Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
1. Xu hướng phát triển của ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam
Sự gia tăng các hoạt động tài chính tiền tệ quốc tế trong vòng hai thập kỷ qua đã cho thấy xu hướng phát triển của thị trường tài chính tiền tệ quốc tế và tác động của nó đối với nền tài chính tiền tệ mỗi nước. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tin học và dịch vụ Internet đã kéo theo sự bùng nổ các hoạt động tài chính tiền tệ quốc tế. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã làm xuất hiện thêm những công cụ tài chính mới, như mua bán có kỳ hạn (forward), quyền chọn (options)… làm cho các khối lượng giao dịch tài chính tăng lên đáng kể. Việc gia tăng nhanh dung lượng thị trường tài chính ngân hàng cũng đồng thời làm xuất hiện những nhu cầu mới về sản phẩm và dịch vụ, do vậy, cũng sẽ tăng nhanh khả năng đáp ứng của các định chế tài chính ngân hàng. Nhìn chung, xu hướng phát triển ngân hàng trên thế giới được thể hiện thông qua một số đặc điểm sau:
- Hiện tượng sáp nhập, hợp nhất, mua bán các ngân hàng ngàn càng tăng nhằm mục tiêu làm cho hoạt động ngân hàng có hiệu quả hơn, tăng khả năng tài chính và cạnh tranh giữa các ngân hàng.
- Xu thế toàn cầu hoá hoạt động ngân hàng thúc đẩy quá trình tái cơ cấu các trung gian tài chính, đồng thời làm tăng tính rủi ro, đặt ra nhiều vấn đề về việc khống chế các nguy cơ và tăng cường các khả năng giám sát và hợp tác của các cơ quan định chế công quyền.
- Việc phát triển mạnh mẽ các công nghệ mới đặc biệt là công nghệ thông tin, viêc thông trong lĩnh vực ngân hàng đã tạo điều kiện cho các ngân hàng cung cấp một hệ thống các dịch vụ và tiện ích hoàn hảo. Sự xuất hiện các ngân hàng ảo (virtual banking) và sự phát triển của tiền điện tử (E-money) áp dụng cho thị trường Internet toàn cầu đang tạo ra những khả năng mới cung cấp các dịch vụ tín dụng và thu hút một phần vốn lớn từ công chúng.
- Ranh giới giữa dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính phi ngân hàng đang ngày càng có xu hướng bị xoá nhoà.
Các xu hướng phát triển ngân hàng trên thế giới nêu trên đã thực sự tác động, làm thay đổi mạnh mẽ hoạt động ngân hàng và đang được coi là một cuộc “cách mạng ngân hàng”. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Thứ nhất, đó là sự gia tăng nhanh chóng các dịch vụ ngân hàng mới. Ngày nay, một Ngân hàng Thương mại trên thế giới không chỉ thực hiện các dịch vụ truyền thống của mình như nhận tiền gửi, chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại, buôn bán ngoại hối, bảo quản tài sản có giá trị hay là cung cấp các tài khoản giao dịch, thanh toán, mà còn cung cấp một hệ thống các dịch vụ và tiện ích ngân hàng ngày một phong phú, đa dạng, như cho vay tiêu dùng, cho vay tài trợ dự án, quản lý tài khoản cho khách hàng, thuê mua tài chính, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán, cung cấp các dịch vụ quỹ tương hỗ, hưu trí, các dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng buôn bán, tư vấn tài chính… Theo ước tính, cho đến nay, nếu ở Việt Nam tỷ lệ thu nhập dịch vụ so với tổng thu nhập của các Ngân hàng Thương mại đã tăng khoảng 20% thì tỷ lệ này ở các Ngân hàng Thương mại của các nước khu vực Đông Nam á là 30% và ở các nước phát triển là trên 50%. Tương tự như vậy, các ngân hàng quốc tế đang thực hiện khoảng 6000 nghiệp vụ kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng (ở Việt Nam, con số này tối đa chỉ vào khoảng 300 nghiệp vụ).
Danh mục các dịch vụ này do ngân hàng cung cấp tạo ra một sự thuận lợi rất lớn cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thoả mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hoá tài chính” (financial department stores) ở kỷ nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới, chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal banking ở Mỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức và là Bancassurance ở Pháp.
Thứ hai, sự gia tăng cạnh tranh khốc liệt trong hoạt động ngân hàng. Điều này càng thể hiện rõ khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng lĩnh vực hoạt động.
Thứ ba, xu hướng nới lỏng các quy định của Chính phủ ở các nước phát triển về giới hạn pháp lý đối với hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác thông qua việc các Ngân hàng Thương mại ngày càng tiến hành nhiều các hoạt động chứng khoán.
Thứ tư, sự củng cố và mở rộng hoạt động về địa lý đã tạo ra nhiều cơ hội cho các ngân hàng, đồng thời sự rủi ro, phá sản ngân hàng cũng gia tăng ở nhiều nước trên thế giới.
Xu hướng phát triển của ngân hàng trên thế giới như đã nêu trên cũng tác động mạnh mẽ đến xu hướng xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng ở Việt Nam. Định hướng theo Luật các Tổ chức tín dụng, là Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển mô hình Ngân hàng Thương mại đa năng, tức là ngoài việc thực hiện các nghiệp vụ truyền thống, Ngân hàng Thương mại còn được tham gia vào các hoạt động khác.
Với định hướng mô hình Ngân hàng Thương mại đa năng, pháp luật đối với hoạt động ngân hàng sẽ đặt ra những yêu cầu mới nhằm điều chỉnh có hiệu quả hơn trên cơ sở các đặc trưng, xu hướng vận động, phát triển của ngân hàng.
2. Sự cần thiết phải hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Với tư cách là một bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc, pháp luật bao giờ cũng bị quyết định bởi các điều kiện vật chất của hạ tầng cơ sở và chịu sự chi phối của các điều kiện xã hội khác. Là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc quản lý và điều tiết đời sống xã hội, pháp luật phải là “đại lượng bằng nhau” cho các chủ thể khác nhau, thực hiện thiên chức “chuẩn mực chung của đời sống kinh tế”, có giá trị thực tế trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mặc khác, cũng như mọi hiện tượng của đời sống xã hội, pháp luật luôn được xây dựng và ban hành trong khi các quan hệ xã hội đang ngày càng vận động và chuyển dịch, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường thời kỳ hội nhập. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về ngân hàng nói riêng được xem xét như là một quá trình tất yếu xét cả trên phương diện lý luận cũng như các khía cạnh thực tiễn.
Về mặt lý luận, nhận thức thế giới khách quan là một quá trình tiếp cận các quy luật đi từ hiện tượng đến bản chất, từ đơn giản đến phức tạp mà “cái bị phản ánh” quyết định “cái phản ánh”. C.Mac có nói đại ý rằng, nhà lập pháp không tự mình làm ra luật, họ chỉ nêu các quy luật khách quan của đời sống xã hội thành pháp luật. Bản thân các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh cũng luôn vận động và phát triển mà sự ổn định chỉ là trạng thái tương đối. Các quan hệ này tồn tại khách quan và xuất phát từ những quan hệ bên trong, tự thân của các quan hệ kinh tế. Sự phản ánh và điều chỉnh của pháp luật đối với những quan hệ này cũng nằm trong sự vận động và chuyển dịch theo sự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội. Đặc điểm này đã làm cho tính dự báo trong việc xây dựng pháp luật bị che lấp trong một số trường hợp. Do vậy, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ các quan hệ pháp luật về hoạt động ngân hàng, từ đó đề ra được các quy phạm pháp luật phù hợp để điều chỉnh cũng là một quá trình nhận thức thống nhất. ở Việt Nam, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được vận hành theo quy luật riêng vốn có của nó (như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…). Do vậy, thực chất đó là một quá trình cấu trúc lại các quan hệ sở hữu, cơ cấu sản xuất và tạo lập đồng bộ các loại hình thị trường (vốn, công nghệ, lao động…) và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Đặc điểm này làm cho việc chuyển dịch các quan hệ xã hội và quan hệ kinh tế cần được pháp luật thường xuyên quan tâm điều chỉnh. Hơn nữa, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là một nền kinh tế mới khác về chất so với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, chưa hề có tiền lệ, vừa làm, vừa thử nghiệm, đòi hỏi phải có những bước đi thận trọng và thích hợp, tránh xáo trộn, đổ vỡ nhằm ổn định và phát triển. Việc xây dựng một nền kinh tế thị trường như vậy đòi hỏi việc nhận thức quá trình hình thành các quan hệ kinh tế một cách đầy đủ và có cơ sở khoa học. Như vậy, có thể coi sự vận động của pháp luật bắt nguồn từ sự vận động của các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, đời sống xã hội và đó chính là quá trình hoàn thiện pháp luật.
