Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả

Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả Na Hang là một bài luận văn tốt nghiệp được tác giả lựa chọn bởi  nhận thấy được tiềm năng tiềm tàng của Na Hang. Na Hang từ lâu đã có lợi thế về môi trường tự nhiên còn tương đối trong lành chưa bị ô nhiễm, cảnh quan tự nhiên hoang sơ, khí hậu không khắc nghiệt nên rất thuận lợi cho hoạt động du lịch nơi đây. Tài nguyên du lịch sinh thái ở Na Hang khá phong phú và đa dạng, có thể kết hợp được nhiều loại hình du lịch trong một chuyến đi tạo nên sản phẩm du lịch phong phú, đáp ứng được yêu cầu của một trung tâm du lịch trong tương lai gần. Đề tài: Tìm hiểu điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang dưới đây, mời các bạn tham khảo.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa – xã hội của con người. Du lịch không những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia các vùng miền.

Trên thế giới, du lịch là ngành dịch vụ – ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia , nó được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói. Ở nước ta mặc dù du lịch còn khá non trẻ nhưng cũng đang phát triển với tốc độ nhanh và được xác định là ngành kinh tế quan trọng . Sự phát triển của du lịch cũng dễ dàng tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Với những thuận lợi, những mặt tích cực mà du lịch đem lại thì   thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ đó, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới, thu hút sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhận thức cao về môi trường. Mô hình du lịch sinh thái giúp con người có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, tìm hiểu nền văn hóa bản địa đặc sắc đa dạng, thỏa mãn nhu cầu khám phá của con người.

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm hỗ trợ cho mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, phát triển cộng đồng và được coi là loại hình du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch. Du lịch sinh thái còn góp phần giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường góp phần phát triển du lịch bền vững. Chính vì vậy mà du lịch sinh thái đã trở thành mục tiêu phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới về du lịch bởi tính ưu việt của nó trong đó có Việt Nam.

Na Hang là huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, cách thị xã Tuyên Quang 108km về phía Bắc. Na Hang có gần 20 dân tộc anh em chung sống nên có nền văn hóa đa sắc tộc. Na Hang từ lâu được xem là vùng đất cổ tích giữa đại ngàn hoang sơ. Thiên nhiên đã ban tặng cho Na Hang nguồn tài nguyên quý với phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi mà mỗi con sông, con suối, mỗi cánh rừng, ngọn núi đều được gắn liền với những truyền thuyết, câu chuyện đầy hấp dẫn, là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái.

Na Hang có nhiều điều kiện về tài nguyên và văn hóa thuận lợi để phát triển loại hình du lịch này . Tuy nhiên việc phát triển du lịch sinh thái còn gặp nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Vì vậy, việc chọn đề tài “Tìm hiểu điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang” nhằm nghiên cứu và đánh giá hoạt động du lịch tại Na Hang, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch, nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường tự nhiên của địa phương, góp phần tăng hiệu quả kinh tế xóa đói giảm nghèo , nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích của việc nghiên cứu :

Nhằm nghiên cứu, đánh giá điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang bước đầu tìm hiểu thực trạng để từ đó đưa ra những định hướng khai thác hợp lý hiện quản lý , bảo vệ môi trường tự nhiên tài nguyên thiên nhiên phát triển du lịch bền vững.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái.

Nghiên cứu, đánh giá điều kiện du lịch sinh thái Na Hang, Tuyên Quang bước đầu những chính sách đánh giá thực trạng.

Đánh giá hiện trạng du lịch tại Na Hang .

Định hướng và đưa ra những giải pháp khai thác hợp lý các điều kiện phục vụ phát triển du lịch sinh thái tại Na Hang, Tuyên Quang.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Khóa luận nghiên cứu về : Điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại Na Hang nơi giàu tiềm năng để trở thành vùng du lịch sinh thái cực kỳ hấp dẫn.

