Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả Na Hang là một bài luận văn tốt nghiệp được tác giả lựa chọn bởi nhận thấy được tiềm năng tiềm tàng của Na Hang. Na Hang từ lâu đã có lợi thế về môi trường tự nhiên còn tương đối trong lành chưa bị ô nhiễm, cảnh quan tự nhiên hoang sơ, khí hậu không khắc nghiệt nên rất thuận lợi cho hoạt động du lịch nơi đây. Tài nguyên du lịch sinh thái ở Na Hang khá phong phú và đa dạng, có thể kết hợp được nhiều loại hình du lịch trong một chuyến đi tạo nên sản phẩm du lịch phong phú, đáp ứng được yêu cầu của một trung tâm du lịch trong tương lai gần. Đề tài: Tìm hiểu điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang dưới đây, mời các bạn tham khảo.
2.1 Khái quát chung về Na Hang, Tuyên Quang
2.1.1. Vị trí địa lý, diện tích
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Na Hang là một huyện vùng cao phía bắc của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm thị xã Tuyên Quang 110 km, cách Hà Nội 259 km . Huyện có diện tích là 1471,7 km2. Có tọa độ địa lý 22°21′14″ vĩ độ Bắc 105°23′16″ kinh độ Đông. Phía bắc giáp huyện Bắc Mê – tỉnh Hà Giang, huyện Bảo Lạc – tỉnh Cao Bằng. Phía đông giáp huyện Chợ Đồn – tỉnh Bắc Kạn. Phía nam giáp huyện Chiêm Hoá – tỉnh Tuyên Quang. Phía tây giáp huyện Bắc Quang – tỉnh Hà Giang. Huyện có một thị trấn là thị trấn Na Hang và 16 xã: Sinh Long, Thượng Giáp, Phúc Yên, Thượng Nông, Xuân Lập, Côn Lôn, Yên Hoa, Khuôn Hà, Hồng Thái, Đà Vị, Khau Tình, Lăng Can, Thượng Lâm, Sơn Phú, Năng Khả, Thanh Tương. Với gần 20 dân tộc anh em chung sống. Thiên nhiên đã ban tặng cho Na Hang cảnh vật kỳ vỹ, nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá. Trước kia, đi từ thị xã Tuyên Quang lên Na Hang phải mất cả ngày đường nhưng bây giờ chỉ mất 2 giờ đi xe khách.
Na Hang luôn tự hào với sức cuốn hút kỳ lạ của một vùng sinh thái đa dạng, là nơi hợp nhất của hai con sông. Nơi đây còn được biết đến bởi nét văn hóa độc đáo của nhiều dân tộc, những câu truyện nhân gian và huyền thoại vẫn được lưu truyền, kể lại và còn được in đậm mãi mãi trên những ngọn núi, rừng cây, con suối và chính trong cuộc sống của đồng bào dân tộc nơi đây. Cái tên Na Hang bắt nguồn từ hai chữ Nà Hang, theo tiếng đồng bào dân tộc Tày có nghĩa là ruộng cuối. Nếu ai chưa một lần đến với Na Hang thì thoáng nghe qua tên “Na Hang” cũng cảm thấy đường đến với miền sơn cước này đường đèo, dốc núi đá . Đến Na Hang chúng ta không khỏi bất ngờ về sự hùng vĩ của núi rừng Tuyên Quang, càng lên cao chúng ta lại cảm nhận được sự hùng vĩ, rộng lớn, núi non mây trời hòa quyện, những cảnh đẹp của ngọn núi, rừng cây, dòng sông dần hiện ra trước mắt như một bức tranh lớn. Trước đây Na Hang thuộc tỉnh Tuyên Quang, năm 1976 Hà Giang và Tuyên Quang sáp nhập thành Hà Tuyên, Na Hang thuộc tỉnh HàTuyên. Năm 1991, tỉnh Hà Giang tách khỏi Hà Tuyên , Na Hang trở thành huyện của tỉnh Tuyên Quang. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
2.1.1.2. Địa hình
Địa hình Na Hang đa dạng: hình đồi núi kết hợp với sông, suối, hồ thác. Địa hình Karst với các hang động đẹp, phong cảnh được ví như “Hạ Long giữa đại ngàn”. Địa hình đồi núi thuộc cánh cung Sông Gâm, có nhiều núi đá vôi, tập trung ở phía Nam và phía Bắc, độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam. Nằm ở độ cao trên 1000 m so với mực nước biển. Na Hang được chia thành 3 khu: A,B,C
- Tiểu vùng khu A, ở phía Nam của huyện gồm 3 xã và 1 thị trấn, so với 2 khu B, C, giao thông ở khu A thuận lợi hơn.
- Tiểu vùng khu B, ở phía Bắc của huyện gồm 5 xã, địa hình có nhiều núi đá cao, xã xa nhất là Xuân Lập, cách trung tâm huyện 51 km.
- Tiểu vùng khu C, ở phía Đông và Bắc của huyện gồm 8 xã, địa hình chủ yếu là núi cao.
Huyện Na Hang nằm trong lưu vực của 2 sông lớn là sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua núi Đổ xã Thượng Tân huyện Bắc Mê vào địa phận Na Hang với chiều dài 53 km, hướng sông chảy từ Bắc xuống Nam. Sông Năng bắt nguồn từ tỉnh Cao Bằng xuống hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) chảy qua Thác Đầu Đẳng vào địa bàn huyện Na Hang với chiều dài 25 km; hai sông hợp với nhau tại chân núi Pắc Tạ cách thượng lưu đập thuỷ điện 2 km. Ngoài ra 2 con sông Gâm và sông Năng, Na Hang còn có nhiều khe, lạch, suối nhỏ và trung bình.
Địa hình ở Na Hang thuận lợi cho việc phát triển thủy điện. Nhà máy thủy điện Tuyên Quang được xây dựng ở đây. Núi ở đây phần lớn là núi đá vôi. Đất đai có thành phần cơ giới tự nhiên nhẹ đến trung bình, tầng dầy nhiều mùn, hơi chua, độ pH từ 4,5 – 6, độ ẩm tương đối cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng như lê, mận, chè bông và thuận lợi cho phát triển nghề rừng.
Có thể nhận thấy rằng địa hình ở đây rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái bởi nơi đây có hai con sông lớn với những dãy núi hang động huyền ảo. Du khách có thể du thuyền trên lòng hồ thủy điện lớn thứ 2 trên cả nước. Rồi được ghé thăm thác Mơ, thác Khuẩy Súng, Khuẩy Nhi, Khuẩy Me, Tin Tát, Thăm hang Phia Vài (nơi phát hiện ra hai di tích mộ táng và một di tích bếp lửa thuộc thời đồ đá trên 10.000 năm) , được chiêm ngưỡng những cánh rừng nguyên sinh có hàng nghìn năm tuổi.
2.1.1.3. Khí hậu, thủy văn ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Na Hang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều. Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, không khí lạnh, khô hanh ít mưa, có nhiều sương muối cục bộ. Nhiệt độ trung bình năm 26oC, cao nhất 40oC, thấp nhất 0oC . Lượng mưa trung bình hàng năm 1.800mm. Độ ẩm không khí trung bình 85%.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mà khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa bình quân 1.941,5 mm/năm (thấp hơn so với các vùng khác của tỉnh Tuyên Quang 2.050 – 2500 mm/năm), lượng mưa phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa 1.765 mm, chiếm 91% lượng mưa cả năm. Các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc hơi nước lại rất lớn (tháng 1 có lượng bốc hơi lớn nhất tới 100 mm). Do vậy đã dẫn đến hiện tượng sói mòn, rửa trôi, lũ lụt vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô gây ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của nhân dân.
2.1.1.4. Tài nguyên đất
Qua bảng số liệu ta thấy, trong tổng diện tích đất tự nhiên của huyện thì chủ yếu là diện tích đất nông – lâm nghiệp, thủy sản với 72.182,8 ha chiếm 88,42% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện; trong đó đất sản xuất lâm nghiệp chiếm 85,15%, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 14,52% và đất nuôi trồng thủy sản chiếm 0,33%.
Ngoài ra, huyện còn có một diện tích lớn đất chưa sử dụng với 7.007,69 ha chiếm 8,58% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện. Tuy nhiên, diện tích đất chưa sử dụng này lại chủ yếu là đất núi đá không có rừng cây, ít có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân.
Kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/50.000 của huyện do Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp xây dựng, toàn huyện có 4 nhóm đất chính:
- Đất phù sa: 1.816 ha chiếm 2,16% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện.
- Đất đen: 935,5 ha chiếm 1,11% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện.
- Đất xám bạc màu: 63.917,7 ha chiếm 76,13% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, phân bố ở các thung lũng trên địa bàn tất cả các xã trong huyện.
- Đất đỏ: 3.770,8 ha chiếm 4,49% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện.
Các loại đất khác: 13.570,44 ha chiếm 16,16% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện.
Nhìn chung đất thoát nước tốt, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, đất có phản ứng chua, đến chua mạnh (PH = 4 – 4,5), nghèo các chất dinh dưỡng dễn tiêu, Cation kiềm trao đổi, độ no Bagơ và dung dịch hấp thụ thấp. Đất bị rửa trôi xói mòn mạnh làm phân dị phẫu diện đất theo thành phần cơ giới: Phần trên phẫu diện đất có phong hoá bị sét nghèo và Sesquioxit. Hiện tượng này đặc biệt rõ ở nhóm đất xám.
Diện tích đất có tầng canh tác dày chỉ chiếm 8,3%, tầng canh tác dày trung bình 35,5% và tầng mỏng chiếm 50% diện tích tự nhiên của huyện. Về độ dốc của đất, độ dốc từ 0o-8o chiếm 6%; từ 8o-15o chiếm 13%; từ 15o– 25o chiếm 32,8%; độ dốc lớn hơn 25o chiếm 41,22% diện tích đất của huyện. Về độ cao: đất bằng chiếm 6%; đất đồi và đất thấp (25-200 m) chiếm 31%; đất núi ở độ cao trên 200 m chiếm 60% diện tích đất tự nhiên của huyện.
2.1.1.5. Tài nguyên nước ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Nước là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống và sản xuất của con người. Na Hang nằm trong lưu vực của 2 sông lớn: Sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua núi Đổ xã Thượng Tân huyện Bắc Mê vào địa phận Na Hang với chiều dài 53 km, hướng sông chảy từ Bắc xuống Nam; Sông Năng bắt nguồn từ tỉnh Cao Bằng xuống hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) chảy qua Thác Đầu Đẳng vào địa bàn huyện Na Hang với chiều dài 25 km; hai sông hợp với nhau tại chân núi Pắc Tạ cách thượng lưu đập thuỷ điện 2 km. Ngoài ra 2 con sông Gâm và sông Năng, Na Hang còn có nhiều khe, lạch, suối nhỏ và trung bình.
Ngoài ra trên địa bàn huyện có khá nhiều hồ, đầm lớn nhỏ khác nhau, nguồn nước ngầm cũng tương đối phong phú, chất lượng nước phần lớn là nước ngọt, mềm, chưa bị ô nhiễm là nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.
Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, mực nước mặt hạ thấp vào mùa khô và hệ thống thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu của huyện còn nhiều hạn chế nên tuy có nguồn nước khá phong phú nhưng vẫn dẫn đến tình trạng thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp, nhất là trong vụ Đông – Xuân.
