những đợt nâng lãi suất huy động dưới nhiều hình thức, tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn tính đến ngày 28-2 cũng chỉ ước đạt 303.700 tỉ đồng, chỉ tăng 0,8% so với một tháng trước và tăng 6,4% so với cuối năm 2025. Trong khi, những tháng cuối năm 2025 mức tăng trưởng bình quân khoảng 23%/tháng. Mặc dù đã ra sức tăng lãi suất huy động tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng trong những tháng đầu năm, tốc độ huy động vốn của các ngân hàng ở hai “trung tâm chứng khoán” vẫn tăng chậm so với cùng kỳ năm trước.

Nhưng xét trên tổng thể, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của các ngân hàng vẫn chưa bị ảnh hưởng quá nặng nề, do thị trường chứng khoán nóng chủ yếu ở các thành phố Hà Nội và TPHCM còn các tỉnh thành khác ít chịu ảnh hưởng nên việc huy động từ các địa bàn này vẫn còn tốt. Vì vậy, công tác huy động vốn của một số ngân hàng đang chuyển hướng về nông thôn qua mạng lưới chi nhánh ở các tỉnh. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Đến tháng 6 năm 2026, tình hình có sự khả quan. Riêng Hà Nội, (địa bàn chiếm gần 40% tổng vốn huy động toàn hệ thống), vốn huy động từ các tổ chức và dân cư cuối tháng 6/2026 tăng 21% so cuối năm 2025, trong khi đó tỉ lệ sử dụng vốn để cho vay và đầu tư chỉ đạt 46,3%/ vốn huy động. Nguồn vốn tăng mạnh trước hết là do vẫn chưa có kênh đầu tư nào thay được kênh NH. Thị trường chứng khoán sụt giảm, thị trường BĐS vẫn “đóng băng”, giá vàng biến động khá thất thường… Bên cạnh đó, vốn tăng cũng là kết quả cạnh tranh quyết liệt của các NH như mở rộng mạng lưới, tìm kiếm các khách hàng mới…

Lo ngại “sức nóng” của Thị trường chứng khoán sẽ có thể tác động nhiều mặt đối với ngành ngân hàng nhưng ý kiến của một số lãnh đạo cho rằng về lâu dài, tác động sẽ là tích cực vì cùng với các dịch vụ đầu tư vào thị trường chứng khoán, nhu cầu về các dịch vụ tài chính ngân hàng khác cũng sẽ bùng nổ và hỗ trợ ngân hàng phát triển. Hơn nữa, trước tình hình mới, các Ngân hàng Thương mại cũng sẽ không “ngồi yên” mà có những chiến lược phát triển những nhóm khách hàng hoặc sản phẩm mới đủ hấp dẫn để đối phó với những bước phát triển của thị trường.

1.2. Hoạt động cấp tín dụng

Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2016, hoạt động tín dụng là việc Tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng; nghĩa là Tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.

  • Cho vay

Sau khi Quốc hội thông qua Luật các Tổ chức tín dụng năm 2016, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã lần lượt ban hành Quy chế cho vay vốn của các Tổ chức tín dụng đối với khách hàng kèm theo QĐ số 324/2017/QĐ-NHNN1 (ngày 30/09/2017), QĐ số 284/2019/QĐ-NHNN1 (ngày 25/08/2019), QĐ số 1627/2020/QĐ-NHNN (ngày 31/12/2020) và gần đây nhất là QĐ số 127/2024/QĐ-NHNN (ngày 03/02/2024) cùng QĐ số 783/2024/QĐ-NHNN (ngày 31/05/2024). Các quy định về cho vay thông qua Quy chế cho vay mới này đã phản ánh những nội dung cơ bản nhất về quan hệ tín dụng giữa Tổ chức tín dụng đối với khách hàng, thể hiện ở một số vấn đề cơ bản sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Một là, Tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình. Không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào quyền tự chủ trong quá trình cho vay và thu hồi nợ của Tổ chức tín dụng.

Hai là, pháp luật tín dụng ngân hàng đặc biệt chú trọng đến các nguyên tắc và điều kiện vay vốn, như: sử dụng vốn vay đùng mục đích; hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

Ba là, trên cơ sở các nguyên tắc này, Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện: về chủ thể, mục đích sử dụng vốn, khả năng tài chính, phương án vay và trả nợ…

Bốn là, Quy chế cho vay hiện hành lần đầu tiên đã đề cập đến một loại khách hàng vay mới so với Quy chế trước kia, đó là các tổ chức, cá nhân nước ngoài có đủ điều kiện được vay vốn theo quy định của pháp luật. Điểm mới này tạo điều kiện để các ngân hàng mở rộng khách hàng của mình cũng như giúp cho các tổ chức và cá nhân nước ngoài có cơ hội tiếp cận với vốn vay ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh, nhu cầu đời sống, phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế hiện nay.

Năm là, đi theo xu hướng chung mang tính gợi mở của pháp luật Việt Nam hiện nay, Quy chế cho vay theo QĐ số 1627/ 2020 được xây dựng trên cơ sở cả các Tổ chức tín dụng và khách hàng đều có quyền làm những gì mà pháp luật không cấm, thay vì chỉ làm những gì trong khuôn khổ chật hẹp mà pháp luật cho phép như trước đây. Theo đó, Quy chế chỉ rõ những nhu cầu vốn (Điều 9 – QĐ số 1627/2020/QĐ-NHNN) hoặc một số đối tượng khách hàng (Điều 19) mà các Tổ chức tín dụng không được cho vay, nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra, góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng.

Cùng với những điểm tiến bộ, quy chế cho vay hiện hành của Ngân hàng Nhà nước đã phản ánh phương châm tiếp tục đổi mới cơ chế cho vay phù hợp với các quan hệ kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, nổi bật lên ở một số điểm sau:

Thứ nhất, đề cao nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện của các bên tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng, phản ánh đúng đắn bản chất quan hệ hợp đồng trong cơ chế thị trường dựa trên cơ sở thoả thuận về ý chí của các bên.

Thứ hai, nhấn mạnh quyền tự chủ trong hoạt động cho vay và thu nợ của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Theo Điều 5 Quy chế cho vay, Tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình. Quy định này một mặt đề cao tính tự chủ của các Tổ chức tín dụng nói chung và của các Ngân hàng Thương mại nói riêng, mặt khác cũng thể hiện tư tưởng tách bạch hoạt động quản lý ra khỏi hoạt động kinh doanh, thể hiện tính tự chủ hạch toán kinh doanh của Ngân hàng Thương mại theo cơ chế thị trường. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Thứ ba, từng bước xác lập các nguyên tắc, biện pháp liên quan đến sự bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và an toàn của hệ thống các Tổ chức tín dụng nhằm làm cho hoạt động tín dụng có hiệu quả. Điều này được thể hiện qua việc quy định các Tổ chức tín dụng phải kiểm tra nghiêm ngặt khả năng và các điều kiện trả nợ của người đi vay; xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay; chỉ cho vay khi có sự đảm bảo.