Thời gian: Đề tài được nghiên cứu trong vòng 3 tháng từ 8- 10

4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Đề tài đưa ra một cái nhìn đúng đắn về du lịch sinh thái trên cơ sở tổng hợp các định nghĩa, nguyên tắc của nhiều tác giả và tổ chức du lịch trên thế giới. Đề tài đã xác định được những tiêu chí nhằm đánh giá một cách toàn diện tiềm năng du lịch sinh thái ở Na Hang . Trên cơ sở đó có thể đánh giá, so sánh, phân loại tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang với các địa điểm khác.

Kết quả của việc nghiên cứu   đề   tài này sẽ là một nguồn tài liệu tin cậy cho việc quy hoạch phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang , tỉnh Tuyên Quang. Du lịch sinh thái phát triển sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn, phát triển bền vững, nâng cao đời sống kinh tế cho đồng bào dân tộc.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau :

5.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu là một phương pháp hết sức quan trọng cần thiết cho bất kỳ một đề tài nghiên cứu nào. Để có được những số liệu và thông tin chính xác về vấn đề nghiên cứu của đề tài đã được thu thập các thông tin khác nhau so sánh và chọn lọc những thông tin có giá trị nhất để sử dụng trong bài viết Từ đó sẽ giúp cho bài báo cáo có tính thuyết phục, có độ tin cậy cao.

5.2 Phương pháp thống kê

Phương pháp này nhằm thống kê các đối tượng được quy hoạch phân tích để phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng các yếu tố trong hoạt động du lịch, đồng thời có thể lấy được những tác động qua lại giữa chúng.

5.3 Phương pháp so sánh tổng hợp ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Phương pháp này cho ta thấy được tính tương quan giữa các yếu tố và từ đó thấy được hiện trạng và sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động du lịch tại nơi đang nghiên cứu. Việc so sánh tổng hợp các thông tin và số liệu đã thu thập được giúp hệ thống một cách khoa học những thông tin số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn. Đây là phương pháp giúp thực hiện được mục tiêu dự báo, đề xuất các dự án, các định hướng giải   pháp phát triển, các chiến lược triển khai quy hoạch các dự án mang tính khoa học và đạt hiệu quả cao.

6. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục khóa luận còn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái

Chương 2: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang

Có thể bạn quan tâm:

→  DỊCH VỤ NHẬN VIẾT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1 Khái quát chung về du lịch sinh thái

1.1.1. Khái niệm :

Du lịch sinh thái là một khái niệm rộng và khá mới mẻ , đã thu hút được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực và được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Du lịch sinh thái được bắt nguồn từ những cuộc dạo ngoài trời với mục đích thư giãn gần gũi với thiên nhiên. Nó bao gồm những người đến các khu tự nhiên hoang dã hay các khu bảo tồn, những người đi leo núi hay đi xuyên rừng, đi thuyền trên suối , những người cắm trại ngủ nghỉ trong những lều bạt hay trong nhà của người dân địa phương. Những người chụp ảnh tự nhiên hay quan sát chim thú,…có thể được coi là những khách du lịch sinh thái đầu tiên. Tùy vào cách diễn đạt của những khái niệm mà   nhìn chung chúng đều có những điểm giống nhau trong việc làm nổi bật bản chất của loại hình du lịch này. Đối với một số người “du lịch sinh thái” chỉ đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn quen thuộc. Nhưng khi đứng ở góc độ khác, tổng quát hơn thì một số người quan niệm du lịch sinh thái là du lịch tự nhiên. Trong thực tế khái niệm “Du lịch sinh thái” đã xuất hiện từ những năm 1800. Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là du lịch sinh thái. Có thể nói cho đến nay khái niệm về du lịch sinh thái vẫn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau . Đến nay vẫn còn nhiều tranh luận nhằm đưa ra một định nghĩa chung về du lịch sinh thái.

Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được Hector Ceballos – Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong khu vực này”. ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Trong định nghĩa này, Hector Ceballos – Lascurain mới chỉ dừng lại ở sự chân trọng tự nhiên, những định sau này của các nhà nghiên cứu, các tổ chức du lịch đã thay đổi một cách sâu sắc hơn.

Năm 1991, đã xuất hiện khái niệm về Du lịch sinh thái. “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu” (Boo, 1991).