Có thể bạn quan tâm:
2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
2.1.2.1. Dân số
Diện tích của huyện là 1.471,7 km²và dân số năm 2006 là 54.742 người.
Mật độ dân số: 45 người/km2.
Đơn vị hành chính:
Gồm 1 thị trấn Na Hang và 16 xã: Sinh Long, Thượng Giáp, Phúc Yên, Thượng Nông, Xuân Lập, Côn Lôn, Yên Hoa, Khuôn Hà, Hồng Thái, Đà Vị, Khau Tình, Lăng Can, Thượng Lâm, Sơn Phú, Năng Khả, Thanh Tương.
Na Hang là nơi sinh sống của các dân tộc: Tày (57,52%), Dao (23,38%), Kinh (9,72%), H’Mông (5,31%), còn lại là các dân tộc khác.
Tại thời điểm năm 2013, dân số huyện Na Hang là 42.816 người, mật độ dân số trung bình 50 người/km2. Tổng số hộ toàn huyện là 12.571 hộ. Bình quân mỗi hộ có 3,33 nhân khẩu. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Diện tích từ năm 2006 đến năm 2011 đã giảm gần 1/2 .Có thể thấy rằng dân số của huyện từ năm 2006 đến năm 2011 đã giảm 12280 người qua 5 năm. với mật độ dân số tăng theo từng năm. Dân số từ năm 2011 đến năm 2015 tăng không đáng kể.
Khu vực nông thôn có 11.753 hộ với 39.565 nhân khẩu, chiếm 93,49% tổng số hộ và 94,5% tổng số nhân khẩu toàn huyện. Tổng số lao động trong nông thôn toàn huyện là 24.649 lao động, chiếm 62,3% dân số thông thôn và 92,15% tổng số lao động trong toàn huyện. Số lao động trong ngành nông nghiệp
22.587 lao động, chiếm 84,44% số lao động trong toàn huyện. Số lao động trong ngành công nghiệp chiếm 6,89% và ngành dịch vụ chiếm 8,67% tổng số lao động trong toàn huyện. Điều đó cho chúng ta thấy số lao động trong nông thôn chủ yếu là lao động trong ngành nông nghiệp thuần tuý, số lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ lại chủ yếu tập trung tại khu vực thị trấn. Vì vậy đã gây khó khăn trong việc phát triển kinh tế và công cuộc xoá đói giảm nghèo.
2.1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội của Na Hang
Na Hang là huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, tuy những năm qua được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước nhưng cho đến nay mặt bằng chung của huyện vẫn là một huyện nghèo nhất tỉnh Tuyên Quang. Trong những năm qua huyện Na Hang đã đạt được một số kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội cũng như nâng cao đời sống của nhân dân địa phương.Thể hiện qua các mặt sau:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện trong năm 2015 đạt 11,6%, đây là một kết quả rất đáng khích lệ đối với một huyện vùng cao còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu về thu nhập và đời sống của người dân cũng đạt được những thành tựu đáng kể. Cụ thể thu nhập bình quân đầu người năm 2012 là 9,5 triệu đồng/người/năm, đến năm 2015 đạt 11 triệu đồng/người/năm; sản lượng cây lương thực có hạt năm 2012 là 38.650 tấn, đến năm 2015 đạt 52.072 tấn; sản lượng lương thực có hạt bình quân trên đầu người của huyện năm 2015 đạt 643 kg/người/năm. Về chỉ tiêu xoá đói giảm nghèo của huyện cũng đạt được nhiều thành công, cụ thể tỷ lệ đói nghèo của huyện năm 2012 là 34,79% đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 21,57%.
* Về sản xuất nông nghiệp:
- Trồng trọt: ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Mặc dù có những khó khăn như diện tích đất nông nghiệp thấp, khả năng thuỷ lợi không đảm bảo cho sản xuất vụ đông, tuy nhiên trong năm qua ngành sản xuất trồng trọt của huyện cũng đạt được một số thành công như: Sản lượng lương thực có hạt năm 2015 đạt 42.547 tấn, tăng 1,3% so với năm 2014 do sử dụng giống mới cũng như có phương pháp canh tác hợp lý.
Bên cạnh thành công của cây lương thực có hạt, diện tích của một số loại cây trồng lâu năm cũng tăng lên như: diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 158 ha, diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng 52 ha, diện tích cây ăn quả tăng 23 ha, diện tích cây chè trồng mới tăng 47 ha so với năm 2014.
- Chăn nuôi:
Chăn nuôi là một trong những thế mạnh của huyện Na Hang, bởi nơi đây có điều kiện về đồng cỏ chăn thả, cũng như do diện tích đất đồi nhiều nên thuận lợi cho phát triển chăn nuôi. Trong năm 2015 tổng đàn trâu của huyện là 7.982 con, giảm 2.194 con so với năm 2014. Đàn bò là 2.258 con, giảm 146 con so với năm 2014. Đàn lợn 37.153 con, gia cầm đạt 328.527 con. Nguyên nhân giảm chủ yếu của đàn trâu, bò là do những năm gần đây nhu cầu sức kéo bằng trâu, bò để phục vụ nông nghiệp giảm mạnh, đồng thời có những đợt rét đậm, rét hại kéo dài làm trâu, bò bị chết rét.
Lâm nghiêp: Na Hang là một trong các xã có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất tỉnh Tuyên Quang vì vậy đây chính là một thế mạnh lớn của huyện. Trong năm 2015 diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 1.685 ha, tăng 16,8% so với năm 2014, độ che phủ của rừng đạt 68,7%. Tuy diện tích rừng của huyện Na Hang nhiều nhưng hiện nay chưa thực sự gắn kết giữa phát triển nghề rừng với thu nhập của hộ nông dân, nhất là hộ nghèo, những hộ sống gần rừng.
- Phát triển tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ:
Trong những năm gần đây việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển tích cực, tạo điều kiện cơ bản cho tăng trưởng kinh tế của huyện trong thời gian tới. Hiện nay trên địa bàn huyện đã có 46 nhà máy, doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động. Năm 2015 tổng giá trị sản xuất của ngành đạt 436,8 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994).
2.2 Điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang
2.2.1 Tài nguyên du lịch sinh thái ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
2.2.1.1. Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên
Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang được thành lập trên quyết định số 274/UB- QĐ ngày 09/05/1994 của UBND tỉnh Tuyên Quang, Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang có diện tích 22.401,5 ha nằm trên địa bàn 4 xã Khau Tinh, Côn Lôn, Sơn Phú, Thanh Tương của huyện Na Hang.
Với diện tích mặt nước rộng trên 8.000 ha cùng với nhiều cánh rừng nguyên sinh và cảnh quan hùng vĩ, Hồ thủy điện Tuyên Quang đang thực sự trở thành điểm đến của nhiều du khách gần xa. Đối với huyện Na Hang, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Na Hang được đông đảo du khách biết đến với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Thác Mơ, Thác Pác Hẩu, Nặm Me, Khuổi Súng. Rừng đặc dụng Tát Kẻ, Bản Bung rộng trên 21.000 ha. Từ khi Công trình Hồ thủy điện Tuyên Quang đi vào hoạt động đã tạo cho Na Hang một vùng hồ rộng lớn kết nối các tuyến đường thủy từ Na Hang với 8 xã khu C của huyện và nối liền với khu danh thắng Quốc gia đặc biệt Ba Bể của tỉnh Bắc Cạn. Tuyến Na Hang nối với huyện Lâm Bình và huyện Bắc Mê của tỉnh Hà Giang. Ngoài những danh lam thắng cảnh nổi tiếng thì các đền, chùa như Chùa Pác Tạ, Pác Vãng có từ thế kỷ thứ XIII cũng được trùng tu, khôi phục đã đáp ứng phần nào việc thăm quan, thưởng ngoạn các thắng cảnh và du lịch tâm linh của du khách.
Thắng cảnh thác Nặm Me (xã Khuôn Hà) là một con thác lớn tiêu biểu trong vùng, có chiều dài khoảng 4.000m, cao trên 200m so với mặt nước biển với 15 tầng thác lớn, xen giữa các tầng thác lớn là những tầng thác nhỏ với lưu lượng nước khá đều quanh năm. Thác có bề mặt rộng và thoáng, nước chảy bốn mùa len lỏi qua những cánh rừng nguyên sinh và dãy núi đá vôi trùng điệp, cây rừng cổthụ mang đặc trưng các loại gỗ quý hiếm vùng nhiệt đới, liền kề với mặt hồ thuỷ điện Tuyên Quang tạo phong cảnh đẹp và hấp dẫn.
Thắng cảnh Thượng Lâm (xã Thượng Lâm) với truyền thuyết 100 con chim phượng hoàng và 99 ngọn núi kỳ thú, nguyên sơ bao quanh lòng hồ xanh trong. Nơi đây được mệnh danh là Hạ Long trên cạn.
Thắng cảnh động Song Long là một hang động đẹp, cách mặt nước hồ thuỷ điện trên 200m, lòng hang có nhiều cột thạch nhũ với các hình thù kỳ thú, màu sắc lấp lánh như hoa cương, chia thành nhiều ngách ngăn nối tiếp nhau, hấp dẫn khách đến tham quan du lịch.
Ngoài ra ngay bên thị trấn Nà Hang có thác nước Pác Ban kỳ ảo, thơ mộng, được Bộ Văn hoá -Thông tin xếp hạng là thắng cảnh quốc gia. Thác Pác Ban có chín tầng (5 tầng thác lớn, 4 tầng thác nhỏ). Đây là điểm du lịch sinh thái với thảm thực vật phong phú nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bung (Nà Hang) không chỉ hấp dẫn du khách bởi cảnh quan thiên nhiên kỳ thú mà còn bởi những nét văn hoá riêng với những điệu hát then, hát lượn, hát sli và kho tàng truyện cổ tích truyền miệng..
2.2.1.2. Tài nguyên sinh vật ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Huyện Na Hang có nhiều rừng nguyên sinh, thảm thực vật tương đối dày đặc, độ che phủ 83% diện tích tự nhiên,có khoảng 70% là rừng trên núi đá vôi, tuy nhiên còn có những vùng rừng thường xanh còn lại trên các đai thấp (Cox, 19942). Có nhiều loài động thực vật quý hiếm,đã xác định được trên 2.000 loài thực vật với nhiều loài trong Sách đỏ Việt Nam. Những loại gỗ quý như : Trai (Garcinia fragraeoides), Mun (Diospyrus mollis), Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Lát Hoa (Chukrasiatabularis A.juss), Đinh (Markhamia stipulata), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Hoàng đàn, Trầm gió., sến táu, những cây nghiến hàng ngàn năm tuổi… vẫn được gìn giữ và bảo vệ tại nơi đây.Có rất nhiều loài hoa rừng nổi lên trong đó là những nhánh địa lan rừng sặc sỡ đang đua nở trên những vách đá treo leo hay những nhành lan trên những ngọn cây cổ thụ.Hệ động vật trong khu bảo tồn có độ đa dạng sinh học cao, đã ghi nhận được 90 loài thú, 263 loài chim, 61 loài bò sát, 35 loài lưỡng cư. Có 13 loài thú trong Sách đỏ Việt Nam. Đặc biệt đây là nơi duy nhất ở Việt Nam có loài Voọc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn nhất được ghi vào sách đỏ thế giới, đây là loài Linh trưởng đang bị đe dọa toàn cầu. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, tổ hợp rừng trên núi đá vôi Na hang nằm trong hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới Bắc Đông Dương. Tại đây có 8 loài Khỉ hầu bị đe dọa tuyệt chủng mang tính toàn cầu. Vùng phân bố thế giới của loài Voọc mũi hếch và Voọc đầu trắng đều ở trong hệ sinh thái này. Chính vì vậy, Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới của Mỹ (WWF-US) đã xác định đây là trong trong 223 hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới (Olson & Dinnerstein, 19983 ).