Thứ tư, từng bước xác định rõ các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, quy định những trường hợp cấm cho vay hoặc không được cho vay ưu đãi.

Thứ năm, quy định về thể loại cho vay phù hợp với điều kiện thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống và các dự án đầu tư phát triển.

Thứ sáu, quy định về việc chuyển nợ quá hạn đã từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo quy chế mới, đến kỳ hạn trả nợ gốc và lã, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi thì Tổ chức tín dụng chuyển toàn bộ khoản vay (số dư nợ) sang nợ quá hạn thay vì so với trước đây (theo QĐ số 284/2019/QĐ-NHNN1) đối với khoản phải trả của một món nợ đến hạn mà khách hàng không trả được thì chỉ riêng khoản phải trả đó bị coi là nợ quá hạn và khách hàng chỉ phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền chậm trả.

Thứ bảy, việc kiểm tra, giám sát vốn vay được quy định theo hướng giao cho Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ khách hàng nhằm nâng cao trách nhiệm của Tổ chức tín dụng, đồng thời, tránh việc hình sự hoá quan hệ tín dụng đối với cán bộ nhân viên tín dụng ngân hàng.

Chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá Theo Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2024:

  1. Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định.
  2. Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
  3. Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
  4. Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.” Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Cũng theo Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2024 thì:

  • Chiết khấu các công cụ chuyển nhượng là việc tổ chức tín dụng mua công cụ chuyển nhượng từ người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
  • Tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng mua lại công cụ chuyển nhượng đã được tổ chức tín dụng khác chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.”

Việc chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay được thực hiện theo Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành kèm theo QĐ số 63/2025/QĐ-NHNN ngày 29/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Bên cạnh đó, việc chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng lại tuân theo Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo QĐ số 1325/2023/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 10 năm 2023 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Điều 1 của QĐ xác định rõ quy chế này không quy định việc chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu.

Chứng từ có giá hay giấy tờ có giá là những phương tiện chuyển tải và dự trữ giá trị, như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu… do những đơn vị được phép phát hành hợp pháp để huy động vốn từ thị trường. Những chứng từ này được pháp luật thừa nhận. Chúng được coi là tài sản của những người sở hữu.

Theo quy định mới, Tổ chức tín dụng xem xét quy định mức chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng đối với một số trường hợp được quy định trong khoản 1, Điều 10, QĐ số 17 ngày 20/04/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung Điều 10 và Điều 12 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo QĐ số 1325/2023/QĐ-NHNN. Quy định mới này đã mở rộng hơn quyền tự chủ trong việc quy định mức chiết khấu, tái chiết khấu của các Tổ chức tín dụng so với Điều 10 trong QĐ số 1325/2023 chỉ giới hạn mức chiết khấu, tái chiết khấu tối đa đối với một khách hàng bằng 15% vốn tự có của Tổ chức tín dụng trong mọi trường hợp.

Trong giáo trình Quản lý và kinh doanh tiền tệ của trường Học viện Tài chính thì chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá được hiểu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, được thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức chiết khấu.

Khoản 2 Điều 57 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2016 nêu rõ đây là một hình thức cấp tín dụng: “TCTD được cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá trị khác còn thời hạn thanh toán dưới 1 năm”.

So với Pháp lệnh thương phiếu năm 2018 trước đây thì Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2024 đã thực sự là bước phát triển, làm tăng hiệu lực của văn bản luật đối với đối tượng điều chỉnh này. Mặt khác, cùng với các quy định của Ngân hàng Nhà nước về chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá được ban hành kịp thời, việc ban hành đạo luật này cũng phù hợp với khoản 2 Điều 57 Luật các Tổ chức tín dụng và bước đầu tạo tiền đề, điều kiện cho các Tổ chức tín dụng hoạt động thuận lợi hơn trước. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

  • Bảo lãnh ngân hàng

Theo Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung năm 2023) thì:

“Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của Tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.

Theo định nghĩa trên, có thể thấy bảo lãnh ngân hàng là một mối quan hệ phức tạp, có sự tham gia của ba chủ thể, đó là: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Ngoài ra, trong một số nghiệp vụ bảo lãnh đặc biệt còn có thể có các bên liên quan như bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng đối với Tổ chức tín dụng. Hiện tại, nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam được thực hiện theo Quy chế bảo lãnh ngân hàng (ban hành kèm theo QĐ số 26/2025/QĐ-NHNN ngày 26/06/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).

So với quy chế trước đây, Quy chế bảo lãnh ngân hàng hiện nay đã khắc phục được một số điểm bất cập, chứa đựng nhiều nội dung mới, cụ thể là:

Thứ nhất, mở rộng các đối tượng được Tổ chức tín dụng bảo lãnh, đó là tất cả các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài. Thật vậy, Điều 6 Chương II QĐ số 196 quy chế trước đây chỉ giới hạn đối tượng hoạt động là các tổ chức có tư cách pháp nhân, QĐ số 283/2019 liệt kê các doanh nghiệp và tổ chức đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam.

Thứ hai, các điều kiện bảo lãnh theo quy chế trước đây không phù hợp với thực tiễn (như: điều kiện nợ quá hạn, điều kiện có đủ tài sản thế chấp…) đã được huỷ bỏ và thay thế bằng các điều kiện mang tính khả thi hơn đối với khách hàng.

Thứ ba, phạm vi bảo lãnh được mở rộng hơn, không chỉ các vấn đề trong nước mà còn cả các nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế. Các loại bảo lãnh cũng ngày càng được mở rộng hơn nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng về bảo lãnh của khách hàng trong thời kỳ mới.

