Qua bài luận văn Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, liên kết với thực tế cho thấy, học thuyết này chỉ phù họp với trường họp bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra. Tuy nhiên, học thuyết này cũng có những hạn chế mà nếu không khắc phục được sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Chính vì vậy, nếu các bạn đọc giả đang lựa chọn đề tài Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tương tự thì đừng bỏ lỡ dưới đây nhé!
2.1 Các quy định cơ bản của Bộ luật Dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trường hợp bên bị vi phạm được quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường những thiệt hại xảy ra không phải do vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng. Theo Khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, điều kiện xảy ra bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là:
Có thiệt hại thực tế xảy ra (thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp)
Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật (xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác)
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
Ngoài ra, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần quan tâm đến yếu tố lỗi các bên. Lỗi của người vi phạm là một trong những điều kiện có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt thiệt hại chứ không phải là yếu tố bắt buộc.
2.1.1 Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 là thay đổi hướng tiếp cận về yếu tố lỗi; điều luật mới đã không xác định lỗi của người gây thiệt hại là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như BLDS 2005 mà chú trọng vào hành vi gây thiệt hại, với yêu cầu chỉ cần chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật là đủ; loại bỏ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chịu trách nhiệm bồi thường hoặc người gây thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng hoặc người bị thiệt hại có lỗi hoàn toàn, trừ một số trường hợp do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015).
Ngoài ra, Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 còn bổ sung thêm trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản của chủ sở hữu, của người chiếm hữu tài sản gây thiệt hại và mở rộng phạm vi thiệt hại đối với pháp nhân là “quyền, lợi ích hợp pháp khác” (trước đây chỉ quy định danh dự, uy tín, tài sản). Quy định này bổ sung căn cứ pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản trong trường hợp họ không trực tiếp sử dụng tài sản đó, không trực tiếp thực hiện hành vi gây ra thiệt hại; đảm bảo tính khả thi và có căn cứ của quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ, do súc vật…gây ra, nhất là trong thực tiễn xét xử, giải quyết các vụ án liên quan đến tài sản của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp gây ra thiệt hại; theo quy định mới, phạm vi bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân được ứng xử như cá nhân – các chủ thể có quyền bình đẳng trong quan hệ dân sự.
Kế từ ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, sự thay đổi trên đã kéo theo sự thay đổi về phương pháp, nội dung chứng minh, lập luận trong quá trình giải quyết các vụ án liên quan. Trong đó, một điểm đáng lưu ý là người bị thiệt hại không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của người gây thiệt hại.
2.1.2 Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nhiều thay đổi trong nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 so với Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005, trong đó có những thay đổi mang tính căn bản sau:
Thứ nhất: Điều 585 Bộ luật dân sự xác định thiệt hại buộc phải bồi thường kịp thời, toàn bộ phải là thực hại thực tế chứ không phải là thiệt hại chung chung như quy định cũ; yếu tố thực tế nảy khẳng định trách nhiệm chứng minh thiệt hại của người yêu cầu bồi thường, tránh những yêu cầu không có cơ sở, gây khó khăn cho công tác thụ lý, thu thập chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cá nhân, tổ chức liên quan khác.
Thứ hai: Khoản 2 Bộ luật dân sự năm 2005 xác định đối tượng được xem xét giảm mức bồi thường là người gây thiệt hại, nhưng khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 đã sửa lại đối tượng này là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Sự thay đổi này đã kịp thời tháo gỡ được vướng mắc của thực tiễn trong trường hợp “người gây thiệt hại” không phải là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại” (người gây thiệt hại là người dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người sử dụng bất hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ….). Cũng cần chú ý là việc xem xét giảm mức bồi thường ở điều luật mới không còn xác định “khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài nữa” nên khi tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chứng minh khả năng kinh tế của người gây thiệt hại – chủ yếu là khả năng kinh tế trước mắt.