Theo Wood năm 1991: “Du lịch sinh thái là du lịch đến với những khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương”. Ở đây Wood đã đề cập đến việc giáo dục môi trường, bảo vệ tự nhiên và sự phát triển của cộng đồng trong du lịch sinh thái.

Theo Bucklay,1994 tổng quát: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái.” Trong đó yếu tố quản lý bền vững được bao hàm cả nội dung phát triển cộng đồng.

Theo ( Cebalos- Lascurain , 1996): Du lịch sinh thái   là du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế các hoạt động tiêu cực do các khách quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực”.

Một định nghĩa khác của Honey (1999) “Du lịch sinh thái là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiêp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”.

Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”.

Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản của du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường. Quan điểm thụ động cho rằng du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ. Quan điểm chủ động cho rằng du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương. Do đó, người ta đã đưa ra một khái niệm mới tương đối đầy đủ hơn:

“Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”.

Ngoài ra còn một số định nghĩa về du lịch sinh thái có thể tham khảo như: ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

  • Định nghĩa của Nêpal: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”.
  • Định nghĩa của Malaysia: “Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch thăm viếng một cách có trách nhiệm với môi trường tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay ), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn, và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực có lợi về xã hội và kinh tế”.
  • Định nghĩa của Australia: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên và được quản lý bền vững về mặt sinh thái”. Ở định nghĩa này, quản lý bền vững và giáo dục là 2 nhân tố chủ yếu nhấn mạnh trong du lịch sinh thái.
  • Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái Quốc tế: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.

Quan điểm thụ động cho rằng du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ. Quan điểm chủ động cho rằng du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương.

Như vậy du lịch sinh thái là hoạt động du lịch tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường , có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương.

Ở Việt Nam, du lịch sinh thái là một lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa những thập kỷ 90 của thế kỷ XX, xong đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các   nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau. Khái niệm về du lịch sinh thái cũng chưa có nhiều điểm thống nhất. Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của du lịch sinh thái, Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF…có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế Việt Nam về du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9/9/1999. Một trong những kết quả quan trọng của hội thảo lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái ở Việt Nam, theo đó: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.

Du lịch sinh thái còn có những tên gọi khác được khái quát như sau:

  • Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)
  • Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature based Tourism) Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
  • Du lịch đặc thù (Particcular Tourism) Du lịch xanh (Green Tourism)
  • Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism) Du lịch bản xứ (Indigennous Tourism)
  • Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism) Du lịch nhậy cảm (Sensitized Tourism)
  • Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
  • Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)

1.1.2. Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Hoạt động khai thác   du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng   đều được thực hiện dựa trên những giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa lịch sử do con người tạo ra và có sự kết hợp của các dịch vụ, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Nhờ vào những yếu tố đó để nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch tiềm năng hấp dẫn đem lại lợi ích cho xã hội.

Du lịch sinh thái là một trong những loại hình hoạt động du lịch, vì nó cũng bao gồm những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung :

  • Tính đa ngành: Thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ du lịch ( sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa , cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch ( điện, nƣớc, nông sản, hàng hóa…).
  • Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch.
  • Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa , kinh tế và nâng cao ý thức tốt đẹp của mọi người trong xã hội.
  • Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các điểm du lịch trong một khu vực, trong một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau.
  • Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm. Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa …(theo tính chất của khí hậu ) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí …(theo tính chất công việc của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch).
  • Tính chi phí: Mục đích đi du lịch của các khách du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải mục đích kiếm tiền.
  • Tính xã hội hóa: Việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã hội tham gia có thể trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động du lịch .

Bên cạnh những đặc trưng của ngành du lịch nói chung , du lịch sinh thái cũng hàm chứa những đặc trưng riêng bao gồm:

  • Tính giáo dục cao về môi trường: Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có cá giá trị cao về đa dạng sinh học và nhạy cảm về mặt môi trường. Bằng các tài liệu, các nguồn thông tin, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan…nhằm nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn cho du khách. Giáo dục môi trường trong du lịch sinh thái có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của du khách, cộng đồng và chính ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn và sẽ góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của các dạng tài nguyên du lịch.
  • Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Hoạt động du lịch sinh thái có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành lên ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm ,nhằm thúc đẩy các hoạt động bảo tồn đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững.
  • Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Khi cộng đồng địa phương cùng tham gia phát triển thì cuộc sống của người dân sẽ được cải thiện sẽ tốt hơn , ngoài ra chính cộng đồng địa phương sẽ   tác động   trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa giá trị nhận thức, tăng nguồn thu nhập. Điều này sẽ tác động một cách tích cực với hoạt động bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái.