Thứ tư, thẩm quyền của những người được ký bảo lãnh cũng được mở rộng hơn. Theo quy định của Quy chế này, ngoài Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc), Phó Tổng giám đốc, Giám đốc chi nhánh của Tổ chức tín dụng, sau đó là Phó giám đốc chi nhánh của Tổ chức tín dụng trên cơ sở uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật của Tổ chức tín dụng thì chỉ cần là bất cứ chức danh nào trong hệ thống của Tổ chức tín dụng trên cơ sở uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật của Tổ chức tín dụng đều có thẩm quyền được ký bảo lãnh. Quy định này đã thực sự thông thoáng, giúp cho các Tổ chức tín dụng tránh được những ách tắc, khó khăn trong hoạt động kinh doanh hàng ngày. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Thứ năm, không quy định mức phí bảo lãnh tối đa là 1%/ năm hay 2%/năm như quy chế trước đây mà trao quyền tự chủ cho các Tổ chức tín dụng trong việc tính toán, thoả thuận mức phí bảo lãnh đối với khách hàng, phù hợp với chi phí của Tổ chức tín dụng và mức độ rủi ro của nghiệp vụ này. So với việc quy định cụ thể một mức phí bảo lãnh tối đa như trước đây thì việc trao quyền cho các Tổ chức tín dụng tự xác định và thoả thuận mức phí tối ưu, hợp lý là phù hợp với thực tế hơn cả. Đồng thời, quy định này cũng thể hiện xu hướng lập pháp hiện nay là đề cao quyền tự chủ, tự do kinh doanh và tinh thần tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp, các Tổ chức tín dụng, từ đó tạo mọi điều kiện thuận lợi và hành lang pháp lý thông thoáng nhất có thể để các Tổ chức tín dụng phát triển tự do và mạnh mẽ.

1.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán

Các hoạt động thanh toán qua trung gian thanh toán ở Việt Nam hiện nay được quy định tại NĐ số 64/2020/NĐ-CP ngày 20/09/2020 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; QĐ số 226/2021/QĐ-NHNN ngày 26/03/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; QĐ số 20/2026/QĐ-NHNN ngày 15/05/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng; NĐ số 159/2022/NĐ-CP ngày 10/12/2022 về cung ứng và sử dụng séc; QĐ số 30/2025/QĐ-NHNN ngày 11/07/2025 về việc ban hành Quy chế cung ứng và sử dụng séc.

Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 5 Điều 2 NĐ số 64/2020/NĐ-CP thì “hoạt động thanh toán” và “dịch vụ thanh toán” là những khái niệm khác nhau mặc dù có nhiều điểm thống nhất với nhau về bản chất:

Hoạt động thanh toán là việc mở tài khoản, thực hiện dịch vụ thanh toán, tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và việc mở tài khoản, sử dụng dịch vụ thanh toán của người sử dụng dịch vụ thanh toán…

Dịch vụ thanh toán là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Có thể nhận xét tổng quát rằng NĐ số 64/2020/NĐ-CP đã thực sự tạo được những quy định bao quát các quan hệ thanh toán và hoạt động thanh toán phát sinh trong thực tiễn. Điều đó thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, đối tượng và phạm vi áp dụng đối với các hoạt động thanh toán đã được mở rộng, cụ thể: đối tượng tham gia thực hiện quan hệ bao gồm các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán; phạm vi áp dụng bao gồm các hoạt động thanh toán trong nước và quốc tế qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ hai, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong đó có ngân hàng vừa cung cấp các phương tiện thanh toán, vừa cung ứng các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế, tổ chức hệ thống thanh toán, trực tiếp tham gia vào hệ thống thanh toán.

Thứ ba, quy chế thanh toán mới đã nới lỏng những điều kiện, thủ tục, nguyên tắc mở và sử dụng tài khoản, các loại tài khoản, tính chất tài khoản theo hướng mở và trao quyền chủ động cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phù hợp với pháp luật, với phương châm thu hút ngày càng nhiều người sử dụng dịch vụ thanh toán.

Thứ tư, các quy định về phương tiện thanh toán, chứng từ thanh toán, chữ ký điện tử, thanh toán chuyển tiền điện tử được quy định một cách khoa học và tương đối đầy đủ, ngày càng đáp ứng nhu cầu đa dạng về thanh toán.

Thứ năm, quy chế thanh toán mới đã thừa nhận và quy định rõ thấu chi (overdraft): là việc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chấp nhận cho người sử dụng dịch vụ thanh toán được chi vượt số tiền mình có trên tài khoản thanh toán đến một mức nhất định khi sử dụng dịch vụ thanh toá; hạn mức thấu chi do các bên tự thoả thuận. Quy định này thể hiện mối quan hệ tác động lại giữa hoạt động thanh toán và tín dụng, phù hợp dần với thông lệ quốc tế, nâng cao hiệu quả thống nhất trong hoạt động ngân hàng.

Thứ sáu, NĐ số 64/2020/NĐ-CP đã pháp quy hoá các khía cạnh quốc tế về thanh toán thông qua các quy định về phương tiện thanh toán quốc tế, các dịch vụ thanh toán quốc tế; lần đầu tiên chính thức thừa nhận các quy tắc quy tắc và thông lệ về dịch vụ thanh toán quốc tế (như UCP, URC), góp phần quốc tế hoá hoạt động ngân hàng ở Việt Nam. Tuy vậy, việc luật pháp hoá các quy tắc và tập quán quốc tế nói chung còn thiếu cụ thể, chậm chạp gây trở ngại cho hoạt động thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Thứ bảy, NĐ số 64/2020/NĐ-CP về thanh toán đã vạch ra các ranh giới pháp lý cần thiết thông qua việc quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh toán của các chủ thể tham gia thanh toán (Điều 26), thể hiện tính nghiêm minh và kỷ cương của pháp luật, góp phần làm trong sạch hoạt động thanh toán nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung.

1.4. Hoạt động của Ngân hàng Thương mại trên thị trường chứng khoán: Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Với trên 5 năm hình thành và hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy còn non trẻ, nhưng Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng tỏ là một kênh dẫn vốn quan trọng, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Nhận thức được vai trò quan trọng này, ngày 29/06/2025, Luật Chứng khoán số hiệu 70/2025/QH11 đã được ban hành, tạo khung pháp lý thống nhất điều chỉnh chứng khoán và hoạt động của Thị trường chứng khoán.

Với tư cách là một trung gian tài chính, trước tiên, các Ngân hàng Thương mại tạo hàng hoá cho Thị trường chứng khoán sơ cấp, thể hiện qua việc: phát hành chứng khoán (NHTM phát hành cổ phiếu để thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần, từ đó có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn); tư vấn phát hành; đại lý; bảo lãnh phát hành… Tiếp đó, Ngân hàng Thương mại tham gia vào thị trường thứ cấp như một doanh nghiệp, có thể mua bán chứng khoán, tư vấn đầu tư, môi giới, thanh toán bù trừ, lưu ký chứng khoán… để tìm kiếm lợi nhuận.

Theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay thì hoạt động của Ngân hàng Thương mại trên Thị trường chứng khoán được thể hiện dưới hai hình thức: ngân hàng trực tiếp thực hiện và/hoặc ngân hàng thành lập các công ty chứng khoán trực thuộc để kinh doanh trên Thị trường chứng khoán.

Hoạt động chứng khoán do Ngân hàng Thương mại trực tiếp thực hiện:

  • Thứ nhất, phát hành chứng khoán. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

NHTM có thể phát hành trái phiếu như một hình thức huy động vốn hay thậm chí có thể phát hành cổ phiếu nếu là Ngân hàng Thương mại Cổ phần khi đáp ứng đủ những điều kiện do pháp luật quy định về phát hành chứng khoán.

  • Thứ hai, là ngân hàng giám sát tham gia vào hoạt động của quỹ đầu tư, công ty quản lý quỹ.

Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Ngân hàng giám sát là Ngân hàng Thương mại có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán có chức năng thực hiện các dịch vụ lưu ký và giám sát việc quản lý quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán (Điều 98, Luật chứng khoán), có các nghĩa vụ sau đây:

  1. Thực hiện nghĩa vụ như một trung tâm lưu ký chứng khoán
  2. Thực hiện lưu ký tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán; quản lý tách biệt tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán và các tài sản khác của ngân hàng giám sát;
  3. Giám sát để bảo đảm công ty quản lý quỹ quản lý quỹ đại chúng, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty đầu tư chứng khoán quản lý tài sản của công ty tuân thủ quy định tại Luật này và Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán, Điều lệ công ty đầu tư chứng khoán;
  4. Thực hiện hoạt động thu, chi, thanh toán và chuyển giao tiền, chứng khoán liên quan đến hoạt động của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán theo yêu cầu hợp pháp của công ty quản lý quỹ hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty đầu tư chứng khoán;
  5. Xác nhận báo cáo do công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán lập có liên quan đến quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán;
  6. Giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố thông tin của công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán theo quy định của Luật này;
  7. Báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi phát hiện công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán và tổ chức, cá nhân có liên quan vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán, Điều lệ công ty đầu tư chứng khoán;
  8. Định kỳ cùng công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán đối chiếu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động giao dịch của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán;
  9. Các nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán,

Điều lệ công ty đầu tư chứng khoán.

  • Thứ ba, thực hiện nghiệp vụ lưu ký chứng khoán.

Lưu ký chứng khoán theo Luật chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán.

Chứng khoán của công ty đại chúng phải được lưu ký tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán trước khi thực hiện giao dịch, dưới hình thức lưu ký tổng hợp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

NHTM hoạt động tại Việt Nam muốn trở thành thành viên lưu ký phải được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán và được Trung tâm lưu ký chứng khoán chấp thuận trở thành thành viên lưu ký. Điều kiện đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán đối với Ngân hàng Thương mại bao gồm:

  • Có Giấy phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam;
  • Nợ quá hạn không quá năm phần trăm tổng dư nợ, có lãi trong năm gần nhất;
  • Có địa điểm, trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động đăng ký, lưu ký, thanh toán các giao dịch chứng khoán.

Để thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán, các Ngân hàng Thương mại phải đóng lệ phí thành viên, lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu chứng khoán của khách hàng. Thông qua loại hình dịch vụ này, ngân hàng thu được phí lưu ký do khách hàng trả và phí cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác.

  • Thứ tư, thực hiện cung cấp dịch vụ đăng ký, đại diện sở hữu chứng khoán, đại lý thanh toán.

Đăng ký chứng khoán là việc ghi nhận quyền sở hữu và các quyền khác của người sở hữu chứng khoán (Điều 6, Luật Chứng khoán), theo đó chứng khoán của công ty đại chúng phải được đăng ký tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán; chứng khoán của tổ chức phát hành khác uỷ quyền cho Trung tâm lưu ký chứng khoán làm đại lý chuyển nhượng cũng phải được đăng ký tại Trung tâm lưu ký chứng khoán. Công ty đại chúng, tổ chức phát hành thực hiện đăng ký loại chứng khoán và thông tin về người sở hữu chứng khoán với Trung tâm lưu ký chứng khoán.

Thực hiện dịch vụ này, Ngân hàng Thương mại sẽ được người chủ sở hữu chứng khoán uỷ quyền để nắm giữ chứng khoán và đại diện quyền lợi cho chủ sở hữu chứng khoán thông qua hợp đồng giữa tổ chức phát hành và đại diện người sở hữu chứng khoán. Ngoài ra, Ngân hàng Thương mại cũng có thể làm đại lý thanh toán cho người chủ sở hữu đối với các khoản lợi tức và vốn gốc theo hợp đồng uỷ quyền. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Thứ năm, tham gia Thị trường chứng khoán với tư cách là ngân hàng chỉ định thanh toán, do Uỷ ban chứng khoán Nhà nước chỉ định mở tài khoản thanh toán cho trung tâm giao dịch chứng khoán, trung tâm lưu ký chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán và thành viên lưu ký để phục vụ việc thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán.

  • Thành lập các công ty chứng khoán trực thuộc để kinh doanh trên Thị trường chứng khoán:

Theo quy định chung, các Tổ chức tín dụng muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán độc lập. Thủ tục và trình tự thành lập công ty chứng khoán của Ngân hàng Thương mại được quy định theo QĐ số 172/2018/QĐ-TTg ngày 19/08/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập công ty chứng khoán và tham gia niêm yết chứng khoán, Thông tư số 04/2018/TT-NHNN5 ngày 02/11/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về việc thành lập công ty chứng khoán của Ngân hàng Thương mại.

Nội dung hoạt động của công ty chứng khoán được quy định tại Điều 60, Luật chứng khoán năm 2025 như sau:

Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây:

  1. Môi giới chứng khoán;
  2. Tự doanh chứng khoán;
  3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
  4. Tư vấn đầu tư chứng khoán.
  5. Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
  6. Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này, công ty chứng khoán được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.”

Cho đến nay, các văn bản pháp luật về chứng khoán và Thị trường chứng khoán vẫn chưa có những quy định cụ thể về các loại hình kinh doanh nói trên mà chỉ mới chủ yếu đề cập đến tổ chức và hoạt động (nói chung) của công ty chứng khoán.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Thương mại Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Trong bốn mục tiêu quan trọng của Luật các Tổ chức tín dụng thì bảo vệ lợi ích của người gửi tiền và đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng là những vấn đề luôn được pháp luật coi trọng điều chỉnh để từ đó đảm bảo an toàn cho cả hệ thống các Tổ chức tín dụng.

