Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng

Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng nhằm đề cập đến các lý luận chung nhất về Ngân hàng thương mại, các hoạt động chính của ngân hàng thương mại, lý luận cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng làm tiền đề để tiến hành nghiên cứu. Đồng thời phân tích số liệu, đánh giá thực trạng tín dụng của Ngân hàng để tìm ra giải pháp hợp lý nhằm giải quyết các khuyết điểm còn tồn tại trong kinh doanh của ngân hàng. Đưa ra các giải pháp và kiến nghị đối với bản thân ngân hàng và các cơ quan có thẩm quyền trong đề tài Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Phòng giao dịch Thủy Nguyên – Chi nhánh Hải Phòng, mời các bạn sinh viên cùng tham khảo

2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín PGD Thủy Nguyên chi nhánh Hải phòng

2.1.1  Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Hải Phòng

Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín( Sacombank) được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 21/12/1991 khi hợp nhất 4 hợp tác xã tín dụng là: Gò Vấp, Tân Bình, Thành Công, Lữ Gia tại thành phố Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng.

Với xuất phát điểm là một Ngân hàng nhỏ, ra đời trong giai đoạn khó khăn của đất nứoc, vốn điều lệ của Sacombank tại thời điểm năm 1991 là 3 tỉ đồng và Ngân hàng hoạt động chủ yếu tại các quận vùng ven thành phố Hồ Chí Minh. Sau 24 năm hình thành và phát triển, Sacombank đã lọt vào top 5 Ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam. Ngày 1/10/2015 Ngân hàng TMCP Phương Nam chính thức sáp nhập vào Ngân hàng Sacombank. Tính đến cuối năm 2015 tổng tài sản của ngân hàng đạt 290.861 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu đạt 22.645 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 18.853 tỷ đồng. Mạng lưới hoạt động lên đến 567 điểm giao dịch trên toàn quốc và 2 nước Lào, Campuchia.

Ngày 12/07/2006, Sacombank là Ngân hàng đầu tiên chính thức niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM ( nay là Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM), đây là một sự kiện rất quan trọng và có ý nghĩa cho sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam, cũng như tạo tiền đề cho việc niêm yết cổ phiếu của các NHTMCP khác.

Với việc khai trương Văn phòng đại diện Nam Ninh tại Trung Quốc vào thàng 1 năm 2008 và Chi nhánh Lào vào năm 2008, Chi nhánh Campuchia năm 2009, Sacombank trở thành Ngân hàng đầu tiên thành lặp văn phòng đại diện và Chi nhánh tại nuớc ngoài. Đây đựơc xem là bước ngoặt trong quá trình mở rộng mạng lưới của Sacombank với mục tiêu tạo ra cầu nối trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tài chính của khu vực Đông Dương.

Là Ngân hàng tiên phong khai thác các mô hình Ngân hàng đặc thù dành riêng cho phụ nữ ( Chi nhánh mùng 8 tháng 3) và cho cộng đồng nói tiếng Hoa ( Chi nhánh Hoa Việt). Sự thành công của các Chi nhánh là minh chứng thuyết phục về khả năng phân khúc thị trường độc đáo và sáng tạo của Sacombank.

Hiện tại Sacombank có hơn 15.000 cán bộ công nhân viên

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hải Phòng thành lập trên cơ sở giấy chứng nhận đăng ký hoạt động do Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hải Phòng cấp ngày 27/10/2006 và chính thức khai trương hoạt động ngày 15/12/2006, địa điểm trụ sở chính tại 62-64 phố Tôn Đức Thắng- phường Trần Nguyên Hãn – quận Lê Chân – Thành phố Hải Phòng.

Chi nhánh có 4 Phòng nghiệp vụ bao gồm : Phòng Cá Nhân, Phòng Doanh Nghiệp, Phòng Hỗ trợ, Phòng Hành chính – Kế toán và 5 Phòng giao dịch trực thuộc được mở tại các Quận Hồng Bàng, Ngô Quyền và huyện Thủy Nguyên. Tất cả các Phòng nghiệp vụ và PGD đều có các Trưởng/Phó phòng và phụ trách quản lý.

Tháng 8/2007, Chi nhánh khai trương PGD Tam Bạc tại số 102A Quang Trung – Hồng Bàng – Hải Phòng.

Tháng 7/2008, Chi nhánh khai trương PGD Lạch Tray tại số 286 Lạch Tray – Lê Chân – Hải Phòng. Đến tháng 9/2011, PGD được chuyển về số 195 Văn Cao – Ngô Quyền – Hải Phòng và được đổi tên thành PGD Văn Cao.

Tháng 4/2010, Chi nhánh khai trương PGD Lạc Viên tại số 176 Đà Nẵng – Ngô Quyền – Hải Phòng.

Tháng 7/2010, Chi nhánh khai trương PGD Hoa Phượng tại số 119-121 Đinh Tiên Hoàng – Hồng Bàng – Hải Phòng.

Tháng 12/2010, Chi nhánh khai trương PGD Thủy Nguyên tại số 151 Bạch Đằng – Thị trấn Núi Đèo – Thủy Nguyên – Hải Phòng.

Cơ cấu nhân sự

Từ ngày đầu thành lập, Chi nhánh có 33 nhân sự, đứng đầu là Ông Hoàng Hải Vương – Giám đốc Chi nhánh và ông Mai Hùng Dũng – Phó giám đôc Chi nhánh, với 03 Phòng nghiệp vụ và 01 Bộ phận.

Hiện nay, giữ chức vụ Giám đốc chi nhánh là Ông Nguyễn Xuân Thắng, 2 Phó giám đốc là Ông Phan Đăng Tùng và Ông Nguyễn Văn Lưu.

2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Sacombank Hải Phòng. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Chức năng

  • Ngành nghề kinh doanh của Ngân hàng chủ yếu là huy động và cho vay. Có chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các thành phần kinh tế, các công ty cổ phần, tư nhân, liên doanh với nước ngoài, với các đặc trưng sau:
  • Chi nhánh Hải Phòng là một tổ chức có tư cách pháp nhân, là Chi nhánh cấp 4 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín hoạt động theo pháp lệnh của Ngân hàng Nhà Nước.
  • Huy động vốn: nhận tiền gửi của khách hàng bằng tiền VNĐ, ngoại tệ và vàng.
  • Sử dụng vốn : cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn kinh doanh bằng đồng VNĐ, ngoại tệ và vàng.
  • Các dịch vụ trung gian : thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh.
  • Kinh doanh ngoại tệ và vàng.
  • Phát hành, thanh toán thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.

Nhiệm vụ

  • Làm cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế.
  • Làm công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
  • Làm cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường.
  • Làm nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

2.1.3. Cơ cấu tổ chức hoạt động, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Chức năng, nhiệm vụ của Phòng doanh nghiệp, Phòng cá nhân.

  • Quản lý thực hiện chỉ tiêu bán hàng theo các sản phẩm cụ thể.
  • Tiếp thị và quản lý khách hàng.
  • Tiếp thị sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế.
  • Chăm sóc khách hàng doanh nghiệp, cá nhân.
  • Phân tích, thẩm định, đề xuất cấp tín dụng.
  • Chức năng khác.

Chức năng nhiệm vụ của phòng hỗ trợ kinh doanh.

  • Xử lý giao dịch.
  • Tổ chức và thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ.
  • Quản lý tín dụng.
  • Chức năng, nhiệm vụ khác.