Mặt khác, hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực đặc thù – lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, là lĩnh vực chứa đựng khá nhiều rủi ro. Đặc thù này cũng đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, vì sự an toàn của cả hệ thống tổ chức tín dụng và cả nền kinh tế.
Về mặt thực tiễn, Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng đã đi vào cuộc sống và áp dụng trong thực tiễn được 10 năm. Cuộc sống và nền kinh tế đã khẳng định, minh chứng sức sống của các văn bản pháp luật cũng như tính hiện thực và giá trị thực tiễn của nó. Đồng thời, bản thân nó cũng đang bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Điều này giải thích tại sao chỉ trong vòng gần 3 năm kể từ khi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu lực, đã có tới 20 văn bản dưới luật ban hành vẫn chưa đủ để hoạt động ngân hàng lành mạnh.
Chính sách kinh tế thị trường định hướng XHCN, với các mục tiêu và định hướng chiến lược ngày càng được xác định rõ, chính là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt cho quá trình hoàn thiện pháp luật, trong đó có pháp luật về hoạt động ngân hàng. Hơn nữa, do chính ngay tính đặc thù của nó mà hoạt động của các tổ chức tín dụng không chỉ chịu sự điều chỉnh của các luật ngân hàng mà còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật liên quan. Thực tế này không chỉ đặt ra yêu cầu về tính thống nhất của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế nói chung mà còn đặt ra yêu cầu bảo đảm về tính thống nhất và tính liên thông trong việc điều chỉnh pháp luật về hoạt động ngân hàng. Đây cũng là một đòi hỏi khách quan của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, hội nhập quốc tế về ngân hàng đang là xu thế khách quan do quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và sự phát triển của hoạt động ngân hàng. Quá trình nhất thể hóa thị trường tài chính tiền tệ quốc tế tất yếu dẫn tới việc tự do hoá hoạt động ngân hàng, gây tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính tiền tệ mỗi nước. Nó làm cho các chuẩn mực và chất lượng dịch vụ của hệ thống các ngân hàng một nước được cải thiện, tăng cường khả năng cạnh tranh và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, nâng cao khả năng thích ứng với quá trình hội nhập quốc tế. Hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ phải chịu những tác động to lớn của quá trình hội nhập quốc tế này trên cả hai phương diện cơ hội và thách thức. Do tác động của quá trình này, việc mở của thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam sẽ cho phép khơi thông các kênh dẫn vốn quốc tế vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu học hỏi công nghệ ngân hàng và trình độ kinh nghiệm quản lý kinh doanh. Bên cạnh đó, các hạn chế về vốn, tình trạng yếu kém về tài chính, sự yếu kém về công nghệ, trình độ quản lý và năng lực cạnh tranh, sự bất cập của hệ thống pháp luật cũng đang là thách thức không nhỏ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đồng thời, quá trình này cũng đặt ra các yêu cầu, chuẩn mực pháp lý mới trong hoạt động ngân hàng. TS. Lê Xuân Nghĩa đã nhấn mạnh rằng: “Mức độ hội nhập quốc tế về hoạt động ngân hàng của một quốc gia không những phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan (pháp luật) của một Nhà nước mà còn phụ thuộc vào năng lực của các khu vực kinh tế trong nước (nhất là khu vực tài chính – ngân hàng); đồng thời, cũng phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài một nền kinh tế”.
Đặc điểm và xu hướng này của đời sống quốc tế cũng đặt ra yêu cầu khách quan của việc định hướng hoàn thiện pháp luật ngân hàng.
Những phân tích trên đây đã cho thấy việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam là một đòi hỏi khách quan, cần đáp ứng hơn nữa để hệ thống ngân hàng ngày một ổn định và phát triển lành mạnh, bền vững.
3. Các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập
3.1. Các mục tiêu chủ yếu
Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của một quốc gia luôn là vấn đề khó khăn, phức tạp, đặc biệt là đối với lĩnh vực pháp luật vốn có nhiều biến động, đổi thay và thường phải chịu nhiều ảnh hưởng của xu thế hội nhập quốc tế cũng như thực tiễn nghiệp vụ kinh doanh như mảng pháp luật về hoạt động ngân hàng. Điều đó như là một yếu tố đặc thù của pháp luật ngân hàng, do vậy, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập ở nước ta hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động ngân hàng phải xuất phát từ mục tiêu chủ yếu, mang tính thực tiễn và khoa học để trên cơ sở đó góp phần định hướng một cách hiệu quả cho việc hoàn thiện mảng pháp luật này ở Việt Nam. ở mức khái quát, có thể xác định các mục tiêu này bao gồm: Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Thứ nhất, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có về nguồn lực tài chính của ngân hàng cũng như khách hàng của họ, sao cho các nguồn tài chính này có khả năng hướng vào việc đầu tư cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh cũng như nhu cầu đời sống tiêu dùng thiết yếu của xã hội chứ không phải trở thành những tài sản bất động hoá trong mỗi gia đình, cá nhân và tổ chức. Để làm được điều này, đòi hỏi pháp luật phải có những quy định khuyến khích công chúng gửi tiền vào ngân hàng và khuyến khích ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế. Thoả mãn mục tiêu này, pháp luật sẽ có tác dụng khắc phục tình trạng “đóng băng” của dòng vốn trong nền kinh tế, hiện đang là trở ngại lớn cho việc hình thành và phát triển của thị trường tài chính ở Việt Nam.
Thứ hai, việc hoàn thiện pháp luật phải nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ của quá trình giao dịch chu chuyển vốn trong nền kinh tế, từ những người thừa vốn sang cho những người cần vốn thông qua các hoạt động của ngân hàng. Mặt khác, việc hoàn thiện pháp luật phải nhằm mục tiêu làm giảm chi phí giao dịch cho cả ngân hàng cũng như khách hàng của họ, trên cơ sở đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. Để thực hiện mục tiêu này, pháp luật cần phải tạo ra những cơ chế giao dịch nhanh chóng, thông thoáng nhưng vẫn an toàn và hiệu quả mà điển hình của mô hình này là cơ chế hoạt động thông qua các phương tiện điện tử trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của công nghệ thông tin. ở Việt Nam, cơ chế hoạt động này hiện nay đang ngày càng được phát triển, trở thành hiện thực sinh động trong đời sống hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Hiện thực đó đang đặt ra nhu cầu khách quan phải có một hành lang pháp lý đầy đủ, cụ thể và phù hợp với tập quán quốc tế cũng như thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng.
Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật phải nhằm mục tiêu tạo ra sự tương thích và phù hợp giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia khác ở trong và ngoài khu vực. Vẫn biết rằng đây là một mục tiêu đầy khó khăn đối với các nhà làm luật cũng như các nhà hoạch định chính sách trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ chúng ta phải xây dựng mới các thiết chế cơ bản của nền kinh tế thị trường trên cơ sở nền tảng những kiến thức và kinh nghiệm quản lý của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp cực độ; đồng thời, vừa phải đảm bảo yêu cầu giữ vững chủ quyền quốc gia và giữ gìn bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, lịch sử thế giới đã chứng minh rằng một quốc gia muốn phát triển kinh tế nhanh chóng và muốn khẳng định vị thế của mình – với tư cách là một quốc gia phát triển thì không có con đường nào khác ngoài con đường chấp nhận mở cửa hội nhập một cách sâu, rộng và toàn diện với thế giới bên ngoài. Để đạt mục tiêu này, pháp luật phải có nhiều quy định được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý quốc tế về hoạt động ngân hàng như chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế; thanh toán quốc tế; giao dịch bảo lãnh…
Tóm lại, có thể kết luận rằng những mục tiêu chủ yếu trên đây là cơ sở, tiền đề nhằm định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam. Tuy nhiên, những mục tiêu này chỉ phát huy tác dụng tốt nếu chúng được kết hợp một cách hài hoà và khoa học với những nguyên tắc cơ bản sau đây.