Theo quy định hiện hành, pháp luật về đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

2.1. Các quy định về bảo đảm tiền vay:

Hoạt động bảo đảm tiền vay hiện nay được thực hiện tuân theo Nghị định (NĐ) số 163/2025/NĐ-CP ngày 29/12/2025 của Chính Phủ (có hiệu lực từ ngày 27/01/2026) về giao dịch bảo đảm. Đây là Nghị định mới nhất về hoạt động này được ban hành thay thế cho NĐ số 165 ngày 29/11/2018 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; bãi bỏ NĐ số 178 ngày 29/12/2018 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng; NĐ số 85 ngày 25/10/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung NĐ số 178/2018/NĐ-CP; Khoản 2 Điều 2 NĐ số 08 ngày 10/03/2019 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự về việc xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý tài sản bảo đảm. Qua đó, điều chỉnh chung mọi giao dịch bảo đảm trong các quan hệ dân sự, bao gồm cả bảo đảm tiền vay trong lĩnh vực ngân hàng. Việc cho ban hành một quy định pháp luật duy nhất điều chỉnh hoạt động này đã khắc phục được tình trạng thiếu thống nhất, đôi lúc mâu thuẫn và phân tán về phạm vi điều chỉnh giữa hai văn bản pháp luật cùng quy định về bảo đảm tiền vay trước đây là NĐ số 165 ngày 29/11/2018 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm lấy căn cứ ban hành là Bộ luật Dân sự, và NĐ số 178 ngày 29/12/2018 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng dựa trên căn cứ là Luật các Tổ chức tín dụng.

Trước khi đi sâu tìm hiểu nội dung quy chế về bảo đảm tiền vay, cần hiểu rõ bảo đảm tiền vay là gì? Nhưng trong NĐ 163/2025/NĐ-CP không có giải thích cụ thể về thuật ngữ bảo đảm tiền vay, chỉ theo Điều 2 Nghị định số 178/2018/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng thì : bảo đảm tiền vay được hiểu là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Đây là một hoạt động cần thiết, một yêu cầu quan trọng để bảo đảm quyền, lợi ích của các bên (người gửi tiền – ngân hàng – người đi vay) và của cả xã hội. Bởi lẽ, các giao dịch bảo đảm vừa làm giảm nguy cơ thiệt hại cho chủ nợ có bảo đảm, vừa góp phần làm cho các quan hệ vay vốn ngày càng minh bạch, hiệu quả, là cơ sở để ngân hàng bảo toàn vốn và phát triển.

Theo các văn bản hiện hành, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng hay bảo đảm tiền vay, chủ yếu là bảo lãnh, cầm cố, thế chấp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Đầu tiên, với tư cách là một biện pháp bảo đảm tiền vay, bảo lãnh trong lĩnh vực ngân hàng là việc một tổ chức, cá nhân cam kết trả nợ thay cho người đi vay trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả nợ khoản vay này, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đối với Tổ chức tín dụng.

Biện pháp bảo đảm thứ 2, theo khoản 1 Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2024: Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

Nhìn chung, thế chấp tài sản trong hợp đồng tín dụng, hay nói cách khác, bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp được hiểu là việc một tổ chức hay cá nhân dùng tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình để bảo đảm cho khoản tiền vay ở ngân hàng.

  • Biện pháp bảo đảm thứ 3, theo Điều 326 Bộ luật dân sự năm 2024:

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Theo đó, cầm cố trong hợp đồng tín dụng ngân hàng là việc người đi vay dùng số động sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho khoản tiền vay của mình ở ngân hàng.

Quy định về tài sản bảo đảm: NĐ số 178 năm 2018 có điều khoản về xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay để làm cơ sở, căn cứ xác định mức cho vay so với tài sản bảo đảm tiền vay; NĐ 165 năm 2018 thậm chí còn quy định cụ thể các điều kiện đối với tài sản bảo đảm, các loại tài sản cầm cố, tài sản thế chấp, tài sản bảo lãnh làm thu hẹp phạm vi hoạt động và ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động ngân hàng này. Đi theo xu hướng và phương châm mới sao cho tạo điều kiện thuận lợi nhất và hành lang pháp lý mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm kinh doanh của các ngân hàng, NĐ mới số 163 năm 2025 quy định: “Tài sản bảo đảm do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền” (khoản 1, Điều 4). Như vậy, tài sản bảo đảm là hoàn toàn phụ thuộc thoả thuận của các bên và trong sự quyết định của ngân hàng.

Quy định về thủ tục bảo đảm tiền vay: ngày càng được đổi mới theo hướng đơn giản hơn, tạo điều kiện cho việc cho vay và bảo đảm tiền vay của Tổ chức tín dụng và khách hàng diễn ra nhanh chóng, dễ dàng. NĐ 178 và NĐ 165 năm 2018 lúc trước đều có điều khoản riêng quy định về hình thức và nội dung của hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, nhưng đến NĐ 163 năm 2025 thì hình thức và nội dung của các loại hợp đồng này không còn được nhắc đến, vì NĐ 163 lấy căn cứ là Bộ luật Dân sự năm 2024, trong đó đã quy định rõ ràng và chi tiết về hình thức và nội dung của các loại hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, vì vậy, việc NĐ 163 về giao dịch bảo đảm quy định về những vấn đề này là không cần thiết. Điều này giúp cho việc đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản trong hệ thống quy phạm pháp luật. NĐ 163 năm 2025 chỉ quy định đến việc công chứng, chứng thực, hiệu lực và đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 9, 10, 12), mang tính an toàn hơn cho lợi ích các bên mà vẫn tạo hướng mở trong việc giao kết giao dịch bảo đảm. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Quy định về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay: đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất của pháp luật về bảo đảm tiền vay mà tất cả các NĐ trước và hiện tại về giao dịch bảo đảm đều quy định thành một chương riêng, trong đó có các điều khoản về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, nguyên tắc, phương thức, thời hạn xử lý tài sản bảo đảm, việc thu giữ xử lý tài sản bảo đảm… Đặc biệt, nếu thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong NĐ 165 chỉ được đề cập như một khoản nhỏ trong luật thì nay đã được NĐ 163 lưu ý thành một điều luật riêng (Điều 6), chi tiết hơn, để các bên có căn cứ rõ ràng xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong các trường hợp cụ thể khi xử lý tài sản bảo đảm.