Đến Na Hang du khách còn được thỏa sức bơi, tắm mình dưới các thác nước do thiên nhiên ban tặng, bơi thuyền trên hồ đánh bắt cá đặc sản như Cá Chiên, Cá Quất, Cá Chép và hàng trăm loài thủy sản khác, được tự tay chế biến những món ăn vùng cao…
2.2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn
Không chỉ có những tài nguyên về thiên nhiên, nơi đây còn được biết đến với một kho tàng lịch sử văn hóa độc đáo, điển hình là việc phát hiện ra di tích mộ táng của người Việt cổ xưa có niên đại trên dưới 10.000 năm tuổi tại hang Phia Vài (xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình). Tại buổi lễ khai mạc Tuần Văn hoá – Du lịch với chủ đề “Hồ trên núi” của huyện Nà Hang nằm trong Tuần Văn hoá – Du lịch “Về với xứ Tuyên” năm 2009 của tỉnh diễn ra đêm 04/10/2009, Đảng bộ và nhân dân huyện Nà Hang đã tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia cho các di tích, gồm: Hang Phia Vài, động Song Long, thác Nặm Me (Khuôn Hà); hang Phia Muồn (Sơn Phú); đền Pác Tạ (thị trấn Nà Hang); chùa Phúc Lâm, Xưởng Quân khí H52, thắng cảnh Thượng Lâm (Thượng Lâm); Cơ quan Ấn loát đặc biệt Trung ương, Địa điểm sản xuất diêm tiêu (Năng Khả).
Di tích đền Pác Tạ (thị trấn Nà Hang) là một trong những dấu tích còn lại minh chứng cho cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai năm 1285: vị tướng tài giỏi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật lúc đó đương trấn thủ vùng đất Tuyên Quang đã khôn khéo chỉ huy quân chống giặc từ Vân Nam xuống. Theo những tư liệu lịch sử cho thấy, ngôi đền Pác Tạ được dựng lên bên Gâm giang dưới ngọn Tạ sơn để phụng thờ và ngưỡng vọng vị hôn phu (người vợ sắp cưới) của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Di tích hang Phia Vài (Khuôn Hà) là di chỉ khảo cổ điển hình, tìm thấy hàng nghìn công cụ lao động có niên đại cùng thời văn hóa Hòa Bình và bộ di cốt người nguyên thủy bán hóa thạch. Những di cốt động vật chủ yếu thuộc tập hợp bán hóa thạch của lớp địa tầng kết vón tầng văn hóa sớm, trong tập hợp di cốt bán hóa thạch có răng người khôn ngoan (Homo sapiens) và đại diện của quần động vật hậu kỳ Cánh tân như đười ươi (Pongo sp). Những di cốt này nằm trong lớp trầm tích có độ kết vón rắn chắc cùng với các di tích động thực vật khác như ốc núi, cua đá, hạt trám là những di vật đặc trưng cho giai đoạn văn hóa có niên đại từ 20.000 đến 11.000 năm cách ngày nay. Những di cốt động vật bán hóa thạch tìm được ở Phia Vài bổ sung thêm những tư liệu quý để nghiên cứu về cổ môi trường và con người trong giai đoạn chuyển từ Cánh tân sang Toàn tân ở nước ta. Bếp lửa và mộ táng của di chỉ hang Phia Vài đã góp thêm tư liệu quý để tìm hiểu về táng tục, đời sống tinh thần cũng như cấu trúc xã hội của cư dân tiền sử. Bộ di cốt người nguyên thủy chôn nằm co, bó gối với cách khâm liệm độc đáo, táng thức bỏ ốc biển vào hốc mắt người quá cố đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu cổ nhân học tìm được những chứng tích quan trọng về quá trình tiến hóa chủng tộc người, cũng là bộ di cốt điển hình, độc đáo ở Đông Nam Á. Di tích bếp lửa tìm được ở Phia Vài thuộc lớp văn hóa muộn có niên đại khoảng 8.000 năm cách ngày nay, diện tích bếp không lớn, có thể phục vụ việc sưởi ấm hoặc nướng thức ăn cho một nhóm cộng đồng người theo kiểu huyết thống.
Di tích hang Phia Muồn (Sơn Phú) nằm trong khu vực phổ biến là những núi đá phiến sét vôi xen kẽ những núi đất, những dải thung lũng hẹp và những thảm rừng nguyên sinh còn khá nguyên vẹn. Phia Muồn là một di chỉ cư trú và là khu mộ táng của cư dân thuộc nhiều giai đoạn tiền sử khác nhau. Địa tầng và di vật khảo cổ học kèm theo cho thấy có 2 mức văn hóa thuộc 2 giai đoạn phát triển hậu kỳ đá mới: Mức sớm chứa những công cụ tiêu biểu kỹ nghệ truyền thống Hòa Bình như rìu ngắn, công cụ hình đĩa, công cụ bầu dục vv… Sự có mặt của nhiều mảnh tước chứng tỏ người nguyên thủy Phia Muồn đã chế tác công cụ ngay tại di chỉ. Lớp văn hóa sớm thuộc giai đoạn sớm của hậu kỳ đá mới, có niên đại khoảng từ 4.300 – 4.000 năm cách ngày nay. Lớp văn hóa muộn thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí có niên đại từ 4.000 – 3.500 năm cách ngày nay. Hai lớp văn hóa sớm và muộn nằm chồng trực tiếp lên nhau, phát triển liên tục, không có lớp giãn cách. Táng tục và đồ tùy táng cho thấy, toàn bộ 12 ngôi mộ thuộc hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí là tục chôn người thân ngay trong di chỉ, với một số loại táng thức mới: bên cạnh táng thức truyền thống trước đó, kiểu chôn người chết nằm co, bó gối là táng thức nằm ngửa, duỗi tay chân và kè đá xung quanh. Những tài liệu ở Phia Muồn đã cung cấp thêm về một loại táng thức cổ mới phát hiện ở Tuyên Quang, đó là tục chôn kè đá vây xung quanh huyệt mộ và rải đá lên thân thể người chết đã hình thành một loại hình văn hóa Hòa Bình thuộc lưu vực sông Gâm, với những sắc thái riêng, tạo nên diện mạo, bản sắc vùng, phản ánh tính đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng.
Di tích Cơ quan Ấn loát đặc biệt Trung ương (Năng Khả): Ngày 7-10-1947, giặc Pháp ồ ạt tấn công lên Việt Bắc hòng triệt phá cơ quan đầu não kháng chiến và các cơ sở kháng chiến của ta. Chúng nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, tiến công thành hai gọng kìm chiếm đánh thị xã Tuyên Quang, đánh lên Bản Thi (Chiêm Hóa) và dò tìm, triệt phá cơ sở in bạc Việt Nam và đầu não kháng chiến của ta. Nắm bắt trước ý đồ của thực dân Pháp xâm lược, công nhân Cơ quan Ấn loát đã được lệnh đánh sập nhà xưởng, ngụy trang máy móc và di chuyển số tiền đã được sản xuất trị giá 20 triệu đồng lên cất giấu tại hang Nà Thẳm và hang Nà Bó, thôn Nà Chác, xã Năng Khả (Nà Hang). Nơi đây cũng là địa điểm tổ chức in tiền đầu tiên của nhà nước cách mạng Việt Nam.
Di tích Xưởng Quân khí H52 (Thượng Lâm) và địa điểm sản xuất diêm tiêu (Năng Khả) là 2 cơ sở trọng yếu khai thác và sản xuất diêm tiêu phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn từ năm 1950 đến 1954, nơi có vị trí bảo đảm bí mật, an toàn, là nơi có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất diêm tiêu thô và than củi (hai nguyên liệu chính để sản xuất thuốc súng). Xưởng Quân khí H52 do đồng chí Ngô Gia Khảm làm giám đốc, chuyên sản xuất diêm tiêu làm thuốc súng (còn gọi là thuốc đen) đã đáp ứng một phần chế tạo vũ khí như lựu đạn, mìn, thuốc phóng, dây cháy chậm, pháo hiệu phục vụ chiến trường.
Các phong tục tập quán và sinh hoạt văn hóa truyền thống Cộng đồng địa phương ở Na Hang vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống, phong tục tập quán đặc trưng, đặc biệt là đồng bào người Tày và người Dao. Cộng đồng người Tày và người Dao ở Na Hang vẫn giữ nguyên vẹn ngôn ngữ gốc của mình. Các công trình kiến trúc nhà ở tuy đã được trang bị vệ sinh, hiện đại phù hợp với nếp sống văn minh, tiêu chuẩn nông thôn mới nhưng vẫn giữ gìn phong cách kiến trúc cổ truyền. Các món ẩm thực phong phú của đồng bào dân tộc thiểu số như: Cơm lam, thịt trâu khô, thịt lợn chua, xôi ngũ sắc, lẩu cá lăng, các món làm từ cá nheo hay rượu ngô… đều đem lại sức hấp dẫn đối với khách du lịch. Đồng bào các tộc người ở Na Hang có đời sống văn hoá, tinh thần khá phong phú. Trong lao động cải tạo thiên nhiên, xây dựng quê hương, đồng bào đã sáng tác nhiều bài ca, điệu múa thể hiện sự kỳ vĩ của thiên nhiên, ý chí vươn lên và niềm khát khao phấn đấu của mình cho cuộc sống vui tươi, hạnh phúc. Đồng bào Tày vẫn phổ biến chơi đàn tính tẩu và hát các làn điệu: hát then, hát cọi, hát quan làng. Người Dao có điệu hát Páo Dung gồm các loại hình: Páo Dung sinh hoạt (Hát giao duyên, hát ru, hát đồng dao, hát than, hát răn dạy); Páo dung lễ nghi, tín ngưỡng – phong tục (Hát trong đám cưới, hát trong lễ cấp sắc, hát cúng Bàn Vương, hát trong đám tang, vào nhà mới…); Páo Dung lao động sản xuất, nội dung đề cao tinh thần lao động sáng tạo, về thời tiết, mùa vụ được các thế hệ người Dao tích lũy và truyền dạy cho thế hệ sau.
2.2.1.4. Các lễ hội truyền thống ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Cho tới nay, cộng đồng ở Na Hang vẫn duy trì các tập tục lễ hội cổ truyền truyền.