Chức năng, nhiệm vụ của phòng kế toán hành chính.

  • Quản lý công tác kế toán tại chi nhánh
  • Quản lý nghiệp vụ an toàn kho quỹ.
  • Quản lý công tác hành chính.

Chức năng, nhiệm vụ của bộ phận kinh doanh

  • Tiếp thị
  • Thẩm định.
  • Chức năng nhiệm vụ khác.

Chức năng và nhiệm vụ của bộ phận hỗ trợ.

  • Xử lý giao dịch.
  • Quản lý tín dụng. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )
  • Quản lý công tác quỹ.

2.1.4. Các sản phẩm dịch vụ chính hiện có tại Sacombank Hải Phòng.

  • Sản phẩm huy động có kì hạn: tiền gửi có kì hạn, tiền gửi góp ngày, tiền gửi tương lai, tiền gửi đa năng, tiết kiệm có kì hạn, tiết kiệm Phù Đổng, tiết kiệm trung hạn đắc lợi, tiết kiệm
  • Sản phẩm huy động dành cho cá nhân đặc thù: tài khoản Âu Cơ, tài khoản Hoa Lợi.
  • Sản phẩm huy động không kì hạn: tiền gửi thanh toán, tiết kiệm không kì hạn, tiết kiệm nhà ở, gói tk TGTT IMAX
  • Sản xuất kinh doanh: vay kinh doanh, vay tiểu thương chợ
  • Phục vụ đời sống: vay mua nhà, vay mua xe ô tô, vay tiêu dùng – bảo toàn, vay tiêu dùng- bảo tín, vay tiêu dùng CBNV, vay du học, vay chứng minh năng lực tài chính, vay bảo đảm bằng thẻ tiền gửi…
  • Dịch vụ chuyển tiền: chuyển tiền trong nước, chuyển tiền từ VN ra nước ngoài, chuyển tiền nhanh từ VN ra nước ngoài, dịch vụ chuyển vàng trong nước.
  • Dịch vụ chi trả kiều hối: dịch vụ nhần tiền chuyển từ nước ngoài về VN qua điện chuyển tiền SWIFT, dịch vụ chi trả kiều hối MONEYGRAM, COINSTAR, dịch vụ chi trả kiều hối qua đối tác của SBR.
  • Dịch vụ khác: dịch vụ cung ứng và phát hành Séc, dịch vụ thu đổi Séc du lịch, dịch vụ cho thuê ngăn tủ sắt, dịch vụ giữ hộ tài liệu quan trọng, dịch vụ giữ hộ vàng, dịch vụ trung gian thanh toán mua bán BĐS, dịch vụ thấu chi tiền gửi, dịch vụ thanh toán Séc Lào/Campuchia tại Sacombank.
  • Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng điện tử: Mobile Banking, Internet Banking, Phonebanking, Email Banking & các dịch vụ NHĐT khác.
  • Dịch vụ uỷ thác thanh toán.

2.1.5 Những thuận lợi và khó khăn

Thuận lợi

  • Sacombank Hải Phòng luôn nhận được sự quan tâm, theo dõi, giúp đỡ và hỗ trợ về mọi mặt công tác từ phía khu vực và hội sở như hỗ trợ về vốn, bổ sung chuyên môn, trang bị cơ sở vật chất công nghệ Ngân hàng để mở rộng và nâng cao hoạt động kinh doanh của chi nhánh và các Phòng giao dich trực thuộc.
  • Đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn, tuổi đời khá trẻ, nhiệt huyết và tinh thần đoàn kết của các cán bộ công nhân viên trong đơn vị là thế mạnh nội tại đã tạo điều kiện thuận lợi Sacombank vượt qua nhiều thử thách gay go để đứng vững và tồn tại, phát triển trong nền kinh tế thị trường.
  • Hình ảnh và vị thế của Sacombank trên địa bàn Hải Phòng ngày càng được biết đến và quảng bá rộng rãi. Trong thời gian qua, trước những biến động mạnh mẽ của thị trường tiền tệ, Sacombank đã khẳng định được năng lực của mình và là một trong những ngân hàng tốt nhất Việt Nam hiện

Khó khăn

  • Tình hình Kinh tế – Xã hội đang và sẽ có nhiều khó khăn, nguy cơ phát sinh Nợ quá hạn tăng
  • Hoạt động trên địa bàn có rất nhiều Ngân hàng thương mại cũng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng nên luôn phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, do đó dễ dẫn tới những rủi
  • Cơ sở vật chất của Chi nhánh và các Phòng giao dịch tuy đã được đầu tư song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao trong kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng. Sản phẩm Ngân hàng còn đơn điệu chưa thật sự hấp dẫn để thu hút khách hàng. Nguồn vốn huy động chưa được khai thác triệt để. Đội ngũ cán bộ công nhân viên tuy có trình độ chuyên môn nhưng chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu kinh doanh ngân hàng trong cơ chế thị trường.

2.1.6 Khái quát hoạt động kinh doanh của ngân hàng ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

  • Công tác huy động vốn

Qua bảng huy động vốn theo kì hạn và theo loại tiền ta nhận thấy nguồn vốn huy động tăng lien tục qua 3 năm, năm sau con hơn năm trước. Trong đó huy động có kì hạn ngắn chiếm tỷ trọng chủ yếu; huy động bằng nội tệ tăng qua các năm chiếm tỷ trọng lớn; trong khi huy động bằng ngoại tệ có xu hướng giảm, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số tiền gửi.

Tổng số dư tiền gửi năm 2013 đạt 1044662 hoạt động huy động vốn của chi nhánh có hiệu quả khi năm 2014 tăng mạnh 251861 triệu đồng so với năm 2013 và đạt 1296523 triệu đồng. Năm 2015 tình hình huy động vốn tiếp tục tăng 248083 triệu đồng và đạt 1544606 triệu đồng. Đi sâu vào phân tích ta thấy:

  • Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn.

Tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng tăng đều trong 3 năm. Do tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà người gửi có thể rút bất cứ lúc nào nên đây là nguồn tiền có tính chất kém ổn định nhưng chi phí hoạt động rất thấp, loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán. Năm 2013, tiền gửi không kỳ hạn là 135855 triệu đồng chiếm 13% tổng nguồn vốn huy động. Năm 2014 đạt 188940 triệu đồng chiếm 14.57% vốn huy động, tăng 53085 triệu đồng. Cuối năm 2014, tiền gửi không kỳ hạn tăng lên 62122 triệu đồng so với đầu năm, đạt 251062 triệu đồng và chiếm 16.25% nguồn vốn huy động.

Có thể dễ dang thấy, tổng số dư tiền gửi tăng lên chủ yếu là do tiền gửi ngắn hạn tăng mạnh. Đây là loại tiền chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động. Do biến động lãi suất và thị trường nên khách hàng có xu hướng gửi tiền trong thời gian ngắn hạn. Năm 2013, tiền gửi ngắn hạn đạt 823406 triệu đồng chiếm 78.83% vốn huy động. Năm 2014, tiền gửi ngắn hạn đạt 1009769 triệu đồng chiếm 77.89% và năm 2015 đạt 1181180 triệu đồng chiếm 76.48%.