3.2. Những nguyên tắc cơ bản Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Về phương diện lý thuyết, nguyên tắc hoàn thiện pháp luật là những tư tưởng chính yếu điều chỉnh xuyên suốt quá trình hoàn thiện pháp luật. Những tư tưởng (nguyên tắc) này không chỉ chi phối quy trình kỹ thuật lập pháp mà còn chi phối trực tiếp đến nội dung của từng chế định trong hệ thống pháp luật. Kết quả cuối cùng là những tư tưởng chính yếu đó nhất thiết phải được phản ánh trong hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện.
Đối với việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng, do tính chất đặc thù của hoạt động ngân hàng nên các nguyên tắc chi phối việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này cũng thể hiện những nội dung mang tính đặc thù. ở mức khái quát, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng cần thể hiện những tư tưởng cơ bản mang tính nguyên tắc sau đây :
Một là, nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh là tư tưởng cơ bản và quan trọng nhất chi phối việc vận hành thể chế kinh tế thị trường. Tư tưởng này trong thực tiễn lập pháp được các nhà làm luật thể chế hoá thành quyền tự do kinh doanh – tiền đề pháp lý cơ bản để Nhà nước tiếp tục thể chế hoá thành các hành vi pháp lý của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Xét từ góc độ pháp luật, đảm bảo quyền tự do kinh doanh tuy là nguyên tắc được áp dụng chung cho việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh đối với mọi chủ thể kinh tế nhưng do tính đặc thù của hoạt động ngân hàng nên việc thực hiện nguyên tắc trong quá trình hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng cũng đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi có tính đặc thù. Cụ thể là:
Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các Ngân hàng Thương mại, về nguyên tắc, Nhà nước sẽ phải giảm dần sự can thiệp của mình đối với hoạt động của các ngân hàng đến giới hạn và mức độ hợp lý, song sự tiết giảm này không thể thực hiện quá nhanh mà cần được thực hiện dần dần theo một lộ trình thích hợp, bởi lẽ hoạt động ngân hàng vốn là lĩnh vực có tính nhạy cảm cao và có khả năng tác động mạnh đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế cũng như của đời sống xã hội. Mặt khác, việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các Ngân hàng Thương mại đòi hỏi Nhà nước phải tôn trọng triệt để các nguyên tắc hoạt động nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng và không nên có những quy định trái với quy trình nghiệp vụ vốn rất chặt chẽ và khoa học của các ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Việc mở rộng quyền tự do kinh doanh cho các Ngân hàng Thương mại nên bắt đầu từ lĩnh vực nghiệp vụ mà các Ngân hàng Thương mại Việt Nam có sức cạnh tranh mạnh nhất, chẳng hạn như lĩnh vực huy động vốn và cấp tín dụng bằng hình thức cho vay. Sau đó, Nhà nước sẽ dần dần mở rộng quyền tự do kinh doanh sang các lĩnh vực chuyên nghiệp khác, dựa trên cơ sở sự lớn mạnh và trưởng thành dần lên của hệ thống ngân hàng trong nước. Giải pháp này sẽ tránh cho các ngân hàng gặp phải những cú sốc không cần thiết do phải cạnh tranh không cân sức với các ngân hàng nước ngoài, vốn mạnh hơn về nhiều mặt.
Việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các ngân hàng trong quá trình giao dịch với khách hàng phải gắn liền với việc áp dụng mạnh mẽ và triệt để các biện pháp quản lý vĩ mô bằng hệ thống chính sách kinh tế thay vì chỉ áp dụng các biện pháp quản lý hành chính sang các biện pháp đòn bẩy bằng chính sách kinh tế sẽ giúp cho các ngân hàng được tự do hơn trong hoạt động của mình và Nhà nước cũng có thể quản lý một cách hiệu quả hơn đới với hoạt động của các ngân hàng.
Việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các Ngân hàng Thương mại trong giai đoạn hiện nay thực chất là đảm bảo sự phân chia trách nhiệm hợp lý giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế theo hướng: a) Nhà nước cam kết chịu trách nhiệm trước xã hội và các chủ thể kinh tế về sự an toàn trong môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh do Nhà nước tạo lập, còn trách nhiệm kinh tế về kết quả kinh doanh thì phải được chuyển giao cho các chủ thể kinh tế tự chịu trách nhiệm; b) đề cao tính tự do và tính kỷ luật hoạt động cũng như trách nhiệm tự gánh chịu các hậu quả kinh tế về kết quả kinh doanh của ngân hàng. Thực hiện nguyên tắc phân chia trách nhiệm như vậy sẽ góp phần giảm bớt trách nhiệm kinh tế của các cơ quan Chính phủ và do đó cũng giảm bớt sự can thiệp vô lý, không cần thiết của các cơ quan này vào quá trình hoạt động của các ngân hàng. Đồng thời, việc phân chia trách nhiệm rõ ràng như vậy sẽ khiến cho các chủ thể kinh tế có được quyền tự do rộng rãi hơn và do đó cũng có trách nhiệm cao hơn với các hành vi của chính mình trong kinh doanh, đặc biệt là ý thức tự chịu trách nhiệm kinh tế về kết quả kinh doanh của mình mà không thể ỷ lại hay dựa dẫm vào Nhà nước.
Hai là, nguyên tắc cạnh tranh công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh trong hoạt động ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa là nhu cầu khách quan, thiết yếu mang tính quy luật, vừa là động lực cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại cũng không phải là ngoại lệ và không nằm ngoài sự chi phối của quy luật này. Chính bởi thế, việc đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có nghĩa là Nhà nước phải đảm bảo ba yếu tố:
- Sự thống nhất về môi trường cạnh tranh cho tất cả các Ngân hàng Thương mại, không phân biệt hình thức sở hữu và mức vốn đầu tư; Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
- Đối xử công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý trong kinh doanh của tất cả các Ngân hàng Thương mại;
- Kiểm soát được tình trạng độc quyền nhóm có xu hướng đang hình thành và phát triển ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong thời gian tới Nhà nước cần xoá bỏ các quy định mang tính chất phân biệt đối xử giữa các ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài, tiến tới xây dựng một hành lang pháp lý chung cho tất cả các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, trên cơ sở thừa nhận và áp dụng rộng rãi các quy tắc, tập quán và thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng.
Tuy nhiên, khi thực hiện nguyên tắc này, cần tính đến những yếu tố như rủi ro lớn, phản ứng dây chuyền, đặc biệt là sự yếu kém của các ngân hàng nội địa để từ đó Nhà nước có những quy định phù hợp về lộ trình xây dựng và hoàn thiện môi trường cạnh tranh cho các ngân hàng ở Việt Nam.