- Lễ hội Lồng Tồng
Lễ hội Lồng Tồng ngày hội xuống đồng truyền thống của dân tộc Tày, mang theo niềm hy vọng một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Thường tổ chức vào mồng 4 tháng giêng âm lịch. Đây là lễ hội cầu Thần Nông, Thành Hoàng làng và Thần Địa phương của đồng bào dân tộc Tày, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, bản làng bình yên no ấm… Các sản phẩm làm ra từ nông nghiệp được dâng lên các vị thần linh như: bánh chưng, thịt lợn, trứng luộc, xôi ngũ sắc tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng cùng với những khát vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, sinh sôi nảy nở. Lễ hội Lồng Tồng Thị trấn Na Hang được chia thành hai phần. Phần lễ cầu Thần Nông cho mưa thuận, gió hoà, gia cầm sinh sôi, bản làng bình yên no ấm.. Phần hội với nhiều trò chơi dân gian truyền thống, trong đó, vui nhất, đông người tham gia nhất là hội tung còn. Người dân địa phương thường quan niệm rằng, trong hội phải có người tung được quả còn ngũ sắc xuyên thủng hồng tâm thì năm đó bản làng làm ăn thuận lợi.
Việc tổ chức Lễ hội Lồng Tông hàng năm đã đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong huyện, tạo động lực mới để bà con phấn khởi thi đua lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Đây cũng là dịp để nhân dân các dân tộc thị trấn Na Hang và du khách giao lưu, tìm hiểu những nét văn hoá độc đáo, giàu bản sắc của dân tộc Tày.Thông qua lễ hội còn là dịp để thị trấn Na Hang quảng bá với du khách gần xa về tiềm năng thế mạnh của địa phương, thúc đẩy kinh tế du lịch ngày càng phát triển.
- Lễ hội giã cốm
Lễ hội giã cốm là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày trên địa bàn xã Côn Lôn nói riêng và huyện Na Hang nói chung.
Lễ hội thường được tổ chức vào tháng 9 âm lịch, đó là thời điểm lúa nếp vừa chớm vào chắc. Để có được những hạt cốm thơm dẻo phải chọn thóc, thóc chọn là thóc nếp đặc sản của địa phương, hạt mẩy và có màu vàng nhạt đều.Cốm không chỉ có ý nghĩa đối với nhà nông mà nó còn mang ý nghĩa tâm linh, bởi sau khi kết thúc mùa thu hoạch lúa người nông dân muốn có hạt cốm thơm để dâng lên tiên tổ, cầu mong trời đất luôn mưa thuận gió hòa, giúp người nông dân gặp nhiều may mắn trong lao động sản xuất.Việc phục dựng lễ hội giã cốm nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân. Đây là dịp để thế hệ trẻ học tập kinh nghiệm làm cốm và giữ gìn bản sắc ẩm thực truyền thống của địa phương từ đó phát triển việc làm cốm trở thành một nghề đem lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người nông dân.
Với những nghi thức truyền thống, lễ hội giã cốm mang lại cho du khách và người dân địa phương những trải nghiệm mới, tạo nên nét đặc sắc riêng có của một lễ hội có từ lâu đời.
- Lễ cấp sắc ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Lễ cấp sắc là nét văn hóa nổi bật của người Dao. Để lễ cấp sắc phát triển rộng rãi và được nhiều người biết đến như hôm nay, đã có không ít người ở huyện vùng cao này gắn bó cả đời và dồn bao tâm huyết để nghiên cứu phát huy những tinh hoa góp phần bảo tồn giá trị văn hóa độc đáo của lễ cấp sắc của dân tộc Dao.Lễ cấp sắc có những tên gọi khác nhau như “Lập tính”, “Lập tỉnh” đều có ý nghĩa là nhập họ. Tục cấp sắc như biểu hiện của lễ thành đinh để gia nhập thế giới của người lớn. Đây là nghi lễ chấm dứt thời thơ ấu của chàng trai Dao. Từ đây, anh ta bắt đầu thực hiện nghĩa vụ của người đàn ông trong cộng đồng. Trong lễ cấp sắc, chàng trai được đặt tên mới, tên cấp sắc. Theo quan niệm của người Dao, tên đối với người thụ lễ là rất quan trọng, vì khi chết đi sẽ trở thành tên chính, tên thường gọi ở thế giới bên kia. Còn khi cúng tế ngày rằm, mùng một hằng tháng, khi cúng xưng ra mới có khả năng giao tiếp với thần phật, tổ tiên.Trong lễ cấp sắc, một vật dụng, yếu tố không thể thiếu trong nghi lễ là đèn. Đèn dùng trong lễ cấp sắc là sự thể hiện vị trí cao thấp khác nhau của những người được cấp sắc sau khi thụ lễ. Đèn được sử dụng với dụng ý soi sáng cho tâm hồn và tẩy rửa tất cả các tội lỗi, để người được cấp sắc trong sạch. Sau nghi thức đặt đèn các thầy cúng lần lượt đóng ấn cho người được cấp sắc. Lúc này đạo sắc âm được đổi đi, đạo sắc dương được giữ lại cho người thụ lễ. Lễ cấp sắc của người Dao có nhiều cung bậc khác nhau, mỗi bậc đều có ý nghĩa về quyền lực và tôn giáo và xã hội của nó: Lễ cấp sắc 3 đèn “Quá tang” là bậc đầu tiên, theo quan niệm truyền thống, tất cả người đàn ông Dao đều phải trải qua bước này; lễ cấp sắc 7 đèn “Lễ thất tinh”, người Dao gọi là “Quá sỉa tang”, chỉ cấp cho người đã có vợ và có hiểu biết nhất định về phong tục, tập quán, có ý chí theo đuổi nghề thầy cúng; lễ cấp sắc 12 đèn “Lễ thập nhị tinh”, tiếng Dao gọi là “Chiệp nhậy tang” là bậc cao nhất của cấp sắc, trong lễ này người thụ lễ được cấp 12 đèn và 12 âm binh, ngày chính lễ diễn ra trong 7 ngày,7đêm. Lễ cấp sắc 12 đèn hiện nay ít được sử dụng. Người Dao thường tổ chức lễ cấp sắc từ tháng 9 âm lịch năm trước đến tháng 2 âm lịch năm sau, lúc mùa màng đã thu hoạch xong, tiết trời se lạnh, không nắng không mưa cũng là lúc bà con nhàn rỗi nhất trong năm. Trong lễ cấp sắc, các thầy cúng phải cầu khấn các thành phần bảo trợ của mình, phải cúng tổ tiên của gia chủ và đặc biệt phải mời Bàn Vương về dự. Theo người Dao thì Bàn Vương là ông Thủy tổ của dân tộc mình.Ẩn sau đó ta thấy lấp lánh những giá trị nhân bản của lễ cấp sắc. Nó hướng con người ta tới cuộc sống tốt đẹp hơn, nêu cao tinh thần cố kết cộng đồng, mà đỉnh cao là hướng tới “Chân – Thiện – Mỹ”. Có lẽ đây cũng là lý do mà lễ cấp sắc của người Dao có sức sống mãnh liệt, bền bỉ và trường tồn theo thời gian.
- Lễ hội ruộng bậc thang
Lễ hội ruộng bậc thang Hồng Thái (huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang) diễn ra vào cuối tháng 9/2018. Đây là một trong những hoạt động trong chuỗi sự kiện
Ngày hội Văn hóa du lịch vùng cao Na Hang lần thứ nhất. Nằm cách trung tâm thị trấn Na Hang trên 40km về phía Đông Bắc, du khách có thể di chuyển bằng ô tô hoặc xe máy đến thăm xã Hồng Thái – một xã vùng cao nằm chon von trên các đỉnh núi cao quanh năm mây phủ.Đến Hồng Thái vào khoảng cuối tháng 9 trong dịp lễ hội ruộng thang, du khách sẽ ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của ruộng bậc thang thôn Khau Tràng, Nà Kiếm, Bản Muông, Hồng Ba, Nà Mụ, Pác Khoang, Khuổi Phầy. Từng dải sóng lúa óng vàng uốn lượn bên sườn non làm mê hoặc bước chân du khách.Đến với lễ hội ruộng bậc thang Hồng Thái, ngoài được thưởng lãm vẻ đẹp của những dải sóng lúa óng vàng uốn lượn bên sườn non, du khách còn đuợc tham gia và các hoạt động trải nghiệm thú vị và hấp dẫn như: Văn nghệ quần chúng, thi xe đạp tay ngang, thi hái lê, hái chè Shan…
Lễ hội ruộng bậc thang Hồng Thái là hoạt động ý nghĩa nhằm quảng bá hình ảnh về mảnh đất, con người vùng cao Hồng Thái đồng thời tạo ra một cú huých cho du lịch của huyện Na Hang phát triển, thu hút được nhiều du khách thập phương. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Bên cạnh việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, đồng bào dân tộc Tày ở Đống Đa 1 cũng hủy bỏ những hủ tục lạc hậu, tập trung vào phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống.Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động người dân gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, loại bỏ những hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn hóa, xã Thượng Nông đã thành lập Câu lạc bộ hát Then, cọi của xã để gìn giữ làn điệu then, cọi truyền thống của đồng bào dân tộc Tày.Các làn điệu then, cọi, sli, lượn cùng với cây đàn tính là món ăn tinh thần không thể thiếu của người Tày. Trong đó, hát then – đàn tính được coi là linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ. Từ bao đời nay, người Tày coi đàn tính là một phương tiện giao tiếp mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Người Dao có văn hóa truyền thống đặc sắc, phản ánh mọi mặt của đời sống, trong đó hát Páo dung và lễ cấp sắc là nét văn hóa đặc trưng. Nét độc đáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Cao Lan là hát sình ca, trống tang sành. Tất cả những nét văn hóa của các dân tộc đều bắt nguồn từ đời sống lao động của người dân và hầu hết có mặt ở các lễ hội hay những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.Ðể bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống ấy, trong những năm qua, tỉnh Tuyên Quang thường xuyên chỉ đạo và tạo điều kiện cho các huyện, xã và các cá nhân tham gia giữ gìn văn hóa cổ truyền của dân tộc.
Năm 2012, Nghi lễ Then, Lễ hội Lồng tồng của người Tày tỉnh Tuyên Quang đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2013, hát Páo dung và Nghi lễ Cấp sắc của người Dao Tuyên Quang tiếp tục được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
2.2.2 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng của huyện Na Hang còn thấp kém. Trong những năm gần đây được sự đầu tư của nhà nước bằng các chương trình, dự án như chương trình 135, chương trình 134, nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung, Tuy vậy so với nhu cầu thực tế thì vẫn còn nhiều công trình hạ tầng cần được đầu tư để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương.
Theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Nà Hang lần thứ XX nhiệm kỳ 2010 – 2015 xác định phát triển du lịch là một trong 4 khâu đột phá. Cùng với công tác tăng cường quảng bá tiềm năng, thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, Nà Hang chú trọng phát triển các cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống để thu hút khách du lịch.