Thứ 3: Điều kiện được xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 được mở rộng hơn so với Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể, ngoài yếu tố lỗi vô ý được xác định là điều kiện để xem xét giảm trách nhiệm bồi thường ở quy định cũ, khoản 2 Điều 585 còn quy định thêm yếu tố “không có lỗi” là điều kiện để giảm trách nhiêm bồi thường. Trước đây, trong thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án liên quan, cơ quan thẩm quyền có căn cứ pháp lý để quyết định giảm trách nhiệm cho người chịu trách nhiệm bồi thường khi có lỗi vô ý nhưng lại lúng túng, thiếu cơ sở pháp lý để xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp không có lỗi vì điều luật không quy định, mặc dù theo lẽ công bằng, người gây thiệt hại không có lỗi hiển nhiên được ưu tiên xem xét miễn, giảm trách nhiệm bồi thường hơn người gây thiệt hại có lỗi vô ý.
Thứ tư: Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 bổ sung thêm hai nguyên tắc bồi thường thiệt hại ở khoản 4 và khoản 5 so với 3 khoản của Điều 605 Bộ luật dân sự 2005. Về ý nghĩa áp dụng, tuy là bổ sung 2 quy định nhưng chỉ có một quy định mới hoàn toàn và một quy định làm rõ, cụ thể hơn quy định cũ.
Theo đó, khoản 4 Điều 585 được bổ sung nhằm quy định rõ hơn căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 1 Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015. Quy định này xác định phạm vi bồi thường thiệt hại của người có nghĩa vụ bồi thường, đồng thời xác định phạm vi chịu nghĩa vụ của người bị thiệt hại khi họ cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại. Đây là cơ sở pháp lý cần thiết để xử lý trường hợp lỗi hỗn hợp hoặc chỉ có bên bị thiệt hại có lỗi cố ý toàn bộ, một phần trong việc gây ra thiệt hại, còn bên chịu trách nhiệm bồi thường chỉ có lỗi một phần hoặc không có lỗi. Ví dụ: Chủ sở hữu xe ôtô gây tai nạn giao thông phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật giao thông của người bị hại.
2.1.3 Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 quy định độ tuổi để cá nhân phải tự bồi thường vẫn là từ đủ 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, trường hợp bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra được thay đổi về chủ thể chịu trách nhiệm khi BLDS 2005 quy định ngoài trường học, bệnh viện thì có các tổ chức khác; còn ở BLDS 2015 có trường học, bệnh viện và tổ chức khác thì được thay thế bằng pháp nhân khác.
BLDS 2015 đã quy định phạm vi của chủ thể chịu trách nhiệm trong trường hợp này hẹp hơn, pháp nhân là một chủ thể cụ thể, được thành lập hợp pháp và có đủ điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật này. Trong khi đó, tổ chức khác có thể là bất cứ một tổ chức đông người, có cùng mục đích, hoạt động cùng nhau và có thể không có sự ràng buộc giữa cá nhân với tổ chức. Quy định này có thể được coi là một thay đổi tích cực vì với những tổ chức không có quy mô, cơ cấu rõ ràng thì tài sản của tổ chức có thể không cố định, không đảm bảo được việc chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra, gây có khó khăn khi phải chịu trách nhiệm và có thể thiệt thòi cho những người bị thiệt hại.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 586 BLDS 2015 quy định thêm đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Đây cũng được coi là sự thay đổi tích cực khi quy định thêm đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Những người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mặc dù là một trong những chủ thể bị hạn chế thực hiện các giao dịch dân sự nhưng cũng không thể loại bỏ trách nhiệm khi người này gây ra thiệt hại và phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.
Quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2015 không có nhiều thay đổi. Có hai vấn đề nhỏ cần chú ý sau:
Một là, nếu khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do “người chưa thành niên dưới 15 tuổi” gây ra, thì khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ sửa lại là “người chưa đủ 15 tuổi”, bỏ cụm từ “chưa thành niên” vốn không có giá trị sử dụng trên thực tế – bởi người chưa đủ 15 tuổi thì đương nhiên là người chưa thành niên.
