Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Tài nguyên du lịch ở Hải Dương.

2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, nằm trong tọa độ địa lý 20o36‟ Bắc đến 2o33‟ Bắc, 106o3‟Đông đến 106o36‟ Đông; phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, đông bắc giáp Quảng Ninh; phía đông giáp thành phố Hải Phòng; phía nam giáp tỉnh Thái Bình; phía tây giáp Hưng Yên. Hải Dương nằm ở trung tâm vùng du lịch Bắc Bộ, trong tam giác động lực tăng trưởng du lịch Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh. Giao thông dường bộ, đường sắt, dường sông đều di qua địa phận Hải Dương, từ đó có thể thấy rõ vị trí trung chuyển của Hải Dương đối với trung tâm du lịch Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh.

Thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh nằm trên trục dường quốc lộ số 5, cách Hải Phòng 45km về phía đông và cách Hà Nội 57km về phía tây. Phía Bắc của tỉnh có 20km quốc lộ 18 chạy qua nối sân bay quốc tế Nội Bài ra biển qua cảng Cái Lân. Đường sắt Hà Nội- Hải Phòng qua Hải Dương là cầu nối giữa Thủ đô và các tỉnh phía Bắc ra cảng biển.Hải Dương cũng nằm trong hệ thống giao thông đường thủy chính của vùng châu thổ đặc biệt là hệ thống sông Thái Bình có điểm gặp sông Đuống ở Phả Lại.

Với những thuận lợi mà vị trí địa lý mang lại đã tạo điều kiện cho Hải Dương tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc Bộ và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động phát triển du lịch của Trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận nói riêng, của vùng du lịch Bắc Bộ và cả nước nói chung.

2.1.1.2. Địa hình Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Địa hình Hải Dương tương đối bằng phẳng và có đặc điểm hơi nghiêng và thấp dần từ Tây xuống Đông Nam với diện tích là 1662 km2 được chia làm hai vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng.

Vùng đồi núi nằm ở phía Bắc của tỉnh thuộc dãy núi Đông Triều, chiếm 11% diện tích tự nhiên, thuộc 13 xã của huyện Chí Linh và 18 xã của huyện Kinh Môn. Vùng đồi núi ở đây thuộc kiểu địa hình Kasrt (chủ yếu là đá vôi) vì vậy thuận lợi cho hệ thống rừng phát triển. Bên cạnh đó, kiểu địa hình Kasrt là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hòa tan. Do quá trình biến đổi địa chất và ăn mòn thì thiên nhiên đã tạo ra được một vài hang động rất đẹp như động Kính Chủ ở Kinh Môn, đây là điểm tham quan kỳ thú hấp dẫn nhiều du khách.

Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất đai màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng lương thực. Và vùng đồng bằng của tỉnh mang đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ với nền văn minh lúa nước lâu đời. Chính điều này đã tạo nên những giá trị văn hóa trong đời sống của nhân dân trong tỉnh.

2.1.1.3. Khí hậu

Cũng như các tỉnh khác thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều và có 4 mùa rõ rệt, mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông. Lượng mưa trung bình hàng năm 1500-1700mm,mùa mưa kéo dài từ táng 4 đến tháng 10 hàng năm; nhiệt độ trung bình hàng năm 23oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là khoảng 200C, nhiệt độ trung bình mùa hè từ 23-240C, tháng nóng nhất của mùa hè là tháng 7 lên đến 28-290C.

Nhìn chung, khí hậu của Hải Dương thuận lợi cho môi trường sống của con người, sự phát triển của hệ sinh thái động thực vật và thích hợp với các hoạt động du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

2.1.1.4. Nguồn nước

Hải Dương có hệ thống sông ngòi khá dày. Toàn tỉnh có 14 tuyến sông chảy qua, trong đó có các hệ thống sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Mạo Khê…Ngoài ra còn các hệ thống sông khác và các hệ thống sông địa địa phương, sông thủy nông, các ao hồ trong toàn tỉnh. Vì vậy nguồn nước mặt của Hải Dương cũng khá lớn. Nguồn nước ở hệ thống các sông địa phương, sông thủy nông được lấy từ sông Hồng sử dụng cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của tỉnh và thải ra sông Thái Bình nên được quản lý khá nghiêm ngặt để đảm bảo nguồn nước. Hệ thống ao hồ trong tỉnh cũng khá nhiều, là nơi dự trữ nước lớn, điều hòa khí hậu, tạo ra cảnh quan môi trường trong lành và trở thành những khu vui chơi giai trí, công viên, khu nghỉ mát hấp dẫn nhiều khách du lịch như hồ Côn Sơn, hồ Mật Sơn, hồ Bạch Đằng…

Ngoài ra, Hải Dương còn có nguồn nước ngầm khá dồi dào, đảm bảo cho nguồn nước ở hệ thống các giếng ở các huyện, xã; đặc biệt ở nhiều huyện, nhiều xã còn có hệ thống giếng khoan với nguồn nước khá sạch phục vụ cho người dân địa phương như ở Thành phố Hải Dương, huyện Chí Linh, ở Văn An- Chí Linh đã có một trạm nước khoan sạch ở độ sâu hơn 30m, đảm bảo đủ tiêu chuẩn nước sạch không phải qua sử lý, rồi các hệ thống trạm cấp nước khác ở Thành phố Hải Dương, huyện Nam Sách, huyện Ninh Giang…Và Hải Dương còn có một mỏ nước nóng đã từng là nguồn để tạo nên nước khoáng và từng được sử dụng để chữa bệnh. Mỏ nước khoáng này chưa được khai thác và quy hoạch sử dụng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.1.5. Di tích tự nhiên và tài nguyên du lịch sinh thái

Từ các điều kiện về địa hình, khí hậu, nguồn nước đạo đã tạo ra cho Hải Dương một nguồn tài nguyên du lịch sinh thái khá phong phú.

Do chịu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và điều kiện đồi núi đá vôi đã cho Hải Dương một nguồn tài nguyên rừng với các thảm thực vật và hệ sinh thái đa dạng. toàn tỉnh có 9.140ha rừng, trong đó rừng tự nhiên có 2.304ha, rừng trồng là 6.756ha. Rừng chủ yếu là kiểu rừng Nhiệt đới với hệ thực vật nhiệt đới như kim, sến, táu, dẻ, keo…tập trung ở dãy núi Phượng Hoàng, Côn Sơn- huyện Chí Linh, núi An Phụ- huyện Kinh Môn. Thảm thực vật bên dưới có sim, mú… và ẩn lấp trong lòng nó là hệ thống các suối uốn lượn quanh co qua các dãy núi, rừng. Tiếng lá rừng vi vu, tiếng suối chảy róc rách tiếng chim hót líu lo…là một không gian cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và hấp dẫn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Với địa hình Kasrt ngoài hệ thống rừng thiên nhiên còn tạo ra cho Hải Dương một hệ thông hang động sau những cánh rừng như khu vực động Kính Chủ (Kinh Môn). Khám phá những hang động ở đây là tìm đến những kỳ thú của tạo hóa với những cảnh quan, hình tượng của thế giới tự nhiên qua những vách đá, những thạch nhũ, hình tượng các chú voi, sư tử, hình tượng cây rừng…Hệ thống hang động ở đây cũng là một trong những hệ thống hang động của Việt Nam và được xếp vào hàng Nam thiên sau các động như động Hương Tích, động Phong Nha, Tam Cốc- Bích Động…Đây cũng là món quà thiên nhiên ban tặng và là một tiềm năng để Hải Dương phát triển du lịch, đặc biệt du lịch sinh thái vào trong các hang động.

Để phát triển du lịch sinh thái Hải Dương phải kể đến một tiềm năng lớn đó là hệ thống hồ suối khá phong phú, nhiều hồ có diện tích lớn, có sự đa dạng sinh học: hồ Bạch Đằng, hồ Côn Sơn, hồ Bến Tắm, hồ Mật Sơn…Đa số các hồ đều nằm dưới các thung lũng xen kẽ giữa các dãy núi rừng nối tiếp nhau. Sự có mạt của các hồ nước, suối đá đã điểm thêm sự hài hòa cho vẻ đẹp thiên nhiên nơi núi rừng, tạo cho cảnh quan thêm hấp dẫn.

Mang đặc trưng của nền văn hóa lúa nước, Hải Dương có những làng quê trù phú, những cánh đồng lúa ngô xanh ngút ngàn được bao bọc bởi các dòng sông bồi đắp phù sa. Đây cũng là một tiềm năng để Hải Dương khai thác phát triển du lịch sinh thái, du lịch làng quê.

Điều đặc biệt hơn là sự kết hợp của tự nhiên rất hài hòa giữa rừng núi, hang động, sông suối, ao hồ và điểm thêm vào đó là những mái đình, đền, chùa cổ kính tạo ra một cảnh sơn thủy hữu tình, càng tăng thêm giá trị của các điểm du lịch của Hải Dương. Tất cả là tiểm năng, là một lợi thế lớn của Hải Dương trong khai thác và phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái.

Cảnh quan và di tích tự nhiên đang được khai thác phục vụ du lịch ở Hải Dương hiện nay gồm 20 điểm (Phụ lục 01).

Ngoài ra, Hải Dương còn có nguồn tài nguyên nước với 14 tuyến sông, trong đó có 6 tuyến sông đủ điều kiện để khai thác phát triển du lịch (Phụ lục 2).

Một số tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu, có giá trị hấp dẫn khách du lịch cao:

Khu danh thắng Côn Sơn: thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh là khu vực có mật độ di tích dày đặc với chùa Côn Sơn, đền thờ Trần Nguyên Đán, đền thờ Nguyễn Trãi, Giếng Ngọc, Bàn Cờ Tiên, Thạch bàn, Ngũ nhạc Linh từ…Quần thể di tích lịch sử văn hóa có giá trị được đặt trong cảnh quan địa hình tự nhiên thơ mộng với những cánh rừng thông mã vĩ, núi non, hồ nước lượn quanh tạo nên cho Côn Sơn một khu du lịch độc đáo, hấp dẫn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Khu miệt vườn du lịch sinh thái sông Hương- Thanh Hà_ một khu miệt vườn nổi tiếng với cây Vải tổ. Đến đây du khách sẽ chìm ngập trong những khu vườn vải trĩu quả, được thưởng thức những trái vải thơm ngon. Những trái vải ở đây được coi là đặc sản của vùng đất Hải Dương.

Sông Hương- Thanh Hà là một nhánh sông bắt nguồn từ sông Gùa có chiều dài khoảng 21km, chảy qua 10 xã và thị trấn của Thanh Hà. Sông Hương có lượng phù sa màu mỡ, là một vùng đất có giàu tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên thái, với những vườn vải xanh tươi bát ngát, nặng trĩu những chùm quả cùng với đủ loại cây ăn trái như: nhãn, chuối, đu đủ, ổi, na…Đến đây du khách có thể tham gia các sản phẩm du lịch thể thhao sông nước (bơi thuyền, câu cá…), du lịch sinh thái, du khảo đồng quê, tham quan nghiên cứu khoa học, thưởng thức các loại hoa quả, các món ăn ẩm thực dân dã…Đây là đặc thù của du lịch sinh thái Thanh Hà với hạt nhân là dòng sông Hương và các vườn cây ăn trái dọc hai bên bờ sông Hương.

Loại hình du lịch miệt vườn bằng thuyền trên sông Hương hay bằng đường bộ phụ thuộc rất lớn vào mùa hoa trái và điều kiện thời tiết trong năm. Mặt khác, loại hình du lịch này còn khá mới mẻ nên có khả năng hấp dẫn khách du lịch.

Làng Cò Chi Lăng Nam (Thanh Miện- Hải Dương)_ điểm du lịch sinh thái “độc nhất vô nhị” không chỉ đối với Hải Dương mà của cả miền Bắc nói chung. Sự đan xen hài hòa giữa cây cối, chim muông, hồ nước cùng khí hậu nhiệt đới với nhưng cây cổ thụ và nhiều di tích bia đá cổ, đền, chùa, miếu mạo, làng nghề truyền thống…Đảo Cò Chi Lăng Nam có đầy đủ yếu tố có thể phát triển thành một vùng du lịch môi trường sinh thái. Công tác bảo vệ môi trường ở đây cũng khá tốt, mọi người dân trong vùng đều có ý thức bảo vệ đàn cò. Đảo Cò đã và đang được quy hoạch chi tiết thành khu du lịch sinh thái do Ủy ban nhân dân huyện Thanh Miện làm chủ đầu tư.

Khu sinh thái rừng, hồ Bến Tắm- Chí Linh: nằm trên địa phận của 3 xã Bến Tắm, Hoàng Hoa Thám và Bắc An của huyện Chí Linh, bao gồm những đồi, núi, rừng, hồ tự nhiên. Hồ Bến Tắm rộng, có diện tích nước 7ha, quanh hồ là đồi núi có mặt bằng rộng và những cây dẻ, cây xanh tạo nên một vùng cảnh quan hấp dẫn, là nguồn tài nguyên quý giá để khai thác, xây dựng loại hình du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ duỡng.