Nhìn chung, theo các văn bản hiện hành thì các vấn đề cơ bản nhất của giao dịch bảo đảm nói chung và giao dịch bảo đảm tiền vay nói riêng đã được xác lập, kịp thời khắc phục những hạn chế của các văn bản pháp luật trước để ngày càng tạo được hành lang pháp lý thuận lợi, hiệu quả cho hoạt động bảo đảm tiền vay.

2.2. Các quy định về giới hạn an toàn trong kinh doanh

Ngoài các quy định về bảo đảm tiền vay, việc quy định các giới hạn an toàn trong kinh doanh ngân hàng cũng là điều cần thiết. Theo Luật các Tổ chức tín dụng, các quy định về giới hạn an toàn trong kinh doanh ngân hàng bao gồm những nội dung chính sau đây:

Một là, nhóm quy định các trường hợp, theo đó Tổ chức tín dụng không được cho vay, không được chấp nhận bảo lãnh cho một số đối tượng trong Tổ chức tín dụng.

Hai là, nhóm quy định các trường hợp, theo đó Tổ chức tín dụng phải hạn chế cho vay đối với một số đối tượng nhất định liên quan đến hoạt động của Tổ chức tín dụng, như: không được cấp tín dụng không có bảo đảm, không được cấp tín dụng ưu đãi, không được cho vay trên cơ sở cầm cố cổ phiếu của Tổ chức tín dụng cho vay…

Ba là, nhóm các quy định trách nhiệm của Tổ chức tín dụng trong việc tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật.

Bốn là, nhóm các quy định cấm các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp.

Năm là, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, theo đó, Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình Tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi với mức từ 0% đến 20% tổng số dư tiền gửi tại mỗi Tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ.

Sáu là, nhóm quy định về dự phòng rủi ro. Tổ chức tín dụng phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng, hạch toán khoản này vào chi phí hoạt động. Như đã nói ở trên, rủi ro trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động này, mang tính tất yếu, vì vậy, cần pháp luật quy định dự phòng.

Bảy là, nhóm quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD. Theo Điều 81 Luật các Tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung năm 2023), Tổ chức tín dụng phải duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn sau đây:

  • Khả năng chi trả được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay so với các loại tài sản “Nợ” phải thanh toán tại một thời điểm nhất định của Tổ chức tín dụng;
  • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản “Có”, kể cả các cam kết ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro; Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
  • Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn.”

Nhằm cụ thể hóa các quy định nêu trên của Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 1 Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng (ban hành kèm theo Quyết định số 457/2024/QĐ-NHNN1 ngày 19/04/2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) cũng quy định, Tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải thường xuyên duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn sau đây:

  • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;
  • Giới hạn tín dụng đối với khách hàng;
  • Tỷ lệ về khả năng chi trả;
  • Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn;
  • Giới hạn góp vốn, mua cổ phần.

Các tỷ lệ bảo đảm an toàn trên đây không bao gồm các tỷ lệ bảo đảm an toàn của các Tổ chức tín dụng trực thuộc.

Về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (an toàn tiền gửi), quy định hiện hành đòi hỏi Tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so vói tài sản “Có” rủi ro. Nếu Tổ chức tín dụng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn mức quy định thì phải tăng đủ 8% trong thời hạn tối đa là 3 năm.

Về giới hạn tín dụng đối với khách hàng, pháp luật quy định tổng dư nợ cho vay của Tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của Tổ chức tín dụng. Tổng mức cho vay và bảo lãnh của Tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của Tổ chức tín dụng. Tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính. Đây là những quy định có tính tích cực nhằm mở rộng giới hạn tín dụng so với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2016 (chỉ quy định mức tối đa cho vay là 15% vốn tự có của Tổ chức tín dụng, Điểm a khoản 1 Điều 79 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2016; không quy định cụ thể mức bảo lãnh, khoản 2 Điều 79).

Về tỷ lệ về khả năng chi trả (tính thanh khoản), Điều 12 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng. Cụ thể là:

TCTD phải thường xuyên bảo đảm tỷ lệ về khả năng chi trả:

  1. Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “Nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo;
  2. Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngày trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản “Nợ” phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo.”

Về giới hạn góp vốn, mua cổ phần, pháp luật quy định mức đầu tư của Tổ chức tín dụng vào một khoản đầu tư thương mại (đầu tư vào các doanh nghiệp, quỹ đầu tư, đầu tư dự án và vào các Tổ chức tín dụng khác) tối đa không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư hoặc 11% giá trị dự án đầu tư.

Ngoài các quy định nêu trên về bảo đảm tiền vay và các giới hạn an toàn trong kinh doanh, pháp luật hiện hành cũng có các quy định mang tính hỗ trợ cho hoạt động ngân hàng, chẳng hạn như quy định về hoạt động kiểm soát đặc biệt; thanh tra, kiểm tra, giám sát Ngân hàng Thương mại.

Các đặc thù liên quan đến rủi ro trong hoạt động ngân hàng là lý do khách quan để Nhà nước tăng cường điều chỉnh hoạt động ngân hàng thông qua các chế định đặc trưng như kiểm soát đặc biệt; thanh tra, kiểm tra, giám sát Ngân hàng Thương mại. Những hoạt động này chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời, nhằm góp phần lành mạnh và đảm bảo an toàn, hiệu quả của hệ thống các Tổ chức tín dụng.

II. NHẬN XÉT CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

1. Những thành tựu cơ bản trong việc ban hành và áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam:

Thứ nhất, pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng tiếp tục thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới hoạt động ngân hàng trong thời kỳ mới.

Việc ban hành Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 đã thực sự tạo cơ sở pháp lý để xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng hai cấp, thay thế cho hệ thống ngân hàng một cấp hoạt động kém hiệu quả trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây. Quán triệt quan điểm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, pháp luật về ngân hàng thời kỳ này đã từng bước đa dạng hoá các loại hình Tổ chức tín dụng, các hình thức sở hữu, tạo cơ sở pháp lý cần thiết để góp phần thiết lập cơ chế kinh tế mới. Tiếp đó, năm 2016, cùng với sự ra đời của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã không ngừng phát triển cả về tổ chức và hoạt động, về các loại hình lẫn các nghiệp vụ kinh doanh được pháp luật điều chỉnh.

Thứ hai, pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để điều chỉnh và vận hành các quan hệ kinh tế thị trường ở Việt nam.