Hai là, khoản 3 của Điều 585 Bộ luật dân sự bổ sung đối tượng “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ được hành vi” vào quy định trách nhiệm bồi thường của người giám hộ. Sự bổ sung này là tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong thực tiễn khi có một số trường hợp thiệt hại do người “có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” gây ra, họ không phải là “người mất năng lực hành vi dân sự” nhưng không cũng không đủ điều kiện để xác định là “người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự”.
Đối với trẻ vị thành niên, theo quy định của pháp luật hiện hành thì người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi, là người chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó, trong nhiều trường hợp, giao dịch của người chưa thành niên phải được thực hiện thông qua người đại diện, người giám hộ để nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho chủ thể này. Trong trường hợp người chưa thành niên có hành vi gây thiệt hại cho người khác thì pháp luật cũng quy định cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi cho chính chủ thể bị thiệt hại. Cụ thể, Điều 586 BLDS 2015 quy định như sau:
Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định một trường hợp khác về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý tại tại Điều 599 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.”
Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, có thể thấy pháp luật chia làm hai trường hợp đối với người chưa thành niên, bao gồm chủ thể từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và chủ thể chưa đủ 15 tuổi. Trong đó nguyên tắc bồi thường đối với chủ thể từ chủ thể từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Trong trường hợp chủ thể này không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ thì việc bồi thường do người giám hộ thực hiện bằng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Còn đối với chủ thể chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Trong trường hợp người này không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha mẹ thì việc bồi thường sẽ do người giám hộ thực hiện bằng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Đối với người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại trong trường học thì cần căn cứ vào yếu tố lỗi để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về nhà trường hay cha, mẹ, người giám hộ của người chưa đủ 15 tuổi; về nguyên tắc nếu nhà trường có lỗi thì nhà trường có trách nhiệm bồi thường, nếu nhà trường không có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ của người chưa đủ 15 tuổi bồi thường.
2.1.4 Về thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo Điều 588 của BLDS 2015
“Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.” ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại có nhiều thay đổi căn bản. Trong đó:
- Thời gian được quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường trước đây quy định là 2 năm, nay quy định là 3 năm. Tăng 01 năm so với quy định cũ và khác hẵn so với quy định thông thường tại Bộ luật tố tụng dân sự (02 năm). Điểm này người làm công tác giải quyết, xét xử cần chú ý khi xem xét thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
- Điều luật cũ quy định thời điểm để tính thời hiệu là “kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm”; quy định này khi áp dụng vào thực tiễn thì phát sinh vướng mắc, do căn cứ để xác định thời điểm “quyền và lợi ích hợp pháp…bị xâm phạm” trở thành cứng nhắc, vướng với thực tế hoặc rơi vào trường hợp chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm lại không có quyền khởi kiện do chưa đủ tuổi hoặc không có năng lực trách nhiệm dân sự. Có rất nhiều trường hợp thiệt hại phát sinh từ các vụ tai nạn, người bị tai nạn bị mất năng lực hành vi dân sự, rất cần có tiền cứu chữa nhưng người bị tai nạn lại không có năng lực khởi kiện. Cũng có rất nhiều trường hợp thời điểm phát sinh thiệt hại là khác, thời điểm người có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại biết được có thiệt hại xảy ra lại khác. Do vậy, điều luật mới quy định “kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết” đã giải quyết được hai vấn đề: Một là, đảm bảo quyền khởi kiện của người có quyền yêu cầu (chứ không phải người bị thiệt hại) trong trường hợp người bị thiệt hại không có điều kiện khởi kiện thời gian dài hoặc vĩnh viễn (do thiệt hại bị thương tích quá nặng, không có khả năng nhận thức hành vi) để giải quyết các khó khăn về kinh tế, phục vụ chi phí cứu chữa cho người gây thiệt hại; hai là, đảm bảo quyền khởi kiện của người có quyền yêu cầu trong trường hợp họ biết được hoặc phải biết thiệt hại xảy ra sau thời điểm thiệt hại thực tế đã xảy ra, khoảng thời gian từ thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm đến thời điểm người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích bị xâm phạm không tính vào thời hiệu khởi kiện.