Núi Phượng Hoàng, huyện Chí Linh: thuộc xã Văn An, huyện Chí Linh, có hệ thái sinh vùng núi đa dạng, những rừng thông, núi non trùng điệp với 72 ngọn núi, Phượng Hoàng còn là nơi an nghỉ của nhà giáo Chu Văn An. Trên núi Phượng Hoàng có đền thờ Chu Văn An, chùa Huyền Thiên, cung Tử Lạc, điện Lưu Quang…Khu di tích danh thắng Phượng Hoàng phù hợp để xây dựng thành nơi tham quan, nghiên cứu và du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần.

Động Kính Chủ, huyện Kinh Môn: nằm trong dãy đá núi đá vôi Dương Nham thuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, là một hệ thống hang động kì vĩ: động Kính Chủ, động Thăng Thiên và động Voi…Hệ thống hang động đã được Nhà nước xếp hạng năm 1962. Hàng năm vào ngày 12 tháng Giêng, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống thu hút khách thập phương đến tham quan, ngắm cảnh, nghiên cứu khoa học. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Núi rừng An Phụ, huyện Kinh Môn: thuộc xã An Sinh, huyện Kinh Môn. Núi An Phụ cao 246m, có rừng cây với những thảm thực vật đa dạng. Trên đỉnh núi có diện tích đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu (tục gọi là Đền Cao), phía dưới là tượng đài Trần Hưng Đạo, một công trình văn hóa lớn vào cuối thế kỷ 20 của đất nước.

  • Khu đa dạng sinh học Áng Bác- Minh Tân, huyện Kinh Môn:

Được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi Kinh Môn, tạo thành một thung lũng kéo dài (gọi là các Thung áng), rộng 5ha, khu tự nhiên Áng Bác (thị trấn Minh Tân- Kinh Môn) vẫn còn nhiều giá trị về mặt sinh học với sự đa dạng của một số giống loài thực động vật quý hiếm như: trăn, rắn, khỉ vàng, dê núi, diều hâu. Khu đa dạng sinh học Áng Bác là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất quý giá cho du thái nhưng hiện tại khu vực này đang giao cho Công ty Xi măng Hoàng Thạch quản lý và khai thác.

Các vùng quê trù phú, thả hồn về với thiên nhiên của nền Văn hóa lúa nước. Dường như mật độ của các dòng sông, đình, đền, chùa có bố cục đặc trên toàn tỉnh. Những đền, chùa này đều gắn liền với những làng quê với cây đa, bến nước hoặc những bến sông, luôn luôn tạo nên những cảnh đẹp dễ gây ấn tượng với du khách. Phải chăng trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam hình ảnh về cây đa, bến nước, sân đình đã gần như trở thành một biểu tượng Văn hóa Việt.

Như vậy các điểm du lịch sinh thái của Du lịch Hải Dương rất phong phú phú nhờ có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, làng quê trù phú mang đậm nét đặt trưng của văn hóa Bắc Bộ, rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch đồng quê, và tham quan nghiên cứu khoa học.

2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

2.1.2.1. Tài nguyên vật thể

Các di tích lịch sử văn hóa: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Hải Dương là mảnh đất địa linh nhân kiệt, gắn liền với các bậc danh nhân với các bậc danh nhân nổi tiếng: Khúc Thừa Dụ, Trần hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh… Cho đến nay, Hải Dương vẫn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử- văn hóa nổi tiếng gắn liền với các danh nhân như: Côn Sơn, Kiếp Bạc, Văn Miếu Mao Điền, Đền Cao…

Nằm đan xen giữa các danh thắng tự nhiên là hệ thống tài nguyên nhân văn với gần 3000 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 142 di tích được xếp hạng quốc gia, 82 di tích đã và đang đề nghị xếp hạng cấp tỉnh. Tuy nhiên, ngành du lịch chỉ lựa chọn những di tích có giá trị văn hóa cao, còn hiện hữu một phần nét kiến trúc cổ kính, nằm trên những vị trí cảnh quan đẹp khai thác phát triển du lịch. Theo báo cáo đánh giá kết quả điều tra tài nguyên của Sở Thương Mại và Du Lịch Hải Dương (hiện nay là sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương) thực hiện năm 2007, Hải Dương có 167 di tích lịch sử văn hóa được xếp vào tài nguyên du lịch nhân văn (Phụ lục 03).

Trong đó, có nhiều di tích đặc trưng về vă hóa tâm linh, kiến trúc nghệ thuật, giáo dục truyền thống tiêu biểu là:

  • Các di tích gắn liền với các danh nhân tiêu biểu của đất nước, có giá trị giáo dục truyền thống cao: Chí Linh bát cổ; Côn Sơn- Kiếp Bạc; Đền Bia; Đền Xưa,Văn miếu Mao Điền…
  • Các di tích có giá trị văn hóa tâm linh tiêu biểu: Đền Sinh, Đền Hóa; Đền Cao; Đền Tranh; Đền Sượt;
  • Các di tích có giá trị kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu: Chùa Giám; chùa Đồng Ngọ với hệ thống tượng và tòa cửu phẩm liên hoa được dựng thế kỷ 16…

Đặc điểm cơ bản của hệ thống di tích Hải Dương được xây dựng chủ yếu bằng chất liệu gỗ do ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, độ ẩm cao, chiến tranh…nên nhiều di tích hủy hoại, mất yếu tố gốc, đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần, mang dấu ấn kiến trúc, mỹ thuật của nhiều thời kỳ, song đậm đặc nhất vẫn là thời kỳ Lê- Nguyễn.

Làng nghề và nghề truyền thống:

Cũng giống như các vùng quê khác của tổ quốc Việt Nam, Hải Dương là một vùng quê trù phú với những cánh đòng lúa, ngô xanh ngút ngàn, thẳng cánh cò bay. Hơn nữa lại mang đặc trưng của nền văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng, Hải Dương có một hệ thống các làng ghề truyền thống khá phong phú.

Hải Dương hiện có 32 làng nghề thuộc 15 nhóm nghề có thể khai thác phát triển du lịch ( Phụ lục 04). Một số nghề thủ công truyền thống nổi tiếng có giá trị hấp dẫn khách du lịch bao gồm: Chạm khắc gỗ Đông Giao, Thêu ren Xuân Nẻo, Gốm Chu Đậu; Giầy dép da Tam Lâm; Vàng bạc Châu Khê; Chạm khắc đá Kính Chủ. Sản xuất ở các làng nghề này rất ổn định và ngày càng phát triển theo hướng bền vững, đời sống người dân được nâng lên rõ rệt, thu nhập thường cao hơn so với thu nhập làm nông nghiệp. Đây là những nghề thủ công truyền thống có thể làm ra những sản phẩm những đồ lưu niệm mang đậm bản sắc dân tộc để bán cho du khách. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Một số làng nghề tiêu biểu:

Làng nghề vàng bạc Châu Khê- Bình Giang: Châu Khê xưa là nơi chế tác vàng bạc thuộc loại nổi tiếng nhất Việt Nam. Sản phẩm sau khi được chế tác với những đường nét trạm trổ tinh vi cùng nhiều loại hình, mẫu mã đẹp, được đem tiêu thụ ra mọi miền đất nước và xuất khẩu ra nước ngoài.Hiện nay với cơ chế thị trường, những thợ giỏi và các kỹ xảo trong nghề đã bị mai một rất nhiều, nghề này chỉ được coi là nghề phụ. Với mô hình hoạt động: hợp tác xã đứng ra nhận làm thuê cho các bạn hàng, sau đó giao cho các gia đình trong thôn, mỗi hộ gia đình gia công một công đoạn sản phẩm. Với lòng yêu nghề và được khuyến khích phát triển của Nhà nước, nhân dân Châu Khê đang dần khôi phục làng nghề của mình.

Nghề chạm khắc đá Kính Chủ: Đá là vật liệu có sẵn trong thiên nhiên, được con người chế tác công cụ từ buổi bình minh cuả lịch sử. Trải qua hàng vạn năm, con người tích lũy được tri thức và kinh nghiệm chế tác, tạo nên những nghệ nhân, những trung tâm chuyên sản xuất những sản phẩm bằng đá, trong đó có những tác phẩm vô giá, những công trình hùng vĩ, nay trở thành di sản văn hóa của nhân loại.

Làng Kính Chủ, xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn có nghề chạm khắc đá từ lâu đời, tác phẩm sớm nhất còn lại đến ngày nay là tấm bút tích Phạm Sư Mệnh, khắc năm thứ 144 triều Trần (1369) tại động Kính Chủ. Trong suốt một nghìn năm theo đuổi nghề nghiệp, thợ đá làng Kính Chủ đã sản xuất biết bao công trình và sản phẩm bằng đá, trong đó có những sản phẩm trở thành di sản văn hóa tiêu biểu của dân tộc, đặc biệt là những bia ký_những trang sử bằng đá vô cùng quý giá còn lại đến ngày nay. Qua hai cuộc chiến tranh, nghề chạm khắc đá ở Kính Chủ đã mai một nay đang được phục hồi, nhưng chưa tương xứng với truyền thống mà các thế hệ trước đã có.

Làng chạm khắc gỗ Đông Giao: làng chạm khắc gỗ Đông Giao thuộc xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng cách thành phố Hải Dương 20km về phía Tây. Nghề chạm khắc gỗ Đông Giao ra đời tuừ thế kỷ 17. Sau một thời gian bị mai một, đến năm 1983, nghề được phục hồi và phát triển đến ngày nay. Các nghệ nhân hiện nay chủ yếu chạm khắc và khảm trai các sản phẩm như cây cảnh, tranh, tượng, con giống, hàng lưu niệm, đồ nội thất gia đình…

Làng nghề gốm Chu Đậu: Làng gốm Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách cách thành phố Hải Dương 16 km về phía Tây Bắc. Nghề sản xuất gốm mỹ nghệ đã xuất hiện ở làng Chu Đậu cách đây hơn 400 năm. Nơi đây đã từng là một trung tâm sản xuất gốm mỹ nghệ xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Nhưng do nhiều nguyên nhân, nghề gốm Chu Đậu đã bị thất truyền từ nhiều thế kỷ. Đến năm 2001, công ty Hapro đã đầu tư xây dựng xí nghiệp gốm tại Chu Đậu và nghề sản xuất gốm đã được khôi phục và phát triển. Gốm Chu Đậu ngày nay được ưa thích bởi chất lượng cao, chủng loại phong phú, hoa văn tinh túy và chất men độc đáo, đa dạng. Sản phẩm gốm Chu Đậu được bán rộng khắp trong cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Đài Loan và một số nước Châu Âu…

Các công trình văn hóa khác: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Bên cạnh các công trình tôn giáo theo đạo Phật, thì Công giáo cũng có một số công trình nổi tiếng như: Nhà thờ Kẻ Sặt; Nhà thờ Hải Dương…

2.1.2.2. Tài nguyên phi vật thể

Lễ hội truyền thống:

Gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa, các đình, đền, chùa, miếu là các lễ hội truyền thống văn hóa dân gian, vì vậy Hải Dương có rất nhiều lễ hội truyền thống, ứng với mỗi di tích lịch sử văn hóa là một lễ hội được tổ chức hàng năm đã góp phần làm nên diện mạo của một điểm đến tìm hiểu về các giá trị văn hóa lịch sử hấp dẫn…Theo đánh giá tài nguyên du lịch của ngành du lịch, Hải Dương có 50 lễ hội tiêu biểu có khả năng nâng cấp thành sản phẩm du lịch (Phụ lục 05).

Lễ hội truyền thống là tài nguyên nhân văn có giá trị du lịch rất lớn; thời gian tổ chức lễ hội thường diễn ra vào mùa Xuân và mùa Thu “xuân thu nhị kỳ”, đây là khoảng thời gian rất thích hợp với khách du lịch, thời tiết mát mẻ, không khí dễ chịu. Các lễ hội tiêu biểu là hội đền Kiếp Bạc, hội chùa Côn Sơn, đền Cao An Phụ, động Kính Chủ, lễ hội chùa Giám, lễ hội đền Bia, lễ hội đền Xưa, lễ hội đền Tranh…với những nội dung và các nghi lễ, trò diễn tiêu biểu như lễ ban ấn, lễ rước bộ, rước thủy, hát văn, đấu vật, thư pháp, đập niêu, rối nước, cầu kiều…

Bên cạnh những lễ hội Việt Nam thì mỗi một di tích là một hệ thống lễ hội mang đặc điểm, đặc trưng riêng biệt của nó. Hải Dương có một hệ thống lớn các di tích lịch sử văn hóa và bên cạnh đó là một hệ thống lớn các lễ hội truyền thống, văn hóa dân gian. Hội làng ở Hải Dương mang những nét tiêu biểu của hội làng người Việt ở đồng bằng sông Hồng là loại lễ hội truyền thống tiêu biểu cho xã hội nông thôn Việt Nam.

Có thể nói, những lễ hội diễn ra là bức tranh phản ánh đời sống của nhân dân trong vùng, ngoài phần kiến trúc, lịch sử của di tích thì chính những nét đặc sắc của lễ hội là hạt nhân thu hút thị trường khách du lịch văn hóa.