Tiền gửi trung và dài hạn là loại tiền gửi có tính chất ổn định cao của ngân hàng. Năm 2013 lượng tiền gửi trung và dài hạn của chi nhánh đạt 85401 triệu đồng chiếm 8.17% vốn huy động. Sang năm 2014 nhu cầu gửi trung và dài hạn tăng lên 12449 triệu đồng so với năm 2013 và đạt 97850 triệu đồng tương đương với 7.54% tổng số tiền gửi. Cuối năm 2015 lượng tiền gửi trung dài hạn tặng mạnh so với năm 2014 với 14550 triệu đồng và đạt 112400 triệu đồng chiếm 7.27% tổng vốn huy động.

  • Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền

Nhìn vào biểu đồ có thể thấy, huy động vốn nội tệ tăng trưởng mạnh qua các năm trong khi huy động vốn ngoại tệ có xu hướng giảm. Năm 2013 huy động vốn nội tệ đạt 910133 triệu đồng chiếm 87.12% tổng vốn huy động, lượng tiền nội tệ tăng mạnh trong năm 2014 với 284534 triệu đồng và đạt 1194664 triệu đồng chiếm 92.14% tổng vốn huy động. Năm 2015 tăng lên 237466 triệu đồng, đạt 1432133 triệu đồng, ứng với 92.72% vốn huy động.

Tình hình huy động vốn ngoại tệ có sự giảm sút khi năm 2014 lương tiền huy động ngoại tệ là 101856 triệu đồng giảm 32673 triệu đồng so với năm 2013đạt 134529 triệu đồng. Do kinh tế thế giới có sự cải thiện, năm 2014 lượng vốn huy động ngoại tệ tăng nhẹ 10617 triệu đồng cà đạt 112473 triệu đồng chiếm 7.28% vốn huy động.

Tình hình kinh tế của Việt Nam trong năm 2013 và 2014 đều rơi vào khủng hoảng, cho đến cuối năm 2014 có dấu hiệu phục hồi, tuy vậy tình hình huy động vốn của PGD Thủy Nguyên vẫn tăng ổn định cho thấy chiến lược huy động vốn của ngân hàng có hiệu quả, có nhiều dịch vụ chăm sóc khách hàng, một phần nữa là do đây là ngân hàng uy tín hàng đầu trong nước nên vẫn giữ được niềm tin của khách hàng để khách hàng yên tâm gửi gắm nguồn vốn nhàn rỗi của mình vào ngân hàng. Đặc biệt ngân hàng còn chú ý đến đối tượng khách hàng là các tiểu thương vì Sacombank hướng tới là ngân hàng bán lẻ nên có nhiều sản phẩm ưu đãi dành cho các tiểu thương cả về huy động lẫn cho vay.

2.1.5.2. Hoạt động sử dụng vốn ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Dư nợ cho vay quy VND trong năm 2013 là 594,468 tỷ đồng giảm khoảng 26 tỷ đồng so với năm 2012, cho vay ngắn hạn là 320 tỷ đồng giảm khoảng 23 tỷ đồng, cho vay trung, dài hạn là 275 tỷ đồng giảm khoảng 3 tỷ đồng so với năm 2012.

Dư nợ cho vay quy VND trong năm 2014 tăng khoảng 51 tỷ đồng so với năm 2013, cho vay ngắn hạn là 341 tỷ tăng khoảng 21 tỷ, cho vay trung, dài hạn là 304 tỷ đồng tăng khoảng 29 tỷ so với năm 2013.

Dư nợ cho vay quy VND trong năm 2015 tăng khoảng 218 tỷ so với năm 2014, cho vay ngắn hạn đạt 379 tỷ tăng khoảng 38 tỷ, cho vay trung, dài hạn là 483 tỷ tăng khoảng 179 tỷ đồng so với năm 2014.

=> Dư nợ cho vay giảm là do tình hình kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế thế giới, chỉ số lạm phát tăng nên hoạt động tín dụng của Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên đến năm 2014 thì dư nợ của ngân hàng Sacombank đã tăng lên và đặc biệt tăng mạnh trong năm 2015, như vậy cho thấy việc cho vay của ngân hàng đã có kết quả tốt. Việc cho vay tăng sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng tăng lên, đồng thời cho thấy Sacombank đã có giải pháp đúng đắn để tăng vốn cho vay.

Xét về cơ cấu cho vay:

Phân theo kì hạn, cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trên 50% tuy nhiên đến năm 2015 cho vay ngắn hạn có xu hướng giảm dưới 50% (năm 2013: 53.78%, năm 2014: 52.89%, năm 2015: 44%); phần còn lại là tỷ trọng của cho vay trung,dài hạn.

Phân theo loại tiền, cho vay bằng VND luôn chiếm tỷ trọng cao cả trong cho vay ngắn hạn và trung, dài hạn.

Nhìn chung, hoạt động cho vay của Sacombank đang cho chiều hướng tốt, nhìn vào số liệu cho thấy năm 2015 có thể coi là năm thành công của Sacombank khi mức cho vay tăng mạnh so với năm 2013 và năm 2014. Thành công này có được nhờ định hướng đúng đắn về đối tượng cho vay là khách hàng nhỏ lẻ, thủ tục đơn giản, đồng thời là kết quả của đội ngũ nhân viên năng động, chăm sóc khách hàng tốt.

2.1.5.3 Kết quả tài chính đạt được ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Doanh thu

Có thể nhận thấy thu nhập của PGD Thủy Nguyên tăng trưởng đều qua các năm (năm 2014 tăng 3773 triệu đồng tương ứng với mức tăng 6,6%; năm 2015 tăng 5291 triệu đồng tương ứng với mức tăng trưởng 8,7%).

Nguyên nhân làm cho doanh thu tăng là do 3 nhân tố. Thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong năm 2014 tăng từ 51702 triệu đồng lên 55971 triệu đồng tương ứng tăng 8,2%; năm 2015 nguồn thu này còn làm cho tổng doanh thu tăng thêm 9,2% tương ứng tăng 5126 triệu đồng.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ cuối năm 2013 là 957 triệu đồng tăng lên 33 triệu đồng tương ứng với tăng 3,4% và đạt mức 990 triệu đồng tính đến cuối năm 2014; sang năm 2015, thu nhập từ hoạt động dịch vụ là 1116 triệu đồng, tăng 126 triệu đồng tương ứng với 12,72%.

Thu từ các hoạt động kinh doanh khác của PGD Thủy Nguyên năm 2014 là 3785 triệu đồng giảm 529 triệu đồng so với năm 2013 là 4314 triệu đồng tức giảm 12,26%. Năm 2015, thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác tăng lên 39 triệu đồng so với năm 2014 tương đương với tăng lên 1,03%.

Chi phí

Doanh thu trong 3 năm 2013, 2014, 2015 tăng nhanh, đồng thời chi phí cũng tăng mạnh. Chi phí năm 2014 là 62004 triệu đồng , tăng lên 3468 triệu đồng so với năm trước tức là tăng 5,92% ; năm 2015, chi phí tiếp tục tăng tới 63016 triệu đồng, tăng tới 1012 triệu đồng tương ứng tăng 1,6%.

Nguyên nhân làm cho chi phí của PGD Thủy Nguyên tăng lên là do nhiều nhân tố khác nhau, trong đó chi phí hoạt động tổ chức tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí. Năm 2014, chi phí hoạt đông TCTD là 38958 triệu đồng chiếm 62.83% tổng chi phí và tăng 1220 triệu đồng so với năm trước tương đương với tăng 3,23%; năm 2015 chi phí hoạt động TCTD là 37180 triệu đồng giảm 1778 triệu đồng tương đương với 4,56%.