1.1.3. Nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Du lịch sinh thái hiện nay đang phát triển mạnh song sự phát triển nhanh chóng này dễ đe doạ tính bền vững của du lịch sinh thái và mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững. Du lịch sinh thái bản thân nó bị giới hạn phạm vi, mức độ phát triển nó không thể tiếp nhận một số lượng lớn du khách. Vì vậy vấn đề quan trọng trong việc phát triển du lịch sinh thái bền vững là sự kiểm soát hạn chế những nguyên tắc xử lý và thực hiện. Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững. Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch. Đây là điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng của du lịch. Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh thái chứa đựng mối tác động qua lại lớn giữa con người và thiên nhiên hoang dã cộng với ý thức được giáo dục nhằm biến chính những khách du lịch thành những người đi đầu trong việc bảo vệ môi trường. Phát triển du lịch sinh thái làm giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và cần trú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên.

Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái cần phải tuân thủ:

  • Du lịch sinh thái phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên .
  • Giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào nỗ lực bảo tồn.
  • Không làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó.
  • Du lịch sinh thái phải tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này. ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )
  • Luôn bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng.
  • Môi trường và hệ sinh thái cần phải đạt lên hàng đầu do đó mỗi người khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân.
  • Du lịch sinh thái phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với nghành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay khoa học ).
  • Du lịch sinh thái phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đó là những kinh nghiêm được hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể.
  • Những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia .
  • Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trước, trong và sau chuyến đi).
  • Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của cộng đồng địa phương, tăng cường sự hiểu biết ,tạo cơ hội việc làm,và sự phối hợp với các ban nghành chức năng.
  • Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của nghành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.
  • Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao, thỏa mãn nhu câù du lịch cho du khách.
  • Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ.

1.1.4. Điều kiện phát triển du lịch sinh thái ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

  • Tài nguyên du lịch sinh thái

²Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó’’. ( Theo PGS.TS Phạm Trung Lương). Tuy nhiên không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phần và cá thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thái.

Tài nguyên du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú. Tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm tài nguyên đang khai thác và tài nguyên chưa được khai thác. Tuy nhiên, một số tài nguyên du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch sinh thái như : các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù với nhiều loài sinh vật đặc hữu quý hiếm ( Vườn Quốc Gia, Khu bảo tồn thiên nhiên….) ; các hệ sinh thái nông nghiệp( vườn cây ăn trái, trang trại,…) ; các giá trị văn hóa bản địa gồm những giá trị truyền thống bản sắc văn hóa địa phương các phong tục tập quán các nghi lễ ở chính nơi đó.

  • Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo và sử dụng sản phẩm cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái là toàn bộ phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra sản phẩm dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch. Với du lịch sinh thái nó bao gồm các hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn uống lưu trú, mua sắm, giải trí, thông tin liên lạc, các hoạt động giảng giải, hướng dẫn, nghiên cứu thiên niên và văn hóa… của khách du lịch. Vì vậy, phạm vi hoạt động kinh doanh rất rộng, bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, cho hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc. ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Những nơi có điều kiện cho phát triển du lịch sinh thái thường nằm ở vùng sâu, vùng xa việc đi lại thường gặp nhiều khó khăn, vì vậy đầu tư phát tiên cơ sở hạ tầng để du khách có thể đến được những điểm tham quan là rất cần thiết. Tuy nhiên, nếu việc quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng không hợp lý và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến phá vỡ cảnh quan môi trường. Việc quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, thân thiện với môi trường là vô cùng quan trọng. Hệ thống giao thông phải được thiết kế để chống xói mòn và đảm bảo nơi cư trú cho động thực vật. Triệt để sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng. Các thiết bị xử lý chất thải, nước thải phải được sử dụng phù hợp, hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, nơi vui chơi giải trí là những hạng mục cơ sở hạ tầng cần được đặc biệt coi trọng về mặt thiết kế cũng như việc sử dụng vật liệu xây dựng và địa điểm xây dựng… Đó là yêu cầu quan trọng không chỉ đảm bảo cho sự phát triển du lịch sinh thái bền vững mà còn có cả ý nghĩa kinh tế xã hội. Xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo cho việc cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan cùng với việc đảm bảo cho phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng của du lịch sinh thái.