Văn nghệ diễn xướng dân gian:

Nền văn hóa của đồng bằng sông Hồng đã tác động rất lớn đến văn nghệ dân gian của Hải Dương. Theo kết quả nghiên cứu, các loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc còn được lưu giữ là hát chèo, hát tuồng Thạch Lỗi- Cẩm Giàng, hát dối Gia Xuyên- Gia Lộc, hát trống quân ở Tào Khê- Bình Giang, xiếc ở Thanh Miện, Múa rối nước là loại hình nghệ thuật được khách quốc tế quan tâm nhiều nhất. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

2.1.2.3. Ẩm thực

Mỗi một vùng quê đều mang những nét đặc trưng riêng biệt. Nét đặc trưng riêng biệt đó khiến cho bất kỳ ai đó khi nhắc đến nó là biết ngay nó ở đâu, của vùng nào. Đó có thể là một món ăn, một món đồ hàng, một loại quả…Và tất cả trở thành đặc sản của vùng quê đó. Khi nhắc đến Hải Dương không ai không nhớ đến các đặc sản đặc trưng của Hải Dương như: bánh đậu xanh, bánh gai, vải thiều…

Người Hải Dương xa nhà nhìn thấy những những đặc sản như nhìn thấy quê hương, lòng rạo rực nhớ quê. Khách muôn phương thì lại nhớ về một vùng đất cư dân thuần hậu, giữa đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt là chiếc bánh đậu xanh, chiếc bánh nhỏ bé, giản dị nhưng đã mang tiếng thơm của tỉnh Đông đến muôn nơi.

Hải Dương nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, lại có những loại cây đặc sản nổi tiếng như vải thiều, có vùng nước lợ…nên ẩm thực của Hải Dương cũng xó những nét độc đáo riêng biệt. Nổi tiếng là: Bánh đậu xanh, vải thiều, mắm rươi, mắm cáy Thanh Hà, rượu Phú Lộc, Rượu nếp cái hoa vàng Kinh Môn, Giò chả Gia Lộc, Bánh đa Kẻ Sặt, Dưa hấu Gia Lộc…

2.1.3. Đánh giá chung về tài nguyên du lịch ở Hải Dương.

Hải Dương nằm trong Trung Tâm du lịch Bắc Bộ ( Hà Nội- Hải Phòng-Quảng Ninh), các tỉnh này đều có những điểm du lịch hấp dẫn, hàng năm thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế, sự giao lưu giữa các địa danh này tạo nên hoạt động du lịch sôi động và đều có sự lưu thông qua lại với Hải Dương. Hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy thuận lơi tạo điều kiện cho Hải Dương dễ dàng liên kết với các tỉnh trong vùng du lịch Bắc Bộ, nối tour, tuyến du lịch, mở rộng khai thác thị trường.

Hải Dương vừa có đồng bằng, vừa có trung du và rừng núi với cảnh quan và hệ sinh thái, đặc biệt là vùng núi phía bắc (Chí Linh, vùng núi An Phụ), nổi tiếng là khu Côn Sơn, núi An Phụ, dãy núi đá vôi Dương Nham và động Kính Chủ cùng quần thể các hang động, khu đa dạng sinh học thuộc các xã Duy Tân, Minh Tân, Tân Dân đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp khi khai thác phát triển du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Về tài nguyên du lịch nhân văn, thế mạnh của Hải Dương là nên văn hóa lúa nước lâu đời gắn với những lễ hội dân gian, nghề truyền thống, nếp sống yên bình, nét văn minh cộng đồng. Đồng thời, Hải Dương còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, có truyền thống hiếu học, và còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử có giá trị của dân tộc. Các di tích lịch sử văn hóa có kiến trúc độc đáo, có sự giao thoa giữa kiến trúc phương Đông và phương Tây là điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch văn hóa- lịch sử.

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, làng nghề truyền thống ở Hải Dương đã tích tụ nhiều kinh nghiệm có giá trị, dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân nhiều thế hệ đã tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ đắc lực cho đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác thành sản phẩm du lịch.

Nguồn tài nguyên du lịch phân bố tương đối đồng đều trên toàn tỉnh tạo thuận lợi cho đầu tư phát triển du lịch, tổ chức các cụm du lịch , các chương trình du lịch.

Với những thuận lợi trên, nếu khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, Du lịch Hải Dương sẽ có đủ điều kiện để phát triển bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế, du lịch Hải Dương còn có nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của ngành:

Tài nguyên du lịch ở Hải Dương nhiều về số lượng, nhưng không có lợi thế so sánh. Trừ khu Côn Sơn- Kiếp Bạc được đánh giá là quần thể di tích danh thắng có giá trị ở tầm quốc gia, các tài nguyên khác có nhiều nét tương đồng với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đòi hỏi trong khai thác , sử dụng cần có những nghiên cứu chuyên sâu để tạo sự khác biệt của sản phẩm .

Các hang động có giá trị nằm trên địa bàn huyện Kinh Môn, xen kẽ với các núi đá và các nhà máy sản xuất xi măng, do vậy việc khai thác đá, khí thải của các nhà máy sản xuất xi măng đã ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường du lịch ở đây.

Một số lễ hội, các làng nghề truyền thống; các nét sinh hoạt văn hóa dân gian…trong thời gian qua ít được đầu tư nên ít nhiều bị mai một dần, hoặc bị thương mại hóa cho phù hợp với nền kinh tế thị trường. Đây là một hạn chế, nếu không sớm khắc phục sẽ hạn chế tính hấp dẫn khách du lịch.

Với đặc điểm văn hóa lúa nước, hoạt động nông nghiệp tạo nguồn sống chính nên ở nhiều nơi kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí chưa đồng đều, nhận thức về bảo vệ và giữ gìn tài nguyên môi trường cho hoạt động du lịch trong mỗi người dân chưa cao do vậy còn có những hiện tượng chưa hoàn mỹ về nhân văn đối với tài nguyên môi trường du lịch như bẻ cây, xả rác, đeo bám khách…trong các điểm du lịch.

2.2. Thực trạng phát triển du lịch ở Hải Dương Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

2.2.1. Các chỉ tiêu đã đạt được trong phát triển ngành.

2.2.1.1. Khách du lịch

Hải Dương có 2 nguồn khách cơ bản: Nguồn thứ nhất là khách đến Hải Dương du lịch và lưu trú lại (khách lưu trú); nguồn thứ hai là khách đi theo tuyến du lịch Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh chỉ dừng chân nghỉ tạm tại các trung tâm dịch vụ du lịch, các điểm dừng chân để mua sắm và ăn uống (khách không lưu trú), đối tượng khách không lưu trú chủ yếu là khách du lịch quốc tế. Ngoài ra, còn có một lượng khách lễ hội rất lớn đến Hải Dương trong ngày (khoảng trên dưới 3 triệu lượt mỗi năm) đi đến chùa vì mục đích tâm linh, không sử dụng các dịch vụ du lịch nên không được thống kê vào tổng lượt khách, song đối tượng khách này là thị trường tiềm năng rất lớn của ngành du lịch.

Năm 2009, toàn tỉnh đón và phục vụ 2.050.000 lượt khách, tăng 12,64% so với năm 2008, đạt 89,13% so với kế hoạch năm 2009 của Đề án phát triển du lịch. Khách lượt trú đạt 499.000 lượt, tăng 24,13% so với năm 2008, đạt 99,8% so với kế hoạch (Trong đó: khách quốc tế ước đạt 105.000 lượt, tăng 23,53% so với năm 2008, đạt 87,5% kế hoạch; khách nội địa ước đạt 394.000 lượt tăng 24,29% so với năm 2008, đạt 103,68%). Ngoài ra các trung tâm dịch vụ mua sắm còn đón 1.551.000 lượt khách, tăng 14, 89% so với năm 2008, đạt 86,16% kế hoạch (khách từ các tour Hài Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh dưng chân ăn uống mua sắm); các di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc, đền Tranh, An Phụ- Kính Chủ vào những ngày lễ hội lượng khách có khoảng trên 1 triệu khách đi về trong ngày . Lượng khách này tuy có thu nhập thấp song đây là thị trường tiềm năng cần được khahi thác trong kế hoạch phát triển.

Theo báo cáo thống kê của ngành Du lịch Hải Dương thì từ năm 2001 đến năm 2008 khách du lịch đến Hải Dương có mức tăng trưởng ổn định, nhịp độ tăng trưởng trung bình là 24,9%/ năm. Trong đó khách lưu trú là 23,0%, khách không lưu trú là 25,5%. Về tuyệt đối, khách lưu trú quốc tế và nội địa năm 2008 tăng 3,7 lần so với năm 2001. Đây là dấu hiệu tốt đối với phát triển du lịch bền vững. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Đồng thời theo thống kê của ngành du lịch Hải Dương thì giai đoạn 2006-2010 khách du lịch đến Hải Dương có mức tăng trưởng khá. Khách du lịch lưu trú tăng từ 303.000 lượt năm 2006 lên 420.000 lượt năm 2008 và ước đạt 570.000 vào năm 2010, tăng trưởng trung bình là 17,8%/năm; khách không lưu trú tăng từ 797.000 lượt năm 2006 lên 1.480.000 lượt năm 2008 ước đạt 1.600.000 lượt năm 2010, tăng trưởng trung bình là 21,7%/năm.

Thị trường khách quốc tế chủ yếu là khách Trung Quốc chiếm 25%, Hàn Quốc 19%, Nhật Bản 14,5%, Đài Loan 16%, còn lại là 25,5% là khách ở các thị trường khác như: Anh, Pháp, Mỹ, Canada, các nước ASIAN…, Thị phần các thị trường khách quốc tế có mức chi tiêu cao như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số lượt khách quốc tế và có xu thế tăng chậm. Thị trường khách quốc tế có mức chi tiêu thấp như Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng nhanh. Điều này sẽ làm cho mức chi tiêu bình quân của khách giảm, theo tốc độ đó tăng trưởng thu nhập sẽ thấp hơn tốc độ tăng trưởng khách du lịch. Thực trạng này khuyến cáo du lịch Hải Dương cần sớm có giải pháp nghiên cứu thị trường để xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với thị trường khách có mức chi tiêu cao.

Đối với khách du lịch nội địa thì mặc dù số lượt khách có tăng liên tục song khách lưu trú vẫn chủ yếu là khách công vụ: khách của các bộ, ngành, đoàn thể đến dự các hội nghị, hội thảo, các giải thể thao kết hợp du lịch chiếm 55% (Du lịch MICE); Nghiên cứu khoa học 15%, du lịch thuần túy 23%, khác 7%…), đối tượng khách này phần lớn chỉ tiêu cho lưu trú, chi tiêu cho mua sắm và vui chơi giải trí thấp.

Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2001-2008

Tuy nhiên, số ngày lưu trú của khách du lịch thấp, đạt trung bình là 1,3 ngày. Thêm vào đó, mức độ hài lòng của khách du lịch đối với sản phẩm du lịch ở Hải Dương chưa cao, theo số liệu điều tra khách du lịch thông qua phiếu hỏi của Sở Thương Mại và Du Lịch Hải Dương thực hiện năm 2007 ( hiện nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương) thì còn 43,8% khách du lịch chưa thực sự hài lòng về sản phẩm và chất lượng dịch vụ ở Hải Dương. Trong đó, tại các khu, điểm du lịch chưa hài lòng, khách du lịch không hài lòng với chất lượng sản phẩm và dịch vụ đồng nghĩa với việc khách sẽ không quay trở lại. Như vậy có thể thấy chất lượng sản phẩm và dịch vụ của Hải Dương chưa đáp ứng yêu cầu của khách.

Như vậy số lượng khách có tăng nhưng tốc độ tăng trưởng so với mục tiêu đặt ra vào năm 2010 là chưa đạt. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2007 đến nay và địa dịch cúm A(H1N1) đã làm cho lượng khách suy giảm mạnh. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Những khó khăn, thách thức từ thiên tai, dịch bệnh, và cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã có nhiều tác động tiêu cực làm giảm sút hiệu quả kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương

Bảng 2.2. Mức độ hài lòng của khách du lịch

Như vậy, chỉ tiêu khách du lịch mới chỉ đạt yêu cầu bền vững về số lượng; về chất lượng chưa thật sự bền vững.

2.2.1.2. Thu nhập du lịch, GDP du lịch và tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế

  • Thu nhập du lịch

Thu nhập du lịch của Hải Dương không ngừng gia tăng về giá trị tuyệt đối và nhịp độ tăng trưởng, giai đoạn 2001- 2008 có mức tăng trưởng trung bình 23,2%, doanh thu du lịch tăng từ 390 tỷ đồng năm 2006 lên 530 tỷ đồng năm 2008 và ước 680 tỷ đồng vào năm 2010, giai đoạn 2006- 2010 có mức tăng trưởng trung bình 15,2%. Với xu thế hiện nay, cùng với sự gia tăng của số lượng khách, chắc chắn trong năm tới thu nhập du lịch của Hải Dương sẽ gia tăng, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch bền vững từ góc độ kinh tế.

Mặc dù doanh thu du lịch có tăng trưởng nhưng tốc độ tăng trưởng thấp không đạt mục tiêu đề ra vào năm 2010 (22%). Nguyên nhân từ việc suy giảm khách kéo theo sự suy giảm doanh thu du lịch.