Tiếp theo là các loại chi phí dự phòng và bảo hiểm tiền gửi, chi cho nhân viên và chi về tài sản là ba khoản chi phí cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi phí. Trong đó chi cho nhân viên trong các năm qua không ổn định do hoạt động kinh doanh của ngân hàng đang gặp khó khăn, các khoản lương thưởng cho nhân viên bị giảm xuống; năm 2014 chi cho nhân viên là 3757 triệu đồng giảm 621 triệu đồng so với năm 2013 với tốc độ giảm là 14,18%; năm 2015 tuy tình hình kinh doanh có khả quan hơn nhưng ngân hàng mới cắt giảm bớt nhân viên cho nên các khoản chi cho nhân viên giảm nhẹ xuống 102 triệu đồng và đạt 3655 triệu đồng. Ngân hàng Sacombank Hải Phòng – PGD Thủy Nguyên cũng chú trọng đầu tư cải tiến trang thiết bị cho ngân hàng, cụ thể năm 2014 ngân hàng đã chi 4687 triệu đồng cho tài sản, chi nhiều hơn năm trước là 1023 triệu đồng tăng 27,9%; ngân hàng giảm đầu tư vào tài sản ở năm 2015 với 3907 triệu đồng làm cho tổng chi phí trong năm này giảm xuống 780 triệu đồng tương đương với 16,64%. Năm 2013 và năm 2014 do tình hình kinh doanh của ngân hàng gặp nhiều khó khăn nên để hạn chế rủi ro cho nguồn vốn tiền gửi của khách hàng, ngân hàng tăng cường chi cho dự phòng vào bảo hiểm tiền gửi; năm 2014 chi dự phòng và bảo hiểm tiền gửi là 12240 triệu đồng, tăng 1323 triệu đồng so với năm 2013; năm 2015 khoản chi này tiếp tục tăng 4761 triệu đồng so với năm 2013 tương đương với tăng 43,61% ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Ngoài ra ngân hàng còn các khoản chi cho hoạt động dịch vụ, hoạt động quản lý công vụ và các chi phí khác. Trong đó chi phí hoạt động dịch vụ năm 2014 là 62 triệu đồng chiếm 0,1% tổng chi phí, tăng 3 triệu đồng so với năm trước nhưng đến năm 2015 khoản chi phí này lại giảm 11 triệu đồng với tốc độ giảm 18,03%. Chi phí hoạt động quản lý công vụ tăng đều qua các năm, năm 2014 là 1575 triệu đồng tăng 346 triệu đồng tương ứng tăng 28,15% so với năm trước, năm 2015 tăng lên 120 triệu đồng tương đương với 7,6%. Các khoản chi phí khác tăng đều trong 3 năm, năm 2014 tăng 725 triệu đồng và tăng 174 triệu đồng so với năm 2013, năm 2015 tăng lên 17,24% với 125 triệu đồng và đạt 850 triệu đồng.

Lợi nhuận kế toán trước thuế

Dựa vào bảng kết quả hoạt động kinh doanh của PGD Thủy Nguyên có thể dễ dàng nhận thấy lợi nhuận kế toán trước thuế của PGD năm 2013 và 2014 đều âm, cho thấy hoạt động kinh doanh của ngân hàng đang gặp khó khăn, tuy thu nhập đều có xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng chi phí còn cao hơn thu nhập làm cho lợi nhuận giảm. Năm 2013, lợi nhuận sau thuế của chi nhánh lỗ 1563 triệu đồng do doanh thu đạt 56973 triệu đồng nhưng chi phí lên tới 58536 triệu đồng. Năm 2014 doanh thu là 60746 triệu đồng nhưng chi phí bỏ ra là 62004 triệu đồng làm cho lợi nhuận sau thuế lỗ 1258 triệu đồng. Con số này phản ánh tình hình kinh doanh trong thời kỳ này của PGD gặp nhiều khó khăn thu không đủ bù chi. Tuy nhiên sang năm 2015, tình hình kinh doanh của PGD đã có dấu hiệu khả quan hơn, điều này thể hiện qua số liệu lợi nhuận trước thuế tăng 4279 triệu đồng và đạt 3012 triệu đồng, PGD đã cân đối được thu chi tốt hơn trong năm này. Tuy nhiên, chi nhánh cần có những biện pháp tích cực hơn để có thể gia tăng thu nhập và giảm thiểu chi phí tới mức thấp nhất để có thể thu được lợi nhuận như mong muốn.

2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín PGD Thủy Nguyên – Chi Hải Phòng .

2.2.1. Các chỉ tiêu định lượng

Nhóm chỉ tiêu về quy mô tín dụng

2.2.2.1. Doanh số cho vay

  • Cơ cấu doanh số cho vay theo kỳ hạn

Theo bảng số liệu có thể nhận thấy ngân hàng chủ yếu thiên về cho vay với kỳ ngắn hạn. Do kinh tế có nhiều biến động nên ngân hàng tập trung vào cho vay ngắn hạn để hạn chế rủi ro tín dụng, thuận lợi hơn trong công tác thu hồi nợ, bên cạnh đó khách hàng cũng muốn vay trong thời gian ngắn để hưởng lãi suất thấp hơn. Doanh số cho vay ngắn hạn năm 2013 đạt 486717 triệu đồng chiếm 80,35% tổng doanh số cho vay, năm 2014 doanh số cho vay tăng so với năm 2013 đạt 596154 triệu đồng tăng 109437 triệu đồng và chiếm 77,17% doanh số cho vay, đến cuối năm 2015 doanh số tiếp tục tăng lên 127560 triệu đồng đạt 723714 triệu đồng chiếm 81,69% doanh số cho vay. Có thể thấy, ngân hàng vẫn tập trung vào cho vay với kỳ hạn ngắn

Bên cạnh hoạt động cho vay ngắn hạn, ngân hàng còn đầu tư, hỗ trợ vào các nhu cầu vay có kỳ hạn dài hơn, các khoản vay trung dài hạn thường có rủi ro tín dụng lớn hơn nhưng nó lại mang đến cho ngân hàng lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên với tình hình kinh tế khó hăn như hiện nay, khoản cho vay này cũng chịu ảnh hưởng lớn và có nhiều biến động.

Năm 2013, doanh số cho vay trung hạn đạt 87833 triệu đồng chiếm 14,5% tổng doanh số. Năm 2014, khoản vay này giảm chiếm 10,41% tổng doanh số, đạt 80457 triệu đồng (giảm 7376 triệu đồng so với năm trước). ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Năm 2015 tình hình cho vay trung hạn có khởi sắc tăng lên 10882 triệu đồng đạt 91339 triệu đồng tương ứng với 10,31% tổng doanh số cho vay. Doanh số cho vay dài hạn năm 2013 đạt 31196 triệu đồng chiếm 5,15% trong tỷ trọng doanh số cho vay, khoản vay dài hạn tăng mạnh trong năm 2014 với 54708 triệu đồng đạt 85904 triệu đồng và chiếm đến 12,42% doanh số cho vay, nhưng đến năm 2015 doanh số cho vay các khoản vay dài hạn giảm xuống 15029 triệu đồng chiếm 8% doanh số cho vay và đạt 70875 triệu đồng.