Ba là, nguyên tắc đảm bảo an toàn trong kinh doanh của các ngân hàng. Do đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng là tính rủi ro cao mang phản ứng dây chuyền ảnh hưởng đến các nhiều chủ thể khác nhau nên việc đảm bảo an toàn trong kinh doanh của Ngân hàng Thương mại được đặt ra như một yêu cầu nghiêm ngặt và khắt khe hơn bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào khác. Hơn nữa, trong điều kiện Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì các nguy cơ rủi ro trong hoạt động ngân hàng lại càng lớn hơn bao giờ hết. Mặt khác, trước yêu cầu không ngừng mở rộng quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng Thương mại như hiện nay thì việc giảm thiểu vai trò can thiệp của Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng là điều khó tránh và do đó nguy cơ mất an toàn cho hoạt động của ngân hàng càng tăng lên. Vì thế, để đảm bảo nguyên tắc này, trách nhiệm không phải duy nhất thuộc về Nhà nước mà còn là trách nhiệm tự thân của mỗi ngân hàng. Điều này thể hiện ở chỗ, xét ở tầm vi mô, để đảm bảo sự an toàn cho mỗi ngân hàng thì trách nhiệm chủ yếu và trước hết phải thuộc về chính ngân hàng đó, còn Nhà nước chỉ là người hỗ trợ bằng cơ chế chính sách và môi trường luật pháp. Nhưng nếu xét ở tầm vĩ mô thì việc đảm bảo sự an toàn cho cả hệ thống ngân hàng cũng như cho lợi ích chung của cả nền kinh tế, trước hết và chủ yếu lại là vai trò điều tiết của Nhà nước, với tư cách là chủ thể quản lý xã hội chứ không phải chỉ thuộc về trách nhiệm của bản thân mỗi ngân hàng. Suy cho cùng, để đảm bảo cho lợi ích riêng của mỗi Ngân hàng Thương mại cũng như đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội thì vai trò điều tiết ở tầm vĩ mô của Nhà nước có ý nghĩa then chốt và mang tính quyết định. Với vai trò là người “nhạc trưởng”, chỉ Nhà nước mới có khả năng điều tiết hài hoà, hợp lý và hiệu quả nhất mối quan hệ lợi ích vốn rất phức tạp giữa các ngân hàng với nhau và giữa mỗi cá thể ngân hàng với toàn hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh thế giới đương đại với đặc trưng lớn nhất là xu hướng toàn cầu hoá về kinh tế, sự an toàn riêng của mỗi ngân hàng luôn phụ thuộc vào sự an toàn chung cảu cả hệ thống trong nước và quốc tế; ngược lại, sự an toàn chung của cả hệ thống ngân hàng trong nước cũng như quốc tế lại phụ thuộc vào sự an toàn riêng của mỗi ngân hàng của từng quốc gia. Vì thế, việc đảm bảo an toàn trong kinh doanh cho các Ngân hàng Thương mại hiện nay là vấn đề có tính toàn cầu và đòi hỏi phải có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa nhiều quốc gia, chứ không phải chỉ là sự nỗ lực độc lập của từng quốc gia riêng rẽ. Nếu thiếu sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia về vấn đề này thì sự an toàn cho mỗi ngân hàng trong từng quốc gia sẽ bị đe doạ. Theo đó, giải pháp hợp lý nhằm thực hiện sự liên kết giữa các quốc gia về vấn đề này chính là việc ký kết và thực hiện các Hiệp định song phương hoặc đa phương về hợp tác trong lĩnh vực kiểm soát hoạt động ngân hàng và hỗ trợ các biện pháp đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng trong từng quốc gia thành viên.
Bốn là, nguyên tắc đảm bảo tính định hướng XHCN trong hoạt động của các ngân hàng. Đây là yêu cầu mang tính bắt buộc, không chỉ đối với việc hoàn thiện pháp luật ngân hàng nói riêng mà còn bắt buộc đối với việc hoàn thiện cả hệ thống pháp luật nói chung. Yêu cầu này bắt nguồn từ đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mang đậm bản sắc Việt Nam.
Ở mức độ khái quát, có thể hình dung tính định hướng XHCN trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng được thể hiện tập trung nhất ở ba nội dung cơ bản: Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
- Đảm bảo vai trò can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
- Đảm bảo cho các ngân hàng của Nhà nước giữ được vị trí, vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng để thông qua đó giúp Nhà nước chi phối, kiểm soát một cách hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế.
- Giúp Nhà nước khắc phục các khuyết tật, mặt trái của nền kinh tế thị trường như tình trạng thất nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội, tình trạng tham nhũng hay sự xuống cấp về đạo đức, nhân phẩm…
Để tuân thủ nguyên tắc này, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng chủ yếu phải giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:
Tạo ra các quy định pháp luật có tác dụng khuyến khích công chúng và các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng, mở tài khoản tiền gửi và sử dụng rộng rãi các dịch vụ ngân hàng. Trên cơ sở đó góp phần xoá bỏ thói quen tích trữ hay cất giữ, để dành tài sản và thói quen sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thanh toán hàng ngày.
Tạo dựng các quy định pháp luật có tác dụng khuyến khích công chúng, đặc biệt là các chủ thể kinh tế vay tiền của ngân hàng để sản xuất kinh doanh nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, trên cơ sở đó góp phần thực hiện các chính sách xã hội, nâng cao thu nhập và mức sống cho người dân.
Tạo lập các quy định pháp luật có khả năng hỗ trợ các ngân hàng Nhà nước vươn lên chiếm lĩnh thị trường bằng cách đưa ra thị trường các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tốt nhất với giá thành hợp lý nhất. Trên cơ sở đó giúp các ngân hàng Nhà nước giữ được vị trí chủ đạo trong hệ thống ngân hàng và có vai trò định hướng cho các tổ chức tín dụng khác cùng phát triển.
Năm là, nguyên tắc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là vấn đề đặt ra không chỉ đối với Việt Nam cũng như không chỉ đặt ra đối với lĩnh vực ngân hàng. Để thực hiện nguyên tắc này, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng đòi hỏi phải giải quyết được các vấn đề sau: Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Xoá bỏ các quy định pháp luật đang là rào cản các ngân hàng Việt Nam tham gia thị trường dịch vụ ngân hàng quốc tế, cũng như các quy định đang cản trở các ngân hàng nước ngoài tham gia đầy đủ vào việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam.
Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật nhằm nâng cấp toàn diện các ngân hàng Việt Nam cho phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Các chuẩn mực này được đặt ra cho nhiều phương diện như vốn pháp định, cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực, trình độ quản trị và điều hành ngân hàng, trình độ công nghệ và các chiến lược kinh doanh dài hạn.
Xây dựng các thể chế pháp lý nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế. Các thể chế pháp lý này bao gồm: củng cố chế độ sở hữu vốn tài sản cho các doanh nghiệp nhà nước; xây dựng và củng cố chế độ kế toán và kiểm toán hoạt động ngân hàng theo các tiêu chuẩn quốc tế đánh giá mức độ rủi ro và hệ số an toàn cho các ngân hàng; sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật ngân hàng theo hướng mở cửa và hội nhập quốc tế sâu, rộng; thay đổi vai trò và nội dung kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng thông qua cơ quan chủ yếu là Ngân hàng Trung ương, bằng các công cụ quản lý vĩ mô và chính sách kinh tế năng động, có hiệu quả…
Tóm lại, muốn cho quá trình hội nhập được thực hiện trôi chảy, an toàn và hiệu quả thì điều quan trọng là việc đảm bảo yêu cầu chủ động hội nhập cần phải thực hiện theo lộ trình từng bước: từ thấp đến cao và từ cục bộ đến toàn diện. Có như vậy, quá trình hội nhập mới không gây ra các “cú sốc” bất ngờ có khả năng gây ảnh hưởng bất lợi đến quá trình phát triển nền kinh tế cũng như sự ổn định về chính trị và an ninh xã hội.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
1. Những giải pháp chung
1.1. Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam
Mục tiêu chủ yếu và bao trùm của việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam là xây dựng lại, cấu trúc lại hệ thống ngân hàng nhằm tạo ra một hệ thống ngân hàng phù hợp về mô hình tổ chức, lành mạnh về tài chính, hiện đại về công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra các điều kiện để chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao kỹ năng về quản trị và điều hành với một môi trường kinh tế – xã hội và pháp lý vững chắc, bảo đảm cho hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả.
Việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, đặc biệt là hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước, sẽ làm cho hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước thực sự trở thành lực lượng chủ đạo trong lĩnh vực ngân hàng, bảo đảm hoạt động lành mạnh và hiệu quả; tạo cho các Ngân hàng Thương mại Nhà nước có quy mô lớn, hoạt động đa năng, hiện đại, có sức cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nâng cao uy tín, khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước trên thị trường trong và ngoài nước.
Để góp phần thực hiện mục tiêu trên, vấn đề xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam có vị trí quan trọng đặc biệt mà nội dung của nó trước hết cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:
- Thứ nhất, cần có một chế định pháp lý xử lý nhanh chóng nợ tồn đọng để làm trong sạch bảng tổng kết tài sản của các Ngân hàng Thương mại.