Về chất, có sự thay đổi liên tục về cơ cấu chi tiêu của khách, điều này cũng làm thay đổi theo về cơ cấu thu nhập theo hướng giảm dần tỷ lệ doanh thu từ các dịch vụ du lịch như lưu trú, ăn uống; tăng dần doanh thu từ lữ hành- vận chuyển, doanh thu bán hàng, doanh thu từ các dịch vụ bổ sung khác. Với sự thay đổi từ cơ cấu chi tiêu này sẽ là điều kiện tốt để gia tăng tổng thu nhập của các hoạt động du lịch. Tuy nhiên, mức chi tiêu bình quân của khách còn thấp và có xu hướng giảm, chỉ tiêu này khuyến cáo du lịch Hải Dương phải có những giải pháp thu hút khách du lịch có thu nhập cao đảm bảo phát triển bền vững về mặt kinh tế.

Bảng 2.3. Thu nhập du lịch giai đoạn 2001-2008 Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

  • GDP du lịch và tỷ trọng trong GDP của tỉnh
  • Tốc độ tăng trưởng GDP:

Bảng 2.4. Tốc độ tăng trưởng GDP du lịch

Số liệu của cục Thống kê chỉ tính cho hoạt động khách sạn nhà hàng nên phạm vị khóa luận chỉ phân tích theo số liệu Báo cáo của Sở Thương Mại- Du Lịch và Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch tính chung cho tất cả các loại hình du lịch để đánh giá được đầy đủ hơn. Theo báo cáo của ngành Du lịch Hải Dương, chỉ tiêu GDP du lịch được xác định bằng tổng thu nhập của các hoạt động: lữ hành, lưu trú, vận chuyển khách du lịch, ăn uống, bán hàng lưu niệm, phục vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch…trừ đi tổng chi phí trung gian (toàn bộ chi phí được sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ). Trong giai đoạn 2001-2010, tổng sản phẩm du lịch của Hải Dương giữ được mức tăng trưởng ổn định, năm sau tăng cao hơn năm trước. Tốc độ tăng trưởng trung bình thời kỳ 2001-2010 đạt được 13,7%/ năm (mức tăng trưởng trung bình của cả nền kinh trưởng của kinh tế.

  • Tỷ trọng GDP Du lịch trong GDP của tỉnh

Số tuyệt đối và tỷ trọng trong nền kinh tế còn thấp. Năm 2001 chiếm 1,6%, đến năm 2008 chiếm 1,5%; bình quân chung cả giai đoạn tổng sản phẩm du lịch chiếm tỷ trọng 1,51% tổng sản phẩm của tỉnh.

GDP trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng tính theo giá thực tế năm 2006 đạt 236 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,5% trong cơ cấu các ngành kinh tế; năm 2007 đạt 294 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 1,6%; năm 2008 đạt 339 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 1,4%.

Tốc độ tăng trưởng GDP du lịch và tỷ trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế của tỉnh bị chững lại vào năm 2008 là do suy thoái của nền kinh tế toàn cầu cùng với thiên tai, dịch bệnh. Mặc dù vậy, đánh giá chung thì Chỉ tiêu GDP du lịch có tốc độ tăng trưởng khá (13%) và tăng cao hơn so với mức tăng trưởng chung của nền kinh tế (11%).

Bảng 2.5. Tỷ trọng GDP du lịch trong GDP của tỉnh Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Chỉ tiêu GDP du lịch có tốc độ tăng trưởng tương đối cao trong suốt 8 năm và tăng cao hơn mức tăng trưởng chung của tỉnh. Mặc dù số tuyệt đối và tỷ trọng tổng sản phẩm du lịch trong tổng sản phẩm trong tỉnh còn thấp (1,5%); song tỷ trọng thấp đó là do mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp du lịch quá thấp so với các ngành kinh tế khác (0,19%). So sánh từ tỷ trọng đầu tư với tỷ trọng tổng sản phẩm thì hoạt động du lịch vẫn đạt hiệu quả. Nhìn chung, chỉ tiêu GDP du lịch của Hải Dương phát triển tương đối bền vững.

2.2.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lich

Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong kinh doanh du lịch và được quan tâm hàng đầu vì nó tác động trực tiếp đến thu nhập du lịch và có khả năng sinh lợi lớn. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm hệ thống cơ sở lưu trú, vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ có liên quan.

Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch: Hệ thống cơ sở lưu trú là một trong những yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch. Trong những năm qua, các cơ sở lưu trú du lịch ở Hải Dương phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng phần nào nhu cầu của khách du lịch. Năm 2001, toàn tỉnh có 30 khách sạn, nhà nghỉ, với tổng số 557 phòng nghỉ; năm 2006, toàn tỉnh có 73 khách sạn, nhà nghỉ với tổng số 1540 phòng nghỉ; đến năm 2008, đã có 102 cơ sở lưu trú du lịch với 1953 phòng nghỉ, tổng số phòng khách sạn sẽ nâng lên 2.550 phòng vào năm 2010; tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2006- 2010 đạt 13,7% (cả nước tăng 12,1%). Chất lượng dịch vụ trong hệ thống khách sạn đã đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.

Bảng 2.6. Tổng hợp các cơ sở lưu trú du lịch giai đoạn 2001-2010

Qua bảng số liệu cho thấy, hệ thống cơ sở lưu trú phát triển với nhịp độ tương đối nhanh và ổn định. Tốc độ tăng trưởng phòng khách sạn đạt trung bình là 17%/năm; tốc độ tăng trưởng này chiếm 0,7 tốc độ tăng trưởng khách du lịch trong từng thời kỳ. Với nhịp độ tăng trưởng trung bình của hệ thống các cơ sở lưu trú và khách du lịch như vậy, luôn đảm bảo cho hệ số công suất sử dụng phòng đạt trung bình là 60%. Đây là những chỉ số phát triển tương đối ổn định và có hiệu quả về mặt kinh tế. Còn về mặt chất lượng của hệ thống khách sạn cũng không ngừng được ngâng lên, số phòng khách được xếp hạng liên tục được gia tăng những năm sau cao hơn năm trước ( Phụ lục 6_ Quy mô cơ sở lưu trú du lịch). Đây là điều kiện cần thiết để đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch trong nước và quốc tế. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Phương tiện vận chuyển khách du lịch: Hệ thống phương tiện vận chuyển khách tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Năm 2001 toàn tỉnh có 3 doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách du lịch và một số hộ cá thể với tổng số 200xe, đến năm 2008 toàn tỉnh có 21 doanh nghiệp vận chuyển với trên 700 xe (Phụ lục 07). Các phương tiện vận chuyển đều đảm bảo chất lượng, tiện lợi và an toàn góp phần hoàn thiện hệ thống dịch vụ du lịch ở Hải Dương theo hướng phát triển du lịch bền vững.

Cơ sở vui chơi giải tríthể thao: Các cơ sở vui chơi giải trí- thể thao cũng như dịch vụ phục vụ khách du lịch còn ít. Ở các khách sạn mới chỉ dừng lại ở một số dịch vụ massage, tennis, bể bơi, phòng hát karaoke; Công ty cổ phần sân Golf Chí Linh mới chỉ đưa vào sử dụng sân gold 36 lỗ, hệ thống dịch vụ kèm theo như câu lạc bộ đêm, trường đua ngựa…còn đang trong giai đoạn xây dựng. Gần đây, tỉnh cũng chú trọng quy hoạch một số khu vui chơi giải trí nhưng các dự án này đều tập trung ở thành phố Hải Dương; ở các khu du lịch đang thu hút khách như Côn Sơn- Kiếp Bạc, đảo Cò…chưa có các cơ sở vui chơi giải trí- thể thao. Sự thiếu hụt các cơ sở vui chơi giải trí-thể thao, một mặt đac không kích thích được khả năng chi tiêu của khách, mặt khác đã hạn chế thời gian lưu trú của họ. Đây là một nguyên nhân khiến khách du lịch chỉ đi về trong ngày và có mức chi tiêu thấp.

Hiện tại, các cơ sở vui chơi giải trí, thể thao chưa đáp ứng yêu cầu nhưng trong thời gian tới các dự án đang xây dựng được hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ làm phong phú thêm hệ thống sản phẩm du lịch của Hải Dương góp phần phát triển du lịch bền vững.

2.2.1.4. Nguồn nhân lực du lịch

  • Về số lượng và trình độ đào tạo

Cùng với sự gia tăng của khách du lịch và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, trong những năm qua số lượng lao động trong ngành du lịch ở Hải Dương không ngừng gia tăng, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Theo số liệu Thống kê của Sở Thương Mại và Du Lịch Hải Dương (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương), năm 2001 Hải Dương có 795 lao động làm việc trực tiếp trong cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các cơ sở kinh doanh du lịch; năm 2006 tăng lên 2400 lao động; năm 2008 tiếp tục tăng là 3250 người; và đến năm 2010 ước đạt là 3745 người, tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001- 2008 là 22,3% nhưng sang giai đoạn 2006- 2010 tỷ lệ này chỉ còn 15,6%. Ngoài ra, hàng năm còn chục ngàn lao động xã hội khác phục vụ du lịch thông qua cung ứng hàng hóa, dịch vụ vận tải, ăn uống, vui chơi giải trí tại các điểm du lịch.

Bảng 2.7. Lao động trong ngành du lịch giai đoạn 2001-2010 Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Về chất lượng đào tạo: Tính bình quân cả giai đoạn thì số lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 12,9%; cao đẳng và trung cấp chiếm 41,7%; trình độ sơ cấp chiếm 16,4%; trình độ dưới sơ cấp (qua đào tạo tại chỗ hoặc huấn luyện nghiêp vụ ngắn hạn) chiếm 15,2%; trình độ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm 13,8%. Số lao động có trình độ từ trung cấp trở lên có xu hướng tăng, lao động phổ thông có xu hướng giảm thể hiện chất lượng nguồn nhận lực du lịch dần được nâng lên.

  • Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc hiện nay

Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước: đã được đào tạo đại học và trên đại học. Tuy nhiên, đa số đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về du lịch được đào tạo lại từ các chuyên ngành Tài Chính, Thương Mại, Ngoại Ngữ nên cần được bồi dưỡng thêm về chuyên môn ngành Du lịch để có tính chuyên nghiệp hơn trong khi thực thi nhiệm vụ.

Đội ngũ quản lý các doanh nghiệp: Có sự chênh lệch lớn về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh du lịch giữa các thành phần kinh tế khác nhau cuãng như các vùng khác nhau.

Đối với doanh nghiệp Nhà nước, cán bộ quản lý thường được đào tạo từ các chuyên ngành khác và còn ảnh hưởng của thói quen bao cấp nên thường kém năng động, chậm thích ứng với cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tê.

Đối với doanh nghiệp liên doanh, cổ phần thuộc các thành phần kinh tế khác, cán bộ quản lý thường năng động hơn và ngay từ khâu tuyển dụng đã lựa chọn cán bộ được đào tạo theo đúng chuyên ngành, một số doanh nghiệp lớn và khách sạn 4 sao trở lên như khách sạn Nam Cường, sân Golf Chí Linh…thường thuê chuyên gia nước ngoài, các tập đoàn quản lý lớn tiến hành công tác quản lý đã giúp hoat động của doanh nghiệp bải bản, tăng khả năng sẵn sàn đón tiếp khách du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh ở qui mô nhỏ lẻ thì cán bộ quản lý thường chưa được đào tạo qua chuyên ngành nên phương pháp quản lý chưa nhất quán và không khoa học, còn nhiều lúng túng trong công tác quản lý, tổ chức lao động, quản lý khách, quản lý khách, quản lý chất lương dịch vụ, vì vậy mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của đội ngũ lao động này thường không cao. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Lao động nghiệp vụ : Đây là lực lượng chính trong ngành du lịch, là đối tượng lao động trực tiếp và là căn cứ để khách du lịch đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch. Tuy đã và đang từng bước được đào tạo lại nhưng trình độ của đội ngũ này hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc,, đặc biệt là những cơ sở kinh doanh có quy mô nhỏ, lao động thường chưa qua đào tạo chuyên ngành. Chính vì vậy nên lực lượng lao động nghiệp vụ rất yếu về chuyên môn.

Như vậy, chỉ tiêu về lao động trong suốt giai đoạn 2001-2010 tăng trưởng liên tục. Xét khía cạnh tăng trưởng về mặt kinh tế thì các chỉ tiêu này đáp ứng được yêu cầu về phát triển bền vững về số lượng lao động. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực có được nâng lên song còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các thành phần kinh tế và nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách. Do đó, đánh giá cả về chất lượng thì nhân lực du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

2.2.1.5. Về đầu tư phát triển du lịch

Trong những năm qua, đầu tư phát triển du lịch ở Hải Dương có nhiều hướng gia tăng nhanh: Tổng vốn dầu tư cho phát triển du lịch tính đến năm 2000 là 1050 tỷ đồng; tình đến nay, tổng số vốn đầu tư cho du lịch đạt trên 3458 tỷ đồng (giai đoạn 2001- 2008 tăng thêm 2408 tỷ đồng). Trong đó có 3 dự án từ 300 đến 600 tỷ đồng, 10 dự án có vốn đầu tư từ 15- 50 tỷ đồng, còn lại là các dự án có quy mô nhỏ từ 3-5 tỷ đồng.