2.2. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
2.2.1 Bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại
Quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ở Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
“1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Như vậy, trong Điều 609.2 BLDS 2015 có hai thay đổi cơ bản so với điều luật cũ:
Thứ nhất, điều luật cũ quy định “người xâm phạm sức khỏe của người khác phải bồi thường” thì điều luật mới sửa lại là “người chịu trách nhiệm bồi thường”. Sự sửa đổi này giải quyết vướng mắc trên thực tế là có nhiều trường hợp “người xâm phạm sức khỏe của người khác” nhưng lại không phải là “người có trách nhiệm bồi thường”, chẳng hạn như người gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác là người không có năng lực hành vi dân sự hay trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp người gây ra thiệt hại là một người khác.
Thứ hai, điều luật mới nâng mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần từ “không quá 30 tháng lương tối thiểu” lên “không quá 50 lần mức lương cơ sở”. Vấn đề này, người làm công tác giải quyết, xét xử các loại án cần lưu ý khi giải quyết các vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc các vụ án hình sự có bồi thường do xâm phạm sức khỏe từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Có thể bạn quan tâm:
- Bồi thường tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm hại
Hiện nay, việc bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm đang là mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Thiệt hại về tinh thần (tổn thất về tinh thần) được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh, bị hiểu nhầm… Nhận thấy được sự quan trọng trong việc xác định về bồi thường tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm hại, BLDS 2015 đã quy định:
Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này – khoản 2 Điều 590;
- Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Ngoài các thay đổi giống với các điều luật tương tự ở phần bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm như: Bổ sung quy định “thiệt hại khác do pháp luật quy định”, sử cụm từ “người xâm phạm tính mạng của người khác” thành cụm từ “người chịu trách nhiệm bồi thường” thì quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 có những thay đổi cơ bản sau: ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Một là: Mở rộng phạm vi bồi thường thiệt hại đối với việc cứu chữa người thiệt hại trước khi chết với cách điều chỉnh là “toàn bộ những gì thuộc thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” (Bộ luật dân sự 2005 liệt kê thiệt hại “chi phí cữu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại” trước khi chết. Điều cần phải chú ý đối với sự thay đổi này là, khi xem xét bồi thường thiệt hại đối với phần thiệt hại khi người bị thiệt hại chưa chết, chúng ta phải tính cả “thập nhập thực tế người bị thiệt hại/ của người chăm sóc người bị thiệt hại khi đang điều trị, cấp cứu”, không loại trừ “thiệt hại về tinh thần” khi người bị thiệt hại chưa chết và đây là khoản thiệt hại mà người bị thiệt hại là người được hưởng, còn các khoản thiệt hại phát sinh sau khi người bị thiệt hại chết thì phải bồi thường cho người thâm thích của họ.
Hai là: Nâng mức tối đa bồi thường về tổn thất tinh thần từ 60 tháng lương tối thiểu của điều luật cũ lên 100 lần mức lương cơ sở và mức này áp dụng cho mỗi người có tính mạng bị xâm phạm. Chúng ta cần chú ý kỹ là sự thay đổi này đã khắc phục được vướng mắc cơ bản trên thực tế khi quyết định mức bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự liên quan. Bởi quy định cũ chỉ xác định “không quá 60 tháng lương tối thiểu” mà không xác định mức tối đa này áp dụng cho người nhận bồi thường hay người bị thiệt hại tính mạng. Vướng mắc phát sinh khi “một người có tính mạng bị xâm phạm có nhiều người thân thích” hoặc “nhiều người có tính mạng bị xâm phạm mà chỉ có 01 người bị thân thích”.
2.2.2 Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp khác
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp xảy ra đối với vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Theo Điều 594 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”
Tiếp đo, Điều 595 trong BLDS 2015 cũng quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết như sau:
Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”
Đối với những trường hợp người sử dụng chất kích thích hay cố ý bắt người khác sử dụng chất kích thích, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có quy định trong Bộ luật dân sự 2915, Điều 596 về bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra như sau:
Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.
Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”
Trong trường hợp do thực hiện nhiệm vụ mà gây ra thiệt hại, BLDS 2015 cũng có điều khoản sau: Tại Điều 597, Theo đó, bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra:
“Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”
Tuy nhiên, đối với vấn đề bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra thì theo Điều 596 quy định:
“Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.” ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Đối với vấn đề bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý, Điều 599 BLDS 2015:
Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy
Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.”
Điều 600. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
“Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”
Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”
Điều 602. Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
“Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi.”
Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
- Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
- Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
- Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.” ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
“Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.”
Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa,
công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.
Điều 606. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể
- Cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.
- Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường khi thi thể bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.” ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Điều 607. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả.
- Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại.
- Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp mồ mả của người khác bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Điều 608. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng
“Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường.”
Có rất nhiều những điều khoản và quy định đưa ra đối với từng trường hợp, tình huống riêng và cho tới nay, BLDS 2015 đã giải quyết được rất nhiều những vấn đề trong của người dân. Tuy nhiên, vẫn còn một số những vấn đề phát sinh xảy ra trong thực tiễn cần được xem xét và đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện hơn trong tương lai.
2.3. Một số vấn đề thực tế phát sinh từ các tình huống của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Trong đời sống hàng ngày, thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự uy tín nhân phẩm của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của tổ chức do hành vi trái pháp luật của cá nhân diễn ra khá nhiều. Vì vậy, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những loại tranh chấp dân sự phổ biến hiện nay. Trong đó, tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm; do tính mạng bị xâm phạm, do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm đã có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật nên việc giải quyết tranh chấp của các cấp Tòa án khá toàn diện, triệt để, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đướng sự. Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần còn có nhiều phát sinh. Dưới đây là một vài tình huống thực tế:
Tình huống 1: Con tàu A đang đi trên sông, qua một đoạn sông có khu dân cư sinh sống. Do là khu dân cư có người sinh sống nên Ban Quản Lý đã xây bờ kè nhằm đảm bảo an toàn cho cư dân (Việc xây bờ kè là hoàn toàn hợp pháp và đã được phê duyệt, thuộc quyền quản lý của Ban Quản Lý khu dân cư). Tàu A trong lúc đi trên sông đã sơ ý đâm vào bờ kè, gây thiệt hại. Do đó, tàu A phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xâm phạm tài sản.
Người chịu trách nhiệm bồi thường phải đền bù những khoản sau đây:
- Giá trị tài sản bị mất, bị hủy hoặc bị hư hỏng
- Giá trị phần lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút do hành vi gây thiệt hại
- Chị phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại
- Một số thiệt hại khác được pháp luât quy định riêng (nếu có)
Tình huống 2: Ông A sở hữu một chiếc xe máy trị giá 50 triệu đồng. Ông đỗ xe đúng quy định ở bãi đỗ của công ty. Ông B lái xe ô tô của mình vào bãi gửi xe, do có sử dụng bia rượu khi lái xe nên vào bãi đỗ xe ông B đã không làm chủ được tay lái, đâm vào xe máy của ông A làm xe hư hỏng nặng.
Theo Điều 589 BLDS 2015 quy định:
“Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm: Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.” ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Như vậy, trong trường hợp này ông B đã có hành vi xâm phạm tài sản của ông A, khiến cho tài sản bị hư hỏng, đây là hành vi trái pháp luật. Do đó, ông B đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho ông A.
Tình huống 3: B là công nhân vừa bị sa thải của công ty X, đến công ty đòi gặp giám đốc. Vì giám đốc đang tiếp khách, mặt khác, thấy B đang trong tình trạng say rượu nên A – bảo vệ công ty đã ngăn chặn không cho vào. B chửi bới, dùng những lời lẽ xúc phạm và cố tình xông vào công ty. Không kiềm chế nổi, A dùng dùi cui đánh túi bụi vào lưng B cho đến khi B ngã quy. Kết quả B bị trấn thương nặng.