Hiện nay, việc xử lý nợ tồn đọng (bao gồm nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ chờ xử lý và nợ được khoanh) là một trong những vấn đề bức xúc nhất và là điều kiện tiên quyết trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. Điều đáng quan ngại là, nợ xấu của Doanh nghiệp Nhà nước chiếm khoảng 60% nợ xấu của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước trong tổng số nợ thuộc các khoản vay của Doanh nghiệp Nhà nước nên không có tài sản bảo đảm, cần có nguồn tài chính để bù đắp. Kinh nghiệm thực tiễn cải cách hệ thống tài chính ngân hàng ở một số nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, chẳng hạn như ở Trung Quốc, cho thấy cần phải giải quyết dứt điểm tồn tại này. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Để xử lý dứt điểm khoản nợ tồn đọng trên đây, cần có nhiều giải pháp như: tạo ra khuôn khổ pháp lý để các Ngân hàng Thương mại bán tài sản bảo đảm thu hồi vốn dưới nhiều hình thức: tự bán công khai trên thị trường, bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, bán cho Công ty mua bán nợ của Nhà nước (khi được thành lập).
Một trong các giải pháp được coi là có hiệu quả cao mà hiện nay Chính phủ đã cho phép các Ngân hàng Thương mại thực hiện, đó là việc thành lập Công ty quản lý nợ và khai tác tài sản (theo Quyết định số 150/QĐ – TTg ngày 5/2/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc Ngân hàng Thương mại) mà các nước tiến hành cải tổ ngân hàng thường gọi là Công ty AMC (Asset Management Company – Công ty quản lý tài sản). Tuy nhiên, kinh nghiệm của hơn 20 nước trên thế giới lực chọn phương án AMC đều chỉ rõ: để xử lý có hiệu quả nợ tồn đọng thì phải có đạo luật riêng cho AMC với những thẩm quyền và kỹ năng đặc biệt để khắc phục được những xung đột pháp lý với các luật hiện hành theo luật của các nước này.
Ông Trịnh Bá Tửu, Trưởng Ban trù bị thành lập AMC của Ngân hàng Nhà nước nói, có khá nhiều xung đột pháp lý cần giải quyết khi cho ra đời tổ chức này. Ban trù bị đã liệt kê ra 20 vấn đề lớn xung đột với Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Hàng hải, Luật Hàng không… Đó có thể là các vấn đề: mua nợ và tài sản (quyền được mua nợ và tài sản chưa đầy đủ thủ tục pháp lý); thẩm quyền tái cơ cấu tài chính đối với bên nợ; quy trình và kỹ năng đặc biệt liên quan đến bán nợ và tài sản mà AMC đã mua… Muốn giải quyết chúng, phải ban hành một nghị định của Chính phủ; một luật sửa đổi các luật hiện hành khác; một luật sửa đổi, bổ sung một luật hiện hành; một luật thành lập AMC. Giải pháp nào cũng đầy nhược điểm. Ngay tên gọi của AMC, theo ông Lê Đức Thuý,Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cũng mất cả năm trời mà không đi đến thống nhất. Bài học kinh nghiệm chung của các nước áp dụng phương thức xử lý theo AMC cho thấy: “AMC không thể thành công, hoặc kết quả không khả quan, nếu quốc gia đó không có một cơ cấu thích hợp cho AMC và không có khuôn khổ pháp lý tạo cho AMC những thẩm quyền cần thiết, khác với các định chế thông thường”. Kinh nghiệm khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á trong thời gian qua trước đây đã chứng minh nhận định này.
- Thứ hai, tăng vốn điều lệ đối với các Ngân hàng Thương mại.
Vốn điều lệ là vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại, là thành phần chủ yếu cấu thành vốn tự có Ngân hàng Thương mại. Vốn tự có lại là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, mức cho vay tối đa đối với một khách hàng, mức tối đa hùn vốn cổ phần liên doanh của ngân hàng với các đối tác khác. Mặc dù nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng số nguồn vốn hoạt động của ngân hàng nhưng có ý nghĩa quan trọng vì nó phản ánh quy mô, thực lực và phạm vi hoạt động của ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định vốn điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần sau khi trừ đi 70 tỷ đồng cho bản hiệu (tên ngân hàng thương mại cổ phần), hiệu số còn lại, cứ 20 tỷ đồng vốn điều lệ, ngân hàng thương mại ấy mới được thành lập một chi nhánh), là cơ sở để huy động nên các nguồn vốn khác, là điều kiện pháp lý cơ bản, là yếu tố tài chính cực kỳ quan trọng để bảo đảm khả năng thanh toán các khoản nợ đối với khách hàng. Do vậy, quy mô vốn tự có là điều kiện quyết định quy mô huy động vốn và quy mô tài sản có.
Thực trạng cho thấy, một đặc điểm nổi bật của các Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam, kể cả Ngân hàng Thương mại Nhà nước và Ngân hàng Thương mại Cổ phần, là có số vốn tự có thấp, không đáp ứng được các yêu cầu chuẩn mực quốc tế, hạn chế đến khả năng huy động vốn và mở rộng tín dụng. Đặc điểm này tạo ra một tình trạng hết sức nghịch lý trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đó là tiềm lực tài chính của khu vực tài chính lại còn thua xa tiềm lực tài chính của khu vực công nghiệp. Theo kinh nghiệm ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước đã qua giai đoạn phát triển công nghiệp, thông thường trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá (tích luỹ tư bản) thì tư bản tài chính phải ở mức tích luỹ lớn hơn nhiều tư bản công nghiệp mới có thể tạo điều kiện để thực hiện cách mạng công nghiệp và tiến trình công nghiệp hoá. Theo số liệu của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, đến cuối tháng 3/2026, tổng số vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại nước ta là 60.680,49 tỷ đồng, so với cuối năm 2022, tăng 25.590,633 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước 32.335,5 tỷ đồng; tổng số vốn điều lệ của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần 23.262,49 tỷ đồng. Tuy đã có sự gia tăng đáng kể vốn điều lệ của các Ngân hàng Thương mại trong thời gian vừa qua nhưng so với nhu cầu vốn thực tế của các doanh nghiệp, với quy định giới hạn “tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng” (Điều 79 Luật các Tổ chức tín dụng) thì tất cả các Ngân hàng Thương mại cũng chỉ có thể cho vay đồng tài trợ cho một khách hàng với mức tối đa khoảng 9102,1 tỷ đồng.
Trong khi chỉ tính riêng nhu cầu đầu tư cho các công trình trọng điểm của nền kinh tế trong các ngành như: dầu khí, điện lực, viễn thông… thì vốn cần có đã lên đến hàng ngàn tỷ đồng đối với một dự án. Chưa kể khi đã là thành viên của WTO, các Ngân hàng Thương mại nước ta, nhất là Ngân hàng Thương mại Nhà nước đã, đang và sẽ ký hợp đồng song biên với các tập đoàn kinh tế hoặc các doanh nghiệp lớn về hợp tác toàn diện, trong đó về phía Ngân hàng Thương mại sẽ cung ứng đầy đủ vốn vay cho đối tác, điều đó đòi hỏi quy mô của ngân hàng phải lớn, nghĩa là có vốn điều lệ lớn, đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài khi họ có đủ điều kiện và cơ hội bình đẳng như các ngân hàng trong nước theo cam kết của Chính phủ Việt Nam khi gia nhập WTO. Đây là nghịch lý và là một trong những mâu thuẫn lớn nhất trong thực tiễn hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Vì vậy, tăng vốn điều lệ đối với các Ngân hàng Thương mại là một trong những giải pháp cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Để tạo động lực và bắt buộc thực hiện đối với các Ngân hàng Thương mại, ngày 22/11/2025, Chính phủ đã ban hành NĐ số 141 về Danh mục mức vốn pháp định của các Tổ chức tín dụng, theo đó các Ngân hàng Thương mại cổ phần và liên doanh đến cuối năm 2027 phải đạt mức vốn tối thiểu 1.000 tỷ đồng và đến cuối năm 2030 tất cả các Ngân hàng Thương mại phải có vốn tối thiểu là 3.000 tỷ đồng; nếu không sẽ chịu các biện pháp xử lý, kể cả thu hồi giấy phép hoạt động.