Đầu tư phát triển du lịch ở Hải Dương được hình thành từ hai nguồn vốn cơ bản: nguồn ngân sách nhà nước và nguồn của các thành phần kinh tế trong nước (Phụ lục 08)

Ngân sách Nhà nước: đầu tư cho phát triển du lịch giai đoạn 2001-2008 (tính cả đồi đất lấy hạ tầng các khu đô thị) là 335 tỷ đồng, chiếm 13,9% tổng mức đầu tư của các thành phần kinh tế. Trong đó đầu tư vào hạ tầng giao thông, điện nước 242 tỷ đồng, cải tạo, bảo tồn chống xuống cấp các điểm di tích 91 tỷ 275 triệu đồng. Thực chất, nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng mới chỉ đầu tư mạng lưới giao thông dẫn đến các khu, điểm du lịch (có thể xem như là đầu tư hạ tầng- xã hội chung của tỉnh), hạ tầng bên trong các khu du lịch chưa được đầu tư.

Vốn đầu tư cho sự nghiệp du lịch (các hoạt động như xúc tiến, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, xây dựng đề án phát triển sản phẩm du lịch…) còn quá ít so với các ngành kinh tế khác: giai đoạn 2001- 2005, đầu tư cho sự nghiệp du lịch du lịch chiếm 0,15% tổng mức đầu tư cho sự nghiệp kinh tế; năm 2006 chiếm 0,42%; năm 2007 chiếm 0.14%; sang giai đoạn 2006- 2009 chiếm tỷ trọng là 0,19%. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Tỷ trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng so với đầu tư phát triển của tỉnh còn thấp và có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do giai đoạn 2001-2005 có nguồn đổi đất lấy hạ tầng của Công ty Thương mại Du lịch Nam Cường và một số doanh nghiệp khác đầu tư vào các khu đô thị mới và giao thông dẫn đến các khu, điểm du lịch của doanh nghiệp này. Từ năm 2007, nguồn đầu tư của Nhà nước giảm đần thêm vào đó, các dự án đầu tư từ Ngân sách nhà nước thường giao cho các ngành khác hoặc địa phương làm chủ đầu tư không có sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch nên đầu tư không có tính hướng đích thu hút du lịch.

Nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác. Hướng đầu tư vào xây mới hệ thống khách sạn, nhà hàng và các khu vui choi giải trí tổng hợp, vận chuyển khách, điểm dừng chân của du khách. Trong đó cố 3 dự án án quy mô lớn từ 300- 600 tỷ đồng, 10 dự án có vốn đàu tư từ 15- 50 tỷ đồng còn lại các dự án có quy mô nhỏ từ 3- 5 tỷ đồng. (Phụ lục 09, Danh mục các dự án đầu tư giai đoạn 2001- 2008).

Từ những vấn đề trên có thể thấy đầu tư phát triển du lịch ở hải Dương còn nhiều bất cập, đầu tư từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển du lịch quá nhỏ so với các đầu tư sự nghiệp kinh tế của tỉnh. Đầu tư từ các thành phần kinh tế còn quá manh mún, nhỏ lẻ, chính vì vậy mà cho đến ngày nay Hải Dương còn chưa có các khu du lịch hoàn chỉnh nào. Nguyên nhân chính là do công tác quy hoạch tổng thể mang tính định hướng chung, các quy hoạch chi tiết chưa được nghiên cứu, xây dựng, do đó không có cơ sở để thu hút vốn đầu tư lớn trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài.

Bảng 2.9. Chi đầu tư từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2001- 2008

2.2.2. Thực trạng hệ thống sản phẩm du lịch

2.2.2.1. Các khu du lịch, điểm du lịch

Ở Hải Dương có một số khu, điểm du lịch chính sau: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Khu du lịch Côn Sơn- Kiếp Bạc: Với giá trị văn hóa lịch sử cao, cảnh quan kỳ vỹ, Côn Sơn- Kiếp Bạc là khu du lịch tổn hợp với nhiều loại sản phẩm du lịch: Du lịch văn hóa, tâm linh; Du lịch sinh thái, Du lịch thể thao; Du lịch kết hợp nghỉ dưỡng, cắm trại…Hoạt động du lịch ở đây mang tính mùa vụ rõ rệt. Hàng năm, có hai mùa lễ họi được tổ chức tại Côn Sơn- Kiếp Bạc: Mùa xuân và mùa thu. Đây chính là thời gian mà lượng khách du lịch đến Côn Sơn- Kiếp Bạc nhiều nhất. Theo thống kê của Ban quản lý khu di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2008 khoảng 20%, năm 2008 đạt trên 1 triệu lượt khách, sang năm 2009 lượng khách du lịch tiếp tục tăng nhanh và mạnh hơn so với năm trước.

Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ du lịch ở Côn Sơn chưa được hiện đại sơng tương đối đầy đủ và thuận lợi. Hệ thống đường giao thông vào các khu điểm di tích tương đối thuận lợi, hệ thống điện nước đầy đủ, công tác kè hồ, xây tường bảo vệ rừng, công tác vệ sinh môi trường an ninh trật tự được bảo vệ chặt chẽ. Các loại hình dịch vụ: kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, vận chuyển, ăn uống, mua sắm phat triển và mở rộng. Tuy nhiên quy mô của các loại hình dịch vụ này còn nhỏ lẻ thiếu sự liên kết; dịch vụ vui chơi giải trí còn hạn chế…Đánh giá chung thì khu Côn Sơn- Kiếp Bạc có giá trị văn hóa lịch sử cao và cảnh quan tự nhiên đẹp, nhưng còn thiếu những sản phẩm du lịch chất lượng cao nên mức độ hấp dẫn khách du lịch còn thấp. Cần có quy hoạch chi tiết và đầu tư thỏa đáng để phát triển các sản phẩm du lịch để hấp dẫn khách du lịch ở khu vực này.

Khu An Phụ- Kính Chủ: Đã được quy hoạch chi tiết cho khu An Phụ là 23,1363ha; khu Kính Chủ là 105,1686ha. Tuy nhiên hiện nay, khu An Phụ- Kính Chủ chưa được đầu tư nên vẫn đang khai thác ở dạng tự nhiên đón khách với mục đích tâm linh tham quan đền chùa là chính. Ở đây chưa có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ nên mặc dù hấp dẫn về cảnh quan nhưng chất lượng sản phẩm du lịch và dịch vụ còn thấp, chưa đồng bộ, chưa thu hút được khách du lịch thuần túy. Cần có nguồn vốn đầu tư của nhà nước váo cơ sở hạ tầng du lịch cơ chế thu hút đầu tư các thành phần kinh tế váo các dự án thành phần.

Khu du lịch Thành phố Hải Dương: Thành phố Hải Dương hiện có hai khu du lịch được quy hoạch chi tiết là khu du lịch Hải Hà và khu du lịch Đảo Ngọc. Tại khu Hải Hà đã triển khai và đưa vào vận hành một số dịch vụ giải trí, thể thao như bể bơi, sân tennis, câu lạc bộ khiêu vũ, biệt thự cho thuê…còn khu du lịch Đảo Ngọc mới đang đầu tư hạ tầng giao thông.

Hoạt động du lịch chủ yếu hiện nay là du lịch MICE, các giải thể thao kết hợp với tham quan di tích lịch sử, làng nghề truyền thống…Cơ sở vật chât kỹ thuật hạ tầng khá đầy đủ.

Điểm du lịch sinh thái Đảo Cò Chi Lăng Nam: Đã có quy hoạch chi tiết, tông diện tích quy hoạch là 67,1ha. Cũng như khu An Phụ- Kính Chủ, khu du lịch này chưa đuợc đầu tư quy hoạch chi tiết và đang được khai thác ở dạng tự nhiên. Khu vực này lúc bình minh và hoàng hôn diễn ra cảnh “giao ca” khá sinh động giữa cò và vạc nên khách thường tham quan vào buổi chiều tối vào sáng sớm khi khách có nhu cầu nghỉ lại. Nhưng điểm yếu ở đây là chưa có hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ khách lưu trú qua đêm nên lượng khách đến với đảo Cò còn ít, chủ yếu là khách quanh vùng có thể đi về trong ngày, đối tượng khách chủ yếu là học sinh, sinh viên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Ngoài ra còn có một số điểm di tích lịch sử văn hóa, làng nghề truyền thống, làng quê đang hình thành điểm du lịch như làng Gốm Chu Đậu, Di tích Đền Cao, Văn Miếu Mao Điền, đền Tranh, làng múa rối nước Hồng Phong…Nhìn chung ở những điểm du lịch này còn thiếu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng du lịch và dịch vụ như nơi đón tiếp khách, khách sạn, khu vui chơi giải trí…nên mức độ hấp dẫn khách du lịch còn thấp.

2.2.2.2. Các tuyến du lịch

Vị trí du lịch của Hải Dương nằm trong vùng phụ cận trung tâm du lịch Hà Nội và mối quan hệ mang tính liên vùng du lịch với các tỉnh trong khu vực nên đã hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh và nội tỉnh.

Tuyến du lịch liên tỉnh:

  • Hải Dương- quốc lộ 18- Hạ Long- cửa khẩu quốc tế Móng Cái- Trung Quốc.
  • Hải Dương- Bắc Ninh- Lạng Sơn- cửa khẩu Hữu Nghị- Trung Quốc.
  • Hải Dương- Hải Phòng
  • Hải Dương- Bắc Giang- Lạng Sơn

Tuyến du lịch nội tỉnh:

  • Tuyến du lịch Côn Sơn- Kiếp Bạc, Kính Chủ- An Phụ
  • Tuyến du lịch sinh thái thăm làng Cò Chi Lăng Nam, đền Quát, đền Tranh, Làng Cúc Bồ
  • Tuyến du lịch thăm làng tiến sỹ Mộ Trạch, Văn Miếu Mao Điền
  • Tuyến du lịch tổng hợp thăm các di tích lịch sử, làng nghề, các điểm du lịch sinh thái…

Trên các tuyến du lịch liên tỉnh và nội tỉnh có rất nhiều các điểm du lịch và các trung tâm dịch dừng chân mua sắm, nhưng do các điểm du lịch của Hải Dương còn chưa hấp dẫn nên chủ yếu khách chỉ dừng chân trên quốc lộ 18 và đường 5A để ăn uống, mua sắm. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Thực trạng khu, tuyến điểm du lịch cho thấy hệ thống sản phẩm du lịch của Hải Dương chưa hoàn chỉnh, chất lượng sản phẩm thấp, kém hấp dẫn và không có khả năng cạnh tranh.

Nhìn chung việc quảng bá sản phẩm du lịch nói chung và chương trình du lịch trọn gói nói riêng còn hạn chế cả về quy mô, tính chuyên nghiệp do ngân sách đầu tư dành cho hoạt động cón quá nhỏ. Việc quyết định tổ chức còn mang tính bị động, do chưa có cơ chế rõ ràng.

Sản phẩm du lịch- chương trình du lịch trọn gói: theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, sản phẩm Du lịch Việt Nam (trong đó có Hải Dương) còn hạn chế, dực chủ yếu vào các yếu tố tự nhiên, khai thác những cái sẵn có, chưa thể hiện ưu thế trên thị trường, chưa được đầu tư đúng mức, chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch còn thấp.

2.2.3. Hiện trạng về hoạt động xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du lịch

Xúc tiến, tuyên truyền quảng bá là một việc quan trọng hàng đầu nhằm tăng cường thu hút đầu tư xây dựng, phát triển sản phẩm và thu hút khách du lịch. Từ năm 2001 đến nay, ngành Du lịch Hải Dương đã chú trọng và có nhiều nỗ lực trong công tác xúc tiến, quảng bá du lịch như tổ chức các buổi hội thảo, làm việc với các bộ, ngành trung ương, các tỉnh bạn, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh nhằm tuyên truyền các chính sách của tỉnh khuyến khích các tổ chức các nhân đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Ngành du lịch cũng đã tham gia nhiều hội chợ, triển lãm, liên hoan du lịch trong nước và quốc tế, qua đó tuyên truyền những tiềm năng, thế mạnh và cơ chế chính sách đầu tư của tỉnh. Phát hành, xuất bản các ấn phẩm du lịch (đĩa VCD, tập gấp, bản tin, catalog) tuyên truyền quảng bá trong và ngoài nước, xây dựng chuyên mục du lịch phát sóng trên Đài phát thanh truyền hình Hải Dương về các chuyên đề du lịch văn hóa, lễ hội cổ truyền, du lịch sinh thái; thông tin quảng cáo: dựng biển quảng cáo tấm lớn để đưa hình ảnh du lịch Hải Dương đến với du khách trong nước và quốc tế.

Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch còn một số hạn chế do kinh phí đầu tư cho hoạt động này qua ít (mỗi năm khoảng 200 triệu đồng), cách thức tổ chức, tham gia thiếu tính chuyên nghiệp; nguồn lực cho xúc tiến, quảng bá còn hạn chế, chưa xây dựng được chiến lược và kế hoạch thực thi cho công tác tiếp thị của toàn ngành. Các ấn phẩm quảng bá chung của tỉnh còn ít về số lượng, đơn điệu và nội dụng và hình thức. Thêm vào đó, từ tháng 4 năm 2008 đến nay, Du lịch hợp nhất với Văn hóa, Thể thao thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm thông tin xúc tiến Du lịch chưa được thành lập lại nên công tác xúc tiến quảng bá du lịch đang bị gián đoạn.

Nhận xét về công tác xúc tiến quảng bá du lịch chưa có hiệu quả, quy khách khác nhau; ngoài ra, việc quảng cáo thiếu trách nhiệm của một số doanh nghiệp tác động tiêu cực tới hoạt động kinh doanh du lịch và phát triển du lịch bền vững.