  • Nguồn nhân lực du lịch

Trong du lịch sinh thái, số lượng dân cư và chất lượng lao động ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và quan trọng hơn là ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, hệ động thực vật. Hệ sinh thái, môi trường tự nhiên sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu mật độ dân cư quá đông, trình độ dân trí thấp.

Với du lịch sinh thái, sự tham gia của cư dân địa phương đóng một vai trò quan trọng. Trong khi các đơn vị điều hành du lịch, các khách sạn và chính quyền địa phương cố gắng tiếp thị sản phẩm của mình, trong đó có những nội dung, hoạt động không phù hợp với nguyên tắc của du lịch sinh thái, người ta thường không quan tâm đến khả năng quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như sự đóng góp của cư dân bản địa đến hoạt động du lịch sinh thái. Hậu quả của cách làm này sẽ trở lên đáng lo ngại. Các hình thức kinh doanh như vậy sẽ đi đến giai đoạn thoái trào do không bảo vệ được cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái. Trên thực tế mối quan hệ giữa người dân bản địa và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một quan hệ gắn bó được thiết lập lâu đời. Ở nhiều nơi người dân địa phương sử dụng tài nguyên thiên nhiên như phương thiện sống hay một kế sinh nhai của mình và họ biết cách để bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tránh đi tình trạng tàn phá tài nguyên. Yếu tố quan trọng đối với một điểm du lịch sinh thái thành công hay không đó là lao động làm việc trong các đơn vị này ngoài những kiến dthuwcs về chuyên môn nghiệp vụ về du lịch đơn thuần, họ còn phải là các chuyên gia về môi trường, sự hiểu biết sâu rộng về hệ động thực vật tại khu vực mà họ làm việc, giảng giải thuyết minh cho khách tham quan.

Rõ ràng vai trò của dân cư và nguồn nhân lực là rất quan trọng, phải có những chiến lược để quy hoạch dân cư và phát triển nguồn nhân lực một cách khoa học có như vậy mới đảm bảo cho hoạt động du lịch sinh thái đi đúng hướng của nó.

  • Các chính sách phát triển du lịch sinh thái

Khuyến khích phát triển các nguồn lực du lịch về phương diện sức hấp dẫn thiên nhiên cũng như các điểm lịch sử, khảo cổ và văn hóa, chú trọng đến chất lượng cùng với hệ thống thông tin có hiệu quả và có nhận thức về khả năng thu xếp nơi nghỉ cho du khách.

Có sự điều phối để tạo ra sự hợp tác giữa tất cả các bên liên quan, nhấn mạnh đến việc thúc đẩy tinh thần trách nhiệm đối với hệ sinh thái và việc tổ chức các tour sẽ không gây thiệt hại hay hủy hoại môi trường. ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Xây dựng nhận thức về loại hình du lịch mà có góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và có sự hoàn trả thích hợp cho hệ sinh thái.

Triển khai lập kế hoạch, cải tiến và xây dựng nghuyên tắc và quy định, tổ chức, quản lý hiệu quả du lịch sinh thái, từ đó có thể tạo ra sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa Chính phủ, khối tư nhân và người dân địa phương.

Có chính sách, cơ chế động viên cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào quá trình thu được lợi ích từ du lịch.