Hiện nay trên địa bàn huyện hiện có 11 khách sạn, nhà nghỉ chủ yếu tập trung ở thị trấn Nà Hang với 121 phòng, 227 giường nghỉ, có thể đón trên 400 người/ngày. Bên cạnh đó, huyện còn có 6 nhà hàng, đa số là nhà sàn truyền thống có không gian đẹp, phục vụ nhiều món ăn dân tộc như các nhà hàng Hà Thơi, Nga Viên, Thái Phiêng, Việt Cường… Trong đó nhà hang Hà Thơi ở tổ 8 thị trấn Na Hang từ lâu đã tạo được uy tín trong lòng du khách. Đây là nét đặc trưng của các nhà hàng trên địa bàn huyện vùng cao này. Nhiều du khách cảm thấy hài lòng bởi cách phục vụ chu đáo nhiều món ăn đậm nét vùng cao ngon bổ dưỡng,đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm với giá cả hợp lý ở đây. Nhiều du khách tỏ ra thích thú khi được ở trong ngôi nhà sàn cột gỗ, lợp lá cọ truyền thống của đồng bào Tày nơi đây. Bà Triệu Thị Xướng, thôn Nà Tông, xã Thượng Lâm ngoài đón khách tại nhà, bà Xướng còn làm thêm 1 ngôi nhà nổi trên hồ, đóng thêm 4 thuyền tiện cho việc đưa đón khách tham quan. Hiện đã có 14 hộ gia đình đầu tư đóng thuyền, khai thác dịch vụ vận chuyển khách du lịch tham quan các danh lam thắng cảnh khu vực hồ sinh thái Na Hang. Công ty TNHH Thương Mại và Du lịch Nga Viên, tổ 3, thị trấn Na Hang đi đầu trong đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Anh Trần Quốc Viên, Giám đốc Công ty cho biết, nhận thấy tiềm năng của du lịch hồ sinh thái Na Hang, công ty đã đầu tư gần 20 tỷ đồng vào khu du lịch thác Mơ với diện tích trên 12 ha bao gồm bể bơi, khu nhà nghỉ, khu dịch vụ ăn uống, khu phục vụ du khách dừng nghỉ chân. Ngoài ra, công ty còn đầu tư 4 thuyền du lịch phục vụ du khách tham quan các điểm du lịch trên hồ sinh thái Na Hang. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Vì đây là huyện vùng cao dân cư thưa thớt vì vậy mà việc tiếp cận cơ sở hạ tầng không dễ. Điện sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất của người dân còn gặp nhiều khó khăn một số xóm bản hiện chưa có mạng lưới điện quốc gia nhu cầu sử dụng rất lớn. Trên địa bàn huyện có khá nhiều hồ, đầm lớn nhỏ khác nhau, nguồn nước ngầm cũng tương đối phong phú, chất lượng nước phần lớn là nước ngọt, mềm, chưa bị ô nhiễm là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, mực nước mặt hạ thấp vào mùa khô và hệ thống thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu của huyện còn nhiều hạn chế nên tuy có nguồn nước khá phong phú nhưng vẫn dẫn đến tình trạng thiếu nước. Về y tế thì hệ thống y tế của huyện về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, toàn bộ 12/12 xã, thị trấn đã có trạm y tế. Toàn huyện có 142 giường bệnh với 136 cán bộ y tế. Các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm ngay từ tuyến cơ sở. Nhìn chung công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân trên đại bàn huyện Na Hang là tốt, tuy nhiên bên cạnh đó ngành y tế còn gặp nhiều khó khăn nhất là tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của một số trạm y tế xã.Trong những năm gần đây huyện đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng.
Huyện tiếp tục khuyến khích các nhà đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng, đa dạng sản phẩm du lịch, phối hợp với các đơn vị lữ hành nối tua, tuyến du lịch của huyện với các tỉnh bạn. Đồng thời, huyện khuyến khích phát triển và quản lý tốt cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống hiện có, đáp ứng tốt nhu cầu về ăn, nghỉ cho du khách.Năm 2012, doanh thu xã hội từ du lịch của huyện đạt trên 6 tỷ đồng. Thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020, huyện đã và đang đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật như khu đón tiếp khách, trung tâm thông tin, bãi đỗ xe, cầu bộ hành qua suối, cùng với đó là phối hợp đầu tư nâng cấp tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, sửa chữa làm mới một số tuyến đường giao thông liên thôn, liên xã; xây dựng bến thủy tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến thăm quan. Đến nay, gói thầu xây dựng các công trình phụ trợ cho Khu du lịch sinh thái cơ bản đang trong giai đoạn hoàn thiện, một số hạng mục công trình đang được đẩy nhanh tiến độ hoàn thành như: Cổng chào, cầu qua suối, cầu treo và trung tâm thông tin. Nhằm tận dụng các nguồn đầu tư từ Trung ương và tỉnh, UBND huyện Nà Hang đã phối hợp đầu tư nâng cấp tuyến Quốc lộ 279 nối từ huyện Nà Hang sang huyện Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn, sửa chữa và làm mới một số tuyến đường giao thông liên thôn, liên xã, xây dựng và cải tạo khu bến thủy tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến tham quan. Không chỉ tập trung chủ yếu vào Khu du lịch sinh thái, huyện Nà Hang còn chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch khác theo hướng đa dạng hóa. Nà Hang đã và đang tập trung làm tốt công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo vệ các di tích, danh lam thắng cảnh.
2.2.3 Nguồn nhân lực du lịch sinh thái
Trong hoạt động du lịch thì nguồn nhân lực đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của du lịch . Nguồn nhân lựcdu lịch hiện nay của Na Hang bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, hướng dẫn viên, những người dân địa phương tham gia hoạt động du lịch, những người trực tiếp tham gia phục vụ du lịch…
Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 13.000 lao động tham gia trong các hoạt động, dịch vụ du lịch. Trong đó, lượng lao động trực tiếp có trên 3.000 người. Với việc triển khai Đề án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch”, hàng năm, tỉnh đã phối hợp Tổng cục Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ. Huyện đang phấn đấu đến năm 2020 đón được130 nghìn lượt khách du lịch, giải quyết việc làm cho 1.000 lao động tại địa phương.
Hiện toàn huyện chỉ có 3 cán bộ làm việc tại Phòng, chưa có cán bộ chuyên sâu về du lịch. Năm 2017, huyện đã mời giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội lên tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch cho 74 học viên. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Về cộng đồng dân cư địa phương hoạt động du lịch thì tại Na Hang phần lớn người dân tham gia ở độ tuổi 30-55 tuổi. Sự phân chia giới tính cũng thể hiện rõ ràng. Hầu hết lao động hoạt động tại Na Hang là nữ giới. Người dân tham gia làm du lịch phần đông là lao động phổ thông, trước đây làm nông nghiệp.Họ sống thưa thớt, những kỹ năng về nghề nghiệp và nhận thức về du lịch còn hạn chế, đặc biệt là ứng xử và phục vụ khách. Chính vì vậy mà chưa gây được ấn tượng mạnh mẽ đối với khách du lịch khi đến với Na Hang. Những người dân địa phương nơi đây cũng được tham gia các lớp tập huấn đơn giản về du lịch, bước đầu họ cũng được trang bị những kiến thức cơ bản về du lịch và ý thức bảo vệ môi trường, họ có trách nhiệm nhắc nhở khách không vứt rác bừa bãi và bảo vệ môi trường sinh thái.
Ngoài ra còn một bộ phận những người dân tham gia phục vụ ăn uống và bán đồ lưu niệm cho khách. Do đây là điểm du lịch mới được khai thác trong những năm gần đây người dân sinh sống phần lớn là lao động phổ thông, họ mới bước đầu tiếp xúc làm quen với du lịch nên dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách còn ít, sản phẩm còn đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách.
Nhìn chung nguồn lao động tại Na Hang dồi dào nhưng còn rất hạn chế về mặt trình độ và nghiệp vụ du lịch, nguồn lực đang trở thành vấn đề bức xúc cần được giải quyết để du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng của huyện . Hiện nay hoạt động du lịch vẫn chưa được phát triển số lượng khách du lịch đến Na Hang còn hạn chế và không ổn định, chủ yếu chỉ tập trung vào lễ hội .
2.2.4 Chính sách phát triển du lịch
- Chính sách cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Để tạo điều kiện cho du khách tiếp cận những nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng đặc trưng, tiêu biểu của người dân nơi đây, cũng như để quảng bá hình ảnh về mảnh đất và con người Na Hang, huyện tập trung đầu tư xây dựng nâng cấp hoàn thiện hệ thống hạ tầng, huyện tập trung mọi nguồn lực đẩy nhanh tiến độ chỉnh trang, xây dựng thị trấn Na Hang lên thị xã vào năm 2020, gắn với phát triển du lịch. Hiện nay thị trấn đạt khoảng 70% các tiêu chí đánh giá đạt chuẩn đô thị loại IV. Huyện đã hoàn thành việc xây dựng các tuyến đường nối liền những điểm du lịch trong và ngoài huyện như tuyến: Hồng Thái với Pắc Nặm (Bắc Kạn); tuyến đường vào Bản Bung, xã Thanh Tương; tuyến lên điểm du lịch Phiêng Bung, gắn với trồng các giống hoa như hoa ban, hoa đỗ quyên, hoa ngũ sắc, hoa đào tạo cảnh quan đẹp cho điểm du lịch… Không những thế Huyện phối hợp đầu tư nâng cấp tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, sửa chữa làm mới một số tuyến đường giao thông liên thôn, liên xã; xây dựng bến thủy tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến thăm quan.
- Chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái tại Na Hang
. Cùng với việc đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, huyện Na Hang cũng huy động nhân dân đóng góp trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa,các khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng để phát huy giá trị khai thác phục du lịch như: Bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích quốc gia khôi phục làng nghề truyền thống và các loại hình sinh hoạt văn hóa phi vật thể…
Hoàn thành hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể “Then Tày trình UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Lập hồ sơ “Công viên địa chất quốc gia Na Hang – Lâm Bình” trình Thủ tướng Chính phủ công nhận. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Ban đang tích cực tham mưu ủy ban nhân dân tỉnh triển khai quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng trong du lịch như Khu lâm viên Phiêng Bung (có sân bay mini, trường đua ngựa, sân gôn, bãi cắm trại…); khu lâm thủy Cọc Vài (gồm khu biệt thự, đảo nuôi thú, khu thể thao mạo hiểm, khu câu cá, bến cảng); khu thể thao trên nước; khu làng văn hóa lịch sử. Đồng thời, tăng cường phối hợp với ủy ban nhân dân huyện Na Hang, Lâm Bình nhằm tiến tới xây dựng các làng văn hóa – du lịch trên địa bàn để giữ gìn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa của các dân tộc, phát triển các sản phẩm văn hóa đặc sắc của địa phương,…
Hiện tỉnh Tuyên Quang và hai huyện Na Hang, Lâm Bình đang kêu gọi đầu tư để xây dựng Na Hang thành một trung tâm du lịch sinh thái hấp dẫn.
- Chính sách xúc tiến quảng bá
Tăng cường công tác thông tin, quảng bá hình ảnh về miền đất, văn hóa, con người Na Hang và danh mục dự án du lịch kêu gọi đầu tư. Từng bước chuyên nghiệp hóa công tác xúc tiến quảng bá du lịch.
Xây dựng kế hoạch xúc tiến quảng bá du lịch giai đoạn 2016-2020.
Xuất bản tờ rơi, tập gấp, sách ảnh, cẩm nang; xây dựng video, ký sự, phim tài liệu quảng bá giới thiệu về du lịch Na Hang.
Duy trì và nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch trên trang thông tin điện tử của tỉnh, của ngành, các khu, điểm du lịch,…
Tổ chức các sự kiện du lịch thường niên để thu hút, phục vụ khách du lịch:Lễ hội Lồng Tông
Tham gia các sự kiện du lịch của các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế; trưng bày, tuyên truyền quảng bá, xúc tiến thương mại, giới thiệu văn hóa, du lịch của Na Hang.