  • Cơ cấu doanh số cho vay theo đối tượng

Hiện nay, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, các công ty TNHH càng ngày càng đông đảo, phát triển và mở rộng trong nước, đồng thời nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này cũng ngày càng tăng lên, mà nơi có thể đáp ứng vốn cho họ chính là các ngân hàng thương mại. Đối tượng cho vay chủ yếu của PGD Thủy Nguyên cũng là các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ngoài Nhà nước, thể hiện qua bẳng số liệu với tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số cho vay. Doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ngoài nhà nước năm 2013 đạt 466909 triệu đồng chiếm 77,8% tổng doanh số cho vay. Năm 2014 các khoản vay đối với các doanh nghiệp này cũng tăng 140446 triệu đồng đạt 607355 triệu đồng tương ứng 78,62%. Năm 2015 tăng thêm 98109 triệu đồng so với năm trước và đạt 705464 triệu đồng chiếm 79,73% tổng doanh số.

Doanh số cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước cũng tăng đều trong 3 năm nghiên cứu, tuy nhiên tỷ trọng của nhóm doanh nghiệp này trong tổng doanh số cho vay lại có xu hướng giảm xuống. Năm 2013, khoản vay của các doanh nghiệp Nhà nước đạt 85531 triệu đồng chiếm 14,11% doanh số cho vay. Khoản vay này tăng lên 11111 triệu đồng ở năm 2014 đạt 96642 triệu đồng tương ứng với tỷ trọng 12,51% trong tổng doanh số. Cuối năm 2015 tiếp tục tăng thêm 3910 triệu đồng đạt 100552 triệu đồng nhưng chỉ còn chiếm 11,35% trong tổng doanh số cho vay. Số liệu có tăng qua các năm nhưng chỉ tiêu về tỷ trọng lại giảm là do doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp và các TCKT ngoài nhà nước tăng mạnh. Lượng tăng của doanh số cho vay doanh nghiệp và các TCKT ngoài nhà nước làm cho tỷ trọng cho vay doanh nghiệp nhà nước giảm trong tổng doanh số cho vay.

Đối với các cá nhân và các thành phần kinh tế khác, ngân hàng cũng tạo điều kiện cho các cá nhân và các tổ chức kinh tế khác có thể vay vốn để phục vụ nhu cầu riêng như tiêu dùng, xây dựng nhà cửa… Năm 2013 khoản vay đối với cá nhân và các thành phần kinh tế khác chiếm 8,08% doanh số cho vay, đạt 53306 triệu đồng. Năm 2014 tăng lên 15217 triệu đồng đạt 68523 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 8,87% doanh số cho vay. Năm 2015 doanh số cho vay đối với cá nhân và các thành phần kinh tế khác đạt 79912 triệu đồng chiếm 9,01% tăng 11389 triệu đồng so với năm 2014.

Doanh số cho vay nội tệ có xu hướng tăng đều, doanh số cho vay nội tệ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng doanh số cho vay, năm 2014 doanh số cho vay nội tệ đạt 764331 triệu đồng tăng 168156 triệu đồng so với năm trước, năm 2015 lại tăng lên 109814 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 98,67% tổng doanh số cho vay. Doanh số cho vay ngoại tệ tăng trưởng không ổn định, vào cuối năm 2014 đạt 8189 triệu đồng, giảm 1328 triệu đồng so với năm trước, năm 2015 tăng lên 3594 triệu đồng và đạt 11783 triệu đồng.

Chủ chương của ngân hàng là đẩy mạnh và cho vay nội tệ. Tuy nhiên vẫn còn số dư vay ngoại tệ là do những năm gần đây ngân hàng hướng sang các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Số dư vay ngoại tệ chủ yếu đến từ việc thanh toán L/C của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và lượng cho vay ngoại tệ này có xu hướng tăng qua các năm. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

  • Cơ cấu doang số thu hồi nợ

Theo bảng số liệu, doanh số thu nợ theo kỳ hạn ngắn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh số thu nợ. Trong 3 năm 2013-2014, doanh số thu nợ ngắn hạn có xu hướng tăng dần. Năm 2014, doanh số thu nợ ngắn hạn đạt 353239 triệu đồng, tăng 32789 triệu đồng so với năm 2013 là 320450 triệu đồng và chiếm 71% doanh số thu nợ. Năm 2015, doanh số thu nợ ngắn hạn tăng 108997 triệu đồng đạt 462236 triệu đồng chiếm 78,2% doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ trung hạn cũng có cùng xu hướng tăng lên qua các năm với doanh số thu nợ ngắn hạn, biểu hiện năm 2014 doanh số thu nợ trung hạn tăng 13009 triệu đồng so với năm trước và đạt 88188 triệu đồng chiếm 18,1% doanh số thu hồi nợ. Năm 2015 doanh số lại tăng mạnh lên 1658 triệu đồng so với đầu năm đạt 89846 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 15,2% doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ dài hạn lại có chuyển biến giảm. Năm 2014, doanh số thu nợ dài hạn đạt 45799 triệu đồng giảm xuống 9907 triệu đồng so với năm 2013 và chiếm tỷ trọng 9,4% tỷ trọng doanh số thu nợ. Đến năm 2015, doanh số thu nợ lại tiếp tục giảm xuống 6786 triệu đồng đạt 39013 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 6,6% doanh số thu nợ.

  • Cơ cấu doanh số thu hồi nợ theo đối tượng

Doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ngoài Nhà nước là đối tượng mà ngân hàng tập trung cho vay nhiều nhất. Doanh số thu hồi nợ của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ngoài nhà nước cũng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số thu nợ. Năm 2013 doanh số thu nợ của nhóm doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 324058 triệu đồng chiếm 71,8% doanh số thu nợ; năm 2014, khoản thu nợ này tăng lên 35028 triệu đồng đạt 359086 triệu đồng chiếm 73,7% doanh số thu nợ. Năm 2015, tiếp tục tăng lên 84826 triệu đồng đạt 443912 triệu đồng tương đương 75,1% doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ của doanh nghiệp Nhà nước năm 2014 giảm 9007 triệu đồng so với năm 2013, đạt 79905 triệu đồng chiếm 16,4% doanh số thu nợ. Năm 2015, doanh số thu nợ của doanh nghiệp Nhà nước tăng 13488 triệu đồng và đạt 93393 triệu đồng, chiếm 15,8% doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ của cá nhân và các thành phần kinh tế khác chiếm tỷ trọng ít nhất trong 3 đối tượng nhưng cũng tăng qua các năm. Năm 2013 khoản thu nợ của cá nhân và các thành phần kinh tế khác là 38365 triệu đồng, chiếm 8,5% doanh số thu nợ. Năm 2014 khoản thu tăng lên 9871 triệu đồng, đạt 48236 triệu đồng chiếm 9,9% tổng doanh số. Năm 2015 tiếp tục tăng lên 5554 triệu đồng đạt 53790 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 9,1% trong tổng doanh số thu nợ.