2.2.4. Hiện trạng về quản lý khai thác tài nguyên và môi trường du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

2.2.4.1 Hiện trạng quản lý nguồn tài nguyên du lịch

Quản lý tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khai thác tài nguyên cũng như khả năng bảo vệ, phát huy các giá trị tài nguyên. Theo quy định của pháp luật, tài nguyên du lịch được quản lý theo ngành và theo lãnh thổ như những ngành kinh tế khác.

Đối với tài nguyên là di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng dưới sự quản lý của 3 cấp: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; UBND cấp huyện, UBND cấp xã, phường, thị trấn.

Tài nguyên du lịch làng nghề do ngành Công nghiệp quản lý theo ngành, chính quyền địa phương quản lý theo lãnh thổ.

Tài nguyên du lịch tự nhiên như rừng, núi, sông, hồ thường là sự quản lý của Sở Nông nghiêp và phát triển nông thôn và chính quyền địa phương.

Tuy nhiên, ở những nơi có lợi thế phát triển du lịch thù thường là tổng hợp các loại tài nguyên trong cùng một khu du lịch thường chịu sự quản lý đan xen của nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau. Sự phối hợp giữa các cấp, ngành không được tốt sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chưa thể hiện rõ vai trò của mình trong quá trình quản lý, khai thác nguồn tài nguyên có giá trị phục vụ du lịch. Tình trạng chồng chéo trong quản lý đã dẫn đến những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nói chung, tài nguyên du lịch nói riêng. Có thể thấy rất rõ những bất cập trong quản lý giữa ngành với lãnh thổ ở khu di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc. Ngay trong sân chùa tôn nghiêm là những lều, quán lụp xụp do UBND Cộng Hòa bố trí cho dân cho thuê bán hàng, cuối mỗi ngày lượng rác xả ra bừa bãi Ban quản lý di tích (thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) lại phải thu gom. Nguyên nhân là do ngành Văn hóa chỉ được quản lý di tích còn phần lãnh thổ do địa phương quản lý. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh của các đối tượng tham gia khai thác du lịch nói trên diễn ra phổ biến ở các khu, điểm du lịch làm giảm sút chất lượng sản phẩm, suy thoái tài nguyên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Những bất cập giữa ngành với ngành cũng thường xảy ra, điển hình là quản lý chồng chéo giữa ngành Văn hóa- Du lịch, Công nghiệp, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chính quyền địa phương trong quản lý và khai thác hệ thống đồi rừng, hang động, di sản văn hóa, thảm thực vật, đa dạng sinh học…trong cùng một khu vực cho các mục đích của các ngành khác nhau. Các ngành vì chạy theo nhiệm vụ và lợi ích của ngành mình mà quên mất nhiệm vụ bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá không tái tạo này…

Tình trạng chồng chéo trong quản lý nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp với phát triển bền vững sớm có biện pháp khắc phục.

2.2.4.2. Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch

Mức độ khai thác: Tiềm năng tài nguyên du lịch của Hải Dương khá đa dạng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân tiềm năng này vẫn chưa được khai thác một cách tương xứng cho mục đích phát triển du lịch.

Bảng 2.10. Tỷ lệ khai thác một số loại TNDL chính

Qua bảng tổng hợp có thể khẳng định tỷ lệ khai thác tài nguyên du lịch còn thấp vì trong số các tài nguyên du lịch có tiềm năng chỉ có các khu danh thắng tự nhiên được khai thác tương đối lớn có tỷ lệ 81%, đó là những nơi có cảnh quan đẹp gắn liền với những di tích lịch sử văn hóa, những di tích cách mạng hoặc các dự án đang được quy hoạch khép kín như khu sân Golf Chí Linh, khu du lịch Hải Hà…; các di tích lịch sử văn hóa, làng nghề cổ truyền được sử dụng thấp còn lại chưa được sử dụng.

Trong số các tài nguyên du lịch đã được khai thác thì mức độ khai thác cũng chưa nhiều. Trong các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội thì chỉ có khu Côn Sơn- Kiếp Bạc là được khai thác mạnh còn lại ở mức độ trung bình và yếu. Ngoài ra, các khu danh thắng tự nhiên và các làng nghề truyền thống mới ở mức độ khai thác yếu.

Hiệu quả khai thác các loại tài nguyên du lịch: Theo kết quả nghiên cứu thì thời điểm hiện nay hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch còn thấp do tại các điểm du lịch mới ở giai đoạn đầu tư cơ sở hạ tầng. Trong thời gian tới, với nỗ lực tạo sản phẩm du lịch đặc thù và đầu tư xây dựng các “điểm đến” du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được đầu tư, nâng cấp hoạt động du lịch sẽ thu được hiệu quả cao. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

2.2.4.3. Những tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường

Sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng gắn liền với vấn đề môi trường, điều này càng có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao như ngành Du lịch. Môi trường được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lương, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại của hoạt động du lịch.

Hiện nay, hoạt động du lịch nói chung, vấn đề phát triển du lịch bền vững nói riêng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ bởi sự suy thoái môi trường tự nhiên, đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước, môi trường khu dân cư, khu du lịch, các làng nghề. Bên cạnh đó, sự suy giảm đa dạng sinh học, sự gia tăng tai biến và sự cố môi trường cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển du lịch bền vững.

Hoạt động du lịch làm tăng áp lực về chất thải sinh hoạt, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí.

Ô nhiễm môi trường do tác động của hoạt động du lịch xuất hiện từ những nhân tố chủ quan (hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ phục vụ khách du lịch: khách sạn, nhà hàng phương tiện vận chuyển khách du lịch) và nhân tố khách quan (khách du lịch). Phạm vi tác động của hoạt động du lịch đối với môi trường chủ yếu tại các khu du lịch, các điểm tham quan du lịch thu hút du khách: các khu du lịch sinh thái, thành phố Hải Dương và các điểm du lịch văn hóa lễ hội Côn Sơn- Kiếp Bạc. Đền Cao. Đền Tranh, An Phụ-Kính Chủ…Nguồn gây ô nhiễm môi trường từ các chất rắn, nước thải, khí thải do các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch và khách du lịch thải ra.

Chất thải rắn gồm có các rác hữu cơ (chủ yếu chất phế thải lương thực, thực phẩm thực vật, động vật dưới dạng thức ăn thừa), rác vô cơ (nguyên vật liệu xây dựng, vỏ bao bì đựng các loại hàng hóa, lương thực thực phẩm). Hầu hết các loại thức ăn thừa tại các khách sạn, nhà hàng đều được thu gom và bán cho các cơ sở chăn nuôi. Một phần vỏ, xương các loại động thực vật làm thực phẩm thải ra ngoài. Đây là nguồn ô nhiễm trực tiếp tới môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí). Lượng rác thải do khách du lịch trực tiếp xả ra và các cơ sở dịch vụ du lịch phục vụ khách du lịch xả ra tính bình quân cho 1 lượt khách ở từng loại hình du lịch khác nhau. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Nước thải chủ yếu là nước đã qua sử dụng tại các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng… thải ra ngoài. Lượng nước thải ra của một cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch gần bằng lượng nước cấp theo nhu cầu sử dụng thực tế của cơ sở đó. Đối với từng cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch, lượng nước thải phụ thuộc vào loại hạng khách sạn và công suất sử dụng buồng phòng khách sạn. Mức sử dụng nước bình quân/1 khách khoảng 0,7m3/người/ngày. Bình quân mỗi ngày các cơ sở lưu trú du lịch thải lượng nước khoảng 1.200m3 (khoảng 438.000m3/năm)

Nước thải từ các khu du lịch có nhiều chât hóa học, dầu, mỡ…hầu hết không được qua hệ thống xử lý và thấm trực tiếp xuống lòng đất gây ô nhiễm nguồn tài nguyên đất và nước mặt.

Khí thải gồm khí thải động cơ của phương tiện vận chuyển khách du lịch, khí thải đun nầu bếp tại các nhà hàng, khí thải hình thành di việc đốt vàng mã, thắp hương, đèn nến tại các đền, chùa, đình, miếu (khí CO2). Khí thải máy điều hòa nhiệt độ (CFC). Lượng khí thải thoát tự nhiên ra môi trường gây ô nhiễm môi trường không khí.

Bụi lơ lửng chủ yếu hình thành do hoạt động của các loại phương tiện vận chuyển khách du lịch và việc đốt vàng mã tại các điểm du lịch lễ hôi.

  • Làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất, làm tăng nguy cơ suy thoái đất

Việc phát triển các khu du lịch là rất cần thiết nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch có chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội. Việc phát triển các khu du lịch lớn sẽ làm thay đổi đãng kể cơ cấu sử dụng đất, ví dụ khu sinh thái Hà Hải, khu Đảo Ngọc- thành phố Hải Dương, khu sân Golf Côn Sơn- Chí Linh…Điều này rất có ý nghĩa đối với các khu đô thị, nơi quỹ đất khan hiếm.

Trong quá trình phát triển hạ tầng và xây dựng các khu du lịch, các hoạt động chủ yếu bao gồm san lấp chuẩn bị mặt bằng, khai thác vật liệu để xây dựng các công trình hạ tầng và các dịch vụ du lịch; xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống cung cấp nước và năng lượng, hệ thống thu gom và xử lý chất thải…); xây dựng các công trình dịch vụ du lịch, các hoạt động vận chuyển…Các hoạt động này sẽ tác động, làm ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan, làm thap đổi cấu trúc địa chất khu vực, tạo ra sự mất cân bằng tương đối, gây ra sự suy thoái đất. Vấn đề này ở Hải Dương chưa ảnh hưởng nhiều vì còn ít các khu du lịch được đầu tư xây dựng nhưng trong tương lai gần mức độ ảnh hưởng là rất lớn.

  • Tác động làm suy giảm sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Hải Dương là tỉnh đồng bằng có đồi rừng nên hệ sinh thái tương đối đa dạng và phong phú. Do những năm trước đây việc phát triển kinh tế chưa theo quy hoạch, khai thác đất, chặt phá rừng còn bừa bãi, công tác khai thác đá trên núi có nhiều tác động xấu đến cảnh quan môi trường tự nhiên và điều kiện sinh thái. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học trong qua trình đô thị hóa nhanh, chất thải ngày một nhiều đã ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, môi sinh.

Đồi rừng của Hải Dương tập trung ở hai huyện Chí Linh và Kinh Môn, đây là hai huyện miền núi xen kẽ đồng bằng, với những dãy núi đá và đồi rừng nên nhìn chung nguồn tài nguyên rừng do hệ sinh thái này đem lại khá lớn. nó không những tạo ra môi trường không khí trong lành mà còn có tác dụng hạn chế lũ, khô hạn, đồng thời còn tạo nên những xảnh quan thiên nhiên đặc sắc và hấp dẫn khách du lịch. Hệ sinh thái ở đây khá phong phú, tập trung là khu đồi rừng An Phụ thuộc xã An Sinh, các dãy núi đá với hang động thuộc xã Minh Tân, núi Dương Nham xã Phạm Mệnh huyện Kinh Môn. Rừng thông xã Lê Lợi, Cộng Hòa, Văn An; rừng dẻ, rừng trám xã Hoàng Hoa Thám, rừng Lim xã An Lạc huyện Chí Linh. Nét đặc trưng của môi trường sinh thái tại hai huyện Chí Linh, Kinh Môn là tài nguyên đồi rừng kết hợp một cách hài hóa với hệ sinh thái nông nghiệp được đặc trưng bằng các loại cây hoa màu, điều đó làm tăng thêm vẻ đẹp cảnh quan môi trường và góp phần cùng hệ sinh thái rừng tạo ra bầu không khí trong lành trong khu vực. Tuy nhiên, các hệ sinh thái có những nét đặc trưng khác nhau, cùng với các hoạt động dân sinh kinh tế không được quản lý chặt chẽ, và không tổ chức khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên nên các hệ sinh thái ở đây suy giảm nhanh chóng. Thêm vào đó, tình trạng ô nhiễm không kiểm soát được và không có các biện pháp xử lý kịp thời cũng gây nên suy thoái môi trường sinh thái. Các hệ sinh thái ở đây vốn phong phú, nay đã không còn được như trước nữa. Điều này sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng do mất cân bằng tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững.

Các yếu tố gây ô nhiễm từ chất thải của hoạt động du lịch mà không được thu gom, xử lý đều ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái, đặc biệt là thủy sinh (thiếu ôxy và chất hữu cơ). Các loài sinh vật trên cạn khi ăn các chất thải khó tiêu hủy dễ bị chết, đồng thời chúng cũng dễ bị lây truyền dịch bệnh từ nơi này sang nơi khác qua chất thải của khách du lịch.

Hoạt động du lịch không được quản lý (xe cộ đi lại với mật độ cao ở các vùng tự nhiên; du khách hái hoa quả rừng; chặt cây, bẻ cành…)sẽ tác động đến nơi cư trú, tập tính hoang dã của nhiều loài sinh vật khiến chúng phải bỏ đi hoặc suy giảm về số lượng do khả năng sinh sản bị ảnh hưởng.