So với Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính năm 1990, Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc tạo ra các cơ sở và tiền đề pháp lý cần thiết để tiếp tục củng cố và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Luật các Tổ chức tín dụng không chỉ mở rộng đối tượng điều chỉnh của các Tổ chức tín dụng mà còn xác định rõ phạm vi hoạt động của chúng, nêu rõ các loại hình của Tổ chức tín dụng, đồng thời, xác định rõ hơn mục tiêu hoạt động của các Tổ chức tín dụng; chính sách của Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng; việc thành lập mạng lưới hoạt động của Tổ chức tín dụng; chính sách tín dụng của Nhà nước đối với nền kinh tế; các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và an toàn hệ thống các Tổ chức tín dụng…

Các văn bản pháp luật thời kỳ này đã từng bước cụ thể hoá những nguyên tắc cơ bản về hoạt động của các Tổ chức tín dụng, từng bước xây dựng được các chế độ pháp lý điều chỉnh các mặt hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Mặt khác, nhằm tạo sự vận hành đồng bộ các quan hệ kinh tế, pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng cũng bước đầu tạo cơ sở cho các quan hệ tiền tệ, tín dụng thực hiện theo cơ chế thị trường. Nhà nước từng bước điều chỉnh các quan hệ tiền tệ ngân hàng bằng pháp luật; quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Thông qua đó khẳng định được sự cần thiết khách quan của pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đồng thời, tạo điều kiện cho các ngân hàng thể hiện được vai trò tích cực của mình trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế; đáp ứng nhu cầu thanh toán vốn của nền kinh tế; đáp ứng các dịch vụ ngân hàng phát sinh trong đời sống xã hội, từng bước khẳng định tính tự chủ và độc lập trong kinh doanh tiền tệ của các Ngân hàng Thương mại, từng bước hình thành hệ thống ngân hàng hợp tác và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật. Pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thời kỳ này đã bước đầu đề cao được tính tự chủ, tính tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tạo cơ sở pháp lý bảo đảm sự bình đẳng của các ngân hàng thuộc các hình thức sở hữu khác nhau cùng hoạt động kinh doanh trong môi trường cạnh tranh có sự quản lý bằng pháp luật của Nhà nước, xoá bỏ bao cấp trong hoạt động ngân hàng, tạo cơ sở để các ngân hàng kinh doanh theo cơ chế thị trường.

Thứ ba, pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng đã góp phần hình thành và phát triển thị trường tiền tệ, thúc đẩy hình thành thị trường vốn.

Thị trường tiền tệ là một loại hình của thị trường tài chính, phản ánh sự tiếp xúc giữa cung và cầu để hình thành nên các giao dịch và giá cả, là nơi mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn (dưới 1 năm). Thị trường tiền tệ thường tập trung nguồn tiền có trong lưu thông, chủ yếu là các nguồn vốn ngắn hạn, có tính thanh khoản cao và ít rủi ro.

Thị trường vốn là một loại hình của thị trường tài chính, là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính (thường là các nguồn vốn trung, dài hạn) thông qua những phương thức giao dịch nhất định và công cụ tài chính nhất định.

Cùng với việc từng bước xác lập một hành lang pháp lý để hỗ trợ và điều chỉnh, thị trường tiền tệ ở Việt Nam đang được hình thành và phát triển, phù hợp với sự vận động của nền kinh tế và các quy luật thị trường. Thị trường tiền tệ đã góp phần vào việc kết nối cung, cầu vốn ngắn hạn cho các ngân hàng và doanh nghiệp, hỗ trợ các ngân hàng trong việc duy trì, thanh toán mở rộng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống các Tổ chức tín dụng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Để thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường tiền tệ, pháp luật ngân hàng đã cho phép thành lập một hệ thống các Tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ với sự đa dạng về chủ thể, khác nhau về sở hữu và thành phần, bước đầu tạo ra một cơ chế mới trong việc huy động vốn, đáp ứng các nhu cầu giao dịch vốn và thanh toán của nền kinh tế.

Nhìn chung, thành tựu nổi bật kể từ khi đổi mới tổ chức và hoạt động ngân hàng đến nay là hệ thống các ngân hàng ở Việt Nam ngày càng phát triển, đã huy động được một khối vốn đáng kể – cả trong nước và quốc tế – thúc đẩy đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế, góp phần cung ứng vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghệ ngân hàng đã bước đầu được cải tiến. Các hoạt động thanh toán và dịch vụ ngân hàng ngày càng được đổi mới và đáp ứng các nhu cầu dịch vụ ngân hàng phát sinh trong đời sống xã hội. Hệ thống ngân hàng với các hoạt động của nó bước đầu đáp ứng vai trò là “bà đỡ” cho nền kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ và chính sách kinh tế của Nhà nước trong từng thời kỳ.

Thứ tư, pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng đã tạo nền tảng pháp lý thuận lợi cho việc mở rộng hợp tác và phát triển hoạt động của ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay.

Chính sách mở cửa kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài là một trong những chủ trương lớn của chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước ta, nhằm khơi thông và tranh thủ các nguồn vốn quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Các quy định của pháp luật ngân hàng trong thời kỳ này thông qua việc xác định địa vị pháp lý của ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, việc mở và sử dụng tài khoản trong các doanh nghiệp có vốn đầu tưu nước ngoài, vấn đề quản lý ngoại hối, việc vay và trả nợ nước ngoài… đã thực sự tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Hoạt động của nền kinh tế nói chung và của ngân hàng nói riêng đạt được những thành tựu khả quan trong những năm qua ngày càng chứng tỏ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hội. Đó là một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hội nhập quốc tế, mà trong đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng có một vai trò quan trọng đặc biệt. Quan hệ biện chứng của sự đổi mới đã chỉ rõ, đổi mới nền kinh tế tất yếu phải đổi mới hệ thống chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Nền kinh tế đồi mới sẽ tạo môi trường, động lực để đổi mới hệ thống tiền tệ ngân hàng. Đồng thời, sự đổi mới ngân hàng sẽ tạo ra bước đột phá, đóng vai trò là “bà đỡ” cho nền kinh tế phát triển. Thực tế cũng cho thấy, chiến lược và mục tiêu đổi mới hoạt động ngân hàng phải nhất quán. Chủ trương và chính sách đổi mới hệ thống ngân hàng phải được tiến hành một cách căn bản và toàn diện, thường xuyên gắn liền với việc nhận thức và vận dụng các quy luật của nền kinh tế thị trường vào lĩnh vực tiền tệ ngân hàng ở nước ta.

2. Những hạn chế, bất cập chủ yếu của pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng: Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Những phân tích trên đây về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam, cùng với việc khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật ngân hàng ở nước ta trong thời gian qua cho thấy rằng mảng pháp luật này vẫn thể hiện một số hạn chế, bất cập chủ yếu sau đây cần được nghiên cứu để hoàn thiện:

Thứ nhất, pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng vẫn còn thiếu tính hệ thống, chưa có sự phù hợp hài hoà giữa pháp luật ngân hàng với hệ thống pháp luật kinh tế.