  • Cơ cấu doanh số thu nợ theo loại tiền

Cũng như cơ cấu doanh số cho vay theo loại tiền, doanh số thu nợ nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng doanh số thu nợ (chiếm khoảng trên 97% tổng doanh số thu nợ) và có xu hướng tăng qua các năm, năm 2014 doanh số thu nợ nội tệ đạt 479919 triệu đồng tăng trưởng mạnh lên 39054 triệu đồng so với năm 2013, năm 2015 doanh số thu nợ nội tệ đạt 583411 triệu đồng tăng 103492 triệu đồng . Doanh số thu nợ ngoại tệ tăng trưởng không ổn định, năm 2014 đạt 7308 triệu đồng giảm 3162 triệu đồng nhưng sang cuối năm 2015 doanh số thu nợ lại tăng lên 376 triệu đồng và đạt 7684 triệu đồng.

2.2.2.2. Tổng dư nợ ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

  • Cơ cấu tổng dư nợ theo kỳ hạn và loại tiền

Như đã phân tích ở bảng 2 ở trên, tổng dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tổng dư nợ theo kỳ hạn. Trong các năm 2013-2015, tổng dư nợ theo kỳ hạn ngắn tăng trưởng đều nhưng tổng dư nợ trung và dài hạn lại tăng không ổn định qua các năm. Về cơ cấu tổng dư nợ theo loại tiền, ngân hàng có dư nợ chủ yếu theo đồng nội tệ, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ theo loại tiền và tỷ trọng giao động chiếm khoảng 98% tổng dư nợ.

  • Cơ cấu tổng dư nợ theo đối tượng

Qua biểu đồ trên ta thấy, dư nợ của doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước, cá nhà và các TPKT khác đều tăng lên trong 3 năm, nhưng dư nợ của doanh nghiệp Nhà nước lại không ổn định. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, dư nợ cho vay năm 2013 đạt 110364 biểu đồ trên ta thấy, dư nợ của doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước, cá nhà và các TPKT khác đều tăng lên trong 3 năm, nhưng dư nợ của doanh nghiệp Nhà nước lại không ổn định. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, dư nợ cho vay năm 2013 đạt 110364 triệu đồng chiếm 21,2% tổng dư nợ. Năm 2014 giảm xuống 3127 triệu đồng, đạt 107237 triệu đồng tương đương với 16.7% tổng dư nợ. Năm 2015 dư nợ cho vay của doanh nghiệp Nhà nước đạt 109467 triệu đồng chiếm 14.2% tổng dư nợ. Tuy dư nợ cho vay trong năm này tăng nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm cho thấy ngân hàng đang tập trung đầu tư chủ yếu cho các đối tượng khác.

Dư nợ cho vay của doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước có sự tăng trưởng mạnh, năm 2014 đạt 470047 triệu đồng tăng lên so với năm 2013 121254 triệu đồng và chiếm 73.2%. Đến năm 2015, dư nợ cho vay tăng lên 119689 triệu đồng và đạt 589736 triệu đồng chiếm 76.5%. Dư nợ cho vay của cá nhân và các TPKT khác năm 2014 đạt 64858 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 10.1% tăng 3428 triệu đồng so với năm 2013. Năm 2015 đạt 71694 triệu đồng tăng lên 6836 triệu đồng so với năm trước chiếm tỷ trọng 9.3% tổng dư nợ.

2.2.2.3. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động tín dụng ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

  • Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn trong các chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý của ngân hàng, nó phản ánh ngân hàng sử dụng được bao nhiêu vốn trên tổng số vốn huy động được.

Qua bảng số liệu, ta thấy hiệu suất sử dụng vốn của PGD Thủy Nguyên dao động trong khoảng từ 0,49 đến 0,56 nhỏ hơn 1 cho thấy chi nhánh hoạt động sử dụng vốn vẫn còn thấp, cụ thể hiệu suất sử dụng vốn của năm 2013 là 56,9%, năm 2014 là 49,78% và năm 2015 là 55,87%. Kết quả này thể hiện tình hình sử dụng vốn của ngân hàng vẫn chưa hiệu quả, tổng vốn huy động được của chi nhánh cao trong khi nhu cầu sử dụng vốn thấp phát sinh hiện tượng thừa vốn, ứ đọng vốn. Do tình hình kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp hàng loạt phá sản làm ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của ngân hàng.

  • Chỉ tiêu quay vòng vốn tín dụng

Để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng, ngân hàng sử dụng chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng để thể hiện tốc độ luân chuyển các khoản vay mà ngân hàng cấp cho nền kinh tế. Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng thu được bao nhiêu nợ của khách hàng để cho vay mới. Chỉ tiêu này còn được dùng để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng, vòng quay tín dụng càng cao cho thấy nguồn vốn ngân hàng vay luân chuyển càng nhanh, vòng quay vốn càng nhanh thì ngân hàng có xu hướng thiên về cho vay ngắn hạn, nếu vòng quay càng chậm thì ngân hàng thiên về cho vay dài hạn.

Vòng quay vốn tín dụng năm 2013 của chi nhánh đạt 0.88 vòng là do doanh số thu nợ đạt 451335 triệu đồng, dư nợ bình quân trong kỳ đạt 507401 triệu đồng. Năm 2014 tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của chi nhánh giảm ở mức 0.77 vòng. Tốc độ luân chuyển giảm là do doanh số thu nợ chỉ tăng lên 35892 triệu đồng trong khi dư nợ bình quân tăng lên 120409 triệu đồng, phần chênh lệch tăng lên khá lớn nên vòng quay vốn tín dụng giảm đám kể. Năm 2015 tốc động luân chuyển vốn tăng nhẹ ở mức 0.78 vòng. Như vậy vòng quay tín dụng của ngân hàng vẫn còn biến động không ổn định và thấp cho thấy hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế. Ngân hàng cần phải chú ý đảm bảo tốc độ luân chuyển vốn tín dụng ổn định và phù hợp với cơ cấu cho vay của ngân hàng, nâng cao hiêu quả sử dụng tín dụng và chất lượng tín dụng.

  • Chỉ tiêu tỷ lệ sinh lời từ hoạt động tín dụng

Quan bảng số liệu ta thấy, tình hình kinh doanh của PGD khá kém khi tổng lợi nhuận của 2 năm 2013 là 2014 đều lỗ trên 1 tỷ đồng do chi phí bỏ ra vượt quá doanh thu nhận được. Năm 2015 tình hình kinh doanh có khả quan hơn, ngân hàng chủ yếu bị lỗ là do kinh doanh từ hoạt động tín dụng bị lỗ. Có thể thấy trong tổng lợi nhuận, lãi từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn năm 2015 chiếm 59,64% tổng lợi nhuận. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Theo số liệu nhận được từ ngân hàng, năm 2013 lợi nhuận từ hoạt động tín dụng lỗ 1457 triệu đồng, tổng lợi nhuận lỗ 1563 triệu đồng. Năm 2014 lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tiếp tục lỗ 1008 triệu đồng, tổng lợi nhuận lỗ 1258 triệu đồng. Trong hai năm hoạt đông tín dụng không đem lại đồng lợi nhuận nào cho ngân hàng. Năm 2015, hoạt động kinh doanh của ngân hàng có chuyển biến tốt hơn. Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đạt 1802 triệu đồng, tổng lợi nhuận đạt 3021 triệu đồng làm cho tỷ lệ sinh lời từ hoạt động tín dụng đạt 0,14%. Điều này cho thấy PGD đã có sự cố gắng trong hoạt động tín dụng trong tình hình kinh tế suy thoái.