Nhu cầu thiếu ý thức của một bộ phận khách du lịch đã và đang kích thích việc săn bắt, khai thác nhiều loài sinh vật để bán, làm món đặc sản. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

  • Tác động tới văn hóa truyền thống

Bên cạnh những tác động tích cực , hoat động hời gian qua du lịch đã có những ảnh hưởng về ăn hóa- xã hôi, tạo ra sự thay đổi một phần một số giá trị văn hóa truyền thống như nếp sống, lễ nghi trong cuộc sống cộng đồng; làm thay đổi nhận thức về chuẩn mực truyền thống đạo đức xã hội, đặc biệt trong giới trẻ; làm tăng tính thương mại trong các hoạt động lễ hội truyền thống; sự gia tăng tệ nạn xã hội…

Khó có thể khẳng định được những ảnh hưởng của du lịch đến các giá trị truyền thống vì phần lớn đây là những tác đông gián tiếp, thới gian thể hiện tác động kéo dài…Tuy nhiên có thể khẳng định đây là những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường nhân văn trong qua trình phát triển du lịch.

2.2.4.4. Đóng góp cho hoạt động bảo tồn từ du lịch

Đóng góp cho việc bảo tồn, tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên từ du lịch ở Hải Dương còn rất hạn chế. Mối quan tâm lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp, của các ngành được quản lý tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật là khai thác các tiềm năng đó để thu lợi nhuận. Việc trích lại doanh thu từ du lịch để bảo vệ, tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên du rất ít được quan tâm. Ở các di tích lịch sử văn hóa, mỗi năm được trích lại 70% nguồn thu từ vé vào cửa và tiền công đức để duy trì các hoạt động của Ban quản lý và tu bổ, nâng cấp di tích, 30% nộp ngân sách nhà nước. Còn các nguồn thu khác như trông giữ xe, lệ phí bán hàng hóa, dịch vụ vui chơi giải trí,…do chính quyền cấp xã thu và quản lý, sử dụng. Khu Côn Sơn- Kiếp Bạc là nơi thu hút lượng khách du lịch đông nhất, mỗi năm kinh phí được trích lại từ nguồn thu trên 10 tỷ đồng. Nguồn kinh phí này chủ yếu chi cho việc duy trì hoạt động của Ban quản lý và trùng tu di tích, chi cho bảo vệ môi trường du lịch chưa được quan tâm đúng mức do không phân rõ trách nhiệm của Ban quản lý với chính quyền địa phương.

Đối với tài nguyên du lịch tự nhiên và các tài nguyên khác được giao cho các tổ chức, cá nhân hoặc doanh nghiệp khai thác. Việc trích lại từ doanh thu để bảo tồn, tôn tạo tài nguyên gần như chưa được quan tâm vì đa số các doanh nghiệp lớn như Hà Hải, Nam Cường, Cổ phần sân Golf ngôi sao Chí Linh…còn đang được hưởng ưu đãi đầu tư chưa phải nộp thuế và các nghĩa vụ khác.

2.2.5. Hiện trạng hoạt động quản lý phát triển du lịch Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

2.2.5.1. Bộ máy tổ chức quản lý

Ở cấp tỉnh:

Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế trong đó có du lịch.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước tháng 4/2008 là Sở Thương Mại – Du Lịch) là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở tỉnh. Bộ máy của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được tổ chức theo Quyết định số 45/2008/QĐ – UBND ngày 09/9/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh hiện có Văn phòng, Thanh tra, Tổ chức cán bộ, Kế hoạch – Tài chính và 6 phòng nghiệp vụ, trong 6 phòng nghiệp vụ của Sở có một phòng nghiệp vụ Thể thao, 1 phòng nghiệp vụ Du lịch, còn lại là 4 phòng Nghiệp vụ Văn hóa. Qua đó có thể thấy ngay trong cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã không cân đối giữa 3 nghiệp vụ văn hóa, thể thao và du lịch.

Phòng Nghiệp vụ du lịch là phòng trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch với 20 nhiệm vụ.

Cơ cấu tổ chức của phòng Nghiệp vụ du lịch có 05 người: Trưởng phòng, phó phòng, và 3 chuyên viên. Với số lượng biên chế mỏng như vậy thì dù rất nỗ lực, cố gắng, phòng Nghiệp vụ cũng không thể làm tốt tất cả 20 nhiệm vụ được giao.

Ở cấp huyện, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về du lịch được lồng ghép với phòng văn hóa thông tin song chưa được quy định cụ thể rõ ràng.

Nhìn chung bộ máy quản lý nhà nước đã đang từng bước được nâng lên thực hiện nhiệm vụ của ngành cũng như thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch. Trong hoạt động quản lý nhà nước về du lịch đã chú trọng vận dụng các chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước về du lịch phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Tuy nhiên có thể thấy là tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch chưa đặt ngang tầm nhiệm vụ chính trị cả về quy mô, năng lực và quyền hạn. Phòng Nghiệp vụ du lịch thực hiện toàn bộ các nhiệm vụ quản lý nhà nước về du lịch nêu trên với đội ngũ cán bộ công chức quá mỏng (5 biên chế) nên chưa phát huy hết vai trò của quản lý nhà nước đối với du lịch. Ở cấp huyện, đội ngũ cán bộ chuyên viên làm công tác quản lý du lịch còn thiếu và yếu nên công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động ở cấp huyện gần như bỏ ngỏ.

Từ vấn đề nêu trên cho thấy, tổ chức của bộ máy nhà nước về du lịch chưa hợp lý, còn thiếu và còn yếu. Cơ cấu các phòng ban trong Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nặng về quản lý văn hóa (cơ cấu các phòng nghiệp vụ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 4-1-1). Ở cấp huyện, không có cán bộ quản lý về du lịch. Với bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về du lịch như hiện nay thì ngành Du lịch Hải Dương khó có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Từ những hạn chế về bộ máy tổ chức đã dẫn đến những hạn chế trong các khâu xây dựng và ban hành các chủ trương, chính sách về phát triển du lịch bền vững của Hải Dương. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

2.2.5.2 Hiện trạng quản lý hoạt động kinh doanh du lịch

Từ việc quản lý của bộ máy tổ chức về du lịch còn nhiều bất cập nên hiện trạng quản lý hoạt động kinh doanh du lịch còn nhiều bất cập; chất lượng quy hoạch chưa cao, nội dung quy hoạch phát triển du lịch theo vùng lãnh thổ và các định hướng xây dựng sản phẩm, tour, tuyến du lịch còn chung chung nên muốn thực hiện bất cứ nội dung nào cũng cần phải có quy hoạch chi tiết hoặc đề án, dự án cụ thể. Trong khi đó vốn đầu tư cho việc nghiên cứu, khảo sát xây dựng quy hoạch chi tiết và đề án, dự án từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến vấn dề đầu tư, phát triển sản phẩm. Do đó du lịch Hải Dương chưa tạo được điểm nhấn, chưa có những sản phẩm du lịch đặc trưng. Mặt khác các chỉ tiêu kinh tế- xã hội theo quy hoạch thấp hơn thực trạng phát triển kéo theo các dự báo, định hướng đầu tư xây dựng sản phẩm thấp hơn yêu cầu…

Việc quy hoạch chi tiết một số khu du lịch trọng điểm như Côn Sơn-Kiếp Bạc, làng Cò Chi Lăng Nam, khu du lịch thành phố Hải Dương…chậm được nghiên cứu, xây dựng nên việc xây dựng các công trình , kể cả các công trình du lịch ở nhiều nơi còn tùy tiện, chắp vá hoặc trùng lắp do nhiều chủ sở hữu, chủ quản lý khác nhau. Nguyên nhân chín là do kinh phí đầu tư từ Ngân sách nhà nước cho xây dựng chi tiết các khu du lịch còn hạn chế, sự phối hợp giữa các ngành liên quan và chính quyền địa phương trong xây dựng quy hoạch còn nhiều bất cập dẫn đến chậm tiến độ trong qua trình quy hoạch.

Việc quản lý các quy hoạch đã được phê duyệt cũng còn nhiều bất cập; tình trạng cấp phép đầu tư trong khu quy hoạch cho các dự án không theo quy hoạch vẫn diễn ra do không có sự phối hợp thống nhất của các ngành chức năng. Điển hình là các dự án xây dựng các trạm cấp nước sạch của công ty cổ phần Phú Khang trong khu du lịch Kính Chủ. Năm 2007, UBND tỉnh Hải Dương đã phê duyệt quy hoạch chi tiết khu du lịch này với việc giữ nguyên trạng 2 ngọn núi đá Lĩnh Đông nhưng đến năm 2008 lại cấp chứng nhận cho công ty Phú Khang khai thác đá, cải tạo 2 ngọn núi này xuống cốt âm 10m để làm hồ sinh thái và trạm cấp nước. Việc cho phép đầu tư không theo quy hoạch đã gây tác động tiêu cực đến tài nguyên du lịch và phát triển bền vững trong các khu du lịch.

2.2.5.3. Quản lý hoạt động kinh doanh du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Quản lý hoạt động kinh doanh du lịch là một trong những nội dung quản lý nhà nước về du lịch. Hiện nay, tỉnh Hải Dương có 157 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch trong các linh vực: lưu trú,lữ hành, vận chuyển khách du lịch, ăn uống, điểm dừng chân và các dịch vụ vui chơi giải trí. Chủ thể quản lý nhà nước trực tiếp đối với các đơn vị này là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bên cạnh đó, kinh doanh du lịch còn là đối tượng quản lý của nhiêu ngành chức năng như Sở giao thông vận tải quản lý phương tiện vận chuyển khách du lịch, Công an quản lý về trật tự an ninh, xuất nhập cảnh; Tài chính, Thuế quản lý thuế, phí và lệ phí; Tài nguyên môi trường quản lý về đất đai, tài nguyên…

Những năm qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương (trước đây là Sở Thương Mại và Du lịch Hải Dương) đã luôn trú trọng công tác quản lý kinh doanh du lịch. Từ việc tổ chức các hả hội nghị tập huấn pháp luật, chế độ chính sách mới của nhà nước liên quan đến các hoạt động du lịch, đến hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ và thanh tra, kiểm tra, phân loại, xếp hạng các cơ sở lưu trú du lịch và điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp lứ hành, vận chuyển khách du lịch, trung tâm mua sắm và điểm dừng dịch vụ du lịch. Tính đến nay, toàn tỉnh đã phân loại, xếp hạng được 105 cơ sở lưu trú đủ điều kiện kinh doanh du lịch, 16 doanh nghiệp lữ hành, 21 doanh nghiệp vận chuyển khách du lịch và 18 trung tâm mua sắm. Việc thường xuyên tuyên truyền chính sách pháp luật, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ kết hợp với thanh tra, kiểm tra đã có tác động tích cực, thúc đẩy các cơ sở kinh doanh chú tới công tác nâng cao chất lượng phục vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách được lực chọn dịch vụ theo yêu cầu về chất lượng.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch cũng còn nhiều bất cập. Các đơn vị kinh doanh du lịch thường sự chịu quản lý của nhiều ngành khác nhau, nếu thiếu sự phối hợp ở một khâu nào đó cũng ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện tượng phổ biến ở Hải Dương là thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong khâu thẩm định dự án đầu tư, do đó, có những dự án đầu tư được cấp phép không theo quy hoạch của ngành Du lịch đầu tư dang dở phải tạm dừng ( điển hình là dự án khu du lịch sinh thái Phú Khang), có dự án xây dựng khách sạn khi tiến hành thiết kế, đầu tư xây dựng không đúng tiêu chuẩn, gây lãng phí ảnh hưởng đến tính chuyên nghiệp, chất lượng phục vụ và hiệu quả kinh doanh…Việc thanh tra, kiểm tra theo chức năng riêng của từng ngành cuãng ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là đối với các hoạt động kinh doanh khách sạn, có những khách sạn trong cùng một ngày phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra của các cấp, ngành khác nhau. Những sự việc này diễn ra nhiều lần sẽ gây tâm lý không an toàn cho du khách, về lâu dài sẽ ảnh hưởng tới phát triển du lịch bền vững.

2.2.5.4. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch là một trong những lĩnh vực được ưu tiên phát triển. Ở trên địa bàn Hải Dương hiện có Trường Cao đẳng Kỹ thuật du lịch và Khách sạn trực thuộc Bộ Công Thương và Trường Trung cấp Nghiệp vụ Văn hóa nghệ thuật trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 2 đơn vị có chức năng đào tạo nghiệp vụ du lịch. Bên cạnh đó, Trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh cũng tăng cường phối hợp với các trường đại học trong nước và quốc tế để tổ chức các lớp đào tạo đại học, cao học về chuyên ngành du lịch. Các trường và trung tâm đào tạo hàng năm đã cung cấp cho nguồn nhân lực Hải Dương một số lượng khá lớn lao động du lịch. Cùng với công tác đào tạo lần đầu, hàng năm, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh thưởng tổ chức khoảng từ 3 đến 5 lớp bồi dưỡng kiến thức về du lịch và bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân, buồng, bàn, bar…cho đội ngũ cán bộ, công chức nhân viên làm công tác du lịch trên địa bàn tỉnh. Kinh phí tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ được trích từ nguồn ngân sách tỉnh và hỗ trợ của Chương trình Hành động quốc gia về du lịch.