Chính sách xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá là một khâu quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng thương hiệu, hình ảnh của một sản phẩm hay điểm đến. Đối với du lịch sinh thái việc tuyên truyền quảng bá và hoạt động xúc tiến thương mại lại còn quan trọng hơn. Phải làm thế nào khuyến khích du khách có mong muốn được đi du lịch theo hình thức du lịch sinh thái. Trên thực tế nhu cầu đi du lịch , nhất là du lịch sinh thái của con người ngày càng tăng nhưng nếu một điểm du lịch hay một khu du lịch dù có cảnh quan thiên nhiên độc đáo, hấp dẫn, môi trường trong lành, hệ sinh thái đa dạng có thể nói đó là một điểm du lịch lý tưởng nhưng nếu những thông tin về nó không được quảng bá , không đến được với du khách thì chắc chắn điểm du lịch đó cũng không có nhiều khách đến tham quan.

Hoạt động xúc tiến, tuyên truyền quảng bá phải được thông qua các kênh quảng cáo khác nhau. Có rất nhiều hình thứ quảng bá hữ hiệu, nhưng tiết kiệm và hiệu quả nhất đó là quảng bá trực tiếp ngay tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Một trong những đặc điểm dịch vụ du lịch, trong đó có du lịch sinh thái là nó chỉ xuât hiện khi khách hàng, khách du lịch đến sử dụng, tham quan. Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học – kỹ thuật, sự phát triển của phương tiện thông tin, do đó có rât nhiều hình thức quảng bá xúc tiến phát triển du lịch. Việc xây dựng, duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, môi trường cảnh quan thiên nhiên độc đáo hay thái độ phục vụ, hành vi ứng xử có văn hóa của nhân viên phục vụ, cộng đồng dân cư địa phương đó là nững phương thức để quảng bá hữu hiệu nhất.

Nếu đưa ra những chính sách phát triển cùng công tác quảng bá được chú trọng đúng mực, duy trì thường xuyên thì nó sẽ là nhân tố quan trọng cho phát triển du lịch sinh thái.

1.1.5 Các loại hình du lịch sinh thái ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Cùng với sự phát triển du lịch sinh thái của thế giới, du lịch sinh thái ở Việt Nam phát triển với nhiều loại hình phù hợp với đặc thù của Việt Nam:

  • Dã ngoại: Đây là hình thức đưa con người trở về với thiên nhiên, sản phẩm chủ yếu của loại hình này là tham quan thắng cảnh.
  • Leo núi: Là loại hình du lịch chinh phục những đỉnh núi cao, ngoài ra còn có thể kể đến những tour du lịch hành hương lễ hội đến những điểm di tích lịch sử như chùa Hương, Yên Tử, chùa Thầy,…
  • Đi bộ trong rừng: là hình thức được ưa chuộng trên thế giới. Ở Việt Nam hình thức này kết hợp với việc tham quan các cảnh quan tự nhiên ở trong các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đang phát triển.
  • Tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên: Là loại hình thu hút được nhiều sự quan tâm của khách từ nhiều thị trường khác nhau.
  • Tham quan miệt vườn: Sản phẩm chủ yếu của loại hình này là hệ sinhthái nông nghiệp. Hình thức này tuy mới phát triển rộng nhưng dã thu hút được khá nhiều khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế.
  • Quan sát chim: Các sân chim ở Việt Nam đặc biệt là các sân chim nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có số lượng chim lớn, thành phần loài phong phú, với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm cần được bảo vệ…nơi thu hút nhiều nhà khoa học và du khách tới nghiên cứu, tham quan… hình thức này ở Việt Nam mới phát triển chưa phổ biến nhiều.
  • Thăm bản làng các dân tộc: Khách du lịch có cơ hội tìm hiểu các giá trị văn hóa bản địa như tập tục sinh hoạt, sản xuất, lễ hội…được hình thành và phát triển gắn với đặc điểm tự nhiên của vùng.
  • Du thuyền: Việt Nam là một đất nước có mật độ sông ngòi dày đặc, đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức loại hình du lịch tham quan thắng cảnh trên du thuyền đầy hấp dẫn.
  • Mạo hiểm: Ở Việt Nam hình thức du lịch mạo hiểm bắt đầu được hình thành từ du lịch lặn biển, mô tô vượt các địa hình hiểm trở…
  • Săn bắn câu cá: Các hoạt động được thực hiện tại các khu vực khoanh vùng dành riêng, nhiều địa điểm phục vụ cho hoạt động câu cá được mở nhiều trong thời gian gần đây phục vụ cho nhu cầu của một lượng khách đông đảo.
  • Các loại hình khác: Tổ chức các tour du lịch cấp khu vực hay xuyên quốc gia để tham quan tìm hiểu cảnh quan thiên nhiên và con người Việt Nam.