Hành vi của A không được coi là phòng vệ chính đáng. Mặc dù B cố ý xông vào công ty trong tình trạng say, bị kích động mạnh nhưng hành vi của B không phải đang tấn công gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại ngay tức khắc. A có nhiệm vụ bảo vệ công ty nhưng việc A đánh B túi bụi cho đến khi B ngã quỵ không phải là hành vi chống trả lại một cách tương xứng với hành vi của B.
Mặc dù theo Điều 592 BLDS 2015, B cũng có lỗi xâm phạm, gây thiệt hại đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân cũng như công ty X nhưng việc A gây thiệt hại cho B khi đang thực hiện công việc bảo vệ do công ty giao cho đã vi phạm vào Điều 597 của BLDS 2015:
“Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, công ty X có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho B. Sau đó, xem xét A có lỗi đánh B đến mức trấn thương nặng nên A có trách nhiệm bồi hoàn lại cho Công ty. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Tình huống 4: Anh A sai con là B đến cửa hàng đại lý của C để mua 3 chai bia. C bảo B tự lấy bia ở trong két. Khi B vừa cầm chai bia lên, tự dưng chai bia nổ, một mảnh vỡ vở chai găm vào mắt B gây rách giáp mạc. Ai phải bồi thường?
Nếu nguyên nhân gây nổ chai bia là do đại lý của C bảo quản sai quy cách thì C phải bồi thường.
Nếu C chứng minh mình không có lỗi trong việc bảo quản thì hãng bia phải bồi thường cho cháu B theo Điều 608 BLDS 2015 về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dung như sau: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường.”.
Từ những tình huống trên, ta thấy mặc dù pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã giải quyết được đa số các vấn đề trong thực tế. Cụ thể, Bộ luật dân sự 2015 đã có nhiều đột phá trong tư duy pháp lý và trong tạo lập cơ chế pháp lý đồng bộ, thống nhất về điều chỉnh quan hệ dân sự, về địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân trong đời sống dân sự; ghi nhận, bảo vệ tốt hơn các quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của người dân. Tuy nhiên, sau gần 4 năm triển khai thực hiện Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn liên quan, vẫn còn có những vấn đề bất cập, vướng mắc gây ra nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật như: vướng mắc về quy định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, thiệt hại về tinh thần, tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức kinh doanh hàng hóa. …
Do đó, về pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chúng ta vẫn cần xem xét để đưa ra một số những điểm mạnh, điểm yếu. Qua đó khắc phục và hoàn thiện Bộ luật ngày một cụ thể, hợp lý và tốt hơn về mọi mặt.
2.3.1 Những điểm tiến bộ của pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự do hành vi gây ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể mà không phụ thuộc vào hợp đồng. So với BLDS năm 2005, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo BLDS năm 2015 có những điểm tiến bộ đáng chú ý như sau:
Về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Như vậy, theo BLDS năm 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Theo quy định trước đây tại Điều 604 BLDS năm 2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi. BLDS năm 2015 đã quy định căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Nếu như BLDS 2005 quy định đối với cá nhân có phạm vi áp dụng trách nhiệm rất rộng còn đối với pháp nhân thì chỉ liệt kê ba đối tượng bị xâm phạm là “danh dự, uy tín, tài sản (khoản 1 Điều 604) thì tại Điều 584, BLDS 2015 quy định đối tượng bị xâm phạm làm phát sinh trách nhiệm BTTH của cá nhân và pháp nhân bao gồm “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”.
Ngoài ra, BLDS năm 2015 đã quy định phạm vi điều chỉnh trong trường hợp đối tượng tài sản gây ra thiệt hại. Các quy định của BLDS 2015 đã khái quát các trường hợp khi đối tượng gây ra thiệt hại là tài sản đó là súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng và nguồn nguy hiểm cao độ. Nếu gây ra thiệt hại thì trách nhiệm BTHT sẽ được áp dụng dựa trên căn cứ là tài sản gây thiệt hại chứ không phải là hành vi trái pháp luật. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng.