2.2.6. Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch

Sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch và bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch có ý ghĩa rất lớn đối với phát triển du lịch. Thời gian qua, mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch còn rất thấp; người dân bản địa tham gia vào dịch vụ bán hàng lưu niệm phục vụ ăn uống, chụp ảnh, trông giữ xe, vận chuyển khách…tại các khu, điểm du lịch theo mùa vụ. Trình độ dân trí ở những nơi này chưa đồng đều, nhận thức về bảo vệ gìn giữ tài nguyên môi trường cho hoạt động du lịch chưa được khắc sâu trong mỗi người dân. Do vậy vẫn còn tình trạng đeo bám khách, lợi dụng tín ngưỡng, ép giá, mất vệ sinh, xả rác trong khu di tích, khu du lịch…tác động tiêu cực đến phát triển du lịch bền vững. Cần có những giải pháp hữu hiệu xây dựng các sản phẩm du lịch mới, nâng cao hiểu biết và khuyến khích cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch để đảm bảo phát triển du lịch bền vững.

2.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch ở Hải Dương trên quan điểm phát triển du lịch bền vững và những vấn đề đặt ra.

2.3.1. Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch ở Hải Dương trên quan điểm phát triển du lịch bền vững

Qua đánh giá, phân tích thực trạng phát triển du lịch từ năm 2001 đến nay,đặc biệt giai đoạn 2006- 2010 đối chiếu với mục tiêu và nội dung của đề án phát triển du lịch giai đoạn 2006- 2010 có thể đánh giá tổng hợp như bảng sau:

Bảng 2.11. Bảng đánh giá tổng hợp việc thực hiện các chỉ tiêu Đề án phát triển du lịch giai đoạn 2006- 2010

Đánh giá chung: Giai đoạn 2006- 2010 ngành du lịch duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Tuy nhiên các chỉ tiêu về khách du lịch, doanh thu du lịch chưa đạt được mục tiêu của đề án đề ra là do nhiều nguyên nhân. Trong đó có 2 nguyên nhân cơ bản: Thứ nhất từ nguyên nhân chủ quan, kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch từ ngân sách nhà nước còn thấp, các quy hoạch chi tiết chậm được xây dựng nên thiếu căn cứ pháp lý để thu hút đầu tư. Thứ hai là nguyên nhân khách quan từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu và đại dịch cúm A (H1N1) đã làm cho nguồn khách suy giảm mạnh.

2.3.2. Những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Nghiên cứu của các nhà khoa học và kinh tế cho thấy, ba trụ cột của phát triển bền vững gồm sự bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và sự bền vững về tài nguyên- môi trường.

2.3.2.1. Từ góc độ bền vững về kinh tế

Khách du lịch là cơ sở cho sự phát triển của ngành Du lịch bởi lượng khách tăng đồng nghĩa với tăng thu nhập du lịch, tăng khả năng đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên một vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch từ góc độ kinh tế là chất lượng nguồn khách. Lượng khách quốc tế đến với Hải Dương còn thấp, khách du lịch thuần túy chủ yếu là đi theo tour chỉ dừng chân mua sắm, khách lưu trú phần lớn là khách thương mại, tìm kiếm cơ hội đầu tư kết hợp với du lịch và khách công vụ của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Khách nội địa chủ yếu là khách hành hương, lễ hội và đi về trong ngày, khách lưu trú chỉ chiếm 25% và cũng chủ yếu là khách công vụ. Hiệu quả khai thác khách du lịch còn thấp: thời gian lưu lại du lịch ngắn, chi tiêu cho mua sắm của cả khách quốc tế và khách nội địa còn thấp, mức độ hài lòng của khách du lịch đối với sản phẩm du lịch chưa cao. Muốn thu hút khách du lịch thuần túy, lưu giữ khách nhiều ngày hơn và tăng chi tiêu mua sắm cuả khách cần phải khai thác nguồn tài nguyên và đầu tư thành sản phẩm du lịch đích thực và hấp dẫn, vấn đề này đang là hạn chế lớn với ngành Du lịch Hải Dương.

Như vậy chất lượng nguồn khách du lịch đang là vấn đề rất quan trọng đặt ra đối với sự phát triển của du lịch đứng từ góc độ kinh tế mặc dù số lượng khách du lịch và thu nhập du lịch qua các năm đều ghi nhận sự tăng trưởng.

Với tư cách là một ngành kinh tế, sản phẩm du lịch là yếu tố rất quan trọng quyết định hiệu quả kinh doanh du lịch. Một sản phẩm du lịch tốt, có chất lượng và phù hợp với yêu cầu của khách du lịch sẽ có khả năng bán với giá cao, mang lại hiệu quả kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù Hải Dương có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng song trong nhiều năm qua những sản phẩm du lịch đặc sắc mang nét độc đáo riêng có của Hải Dương và những sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của khách từ những thị trường trọng điểm chưa được nghiên cứu và xây dựng hoặc chưa được đầu tư tương xứng với tiềm năng phát triển. Đây được xem là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất hạn chế hiệu quả kinh doanh du lịch, đồng thời theo thời gian gây sự nhàm chán cho du khách, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch bền vững.

Mức tăng trưởng đầu tư cho du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành: đầu tư là đòn bẩy để thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển trong đó có du lịch. Những năm qua, đầu tư vào lĩnh vực du lịch của các thành phần kinh tế ngoài khu vực nhà nước có gia tăng, song để du lịch thật sự phát triển bền vững cần có sự quan tâm hơn nữa từ phía nhà nước bằng việc phân bổ đầu tư cho sự nghiệp phát triển du lịch cân đối với các ngành kinh tế và tương xứng với vai trò của một ngành kinh tế quan trọng. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch còn hạn chế và chưa có hiệu quả. Việc quảng cáo sản phẩm du lịch chủ yếu dựa trên những gì sẵn có mà chưa quan tâm đến sản phẩm thị trường cần. Vì vậy, ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách du lịch, làm giảm hiệu quả kinh doanh của hoạt động du lịch. Thêm vào đó công tác tuyên truyền quảng bá tour của một số doanh nghiệp lữ hành về sản phẩm du lịch thiếu trung thực gây thất vọng đối với khách du lịch sau mỗi chuyến tham quan, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển du lịch.

Chất lượng nhân lực du lịch chưa được nâng lên ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ. Mặc dù Sở Thương mại và Du lịch trước đây cũng như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay đã có nhiều nỗ lực trong công tác bồi dưỡng nguồn nhân lực, tuy nhiên chất lượng đội ngũ lao động cũng như trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ, kỹ năng nghề, tin học, ngoại ngữ chưa theo kịp tốc độ phát triển chung đang là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm du lịch và đang là vấn đề đặt ra hiện nay.

2.3.2.2. Đánh giá từ góc độ tài nguyên- môi trường

Các nguồn tài nguyên du lịch chưa được khai thác nhiều cho phát triển du lịch. Tỷ lệ khai thác cũng như mức độ khai thác các loại tài nguyên du lịch còn thấp cho thấy các giá trị tài nguyên chưa được phát huy để có những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn. Đây là một trong những vấn đề cần đặt ra đối với sản phẩm du lịch từ góc độ khai thác tài nguyên.

Vấn đề quản lý tài nguyên du lịch còn chồng chéo giũa các cấp, ngành. Nhận thức xã hội về phát triển du lịch và khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch còn nhiều hạn chế, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh học đang là vấn đề đặt ra cho công tác quản lý và khai thác nguồn tài nguyên để phát triển du lịch.

Số lượng các khu, điểm du lịch được quy hoạch và đầu tư tôn tạo còn ít, hiện chỉ có khu An Phụ- Kính Chủ và khu đảo Cò Chi Lăng Nam được quy hoạch chi tiết. Các khu du lịch đang phát triển tự phát không có quy hoạch nên vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là khu du lịch trọng điểm Côn Sơn- Kiếp Bạc, do chưa có quy hoạch nên không có cơ sở pháp lý cho công tác khai thác và quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên; ở đây đang thiếu các sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch tâm linh đặc thù, các dịch vụ vui chơi giải trí có chất lượng cao, trong khi đó các thành phần kinh tế muốn có các dự án đầu tư phát triển du lịch lớn phải chờ quy hoạch; bên trong khu du lịch, ngoài nhà khách Hồ Côn Sơn của Văn phòng Tỉnh ủy chỉ có các dịch vụ ăn, nghỉ nhỏ lẻ của các hộ gia đình nên sản phẩm du lịch còn nghèo nàn. Vấn đề đặt ra để khắc phục tình trạng này là cần sớm có quy hoạch cụ thể cho những, khu, điểm du lịch đã được xác định trong quy hoạch phát triển du lịch Hải Dương đến năm 2020 để khai thác và bảo tồn có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch.

Cường độ hoạt động du lịch ở một số điểm du lịch chính (Côn Sơn-Kiếp Bạc, An Phụ- Kính Chủ…) còn thấp lại chỉ tập trung vào mùa lễ hội, gây áp lực lớn lên môi trường tại các thời điểm này. Ở những điểm du lịch này cần có những giải pháp cụ thể nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, kéo dài thời vụ khai thác, có như vậy mới giảm bớt áp lực đến môi trường, đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Hoạt động du lịch đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ bởi sự suy thoái môi trường tự nhiên, đặc biệt là sự ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí, sự suy giảm đa dạng sinh học gây ảnh hưởng đáng kể đến phát triển du lịch bền vững. Những áp lực của môi trường lên hoạt động du lịch cũng như những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường đặt ra cho ngành du lịch yêu cầu phải có những đánh giá tác động môi trường tại các khu, điểm du lịch và giải pháp môi trường trong lĩnh vực du lịch.

2.3.2.3. Đánh giá từ góc độ xã hội

Mặc dù sự phát triển ngành Du lịch thời gian qua đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội, tạo thêm việc làm, tuy nhiên nhận thức xã hội về du lịch vẫn chưa được đầy đủ và nhất quán nên ảnh hưởng tới sự phối hợp giữa ngành Du lịch với các địa phương và các ngành có liên quan trong hoạt động du lịch.

Bên cạnh thực trạng trên, nhận thức xã hội về du lịch từ phía cộng đồng cũng chưa đầy đủ vì vậy tình trạng đeo bám, ép khách, khai thác bừa bãi các tài nguyên du lịch đã có ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh du lịch Hải Dương cũng như làm suy thoái các nguồn tài nguyên du lịch.

Trong hoạt động phát triển du lịch thời gian qua, vấn đề xã hội hóa du lịch cũng đã và đang được thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc phát triển quá nhanh hệ thống các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, lữ hành ở quy mô nhỏ vượt qua năng lực quản lý đã tạo thêm sức mạnh cho xã hội về những tiêu cực nảy sinh (phá giá, gây hỗn loạn trong kinh doanh, các tệ nạn xã hội…). Đây là một vấn đề ảnh hưởng ngược lại đối với phát triển du lịch từ góc độ xã hội. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Sự tồn tại một ranh giới mong manh giữa “phát huy” và “biến đổi” các giá trị truyền thống sinh hoạt của cộng đồng do tác động của hoạt động du lịch. Nếu du lịch phát triển song hành với việc “phát huy” truyền thống sinh hoạt cộng đồng thì đó sẽ là sự phát triển bền vững, trong trường hợp có sự “biến đổi” thì sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững bởi bản thân hoạt động du lịch phát triển được nhờ việc khai thác các giá trị nguyên bản, đặc sắc của sinh hoạt truyền thống cộng đồng. Một thực rtế đang diễn ra trong hoạt động du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển du lịch bền vững là đã xuất hiện những biến đổi trong hoạt động du lịch.

Mọi hoạt động phát triển chỉ bền vững nếu được sự ủng hộ của xã hội nói chung, của cộng đồng nơi diễn ra hoạt động đó nói riêng. Vấn đề đặt ra cho phát triển du lịch từ góc độ xã hội là phải nâng cao nhận thức xã hội về vị trí, vai trò của Du lịch, xã hội hóa hoạt động du lịch và chia sẻ lợi ích thu được từ du lịch với cộng đồng dân cư.

2.3.2.4. Đánh giá từ góc độ quản lý nhà nước

Bộ máy quản lý về du lịch thời gian qua có sự thay đổi song đã sớm được kiện toàn, ổn định và phát huy được chức năng quản lý nhà nước; xây dựng và triển khai quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch.

Tuy nhiên còn một số vấn đề đặt ra cho phát triển du lịch từ góc độ quản lý nhà nước là bộ máy tổ chức quản lý du lịch chưa phù hợp với nhiệm vụ phát triển ngành kinh tế: số lượng công chức trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn ít nên chưa triển khai được hết chức năng, nhiệm vụ được phân công. Bộ máy ở cấp huyện chưa phù hợp và chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong cơ cấu tổ chức hiện nay của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn thiếu một bộ phận quan trọng đảm bảo cho sự phát triển du lịch bao gồm bộ phận chuyên trách về thông tin, xúc tiến du lịch; bộ phận quản lý về khoa học, công nghệ và môi trường. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương.

Hướng tới phát triển du lịch bền vững, cùng với việc kiện toàn bộ máy tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch ở Hải Dương cũng còn một số vấn đề cần quan tâm như sớm điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hải Dương đến năm 2020 và xây dựng các khu du lịch trọng điểm; xây dựng và ban hành các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch của địa phương; cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý tài nguyên du lịch và quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537