Do ngân hàng là ngành kinh tế tổng hợp nên pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng liên quan chặt chẽ đến tính đồng bộ cũng như sự phù hợp tương thích với hệ thống pháp luật kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong mối quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau. ở nước ta trước đây, liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Thương mại, những bất cập và không rõ ràng của Luật Doanh nghiệp Nhà nước, như vấn đề quan hệ sở hữu về tài sản giữa Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước, về thế chấp tài sản doanh nghiệp Nhà nước để vay vốn ngân hàng, về quyền tự chủ thực sự của doanh nghiệp nhà nước… đã là những vướng mắc đối với cả hai phía. Chính chế định sở hữu này với những quan hệ sở hữu không rõ ràng giữa chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước đã là một trong những nguyên nhân không xử lý được tài sản thế chấp của doanh nghiệp Nhà nước.

Ví dụ điển hình thể hiện những vướng mắc này là vụ án Tamexco 2015-2016. Trong vụ án này, ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã cho Công ty Tamexco (DNNN) vay và nhận khách sạn Đồi Sao cùng với một số ngôi nhà là tài sản của Ban Tài chính quản trị Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp quản lý làm tài sản thế chấp với sự chấp thuận bằng văn bản của chính cơ quan này. NHNTVN đã tiến hành nhận thế chấp và xiết nợ khi Công ty Tamexco không trả được nợ vay. Thế nhưng bản án của cả hai phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm đều bác việc NHNT nhận thế chấp và xiết nợ các tài sản đó.

Thứ hai, một số nội dung hoạt động của ngân hàng chưa được pháp luật quy định hoặc quy định chưa cụ thể, thiếu rõ ràng, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Có thể hình dung các hạn chế, bất cập này được thể hiện ở một số vấn đề cơ bản sau đây:

  • Về quy chế tái cấp vốn của Ngân hàng nhà nước.

Trong quy chế tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước, thời gian qua đã có rất nhiều văn bản pháp luật liên tiếp được ban hành, sửa đổi, bổ sung về các hình thức tái cấp vốn bằng cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá cũng như chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của Ngân hàng Thương mại. Chỉ riêng đối với hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, cho đến nay vẫn chưa hề có văn bản nào quy định cụ thể để hướng dẫn thi hành hoạt động này. Vậy liệu có nên ban hành một văn bản pháp luật quy định cụ thể vấn đề này hay do tính không an toàn, không hiệu quả của hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng mà nên bỏ quy định về hình thức tái cấp vốn trong khoản 1 Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?

Hơn nữa, chính tên gọi công cụ “tái cấp vốn” cũng đã gây nhầm lẫn cho nhiều người khi tiếp cận công cụ này, nhất là các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách nước ngoài thuộc các tổ chức quốc tế. Bởi, thuật ngữ “tái cấp vốn” được hiểu là việc Ngân hàng Nhà nước cấp/bổ sung vốn hoạt động cho các ngân hàng. Trong khi trên thực tế, hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước chỉ hỗ trợ tạm thời sự thiếu hụt về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và quan hệ tái cấp vốn này là quan hệ vay trả có thời hạn. Điều này làm giảm tính minh bạch trong hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước.

  • Về các hạn chế cấp tín dụng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

Trong Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 77 quy định về những trường hợp không được cho vay. Quy định này không phân biệt rõ ràng về quan hệ thân tộc (quan hệ nội ngoại, con đẻ, con nuôi) và không phân biệt rõ tư cách các đối tượng cấm cho vay của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), chỉ khi họ với tư cách là cá nhân hay cả khi họ đại diện cho khách hàng là các doanh nghiệp vay vốn? Quy định không rõ ràng này đã làm nảy sinh một số vướng mắc, nhầm lẫn trong quá trình thực hiện.

Ngoài ra, do có một số quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước chưa phù hợp với thông lệ quốc tế như quy định về điều kiện hoạt động (khoản 1.c Điều 28 về việc phong toả vốn pháp định), về công khai báo cáo tài chính và kiểm toán (Điều 89, 90)… nên chưa thực sự tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế.

Thứ ba, một số quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng còn vướng mắc, chưa thực sự thiếp lập cơ sở pháp lý thuận lợi và bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng.

Ví dụ điển hình cho nhận xét này là thực trạng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động ngân hàng. Thực tế này đã cho thấy những tác động, trở ngại không nhỏ của pháp luật khi nó không đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn. Trong khi hệ thống ngân hàng còn đang căng thẳng về nguồn vốn để cấp tín dụng cho nền kinh tế thì hàng ngàn tỉ đồng vốn của nó còn bị đóng băng trong khối tài sản tài chính của các vụ án đã xét xử và đang chờ thi hành án.

Tính đến đầu năm 2026, có đến 10 Ngân hàng Thương mại đã thành lập Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thế chấp và mặc dù áp dụng bằng nhiều biện pháp tích cực, các công ty này mới chỉ giúp các ngân hàng giải quyết được 1/3 số nợ quá hạn có tài sản đảm bảo, 6 Ngân hàng Thương mại cũng mới thu hồi được trên 160 tỷ đồng do bán và khai thác tài sản thế chấp trong các vụ án, chỉ mới chiếm khoảng 18% tổng giá trị tài sản của các vụ án mà Toà án đã tuyên giao. Tình trạng đất đai, nhà cửa chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý, chưa đền bù xong, bị tranh chấp, lấn chiếm, đất xây dựng công trình phúc lợi địa phương… đang là những trở ngại không nhỏ cho việc xử lý tài sản là bất động sản.

Đối với các phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ… giấy tờ xác nhận quyền sở hữu chính là giấy chứng nhận đăng ký nên “giấy chứng nhận đăng ký” phải thực hiện hai chức năng: sở hữu và đăng kiểm để lưu hành phương tiện. Do đó, khi cầm cố phương tiện để vay vốn, bên nhận cầm cố sẽ giữ giấy chứng nhận đăng ký thì phương tiện giao thông lúc đó sẽ không lưu hành được.

Bất cập trên cho thấy yêu cầu về một hệ thống các văn bản pháp luật mang tính đồng bộ là vô cùng cần thiết, tạo tính thống nhất cho hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng

One thought on “Khóa luận: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng”

  1. Pingback: Khóa luận: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537