Như vậy tỷ trọng đóng góp của hoạt tín dụng là cao, bởi vậy nếu hoạt động tín dụng tốt sẽ làm cho kết quả hoạt động kinh doanh tốt và ngược lại nếu hoạt động tín dụng xấu sẽ làm cho kết quả hoạt động kinh doanh xấu.

2.2.2.4. Nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động tín dụng

  • Chỉ tiêu nợ quá hạn

Qua bảng số liệu có thể thấy tỷ lệ nợ quá hạn của PGD Thủy Nguyên dao động trong khoảng 8% đến 9%. Năm 2013, nợ quá hạn của chi nhánh chiếm đến 9,63% tổng dư nợ trong đó nợ cần chú ý chiếm đến 7,16%, nợ dưới tiêu chuẩn chiếm 1,46%, nợ nghi ngờ chiếm 0,67% và nợ có khẳ năng mất vốn chiếm 0,32% trong tổng dư nợ.

Năm 2014 tỷ lệ nợ quá hạn giảm 1,06% so với năm 2013 và đạt 8,56%. Cụ thể là nợ cần chú ý chiếm 6,5% (chênh lệch giảm 0,66% sơ với năm 2013), nợ dưới tiêu chuẩn có chênh lệch giảm 0,22% chiếm 1,24% tổng dự nợ, nợ nghỉ ngờ giảm 0,13% chiếm 0,54% và nợ có khả năng mất vốn giảm 0,05% giảm tỷ trọng xuống còn 0,27%.

Sang năm 2015, tỷ lệ nợ quá hạn giảm 0,02% đạt 8,54%. Cụ thể là nợ cần chú ý chiếm 6,36% (chênh lệch giảm 0,14% sơ với năm 2014), nợ dưới tiêu chuẩn có chênh lệch tăng 0,06% chiếm 1,30% tổng dự nợ, nợ nghi ngờ tăng 0,11% chiếm 0,65% và nợ có khả năng mất vốn giảm 0,05% giảm tỷ trọng xuống còn 0,22%.

Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh khá cao có thể gây ra rủi ro trong hoạt động tín dụng. Công tác quản lý và thu hồi nợ của ngân hàng vẫn chưa tốt, bên cạnh đó còn do ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế làm giảm khả năng thu hồi nợ. Tuy năm 2015 tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng có vẻ khả quan hơn những vẫn còn cao, ngân hàng cần phải có biện pháp khắc phục để làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn.

  • Chỉ tiêu nợ xấu ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Nợ xấu bao gồm dư nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 trong tổng dư nợ quá hạn. Theo bảng số liệu trên, tỷ lệ nợ xấu của PGD Thủy Nguyên giảm qua các năm. Năm 2013 nợ xấu của PGD đạt 12840 triệu đồng chiếm 2,45% tổng dư nợ. Năm 2014, tuy nợ xấu tăng lên 429 triệu đồng đạt 13269 triệu đồng nhưng tổng dư nợ cũng đồng thời tăng lên 642142 triệu đồng nên làm cho tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 0,4% và chiếm 2,05%. Năm 2015 tỷ lệ nợ có tăng nhẹ ở mức 2,17% là do nợ xấu năm 2015 tăng lên ở mức 16828 triệu đồng.

Tình hình nợ xấu là do ảnh hưởng của tình hình kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khó khăn không đủ khả năng để trả nợ đúng hạn. Bên cạnh đó, công tác thẩm định tài sản đảm bảo của khách hàng còn thấp, tài sản đảm bảo không thể phát mại để bù đắp các khoản nợ, tùy ngân hàng đã tăng cường giải quyết nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đang có dấu hiệu giảm dần nhưng tỷ lệ này vẫn còn cao, tiềm ẩn khả năng mất vốn. PGD Thủy Nguyên cần có giải pháp để duy trì nợ xấu ở mức thấp nhất như kiểm tra lại các khoản nợ quá hạn, tìm hiểu nguyên nhân để có hướng giải quyết phù hợp.

  • Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng đã thực hiện trích lập các khoản dự phòng rủi ro cụ thể cho từng khoản nợ và khoản dự phòng rủi ro chung theo đúng quy định do NHNN ban hành. Qua bảng số liệu ta thấy khoản trích lập dự phòng rủi ro tăng lên theo từng năm, cụ thể:

Trích lập dư phòng cụ thể của ngân hàng năm 2013 là 6840.8 triệu đồng, năm 2014 tăng lên 168,75 triệu đồng đạt 7009,55 triệu đồng. Năm 2015 lại tăng lên 1729.55 triệu đồng và đạt 8739.4 triệu đồng. Khoản trích lập dự dự phòng chung của ngân hàng năm 2013 là 3904,4 triệu đồng, năm 2014 là 4816,05 triệu đồng và năm 2015 là 5781,72 triệu đồng.

Từ bảng trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng ở trên, ta có thể tính được tỷ trọng của khản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong tổng dư nợ như sau:

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của PGD Thủy Nguyên cũng tăng dần qua các năm. Năm 2013 tỷ lệ trích lập dư phòng rủi ro tín dụng của chi nhánh là 2,06%. Sang năm 2014 tỷ lệ trích lập dự phòng giảm 0,22% và đạt 1.84%. Năm 2015 tỷ lệ trích lập dự phòng tăng lên 0,04% nâng tỷ trọng dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ lên 1.88%. Điều này cho thấy: Ngân hàng càng ngày càng gặp nhiều rủi ro về tín dụng làm cho chất lượng tín dụng bị suy giảm. Vì vậy, ngân hàng cần phải có giải pháp để giảm thiểu rủi ro tín dụng.

2.2.3 Các chỉ tiêu định tính

Trong 3 năm qua, PGD Thủy Nguyên đã có những cố gắng trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Điều này được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

Quy trình tín dụng

Cán bộ tín dụng của chi nhánh đã thực hiện đúng các thủ tục và điều kiện cho vay theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam một cách linh hoạt, đảm bảo được tính pháp lý và an toàn cho ngân hàng. Quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn chặt chẽ hơn giúp cho chi nhánh giảm đc rủi ro tín dụng.

Thời gian xét duyệt ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Đối với các dự án trong quyền phán quyết: Trong thời gian không quá 5 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi PGD Thủy Nguyên nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo đúng yêu cầu và sau đó ngân hàng sẽ quyết định và thông báo cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng.

Đối với các dự án vượt quyền phán quyết:

+ Trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi ngân hàng nhận đc đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng PGD Thủy Nguyên phải làm đầy đủ thủ tục trình lên ngân hàng Sacombank cấp trên.

+ Trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi ngân hàng Sacombank cấp trên nhận đc đầy đủ hồ sơ trình sẽ quyết định và thông báo cho vay hoặc không cho vay.

Thái độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng

Thái độ, đọa đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tốt, nhiệt tình hướng dẫn khách hàng thực hiện các thủ tục, quy định một cách chính xác, nhanh gọn. Thái độ chuyên nghiệp kết hợp với trình độ chuyên môn cao, giúp cho khách hàng thực hiện các thủ tục nhanh chóng, giúp ngân hàng thẩm định các bộ hồ sơ vay vốn một cách cẩn thận, hiệu quả. Nhờ vậy, mà đem lại hình ảnh đẹp, uy tín cho ngân hàng.