Trong hai năm gần đây, cuộc chạy đua tăng vốn của các Ngân hàng Thương mại đang diễn ra hết sức sôi nổi. Hiện nay Sacombank đang dẫn đầu, đạt hơn 1.899 tỷ đồng và đây là Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, thực hiện từ ngày 12/7/2025. Sacombank đang triển khai tăng thêm 10% vốn điều lệ, đưa tổng số vốn điều lệ lên gần 2.100 tỷ đồng. Tiếp đến là Habubank cũng vừa hoàn thành việc tăng vốn điều lệ lên 1.185 tỷ đồng, trở thành Ngân hàng Thương mại cổ phần có số vốn lớn thứ hai ở Việt Nam sau Sacombank. Thứ ba là ACB, hiện đạt 1.100 tỷ đồng và đang triển khai phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn.
Vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại Nhà nước do Bộ Tài chính cấp từ ngân sách Nhà nước, còn vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần do cổ đông, trong đó đại cổ đông góp vốn, thể hiện bằng sở hữu một số lượng cổ phiếu theo luật định. Vì thế, biện pháp tăng vốn phổ biến nhất mà các Ngân hàng Thương mại CP áp dụng chủ yếu là phát hành cổ phiếu.
Tuy nhiên, hiện đã có tình trạng ngân hàng tăng vốn ồ ạt nhằm trục lợi lúc giá lên cao, phục vụ lợi ích của nhóm nhỏ cổ đông trong ngân hàng mà không quan tâm tới lợi ích của công chúng. Một số ngân hàng mạng lưới hoạt động còn ít, dịch vụ chưa có gì, nhưng thay vì phải tập trung mở rộng mạng lưới, phát triển dịch vụ, huy động vốn để phục vụ nền kinh tế thì họ lại ồ ạt phát hành cổ phiếu.
Vì vậy, cần có những ràng buộc đối với việc phát hành cổ phiếu tăng vốn của các Ngân hàng Thương mại. Ví dụ, đối với những đơn vị đã có vốn điều lệ đạt 1.000 tỷ đồng, nếu muốn tiếp tục phát hành cổ phiếu tăng vốn phải đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn nhất định và phải chia cổ tức ở mức trên 10%/năm chẳng hạn. Hay để được xem xét và chấp thuận tăng vốn, trong phương án tăng vốn điều lệ, các ngân hàng phải giải thích về nhu cầu của việc tăng vốn. Trong kế hoạch tăng vốn cần thông báo cụ thể về tổng mức vốn điều lệ dự kiến tăng thêm, các đợt dự kiến phát hành trong năm, phương án phát hành cho từng đợt và phải giải trình rõ về hiệu quả kinh doanh trên cơ sở vốn điều lệ mới. Xây dựng kế hoạch tăng vốn phù hợp với quy mô tăng trưởng của ngân hàng, đảm bảo tính khả thi của hiệu quả kinh doanh trên cơ sở vốn điều lệ mới. Cùng với việc tăng vốn, các ngân hàng phải có phương án nâng cao năng lực về khả năng quản trị, năng lực quản lý, giám sát của ngân hàng đối với việc kiểm soát được quy mô hoạt động tăng lên. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Việc giám sát tăng vốn của các ngân hàng để nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống, phát huy hiệu quả đồng vốn, khuyến khích ngân hàng tập trung phát triển dịch vụ và cung ứng vốn cho nền kinh tế một cách thận trọng và có hiệu quả.
Đối với các Ngân hàng Thương mại quốc doanh, giải pháp cần thiết là cổ phần hoá. Hiện nay, hai ngân hàng được chọn cổ phần hoá thí điểm là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long vẫn đang trong giai đoạn kiểm kê, đối chiếu, phân loại tài sản công nợ, xử lý tồn tại tài chính và lựa chọn tổ chức tư vấn cổ phần hoá. Để tiến trình cổ phần hoá diễn ra nhanh chóng cần có sự tham gia hợp sức của nhiều cơ quan, bộ, ngành, đặc biệt cần có các quy định pháp lý về cổ phần hoá phù hợp với đặc thù hoạt động của ngân hàng cũng như hoàn thiện pháp luật có liên quan để vận dụng thông thoáng, dễ dàng.
Ngoài việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu để tăng vốn điều lệ và năng lực tài chính, các ngân hàng còn có thể tiến hành sáp nhập để tạo ra những ngân hàng đủ mạnh về tiềm lực tài chính, có sức cạnh tranh cao.
Mua bán – sáp nhập doanh nghiệp hiện đang là xu thế chung trên thế giới trong tất cả các lĩnh vực, càng sôi động với khu vực có tính chi phối cao như khu vực tài chính. Các Ngân hàng Thương mại không nên e sợ hoặc tránh né; ngược lại, cần có thái độ tích cực và chủ động tham gia vào xu hướng này.
Mua bán – sáp nhập nếu có sự chủ động, chuẩn bị kỹ lưỡng và sự phù hợp giữa hai bên đối tác sẽ dễ dàng tạo ra hiệu quả “cộng hưởng” tạo ra ảnh hưởng lớn trên thị trường. Với các Ngân hàng Thương mại nội địa lớn, có thương hiệu, có thị phần vững chắc, đương nhiên sẽ có tính chủ động cao trong việc tìm kiếm con đường đi của riêng mình. Việc các đối tác chiến lược nước ngoài nắm giữ tới 10-15%, thậm chí 20% cổ phần chưa thể có sức chi phối hoàn toàn với các hoạt động của ngân hàng. Các đối tác sẽ mang lại cho ngân hàng những giá trị mới về quản trị tài chính, quản trị rủi ro, những kinh nghiệm và kỹ năng quốc tế – vốn là điểm yếu và rất cần thiết với các Ngân hàng Thương mại VN trong quá trình hội nhập.
Với các Ngân hàng Thương mại nhỏ, mua bán – sáp nhập là giải pháp nên cân nhắc và xem xét khi việc tạo dựng uy tín và chiếm giữ thị phần trong thời gian ngắn một cách độc lập là rất khó khăn. áp lực cạnh tranh sẽ buộc các ngân hàng này phải xích lại gần với nhau hơn, hoặc kết hợp hoàn toàn với một ngân hàng lớn. Vấn đề là cần lựa chọn đối tác cho phù hợp với tiêu chí hoạt động của ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính đến thời điểm 30/5/2026, trong số 34 Ngân hàng Thương mại, có tới 22 ngân hàng có số vốn điều lệ dưới 1.000 tỉ, trong khi thời hạn đáp ứng vốn điều lệ tối thiểu đang tới gần. Các ngân hàng cần cân nhắc lựa chọn con đường đi hợp lý, cũng như tìm cách gia tăng giá trị cho mình trước những cơ hội có thể mở ra.
Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra từ quá trình phát triển của nền kinh tế cũng như từ chính nhu cầu an toàn và tăng trưởng của hoạt động ngân hàng cho thấy, việc củng cố vai trò hệ thống ngân hàng, nhu cầu tăng cường tiềm lực tài chính cho các Ngân hàng Thương mại, đặc biệt là Ngân hàng Thương mại Nhà nước, trước hết, là yêu cầu bức thiết góp phần tạo động lực, giảm bớt rủi ro, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về vốn trong hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) cũng như việc áp dụng và thực hiện các chương trình trợ giúp kỹ thuật với sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính quốc tế cũng có tác dụng tích cực không nhỏ trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam.