Tăng cường, nâng cao số lượng, chất lượng các tin, bài, chuyên mục, chuyên đề tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng.Đẩy mạnh khai thác, phối hợp với các công ty lữ hành để quảng bá về du lịch Na Hang.
Xây dựng các tua, tuyến du lịch đảm bảo có sự kết nối đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả với các khu, điểm du lịch trong và ngoài tỉnh.
Chủ động đẩy mạnh liên kết và hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố, trong đó tập trung nâng cao hiệu quả Chương trình hợp tác phát triển du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc”, kết nối du lịch với các tỉnh Tây Bắc, Chương trình kết nối hợp tác du lịch bốn tỉnh: Tuyên Quang, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên; để đa dạng hóa và phát triển thị trường nguồn khách cũng như thu hút đầu tư vào du lịch.
- Chính sách hỗ trợ bảo tồn
Chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan đẩy nhanh tiến độ lập hồ sơ trình Thủ tưởng Chính phủ xếp hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang – Lâm Bình là danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt; đề nghị UNESCO đưa Khu di sản thiên nhiên Ba Bể – Na Hang vào danh mục xây dựng hồ sơ Di sản thế giới. Chú trọng bảo tồn những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của các đồng bào dân tộc.Từ đó tạo thế mạnh phát triển du lịch, nâng cao đời sống cho đồng bào tại địa phương
2.3 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang
2.3.1. Số lượng khách du lịch ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Nếu như từ năm 2011 đến hết năm 2013, Ban quản lý Khu du lịch sinh thái Na Hang đã đón 155.650 lượt khách đến trong đó có 485 khách quốc tế. Thì riêng năm 2014 Na Hang đã đón được 97.000 lượt khách. Có thể thấy đơn vị đã thực hiện hiệu quả công tác quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn xã và một thị trấn của huyện NaHang. Năm 2015 huyện đón 125.000 lượt khách , so với năm 2014 thì tăng 28.000 lượt khách đến. Năm 2016 Na Hang đón được 150.000 so với năm ngoái thì Số lượt khách tăng nhưng khống đáng kể. Đến năm 2017 khách du lịch đến với Na Hang đạt 200.000 lượt khách tăng 1,3 lượt so với năm 2016.Đây là kết quả của những bước đi đúng đắn trong phát triển du lịch của huyện.. Từ đầu năm đến nay, huyện đã đón trên 72.000 lượt du khách đến tham quan, tìm hiểu. Khách đến với Na Hang chủ yếu là khách nội địa ,lượng khách Quốc tế đến đây qua từng năm không nhiều .Khách du lịch đến với Na Hang chủ yếu là tham quan nghỉ dưỡng, tìm hiểu ,nghiên cứu,… Mặc dù số lượng khách đến với Na Hang qua từng năm tăng không đáng kể xong ta có thể thấy được Huyện đã rất nỗ lực trong công tác phát triển du lịch .
Hiện nay hoạt động du lịch của Nà Hang cũng mới chỉ bó gọn trong khu Thác Mơ với một lượng khách ít ỏi (6000 – 7000 lượt người/ năm, chủ yếu là dân trong tỉnh). Một khu vực khác có khả năng thu hút khách quốc tế là khu rừng đặc dụng Tắt Kẻ – Bản Bung. Tuy nhiên, khách nước ngoài muốn vào tham quan khu này phải có giấy phép của công an tỉnh và cơ quan kiểm lâm. “Thực tế cho thấy rất ít khi được cho phép vì theo các cơ quan nói trên, chúng ta không kiểm soát
2.3.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch
Các doanh nghiệp du lịch lớn cũng chưa có sự đầu tư cụ thể vào Na Hang. Do vậy, hoạt động du lịch ở Na Hang còn rất hạn chế, thu nhập từ du lịch không tương xứng với tiềm năng của huyện.
Đến hết quý I/2014. Doanh thu xã hội đạt gần 600 triệu đồng
Doanh thu từ dịch vụ lưu trú và vận chuyển khách bằng đường thủy ước tính đạt 2,1 tỷ đồng qua tổng hợp năm 2015 .
Doanh thu xã hội đạt 37,74 tỷ đồng trong 6 tháng đầu 2016.
Năm 2017, Na Hang đón khách đến tham quan, du lịch, doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 93 tỷ đồng vượt 39% so với kế hoạch.
Doanh thu dịch vụ vận chuyển khách du lịch tham quan các tuyến du lịch bằng đường thủy khu vực long hồ thủy điện đạt 2,5 tỷ đồng (2017) .
Theo Ban quản lý Khu du lịch sinh thái Na Hang, doanh thu từ dịch vụ lưu trú và vận chuyển khách du lịch bằng đường thủy từ đầu năm 2018 đến nay ước đạt 5 tỷ đồng. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Đây là nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự vào cuộc của người dân trong phát triển du lịch và coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện.
Phát triển du lịch sinh thái đã tạo cơ hội việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương. Giải quyết việc làm cho người lao động , cải thiện cơ sở hạ tầng nâng cao đời sống cho người dân. Du lịch sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa của người dân địa phương như vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ ngủ nghỉ cho khách và phương tiện di chuyển,.. vì vậy mà từ đó đã tạo công ăn việc làm.Giúp người dân ít phụ thuộc vào khai thác thiên nhiên đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Từ đó làm giảm đi sức ép của cộng đồng địa phương đối với môi trường.
2.3.3 Các hoạt động du lịch sinh thái
Hoạt động du lịch tập trung vào một số điểm , tuyến điểm chính với hình thức đơn điệu nên kết hợp với một số loại hình du lịch khác để phong phú hơn. Na Hang là một khu du lịch chứa đựng nhiều giá trị về tự nhiên và nhân văn những giá trị văn hóa truyền thống , hiện nay Na Hang đang trở thành một điểm nhấn của du lịch Tuyên Quang.Trong tương lai Na Hang sẽ trở thành trọng tâm phát triển của du lịch Tuyên Quang. Với lợi thế là khu du lịch có cảnh quan tự nhiên đẹp, còn tương đối hoang sơ chưa có sự tác động thay đổi của con người đến cảnh quan và môi trường nên hiện nay. Với những chính sách quảng bá sâu rộng kết hợp với phong cảnh vừa thơ mộng vừa hùng vĩ nơi đây du lịch sinh thái Na Hang đã bước đầu tạo dựng được hình ảnh và thu hút một lượng khách kể từ khi đưa vào khai thác và hoạt động du lịch.
Dã ngoại: Na Hang, mảnh đất được coi là miền cổ tích với cảnh đẹp lung linh, huyền ảo, những huyền thoại về Nàng Tiên – Chú Khách… Một vẻ đẹp hoang sơ của hồ trên núi, một Na Hang – Hạ Long cạn đang là điểm du lịch hấp dẫn nhất với du khách gần xa. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng những cánh rừng nguyên sinh và thảm thực vật phong phú ở đây và được thưởng thức các món ăn dân dã tại nơi này.
Tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên: Na Hang còn có khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bung rộng trên 42 nghìn ha với những cây gỗ quý hàng trăm năm tuổi, những thảm thực vật đa dạng và phong phú về chủng loại, những nét văn hoá độc đáo của nhiều dân tộc trên địa bàn là những điểm lắng đọng không thể quên đối với mỗi du khách khi đã một lần đặt chân đến Na Hang.
Thăm quan bản làng các dân tộc trải nghiệm các giá trị văn hóa phong tục tập quán: Đến với Na Hang du khách sẽ được nghe những làn điệu then cọi, hát ru, hát páo dung, hát giao duyên ngọt ngào, đằm thắm mà da diết của đồng bào dân tộc Tày, Dao. Nghe tiếng kèn pí lè, kèn lá và điệu múa khèn của những chàng trai, cô gái dân tộc Mông. Con người và thiên nhiên hoà quyện đã tạo ra cho Na
Hang một tiềm năng du lịch hấp dẫn. Về với Na Hang, một vùng đất nên thơ và huyền thoại, du khách còn được hoà vào không khí sôi động của hội đua mảng ngóc trên hồ thuỷ điện Tuyên Quang, tham gia hội chợ và được chiêm ngưỡng hũ rượu ngô 2 nghìn 500 lít lớn nhất Việt Nam. Không những thế du khách còn được tham quan tìm hiểu những phong tục tập quán của người dân vẫn được duy trì như trang phục nhà cửa , phong tục cưới hỏi của đồng bào dân tộc Dao đỏ, các nghi lễ như lễ cấp sắc ở đây. Du khách sẽ được thưởng thức các món ăn phong phú của đồng bào dân tộc như: Cơm lam, thịt trâu khô, thịt lợn chua, xôi ngũ sắc, lẩu cá lăng,..và các hoạt động sản xuất của người dân.
Du thuyền: Du khách sẽ được du thuyền trong lòng hồ thủy điện Na Hang. Khi ngồi du thuyền tham quan lòng hồ thủy điện Na Hang, du khách sẽ được đưa đến các địa danh nổi tiếng trên hồ. Địa điểm đầu tiên là núi Pác Tạ, ngọn núi cao nhất trong 99 ngọn núi quanh hồ. Ngự trên đỉnh núi là hai ngôi đền Pác Tạ, Pác Vãng linh thiêng, được người dân nơi đây thờ kính. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Thuyền xuôi dòng đi tiếp, du khách sẽ được ngắm nhìn thác Mơ với 5 tầng cao đổ xuống. Theo người dân bản địa kể lại, ban đầu thác Mơ có tới 11 tầng, đổ từ tận trên đỉnh núi cao xuống, nhưng theo thời gian, dòng chảy của thác ngày càng bị thu hẹp. Trông từ xa, thác Mơ như một suối tóc mây màu trắng mềm mại của người con gái, buông hờ xuống mặt hồ phẳng lặng. Du khách có thể dừng chân nô đùa và tắm suối thác mát lạnh.
Nằm trong khuôn viên hồ là hai khu nuôi cá tầm quy mô lớn. Cá tầm được nuôi trong môi trường thích hợp, cho năng suất cao. Du khách có thể thưởng thức món cá tầm ngon nổi tiếng khi dùng bữa ở các nhà hàng ăn uống tại Na Hang. Khi du thuyền lướt chầm chậm men theo chiều dài đập thủy điện, du khách sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng sự kỳ vĩ của cả công trình thủy điện Na Hang.
Mạo hiểm: Với những du khách ưa du lịch mạo hiểm sẽ không ngần ngại khi lên thuyền, cùng với các cô gái người Dao, Người Tày, người H’Mông đi ngược dòng sông để phám phá thiên nhiên đầy thơ mộng hay tìm hiểu về những câu chuyện truyền thuyết, dân gian được lưu truyền từ ngàn xưa. Đến với Hồ trên núi, du khách có thể đi ngược dòng sông Gâm thám hiểm du lịch hồ trên núi, chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của núi Pắc Tạ gắn với sự tích hoa Phặc Phiền. Ngắm nhìn cánh rừng nguyên sinh Tát Kẻ – Bản Bung hùng vĩ với những cây gỗ nghiến, cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Ngắm những giò hoa phong lan đủ màu sắc và chiêm ngưỡng núi Nàng Tiên – Chú Khách, cọc đá Vài Phạ soi mình xuống mặt hồ xanh biếc. Với những ai ưa du lịch mạo hiểm, hãy đến với huyện Na Hang để tham gia tua du lịch đường thủy Na Hang – Hà Giang – Bắc Kạn, và đi thăm các phiên chợ vùng cao, tham gia sinh hoạt văn hoá văn nghệ với đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Na Hang.
*Tour du lịchsinh thái
- Tour lòng hồ Na Hang- Đền Pác vãng
Lịch trình : Thị trấn Na Hang – Nhà máy thủy điện Tuyên Quang – Đền Pắc tạ – Núi đôi – Đền Pác vãng
11h30 : Xe đưa đoàn đến thị trấn Na Hang, Hướng dẫn viên đón khách. Qúy khách nghỉ ngơi thưởng thức bữa trưa tại nhà hàng tại thị trấn Na Hàng trước khi tham gia chương trình tham quan.
13h00 : Xe ô tô đưa quý khách đến bến thuyền du lịch của Ban quản lý Khu Du lịch sinh thái Na Hang đón quý khách xuống thuyền đi du lịch lòng hồ thủy điện Na Hang Tuyên Quang đây là nơi hội tụ của hai dòng sông trữ tình là sông Gâm và sông Năng, được bao bọc xung quanh bởi 99 ngọn núi nhấp nhô, trùng điệp. Trên thuyền đi tham quan lòng hồ Qúy khách sẽ được ngắm núi Pác tạ, Vách đá Nàng tiên, Chú khách và đặc biệt là được ngắm núi đôi hấp dẫn. Trên tuyến du lịch Qúy khách sẽ được ghé thăm hai ngôi đền Pác tạ và đền Pác Vãng linh thiêng, được người dân nơi đây thờ kính.
16h30 : Thuyền về đến bến Qúy khách sẽ ghé thăm thác Pác Ban hay còn gọi là thác Mơ. Được đắm mình trong dòng thác mát lạnh, chụp những bức ảnh đẹp, đáng nhớ.
17h30 : Qúy khách thưởng thuwccs bữa tối tại nhà hàng Khu du lịch sinh thái Na Hang. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
19h00 : Qúy khách lên xe, tạm biệt khu du lịch sinh thái Na Hang.
- Tour du lịch Na Hang 2 ngày 1 đêm – động Song Long
Lịch trình : Đền pác Tạ – Thác khuổi nhi – Cọc vài phạ – Thác Nậm me – Động Song Long ( 2 ngày 1 đêm)
NGÀY 01 :
12h00 : Xe đưa đoàn đến thị trấn Na Hang, hướng dẫn viên đón khách. Qúy khách nhận phòng, nghỉ ngơi thưởng thức bữa trưa tại nhà hàng tại thị trấn Na Hang trước khi tham gia chương trình tham quan.
15h00 : Xe ô tô đưa quý khách tham quan Khu đón tiếp khách của Ban quản lý Khu du lịch sinh thái Na Hang, Thăm thác Pác Ban hay còn gọi là Thác Mơ nơi đây quý khách có thể ngắm cảnh, chụp ảnh và tắm thác mát lạnh.
18h00 : Qúy khách thưởng thức bữa tối tại nhà hàng Khu du lịch sinh thái Na Hang.
20h00 : Đốt lửa trại và giao lưu văn nghệ, thưởng thức chén rượu ngô Na Hang nổi tiếng nấu bằng men lá, nghe kể về những truyền thuyết của miền đất huyền thoại này như sự tích hoa Phặc Phiền, chuyện Đèo Nàng, sự tích 99 ngọn núi,..
NGÀY 02 :
06h15 : Qúy khách có thể dậy sớm tận hưởng không khí trong lành nơi rừng núi đi tham dự phiên chợ vùng cao.
06h45 : Qúy khách có thể tự đi ăn sáng hoặc yêu cầu Hướng dẫn viên chuẩn bị.
07h15 : Qúy khách trả phòng khách sạn. Xe ô tô đưa quý khách đến bến
thuyền du lịch của Ban quản lý Khu du lịch sinh thái Na Hang để quý khachs xuống thuyền đi du lịch lòng hồ thủy điện. Trên tuyến đi tham quan lòng hồ quý khách sẽ ngắm núi Pác Tạ, vách đá nàng tiên, Chú khách và đặc biệt là được ngắm núi đôi hấp dẫn. Trên tuyến du lịch Qúy khách sẽ được ghé thăm hai ngôi đền Pác tạ và đền Pác Vãng linh thiêng, đưoqực người dân nơi đây thò kính.
Trên tuyến du lịch lòng hồ quý khách sẽ được ghé thăm thác Khuổi Nhi, thác Nậm me đây là một trong những thác nước hùng vĩ và đẹp nhất tại Khu du lịch sinh thái Na Hang.Tại đây du khách có thể thả mình vào khu rừng nguyên sinh, tắm thác, chụp ảnh, câu cá, cho cá rỉa chân (đây là hình thức mát xa chân thư giãn của người dân nơi đây), đặc biệt được tham quan khu nuôi cá Tầm một trong những loài cá nước lạnh nổi tiếng. Tại thác Khuổi Nhi có bể tắm tự nhiên nước trong xanh, mát lạnh hấp dẫn mọi du khách. Cũng tại nơi đây quý khách sẽ thưởng thức bữa trưa trên thuyền bằng những món ăn sông nuwowcsnhuw cá nheo, cá trạch, cá bống, cá lăng, cá chiên, ba ba hoặc quý khách sẽ được thưởng thức bữa trưa do tự tay mình làm như nướng cá, gà, thịt lợn trên lửa tẩm ướt hạt dổi rừng …đó sẽ là kỷ niệm đáng nhớ của quý khách. Qúy khách sẽ được ghé tham hang Phia vài ( hang người việt cổ), được tđi rừng tham quan động Song Long với những nhũ đá tuyệt đẹp. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
17h00 : Thuyền sẽ đến bến (Qúy khách có thể mua cho mình những món đặc sản nơi đây như : Rượu ngô men lá, thịt lợn chua, thịt trâu khô, bún khô dân tộc Tày, cá sông, mật ong rừng,..). Qúy khách lên xe, tạm biệt khu sinh thái Na Hang.
2.3.4 Hiện trạng sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch
- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch :
Các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn nghèo nàn. Toàn huyện chỉ có 8 cơ sở lưu trú tập trung ở thị trấn Na Hang chỉ chứa được khoảng 300 khách/ngày. Đầu tư của Nhà nước hiện nay mới dành cho các ngành kinh tế chung, chưa có các công trình đầu tư nhiều vào cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Để nâng cấp hệ thống hạ tầng, huyện tập trung mọi nguồn lực đẩy nhanh tiến độ chỉnh trang, xây dựng thị trấn Na Hang lên thị xã vào năm 2020, gắn với phát triển du lịch. Hiện nay thị trấn đạt khoảng 70% các tiêu chí đánh giá đạt chuẩn đô thị loại IV. Huyện đã hoàn thành việc xây dựng các tuyến đường nối liền những điểm du lịch trong và ngoài huyện như tuyến: Hồng Thái với Pắc Nặm (Bắc Kạn); tuyến đường vào Bản Bung, xã Thanh Tương; tuyến lên điểm du lịch Phiêng Bung, gắn với trồng các giống hoa như hoa ban, hoa đỗ quyên, hoa ngũ sắc, hoa đào tạo cảnh quan đẹp cho điểm du lịch…
Năm 2008, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn huyện Nà Hang đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất nâng cao chất lượng phục vụ, coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu để phát triển dịch vụ du lịch một cách bền vững.
Một số nhà nghỉ khách sạn đã đầu tư cơ sở vật chất tương đối hoàn thiện như giường nghỉ, máy điều hoà, tivi (truyền hình kỹ thuật số). Các nhà nghỉ, khách sạn này cũng thường xuyên cử nhân viên tham gia các lớp tập huấn về nâng cao chất lượng dịch vụ, bồi dưỡng kiến thức du lịch do Ban quản lý du lịch sinh thái huyện tổ chức. Việc tham gia các buổi tập huấn không chỉ góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, làm hài lòng du khách, mà qua đó rèn luyện thái độ phục vụ, nâng cao tính chuyên nghiệp của nhân viên.
Bên cạnh hình thức lưu trú nhà nghỉ khách sạn ở Na Hang còn có hình thức lưu trú Homestay ở tại nhà dân.
Một số khách sạn nhà nghỉ ở Na Hang:Nhà nghỉ Hoan Nương, nhà nghỉ Hải Phong, nhà nghỉ Đồng Tô, nhà nghỉ Thác Mơ, nhà nghỉ Việt Cường, Nhà nghỉ Liên Khu,…
Một số nhà hàng ở Na Hang: Nhà hàng Việt Cường, nhà hàng Nga Viên, nhà hàng Xuân Đôn, nhà hang Dũng Đạt,…
Điều đặc biệt ở các cơ sở lưu trú nhà hàng ở đây là có nhà sàn cột gỗ lợp lá cọ truyền thống có không gian đẹp, phục vụ nhiều món ăn dân tộc đặc sắc, hấp dẫn ngon bổ dưỡng đảm bảo an toàn vệ sinh với giá cả hợp lý.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vui chơi giải trí ở đây không có vì đây là một huyện vùng cao đời sống còn khó khăn .
Hiện nay, số lượng tàu, thuyền đủ tiêu chuẩn phục vụ du lịch vùng hồ thủy điện tại Tuyên Quang là 74 chiếc, chủ yếu thuộc về các cơ sở kinh doanh các loại hình du lịch dịch vụ tư nhân. Việc bảo đảm an toàn cho du khách khi tham quan hồ luôn được các chủ tàu thuyền đặt lên hàng đầu. Tất cả những người lái thuyền đều đã được đào tạo, có bằng lái, có chứng chỉ tham gia các lớp tập huấn về an toàn giao thông đường thuỷ, đồng thời đã qua nhiều lớp tập huấn về những tình huống, xử trí nhanh đối với các trường hợp bất ngờ khi đang lưu thông…Lượng du khách có nhu cầu tham quan hồ thuỷ điện hiện nay tương đối lớn, nên những tàu thuyền này được sử dụng thường xuyên. ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
- Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng của huyện Na Hang còn thấp kém. Trong những năm gần đây được sự đầu tư của nhà nước bằng các chương trình, dự án như chương trình 135, chương trình 134, nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung, chương trình kiên cố hoá trường học …. nên bộ mặt cơ sở hạ tầng của huyện cũng đã có những phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy so với nhu cầu thực tế thì vẫn còn nhiều công trình hạ tầng cần được đầu tư để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương.
Đường giao thông: Toàn huyện Na Hang có 563,7 km đường giao thông, trong đó đường tỉnh lộ có chiều dài 23,5 km; có 92,6 km đường giao thông liên huyện; có 427,4 km đường giao thông liên xã, đường nội thị 1,4 km.