Tuy nhiên những chỉ tiêu định tính này chỉ phản ánh được một cách tương đối về chất lượng tín dụng của ngân hàng. Để đánh giá được chính xác hơn cần sử dụng những chỉ tiêu định lượng sau đây.

2.4. Đánh giá về thực trạng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín PGD Thủy Nguyên chi nhánh Hải Phòng.

2.4.1. Những kết quả đạt được. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Với những số liệu đã phân tích ở trên có thể thấy được trong 3 năm qua Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín PGD Thủy Nguyên chi nhánh Hải Phòng đã đạt được những kết quả sau:

  • Hoạt động tín dụng của PGD liên tục được mở rộng qua các năm thể hiện ở dư nợ tín dụng và doanh số cho vay tăng lên trong 3 năm nghiên cứu. Hoạt động cho vay của ngân hàng đã làm thúc đẩy, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh, kiếm được nhiều lợi nhuận, góp phần làm tăng trưởng và phát triển nền kinh tế. Bên cạnh đó, đây cũng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng, phần lớn lợi nhuận mà ngân hàng kiếm được là từ hoạt động tín dụng. Dư nợ tín dụng và doanh số cho vay tăng cho thấy ngân hàng đã và đang mở rộng về quy mô tín dụng.
  • Trong tình hình kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp phá sản hàng loạt gây ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng và làm khó khăn cho các cán bộ tín dụng trong công tác thu hồi nợ. Tuy nhiên nhờ có biện pháp phòng ngừa rủi ro cùng với sự linh hoạt của cán bộ ngân hàng từ bước thẩm định khách hàng vay vốn cho đến giám sát quá trình sử dụng vốn vay, ngân hàng kiểm soát được các khoản nợ để giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng, nhờ vậy doanh số thu nợ có xu hướng tăng qua các năm. Ngân hàng đang từng bước mở rộng thị phần cho vay của mình đối với các chi nhánh ngân hàng khu vực.
  • Thái độ làm việc tin cậy và công tác chăm sóc khách hàng chu đáo của các cán bộ nhân viên tín dụng đã lấy được sư tin tưởng của khách hàng, giữ vững được các khách hàng truyền thống và mở rộng tìm kiếm được nhiều khách hàng mới khác.
  • Cán bộ ngân hàng còn thường xuyên trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản vay theo thông tư của Ngân hàng Nhà nước làm hạn chế được rủi ro tín dụng.

2.4.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Tuy ngân hàng đã đạt được khá nhiều thành tích trong những năm qua nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế sau.

Do ngân hàng chủ yếu tập trung vào các khách hàng truyền thống, tuy ngân hàng tập trung bỏ vốn vào các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ngoài nhà nước nhưng số lượng vẫn còn hạn chế, ngân hàng chưa đa dạng được đối tượng khách hàng. Trong thời buổi hội nhập kinh tế thế giới, xuất hiện rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh. Đây cũng là những doanh nghiệp đang cần vốn để mở rộng hoạt động trong nước. Vậy nên, ngân hàng cần chủ động tiếp thị các, mở rộng hệ khách hàng để đẩy mạnh tín dụng và mở rộng quy mô thị phần của mình.

Tuy cán bộ tín dụng luôn thực hiện đúng quy trình tín dụng theo đúng quy định, tuy nhiên công tác kiểm tra sau vay còn nhiều hạn chế. Cán bộ tín dụng còn chủ quan, không giám sát kỹ lưỡng và thường xuyên quá trình sử dụng vốn của khách hàng nên không phát hiện được rủi ro kịp thời để sớm có phương án giải quyết.

  • Quy mô tín dụng.

Hoạt động huy động vốn của PGD Thủy Nguyên tăng trưởng nhất tốt, luôn đạt mức kế hoạch đặt ra. Hoạt động tín dụng cũng có xu hướng tăng, tuy nhiên mức tăng trưởng của hoạt động tín dụng vẫn còn quá thấp so với mức tăng của hoạt động huy động vốn. Điều này cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hết vốn huy động được, có hiện tượng lãng phí vốn thừa vốn.

Đây là do ngân hàng chưa mở rộng được quy mô tín dụng, chưa đa dạng được các sản phẩm dịch vụ cho vay để thu hút các nhu cầu vay vốn,. Năng lực cạnh tranh với các ngân hàng khách trong hoạt động tín dụng vẫn còn thấp. Ngoài ra do tình hình kinh tế trong và ngoài nước chưa ổn định làm cho khả năng kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn cũng hạn chế nhu cầu vay thêm vốn để hoạt động kinh doanh.

  • Hiệu quả tín dụng

Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng vẫn còn thấp. Tuy trong năm 2015 hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng đã được cải thiện nhưng tỷ lệ sử dụng vốn chưa cao. Ngân hàng phải đẩy mạnh hơn nữa cho hoạt động tín dụng, tích cực tìm kiếm tạo cơ hội cho khách hàng co uy tín tiếp cận vốn của ngân hàng để thu lại lợi nhuận, tránh để thừa vốn dẫn đến lãng phí. Mặc dù công tác thu nợ của ngân hàng khá tốt nhưng vẫn cần chú ý nâng cao khả năng thu nợ để cải thiện tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, giảm chi phí cho ngân hàng.

  • Chất lượng tín dụng.

Hoạt động tín dụng vẫn còn nhiều rủ ro, nợ quá hạn và nợ xấu của ngân hàng vẫn ở mức khá cao, nợ quá hạn chiếm trên 8% tổng dư nợ, nợ xấu chiếm trên 8% tổng dư nợ, chưa đạt được mức kế hoạch ngân hàng để ra kiểm soát nợ xấu dưới 3%. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của tình hình kinh tế suy thoái, của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khó khăn không đủ khả năng trả nợ đúng hạn. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn thấp. Nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng là do công tác kiểm tra kiểm soát quá trình khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng vẫn chưa được sát sao, không kịp thời phát hiện được các sai phạm để sử lý; công tác thẩm định tại sản đảm bảo của ngân hàng còn thấp, tài sản đảm bảo không thể phát mại để bù đắp các khoản nợ và ngân hàng đã không giám sát chặt chẽ tính tuân thủ của các bên vay trong suốt thời gian sử dụng vốn.

TÓM LẠI: Bên cạnh những thành tựu đạt được, PGD Thủy Nguyên còn những vấn đề cần phải có biện pháp giải quyết sau:

Một là: Hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng thấp, giao động trong khoảng 50% – 55% cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hiểu quả nguồn vốn tín dụng, còn hiện tượng ứ đọng vốn. Ngân hàng nên sử dụng vốn hiệu quả, mở rộng quy mô tín dụng.

Hai là: Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của PGD ở mức khá cao, đặc biệt là nợ xấu ở mức trên 8%. Tuy năm 2015 tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của ngân hàng có vẻ khả quan hơn nhưng vẫn cao, ngân hàng cần phải có biện pháp khăc phục để làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn và duy trì nợ xấu ở mức thấp nhất.

Ba là: Tỷ lệ trích lập dự phòng của ngân hàng ngày càng cao đồng nghĩa việc ngân hàng đang gặp phải rủi ro về tín dụng hơn và làm cho chất lượng tín dụng bị suy giảm. Vì vậy ngân hàng cần phải có giải pháp để giảm thiểu rủi ro tín dụng. ( Khóa luận: Thực trạng phát triển chất lượng tín dụng tại ngân hàng )

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537