Mỗi quốc gia sẽ có những lợi thế khác nhau để phát triển du lịch. Ở Việt Nam chúng ta, lợi thế nằm ở chỗ chúng ta có đa dạng các hệ sinh thái. Du lịch sinh thái không có được nét đẹp sang trọng như nhiều công trình nhân tạo, song nó thực sự mang đến cho du khách cảm giác thư giãn bởi được hòa mình vào thiên nhiên, được chiêm ngưỡng những cảnh sắc tươi đẹp và hoang dã của đất trời. Cảm nhận cái đẹp nguyên thủy của tạo hóa để yêu thiên nhiên hơn, trân trọng thiên nhiên hơn thực sự là một trải nghiệm vô cùng tuyệt vời mà những ai mê du lịch nên khám phá.

1.1.6 Mối quan hệ du lịch sinh thái và môi trường ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Hiện nay vấn đề môi trường đã và đang có tác động rất lớn đối với phát triển kinh tế đất nước và sự phát triển của ngành du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng. Du lịch sinh thái đã mang lại lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên. Đồng thời tạo công ăn việc làm cho người dân đại phương. Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo tài nguyên du lịch sẽ làm tốt lên chất lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp dẫn tại các điểm, khu du lịch. Ngược lại, việc khai thác không đồng bộ, không có các biện pháp phục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch sẽ dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái, gây nên sự giảm sút chất lượng môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường lạm phát, sự đi xuống của hoạt động du lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch ở khu vực đó. Hơn nữa hoạt động du lịch sinh thái xuất hiện trong vùng nhạy cảm về môi trường văn hóa, đặc   biệt con người bị tổn thương.

Tài nguyên tự nhiên là yếu tố cơ bản hình thành và phát triển du lịch sinh thái tuy nhiên cũng cần phải quan tâm đến yếu tố cộng đồng địa phương trong mối quan hệ này.Yếu tố để thu hút sự quan tâm của khách du lịch với cộng đồng địa phương rất đa dạng như: yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, tập quán sản xuất, sinh hoạt, ẩm thực …có mối quan hệ chặt chẽ và có những tác động ảnh hưởng đến phát triển du lịch. Bản chất và mục tiêu hoạt động của du lịch sinh thái là đảm bảo cho công việc bảo tồn, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua việc giúp cộng đồng địa phương quản lý tài nguyên của họ. Thu ngoại tệ làm đa dạng hóa nền kinh tế địa phương. Tạo động lực để nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin liên lạc, các cơ sở  y tế, phương tiện và điều  kiện vui chơi giải trí…mang lại lợi ích xã hội cho cộng đồng địa phương. Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dân địa phương và du khách, là cơ hội cho người dân tiếp xúc giới thiệu những giá trị truyền thống của địa phương mình,   góp phần nâng cao dân trí, cải thiện nhận thức, tạo mối quan hệ xã hội ngày càng rộng mở. Tuy nhiên dù là loại hình du lịch nào nếu phát triển không đúng thì đều gây tác động tiêu cực. Du lịch có thể góp phần vào quá trình phát triển và kém phát triển, làm tăng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Tạo ra sự phụ thuộc nặng nề vào hoạt động du lịch, làm nảy sinh bất ổn về tài chính, làm đảo lộn đời sống kinh tế xã hội. Gây ra sự quá tải đối với cơ sở vật chất kỹ thuật dẫn đến ảnh hưởng nhu cầu cuộc sống của người dân địa phương. Bên cạnh ý nghĩa mở rộng và giao lưu văn hóa, sự xâm hại của du khách đối với truyền thống văn hóa của đại phương gây ra ảnh hưởng tiêu cực và tác động mạnh mẽ văn hóa – xã hội bản địa. Như vậy bất kì một loại hình du lịch nào cũng có những mặt tiêu cực nếu không có một định hướng phát triển đúng đắn. Vì vậy chúng ta phải hiểu và nắm về mặt lý luận của du lịch sinh thái là một vấn đề quan trọng trước khi bắt tay vào thiết kế một kế hoạch phát triển du lịch sinh thái cho một vùng cụ thể.