Các tuyến giao thông liên xã, liên thôn xóm cơ bản vẫn là các tuyến đường mòn, việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa. Quốc lộ 2C từ xã Sơn Nam (Sơn Dương) đến thị trấn Na Hang (Na Hang) với chiều dài 201,24 km, từ điểm kết nối với Vĩnh Phúc, là một chặng liên tục dẫn tới các điểm du lịch nổi bật của tỉnh như Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Bình, khu hồ sinh thái Na Hang. Tại đây, quốc lộ 279 từ xã Đà Vị (Na Hang) đến xã Hồng Quang (Chiêm Hóa) chiều dài 96 km; quốc lộ 280 từ Thượng Giáp (Na Hang) tiếp giáp với xã Đường Âm, Bắc Mê (Hà Giang) đã giúp gắn kết du lịch hồ sinh thái Na Hang với tỉnh bạn Hà Giang. Bởi trên thực tế, khi giao thông phát triển những năm gần đây là điều kiện tốt giúp huyện Na Hang khơi dậy tiềm năng phát triển của ngành kinh tế du lịch. Với diện tích hơn 8.000 ha, hồ sinh thái Na Hang kết nối các tuyến đường thủy từ thị trấn Na Hang với 8 xã khu C của huyện và các xã của huyện Lâm Bình; nối liền với khu danh thắng Quốc gia Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn.
Hệ thống điện: Na Hang là huyện vùng cao, dân cư sống không tập trung vì vậy việc cung cấp điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Hiện nay trên dịa bàn huyện có 52 trạm biến áp, 174,1 km đường điện 0,4 KV. Đang đầu tư xây dựng 2 trạm biến áp, 6km đường dây trung áp, 11km đường dây 0,4 KV. Hiện nay còn nhiều xóm bản chưa có điện lưới quốc gia. nhu cầu xây dựng lưới điện của các xã trên địa bàn huyện trong thời gian tới còn rất lớn: 35 trạm biến áp, đường dây trung áp 92,8 km, đường dây 0,4 KV là 196,2 km.
Hệ thống thuỷ lợi: Được sự hỗ trợ của nhà nước và sự đóng góp của nhân dân, huyện Na Hang đã đầu tư xây dựng một số công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ nhằm phục cho cuộc sống sinh hoạt của người dân . Hiện có 6 hồ chứa, 33 đập tràn và 12 trạm bơm, có tổng số 93,5 km kênh mương dẫn nước, trong đó kênh xây kiên cố là 27,8 km, kênh đất là 65,7 km. Các công trình thuỷ lợi tập trung đa số ở các vùng trung tâm và một số xã phía nam của huyện. Lượng nước của 6 hồ chưa với các công trình thuỷ lợi được xây dựng gần đây đã hỗ trợ rất lớn cho việc sản xuất và sinh hoạt của người dân và du khách.
2.3.5 Thực trạng lao động và sử dụng lao động cộng đồng địa phươngtrong phát triển du lịch sinh thái
Hiện nay, lượng lao động trực tiếp có trên 3.000 người. Với việc triển khai Đề án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch”, hàng năm, tỉnh đã phối hợp Tổng cục Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ.
Hiện tại huyện chỉ có 3 cán bộ làm việc tại Phòng, chưa có cán bộ chuyên sâu về du lịch. Năm 2017, huyện đã mời giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội lên tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch cho 74 học viên.
Cộng đồng địa phương hiện nay họ đã tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch như họ đã đáp uwngschoox ngủ nghỉ cho khách , nhà nghỉ và nhà hàng phục vụ cho du lịch, sử dụng nhà của mình để làm du lịch làm nơi lưu trú cho khách, đảm nhận vai trò hướng dẫn viên cho khách tham quan.
Du lịch phát triển đã taọ công ăn việc làm cho người dân địa phương. Tuy nhiên , Na Hang vẫn còn nhiều hạn chế vì đây là huyện vùng cao miền núi còn nhiều khó khăn. Lao động du lịch đôi khi sẽ yếu về kỹ năng giao tiếp, tinh thần, thái độ phục vụ. Lao động có trình độ ngoại ngữ để giao tiếp với khách du lịch nước ngoài còn ít. Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, đội ngũ lao động làm du lịch không ngừng phấn đấu học tập, kết hợp với tự học, tự đào tạo, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ.Trong đó, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý các khu, điểm du lịch. Đồng thời, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, hướng dẫn kỹ năng làm du lịch cho người dân. Bên cạnh đó, định kỳ tổ chức thi tay nghề trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn viên, thuyết minh…; có cơ chế, chính sách thu hút, tiếp nhận nguồn nhân lực ngoại tỉnh đã được đào tạo chuyên sâu về du lịch.
2.3.6 Thực trạng về công tác xúc tiến quảng bá ở huyện Na Hang ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Những năm gần đây, hình ảnh du lịch Na Hang được quảng bá rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Huyện phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chương trình quảng bá danh lam thắng cảnh và ẩm thực với thời lượng 30 phút về Khu du lịch sinh thái Na Hang phát trên kênh VTV2, VTV4; xây dựng nội dung chương trình “S Việt Nam – Hương vị cuộc sống” để quảng bá, giới thiệu về tiềm năng, hình ảnh Khu du lịch sinh thái Na Hang phát sóng trên kênh VTV1. Huyện phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình UNESCO đưa hồ sơ Ba Bể – Na Hang vào danh mục hồ sơ di sản thế giới.
Huyện Na Hang hiện cũng có nhiều tổ chức, cá nhân quảng bá tiềm năng, thế mạnh của du lịch địa phương qua mạng xã hội. Chị Giàng Thị Sao, người đang khởi động mô hình start-up về thu hút khách du lịch từ mạng xã hội cho biết: Na Hang là địa phương có tiềm năng rất lớn về du lịch, như du lịch vùng hồ thủy điện Na Hang, du lịch sinh thái tại Hồng Thái… Nắm bắt lợi thế này, giữa năm 2017 chị tạo trang Fanpage NaHang Travel, trong đó cập nhật các hình ảnh, các điểm du lịch của huyện.
Các doanh nghiệp lữ hành hiện cũng đổi mới cách thức hoạt động, thu hút khách du lịch, như Công ty Du lịch Hương Việt Tuyên Quang.Nếu những năm trước hoạt động của công ty “đóng băng” trong mùa đông, do lượng khách ít, thì năm nay, đơn vị kết nối với một số công ty lữ hành nước ngoài, đón khách du lịch từ các nước xứ lạnh đến nghỉ dưỡng, tránh rét. Đây là nét mới mẻ trong hoạt động quảng bá, thu hút khách du lịch của đơn vị trong năm nay, và mô hình này sẽ tiếp tục thực hiện trong những năm tới, trong đó, doanh nghiệp sẽ xây dựng các tour tuyến trải nghiệm hợp lý, mới mẻ, với thời gian lưu trú kéo dài nhằm không ngừng nâng cao hình ảnh về Huyện. Trung tâm Xúc tiến đầu tư cũng xây dựng chương trình tri ân, khen thưởng kịp thời đối với các công ty lữ hành đưa nhiều đoàn khách đến với tỉnh.
2.4 Đánh giá những thuận lợi khó khăn khi phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang
2.4.1 Thuận lợi – tích cực ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Na Hang được biết tới là nơi giàu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái.với cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn .
Na Hang còn biết đến bởi sức hút kỳ lạ của một vùng sinh thái và văn hóa phong phú đặc sắc. Thiên nhiên đã ban tặng cho Na Hang tài nguyên quý báu, đặc biệt là tài nguyên rừng .
Mảnh đất này chính là nơi hội tụ của hai con sông lớn: Sông Gâm và sông Năng với những dãy núi trùng điệp, hùng vĩ ; những hang động huyền ảo và đầy huyền thoại đã đi vào truyền thuyết và thơ ca.
Na Hang ngoài phong cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, vùng văn hóa đa dạng, còn hấp dẫn du khách bởi những món ăn mang đậm bản sắc dân tộc. Đặc biệt Na Hang có rượu ngô men lá ngon nổi tiếng.
Huyện đã nâng cấp cơ sở hạ tầng ,trước kia, đi từ thị xã Tuyên Quang lên Na Hang phải mất cả ngày đường nhưng bây giờ chỉ hơn hai giờ đi xe khách. Trong những năm gần đây Na Hang đã và đang trở thành một trung tâm buôn bán với nhiều hoạt động du lịch sính thái nhộn nhịp. Lãnh đạo đảng bộ và chính quyền tỉnh và huyện đặt mục tiêu phấn đấu, đến năm 2020 Na Hang sẽ là một thị xã sầm uất và phát triển mọi mặt.
Các công trình phục vụ phát triển du lịch đã được đầu tư nâng cấp.
Vài năm gần đây, du lịch đóng góp vào kinh tế của huyện ngày càng tăng và chắc chắn những năm tới đây, du lịch sẽ có đóng góp xứng đáng cho việc phát triển kinh tế – xã hội của Na Hang. Tỉnh Tuyên Quang và huyện Na Hang đã có kế hoạch gìn giữ và bảo tồn những khu du lịch sinh thái, những khu rừng tự nhiên để tạo tiền đề cho sự phát triển du lịch của tỉnh nói chung và của huyện nói riêng.
Những năm gần đây, hình ảnh du lịch Na Hang được quảng bá rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Huyện phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chương trình quảng bá danh lam thắng cảnh và ẩm thực với thời lượng 30 phút về Khu du lịch sinh thái Na Hang phát trên kênh VTV2, VTV4; xây dựng nội dung chương trình “S Việt Nam – Hương vị cuộc sống” để quảng bá, giới thiệu về tiềm năng, hình ảnh Khu du lịch sinh thái Na Hang phát sóng trên kênh VTV1. Huyện phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình UNESCO đưa hồ sơ Ba Bể – Na Hang vào danh mục hồ sơ di sản thế giới.
2.4.2 Khó khăn- hạn chế ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì du lịch Na Hang vẫn còn những tồn tại nhất định như: Sự liên kết giữa các địa phương làm du lịch còn hạn chế.
Sản phẩm dịch vụ du lịch chưa đa dạng, chất lượng chưa cao. Doanh nghiệp đầu tư kinh doanh du lịch quy mô vẫn còn nhỏ.
Hoạt động quảng bá, xúc tiến, tìm kiếm, khai thác thị trường còn thiếu đồng bộ và chưa chủ động…
Đến nay du lịch Na Hang mới chỉ đang dừng ở mức tiềm năng bởi sự đầu tư cho du lịch ở đây còn hạn chế. Khu du lịch sinh thái Na Hang với tổng diện tích quy hoạch trên 150 nghìn héc ta bao gồm 2 huyện Lâm Bình và Nà Hang trong đó chủ đạo là khu vực lòng hồ thủy điện nhưng đến nay cơ sở hạ tầng như chỗ lưu trú, vui chơi giải trí ở đây vẫn còn thiếu.
Các sản phẩm du lịch còn thiếu đa dạng và mới chỉ dừng lại ở du ngoạn lòng hồ bằng thuyền máy, tắm thác hay thăm quan đền chùa.
Tại các điểm du lịch còn thiếu các hướng dãn viên chưa đáp ứng được nhu cầu của khách
Đây là những vấn đề mà cấp ủy, chính quyền huyện đang nhìn nhận và sẽ có hướng điều chỉnh phù hợp, đảm bảo cho du lịch Na Hang có sự phát triển bền vững.
Tiểu kết chương 2 ( Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả)
Trong chương 2 : Tác giả đã phân tích điều kiện và thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang. Tác giả cũng đánh giá những tích cực hạn chế và những thuận lợi khó khăn trong phát triển du lịch sinh thái Na Hang. Đây là cơ sở là tiền đề quan trọng để em đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển tốt hơn du lịch sinh thái Na Hang, Tuyên Quang tại chương 3.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Khoá luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch sinh thái

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