1.2. Nội luật hoá các nguyên tắc, quy phạm được thừa nhận chung của pháp luật và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Hiện nay, Việt Nam đã tham gia vào các tổ chức quốc tế khu vực như ASEAN, APEC, ASEM, đã ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và đặc biệt đã trở thành thành viên của WTO. Bối cảnh này đặt ra nhiều vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ngân hàng, đòi hỏi phải tính đến sự tương thích và phù hợp giữa pháp luật ngân hàng ở Việt Nam với pháp luật và tập quán quốc tế về hoạt động ngân hàng, về khả năng nghiên cứu và vận dụng các án lệ, tập quán quốc tế vào giải quyết tranh chấp trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo chủ động phục vụ tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu này, có thể tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
Một là, áp dụng các nguyên tắc, chuẩn mực và thông lệ quốc tế về ngân hàng trong việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng ở Việt Nam. Cho đến nay, hệ thống pháp luật về ngân hàng Việt Nam được xây dựng với những nội dung ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà đến nay một số quy định vẫn chưa thực sự phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế. Do vậy, cần tiếp tục xem xét để xây dựng và ban hành một số quy định mới, đó là các vấn đề về chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), kiểm toán, phương pháp hạch toán, tiêu chuẩn về vốn tự có, về thẩm quyền cơ quan giám sát ngân hàng…
Hai là, coi các tập quán quốc tế là nguồn của pháp luật kinh tế nói chung và của pháp luật ngân hàng nói riêng. Nghiên cứu khả năng áp dụng án lệ, tập quán quốc tế thông qua việc thừa nhận, công nhận tính pháp lý của các quy tắc, tập quán quốc tế được áp dụng rộng rãi và phổ biến trong hoạt động ngân hàng. Các thoả thuận trong hiệp định thương mại hai bên hay nhiều bên cũng đồng thời đặt ra khả năng áp dụng các án lệ, quy tắc và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt trong giao dịch tín dụng chứng từ và nhờ thu, bảo lãnh. Cho đến nay, nhiều nước trên thế giới đã có văn bản pháp luật quy định về giao dịch tín dụng chứng từ trên cơ sở các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 500 hay UCP 600). Chẳng hạn, Hoa Kỳ, Columbia chấp nhận UCP 500 là một bộ phận của hệ thống pháp luật nước mình. Hy Lạp cũng có những điều khoản quy chế hoá giao dịch tín dụng chứng từ trong Luật thương mại năm 2014. Liên bang Nga cũng quy định vấn đề này tại Bộ luật dân sự năm 2015… Thực tiễn này ở các nước có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong việc quy định cho phép áp dụng các nguyên tắc và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng. Còn ở Việt Nam, cho đến nay các văn bản pháp luật (như Điều 759 Bộ luật Dân sự, Điều 5 Luật Thương mại, Điều 3 Luật các Tổ chức tín dụng) chỉ mới có quy định cho phép áp dụng các tập quán quốc tế nói chung, ít có văn bản pháp lý hay điều khoản cụ thể điều chỉnh các quan hệ được áp dụng các quy tắc và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng. Chính hạn chế này đã từng gây ra những vướng mắc trong thực tiễn, tạo ra việc nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn nhau trong một số vụ án, tranh chấp liên quan đến hoạt động quốc tế của ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Do vậy, cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu lập pháp để tiếp nhận và áp dụng các giá trị pháp luật nước ngoài và quy tắc, tập quán quốc tế thông qua nhiều kênh tiếp nhận khác nhau, như tiếp nhận thông qua việc nội luật hoá các Hiệp định quốc tế song phương và đa phương; tiếp nhận pháp luật trong quá trình hội nhập ASEAN, APEC và WTO; tiếp nhận thông qua các luật mẫu (Luật mẫu về thuê mua, Luật mẫu về chiết khấu…); tiếp nhận thông qua điều lệ của các hiệp hội và tổ chức nghề nghiệp quốc tế; tiếp nhận thông qua các điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ, các hợp đồng mẫu…
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà một trong những xu hướng chủ đạo của quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới là xu hướng “phi chế định hoá” (deleglementation) các hoạt động tài chính ngân hàng thì nhu cầu tiếp nhận các giá trị pháp luật và tập quán quốc tế nhằm hoàn thiện pháp luật ngân hàng ở nước ta đã trở nên bức thiết.
2. Những giải pháp cụ thể
Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam cần tiến hành sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật ngân hàng theo hướng sau đây:
Thứ nhất, sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản pháp luật khác có liên quan để đảm bảo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung ương hiện đại, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các Tổ chức tín dụng trong hoạt động kinh doanh.
Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng mới đang trong quá trình dự thảo, dự kiến sẽ ban hành trong năm 2027. Bài viết này xin được đề xuất một số kiến nghị sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng như sau:
Đối với Luật Ngân hàng Nhà nước, để đúng hơn với bản chất và mục tiêu của công cụ tái cấp vốn, cần gọi lại công cụ này là công cụ cho vay hỗ trợ vốn, hoặc có một định nghĩa cụ thể hơn về công cụ tái cấp vốn để phân biệt rõ hoạt động tái cấp vốn do Ngân hàng Trung ương thực hiện với hoạt động cấp tín dụng ngắn hạn của các Tổ chức tín dụng đối với khách hàng là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước cũng cần có quy định về đa dạng hơn nữa các giấy tờ có giá giao dịch trên thị trường mở, giao dịch tái cấp vốn để giúp cho hoạt động này ngày càng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ.
Đối với Luật các Tổ chức tín dụng, cần quy định việc đảo nợ thành một điều khoản riêng. Theo Luật các Tổ chức tín dụng hiện nay, việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ (khoản 4 Điều 54); khoản 2 Điều 9 của Quyết định số 1627/2020/QĐ-NHNN về quy chế cho vay cũng đề cập đến việc đảo nợ nhưng lại thực hiện theo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vậy hai quy định này là mâu thuẫn nhau, cần sớm huỷ bỏ khoản 2 Điều 9 của QĐ số 1627 vì quy định này vừa trái với thẩm quyền ban hành văn bản (Chính Phủ), vừa trái với hình thức văn bản (Nghị định) trong quy định về đảo nợ đã được Luật các Tổ chức tín dụng xác định. Hơn nữa, điều đáng nói ở đây là từ khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2016 có hiệu lực, rồi được sửa đổi, bổ sung năm 2023 đến nay vẫn chưa có một văn bản nào của Chính phủ quy định về việc đảo nợ. Điều này đã hạn chế các cơ sở pháp lý để các Tổ chức tín dụng cơ cấu lại khoản nợ phù hợp với các điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Thứ hai, xây dựng, chỉnh sửa, bổ sung các quy định pháp luật ngân hàng về cấp phép hiện diện thương mại, về tổ chức, hoạt động, quản trị, điều hành của các Tổ chức tín dụng kể cả trong và ngoài nước hướng tới nguyên tắc không phân biệt đối xử, phù hợp với các cam kết và lộ trình gia nhập WTO, các quy định pháp luật cần tuân thủ nguyên tắc minh bạch hoá và có thể dự báo.
Sau 7 năm ban hành, Nghị định số 49/2019/NĐ-CP ngày 12/9/2019 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Thương mại đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với tình hình hoạt động, kinh doanh thực tế của các Ngân hàng Thương mại. Trong khi chờ Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các Tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung thì việc ban hành một nghị định mới, thay thế NĐ 49 ngày càng trở nên cấp thiết, vừa là để tạo cơ sở pháp lý lấp lỗ hổng trong giai đoạn hiện nay, vừa là để tạo nền tảng cho NĐ hướng dẫn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi khi Quốc hội thông qua, đảm bảo bao quát các vấn đề bất cập trong thực tế hiện nay đã được luật hóa và nghị định hướng dẫn.
Bên cạnh việc dự thảo NĐ mới về tổ chức, quản trị và hoạt động của Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Nhà nước hiện cũng đang dự thảo Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần, Thông tư hướng dẫn Nghị định 22 về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, trong đó sẽ cụ thể hoá các cam kết liên quan đến việc thành lập và hoạt động của các Tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định về việc Tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của Ngân hàng Thương mại của Việt Nam cũng đang trong quá trình dự thảo. Để đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ xây dựng mới Luật Bảo hiểm Tiền gửi và Luật Giám sát An toàn Hoạt động Ngân hàng.