1.2. Kinh nghiệm phát triển du lich sinh thái của một số quốc gia trong khu vực ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Trong những năm qua, một số nước trong khu vực và ở châu Á, với xuất phát điểm và điều kiện tương tự của nước ta, nhưng nhờ có chính sách đầu tư, cơ chế quản lý và những biện pháp phát triển du lịch thích hợp, đã đưa ngành du lịch lên mức phát triển khá cao, được du khách và các chuyên về du lịch của thế giới đánh giá cao.

Điển hình như Thái Lan với những chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng .Họ có tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện. Luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định.

Trung Quốc đã xây dựng, ban hành các chính sách du lịch và giám sát việc tuân thủ, thực hiện các chính sách đó; xây dựng chiến lược phát triển khu du lịch, phối hợp với các ban, ngành liên quan trong hoạt động đầu tư, phát triển du lịch; nghiên cứu và thu thập thông tin du lịch; cấp giấy phép hoạt động lữ hành; xúc tiến, quảng bá du lịch ra nước ngoài. Nhằm thu hút du khách quốc tế và nội địa, ngành du lịch Trung Quốc đã đưa ra những sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng với các chủ đề được sắp xếp theo từng năm.

Malaysia tăng cưòng đầu tư và chú trọng phát triển du lịch sinh thái. Malaysia là quốc gia có nền kinh tế du lịch phát triển vào bậc nhất Đông Nam Á. Chinh phủ Malaysia đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế quốc dân, nên đã đi trước chúng ta một bước dài trong công tác phát triển du lịch. Malaysia rất coi trọng công tác quảng bá sản phẩm du lịch trên cơ sở đa dạng sản phẩm – thỏa mãn khách hàng. Đồng thời, Chính phủ Malaysia thường xuyên nâng cấp trang thiết bị cho ngành du lịch (mỗi năm chi hàng triệu Ringgit cho công tác này) và duy trì phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

Tóm lại các nước Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia đều rất chú trọng đến phát triển du lịch, coi công tác phát triển du lịch là một quốc sách nên đã dành sự ưu tiên đầu tư cho du lịch cả về cơ chế, chính sách lẫn hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất. Luôn   phối hợp chặt chẽ với ngành du lịch để tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch; tạo ra những chiến lược và sản phẩm du lịch tốt, có chất lượng cao; khai thác hiệu quả, đồng bộ tài nguyên du lịch, đem lại nguồn thu cho đất nước, tạo một vị thế nhất định với nước ngoài. Họ xây dựng các chiến lược, sách lược phát triển du lịch phù hợp, đạt hiệu quả kinh tế cao. Cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển rất linh hoạt và uyển chuyển. Xây dựng kế hoạch phát triển ưu tiên cho du lịch có trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ; đồng thời, rất coi trọng và đẩy mạnh hoạt động quảng bá du lịch, mạnh dạn đầu tư cho công tác phát triển thị trường của ngành du lịch ra nước ngoài nói chung và ở một số thị trường trọng điểm…

Tiểu kết chương 1 ( Khoá luận: Điều kiện phát triển du lịch sinh thái hiệu quả )

Trong chương 1, tìm hiểu về Cơ sở lý luận của du lịch lịch sinh thái đã hiểu rõ được khái niệm về du lịch sinh thái. Đồng thời, tổng kết những đặc trưng của du lịch sinh thái và những nguyên tắc cơ bản củ du lịch sinh thái. Điều kiện phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịch sinh thái.Mối quan hệ du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương, môi trường. Ngoài ra còn đưa ra một số kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số quốc gia trong khu vực. Để từ đó làm cơ sở tiền đề cho việc phân tích tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái ở Na Hang, Tuyên Quang sẽ được trình bày ở chương 2.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Khoá luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái hiệu quả

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537