Nếu như BLDS năm 2005 nêu ra 3 nguyên tắc cơ bản về BTTH ngoài hợp đồng, được quy định tại Điều 605 thì BLDS năm 2015 chỉ ra 5 nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo đó, BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm 2 nguyên tắc:
- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây
- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân.
So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 quy định độ tuổi để cá nhân phải tự bồi thường vẫn là từ đủ 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, trường hợp bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra được thay đổi về chủ thể chịu trách nhiệm khi BLDS 2005 quy định ngoài trường học, bệnh viện thì có các tổ chức khác; còn ở BLDS 2015 có trường học, bệnh viện và tổ chức khác thì được thay thế bằng pháp nhân khác.
BLDS 2015 đã quy định phạm vi của chủ thể chịu trách nhiệm trong trường hợp này hẹp hơn, pháp nhân là một chủ thể cụ thể, được thành lập hợp pháp và có đủ điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật này. Trong khi đó, tổ chức khác có thể là bất cứ một tổ chức đông người, có cùng mục đích, hoạt động cùng nhau và có thể không có sự ràng buộc giữa cá nhân với tổ chức. Quy định này có thể được coi là một thay đổi tích cực vì với những tổ chức không có quy mô, cơ cấu rõ ràng thì tài sản của tổ chức có thể không cố định, không đảm bảo được việc chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra, gây có khó khăn khi phải chịu trách nhiệm và có thể thiệt thòi cho những người bị thiệt hại. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Ngoài ra, khoản 3 Điều 586 BLDS 2015 quy định thêm đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Đây cũng được coi là sự thay đổi tích cực khi quy định thêm đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Những người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mặc dù là một trong những chủ thể bị hạn chế thực hiện các giao dịch dân sự nhưng cũng không thể loại bỏ trách nhiệm khi người này gây ra thiệt hại và phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.
Về thời hiệu yêu cầu
Theo Điều 588 BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. (Điều 607, BLDS năm 2005 quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 2 năm).
Về bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại.
BLDS năm 2015 đã bổ sung nhiều điểm mới. Đặc biệt đáng chú ý là việc tăng mức trần bồi thường tổn thất về tinh thần. BLDS 2015 dùng cụm từ “mức lương cơ sở” thay cho “tháng lương tối thiểu” để tính mức bù đắp tổn thất về tinh thần.
Về nguyên tắc, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên tự thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu các bên không thỏa thuận được sẽ theo quy định của pháp luật. BLDS 2005 quy định nếu không thỏa thuận thì mức tối đa bù đắp tồn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Điều 590 BLDS 20015). BLDS 2005 quy định mức bù đắp về tinh thần trong trường hợp này là 30 tháng lương tối thiểu.
Mức tối đa bù đắp tổn thất về tinh thần cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015); mức cũ tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2005).
Đối với việc bù đắp về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Điều 592 BLDS 2015 quy định: Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền
Về bồi thường tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm hại.
Mức tối đa bù đắp tồn thất về tinh thần cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015); mức cũ tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2005).
Đối với việc bù đắp về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Điều 592 BLDS 2015 quy định: Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền.
2.3.2. Những điểm hạn chế, tồn tại trong quá trình áp dụng luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thời gian qua, tôi nhận thấy còn tồn tại một số vướng mắc, cần được tháo gỡ. Mặc dù Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC mới có hướng dẫn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh chấp về bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp mới phát sinh cần có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn cụ thể như về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra khi người thi công có lỗi; về bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra; về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Dưới đây là một số tồn tại trong quá trình áp dụng luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 đều quy định về một căn cứ phát sinh nghĩa vụ là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”. Ngoài ra, tại Mục II.A.2 của Thông tư số 173-TANDTC ngày 23/3/1972 của TANDTC hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ban hành ngày và Mục I.1.1.2 của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đều có quy định rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải dựa trên hành vi trái pháp luật. Nhận thấy, tại các văn bản pháp luật nêu trên đều không có định nghĩa về “hành vi trái pháp luật” mà chỉ liệt kê các hành vi cụ thể như xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của chủ thể khác mà gây thiệt hại. Việc quy định mang tính liệt kê nêu trên được các nhà làm luật diễn giải là với mục đích hướng tới hậu quả của hành vi trái pháp luật. Bên cạnh đó, tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định tính trái pháp luật cần được xem xét trong bản chất của chính hành vi đó. Sự xâm phạm nêu trên (đến lợi ích hợp pháp của chủ thể khác) là một yếu tố riêng rẽ với yếu tố “trái pháp luật”, và chỉ nên xem xét sự xâm phạm đó khi bàn về thiệt hại. Điều này thể hiện ở việc các yếu tố xâm phạm trong Nghị quyết chỉ được nhắc đến ở những quy định về thiệt hại mà không phải ở các quy định về “hành vi trái pháp luật”. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Gây thiệt hại thực tế.
Một nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Tuy nhiên, Bộ luật dân sự hiện nay không có hướng dẫn cụ thể thế nào là thiệt hại thực tế và cơ sở để xác định thiệt hại thực tế dựa trên nguồn nào, tuy nhiên tùy từng vụ án thì Tòa án thường có những đánh giá chứng cứ khác nhau.
Gây thiệt hại về tinh thần.
Trong khi thiệt hại vật chất là yếu tố khách quan có thể dễ dàng nhận biết và đo lường thì thiệt hại về tinh thần lại thiên về mặt chủ quan, trừu tượng, rất khó xác định và quy đổi thành giá trị kinh tế. Tại các điều 590, 591, 592, 606, 607 của BLDS năm 2015 đã đặt ra một số mức trần về thiệt hại tinh thần trong những trường hợp có sự xâm phạm các giá trị nhân thân: xâm phạm về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, thi thể, mồ mả. Tại Điều 592 BLDS năm 2015 chỉ đưa ra mức bồi thường tối đa cho trường hợp này là mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, mà không có hướng dẫn chi tiết về cơ sở để xác định mức bồi thường. Tuy nhiên, việc chỉ đưa ra mức trần sẽ dẫn đến sự lúng túng, không thống nhất khi xét xử của Tòa án trong việc xác định mức độ thiệt hại và mức bồi thường tương xứng. Bên cạnh đó, tại Mục I.1.1. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn Tòa án cần xem xét đến các tình tiết cụ thể chẳng hạn như mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm, mức độ giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm, thời gian chịu đựng tổn thất, mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm.
Thiệt hại về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.
Quy định về mức bồi thường thiệt hại về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm giữa Bộ BLDS năm 2015 và Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 có sự khác nhau dẫn đến vướng mắc trong công tác xét xử. Cụ thể là tại khoản 2 Điều 591 BLDS năm 2015 quy định “Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”; khoản 4 Điều 27 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 quy định mức bồi thường cao hơn nhiều: “Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là 360 tháng lương cơ sở. Trường hợp người bị thiệt hại chết thì không áp dụng bồi thường thiệt hại về tinh thần quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này.” Do có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật dân sự và Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước nên trong một vụ án có cả cá nhân, tổ chức dân sự và cả nhà nước cùng có trách nhiệm liên đới thì việc xác định mức thiệt hại và phân bổ trách nhiệm bồi thường sẽ khó khăn. Mặt khác, đối với các vụ án mà có một bên là cơ quan Nhà nước thì phía cá nhân, tổ chức bị thiệt hại thường yêu cầu áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước để được hưởng mức bồi thường lớn tuy nhiên lại gây lúng túng cho Tòa án trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng. ( Khóa luận Thực trạng Pháp luật về bồi thường thiệt hại )
Tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức kinh doanh hàng hóa.
Về thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà một bên là người tiêu dùng, mặc dù quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã khá toàn diện, tuy nhiên thực tiễn giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức kinh doanh hàng hóa thì bên thua kiện thường là người tiêu dùng – bên yếu thế trong quan hệ, chẳng hạn như việc chứng minh lỗi thuộc về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện, do đó họ thường chủ động đưa ra các chứng cứ và giải thích các thuật ngữ chuyên ngành theo hướng có lợi cho họ.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Khóa luận giải pháp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