Thứ ba, nghiên cứu xây dựng khung pháp lý cho các mô hình Tổ chức tín dụng mới như mô hình tập đoàn kinh tế đa năng (ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, môi giới và kinh doanh chứng khoán, quản lý tài sản…). Đặc điểm của tập đoàn tài chính – ngân hàng là lấy ngân hàng cỡ lớn làm hạt nhân của tập đoàn để liên kết và khống chế các doanh nghiệp xung quanh bằng mối quan hệ nắm giữ cổ phần, cho vay vốn và sắp xếp nhân sự. Mục tiêu của việc hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng là mở rộng quy mô hoạt động và đổi mới công nghệ, giảm chi phí để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó đem lại lợi nhuận tối đa cho tập đoàn. Việc xây dựng khung pháp lý cho mô hình này có thể phải giải quyết những vấn đề sau:
Một là, Chính phủ cần xây dựng và ban hành Nghị định của Chính phủ về tiêu chí phân loại tập đoàn, mô hình tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn, đặc biệt là mối quan hệ giữa tập đoàn với các đơn vị thành viên để làm cơ sở pháp lý gốc cho việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các tập đoàn kinh tế nói chung và tập đoàn ngân hàng tài chính nói riêng. Một điểm quan trọng là văn bản này phải làm rõ sự khác biệt giữa nhóm công ty tổ chức theo mô hình công ty mẹ – công ty con và nhóm công ty tổ chức theo mô hình tập đoàn; Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Hai là, Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi (dự kiến sẽ được trình Quốc hội thông qua trong năm 2027) cần có quy định về loại hình Tổ chức tín dụng theo mô hình tập đoàn ngân hàng tài chính. Đây sẽ là cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn ngân hàng tài chính.
Ba là, về chính sách phát triển các Tổ chức tín dụng, bên cạnh việc cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại NN, Nhà nước cần có định hướng cho phép một số Ngân hàng Thương mại NN và Ngân hàng Thương mại CP lớn xây dựng, hình thành các tập đoàn ngân hàng tài chính với phạm vi kinh doanh đa năng bao trùm hầu hết các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, cho thuê tài chính, phát hành thẻ, quản lý tài sản… Việc hình thành các tập đoàn ngân hàng lớn là xu hướng chung ở nhiều nước trên thế giới và mô hình tập đoàn cũng là mô hình tổ chức quản lý của nhà cung cấp dịch vụ tài chính hàng đầu thế giới – những đối thủ cạnh tranh tiềm năng của các Ngân hàng Thương mại trong khi Việt Nam gia nhập WTO. Mặt khác, việc cho phép một số Ngân hàng Thương mại NN chuyển đổi thành mô hình tập đoàn để đa dạng hoá hình thức tổ chức quản lý của các Ngân hàng Thương mại và đáp ứng nhu cầu phát triển tự thân của một số Ngân hàng Thương mại NN.
Bốn là, để mô hình tập đoàn ngân hàng tài chính có tính khả thi cao, với tư cách là cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu xây dựng và ban hành các quy chế dưới luật quy định về cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành của tập đoàn ngân hàng theo thông lệ quốc tế để đảm bảo có thể giám sát hoạt động của tập đoàn ngân hàng tài chính và sự an toàn cho cả hệ thống ngân hàng, cũng như đảm bảo môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh và minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng.
Năm là, cùng với việc nghiên cứu xây dựng pháp luật cho mô hình Tổ chức tín dụng mới, pháp luật về các tổ chức có hoạt động mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động của các Tổ chức tín dụng (công ty xếp hạng tín dụng, công ty môi giới tiền tệ) nhằm phát triển hệ thống các Tổ chức tín dụng cũng cần được quan tâm phát triển. Các Nghị định về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính sẽ được ban hành mới thay thế cho các văn bản pháp quy cũ về vấn đề này.
Về hỗ trợ hoạt động của các Tổ chức tín dụng, được nhắc đến hiện nay là việc thành lập và phát triển Trung tâm thông tin tín dụng. Đó là các tổ chức trung gian đứng ra thu thập, cung cấp và chia sẻ thông tin cho các tổ chức cho vay, qua đó giúp các tổ chức này tăng dung lượng cho vay và gián tiếp giúp bên đi vay (doanh nghiệp và cá nhân) tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn.
Ở Việt Nam, mô hình trung tâm thông tin tín dụng còn rất mới. Trung tâm thông tin tín dụng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Credit Information Center, viết tắt là CIC) mới được thành lập từ năm 2018. Nước ta chưa có trung tâm thông tin tín dụng tư nhân. Do hạn chế này, phạm vi thu thập thông tin tín dụng ở Việt Nam là rất hẹp so với ở nước có trung tâm thông tin tín dụng tư nhân. Theo báo cáo, trên 1000 người Việt Nam trưởng thành thì chỉ có thông tin tín dụng của 11 người – trong khi đó ở Thái Lan con số này là 184 người và ở úc là 1000 người. Đây có thể là một trong những lý do giải thích tại sao các doanh nghiệp và cá nhân ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận tín dụng của hệ thống ngân hàng.
Trung tâm thông tin tín dụng (TTTD) tư nhân là một mô hình đang rất phát triển ở nhiều nước và đã được chứng minh là có thể giúp tăng cường tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và cá nhân. Để có được một trung tâm thông tin tín dụng tư nhân hoạt động hiệu quả, cần (i) xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp; (ii) có sự cam kết tham gia của các đối tác liên quan, đặc biệt là các tổ chức tài chính lớn; (iii) có sự hợp tác giữa khu vực công–tư và sự hiểu biết của toàn xã hội; và cuối cùng là (iv) tham khảo chuyên môn và kinh nghiệm quốc tế. Trong gần hai năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã quan tâm tới vấn đề này và tham vấn sự hỗ trợ kỹ thuật từ Công ty Tài chính Quốc tế IFC. Những nỗ lực này cần được đẩy nhanh hơn nữa để trung tâm thông tin tín dụng tư nhân có thể sớm ra đời và hoạt động hiệu quả ở Việt Nam.
Thứ tư, hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối, cải cách hệ thống kế toán ngân hàng phù hợp chuẩn mực kế toán quốc tế, hoàn thiện các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt.
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định về các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng mới (quản lý ngân quỹ, quản lý danh mục đầu tư, các dịch vụ uỷ thác, các sản phẩm phái sinh, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thuê mua tài chính…).
Do ngân hàng là ngành kinh tế tổng hợp, có sự liên quan mật thiết đến các ngành kinh tế khác, vì vậy việc hoàn thiện pháp luật các hoạt động có liên quan và pháp luật về kinh tế nói chung là tiền đề và cũng là điều kiện hết sức quan trọng để hoạt động ngân hàng phát triển. Có thể kể đến việc phải cụ thể hoá các quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2022, Luật Phá sản năm 2023, Luật Đất đai năm 2022, các chế định pháp luật về sở hữu, hợp đồng… nhằm giúp cho hoạt động ngân hàng được thực hiện trôi chảy, thống nhất, thuận tiện, nhanh chóng, làm giảm chi phí giao dịch, tăng sức cạnh tranh, đảm bảo minh bạch, an toàn, hiệu quả.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đặc thù – tài chính tiền tệ. Hoạt động ngân hàng rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý xã hội và tác động có tính lây truyền; chứa đựng rủi ro cao; có tính quốc tế cao và đòi hỏi công nghệ hiện đại. Chính vì thế, so với các loại hình khác, hoạt động ngân hàng cũng chịu sự điều chỉnh pháp luật, giám sát chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn của Nhà nước.
Nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng ở Việt Nam cho thấy, hoạt động của hệ thống ngân hàng vừa chịu sự chi phối của các luật liên quan (Luật Chứng khoán, Luật thương mại, Luật Doanh nghiệp), vừa chịu sự điều chỉnh trực tiếp của các luật chuyên ngành (Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng). Vì vậy, quy định về hoạt động ngân hàng cần có mối quan hệ thống nhất, hợp lý và khoa học giữa luật chung và luật chuyên ngành để hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng ngày càng hoàn thiện, thông thoáng và có tính liên kết.
Việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay là một yêu cầu khách quan, cần thiết và là một quá trình khó khăn, phức tạp, đòi hỏi cần có những cơ sở khoa học, quan điểm chủ đạo, định hướng và giải pháp hiệu quả; cũng như cần sự phối hợp của các Bộ, ngành, cơ quan Nhà nước để hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng thực sự tạo được tính an toàn, đảm bảo, tạo thuận lợi hoạt động cho hệ thống ngân hàng Việt nam phát triển ổn định và bền vững trong điều kiện hội nhập. Khóa luận: Giải pháp pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng

