Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên khoa văn hóa du lịch trường đại học dân lập Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Đôi nét về Trường Đại học Dân lập Hải Phòng
Trường Đại học Dân lập Hải Phòng được thành lập năm 1997 dưới ánh sáng của nghị quyết TW 2 khóa 8 và nghị quyết 04 Thành ủy Hải Phòng về xã hội hóa giáo dục. Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 792/TTg cho phép thành lập Trương Đại học Dân lập Hải Phòng. Trường Đại học Dân lập Hải Phòng là cơ sở đào tạo đại học, chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục – Đào tạo. Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Trụ sở của trường đặt tại Thành phố Hải Phòng. Hệ thống văn bằng của Đại học Dân lập Hải Phòng nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia.
Nhà trường hoạt động theo pháp luật, theo quy chế đại học dân lập do Bộ trưởng Bộ Giáo dục – đào tạo phê duyệt. Đây là trường Đại học dân lập đầu tiên của Hải Phòng nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật cho thế kỷ 21, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập và nâng cao trình độ của nhân dân Hải Phòng và miền Duyên hải.
Ra đời trong thời gian rất ngắn, nhưng dưới sự dìu dắt của Thầy Hiệu trưởng GS.TS.NSƯT. Trần Hữu Nghị, Nhà trường đã được đông đảo người dân Hải Phòng chào đón và ủng hộ. Trải qua 15 năm với biết bao thử thách, thăng trầm trong cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa quan điểm vụ lợi và không vụ lợi, giữa những con người chỉ vì quyền lợi cá nhân và những người vì Xã hội hóa, để đến hôm nay, thành quả mà tập thể cán bộ lãnh đạo, giảng viên, nhân viên và các thế hệ sinh viên đạt được là một ngôi trường đào tạo có uy tín, dẫn đầu khối các trường ngoài công lập, đóng góp một phần vào sự phát triển cả nền giáo dục đất nước, là minh chứng sinh động khẳng định đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng Là đúng đắn.
Sứ mạng của Nhà trường: “Coi trọng sự năng động và sáng tạo, kiến thức và trí tuệ, tính nhân văn và trách nhiệm với xã hội, Đại học Dân lập Hải Phòng luôn nỗ lực không ngừng nhằm cung cấp cơ hội học tập có chất lượng tốt nhất giúp sinh viên phát triển toàn diện trí lực, thể lực và nhân cách. Sinh viên tốt nghiệp của trường là người hiểu rõ bản thân, làm chủ và sử dụng sáng tạo kiến thức phục vụ cộng đồng và xã hội.” Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Với phương châm “Chất lượng đào tạo là sự sống còn của nhà trường”, bằng tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và tận dụng tốt mọi thời cơ, cùng với sự giúp đỡ của các doanh nghiệp nên chỉ trong một thời gian ngắn nhà trường đã xây dựng được cơ sở vật chất khang trang hiện đại đáp ứng công tác giáo dục toàn diện các thế hệ sinh viên.
Từ năm 1998 đến năm 2002, nhà trường đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất và trong giai đoạn này nhà trường đã có được một cơ ngơi bề thế với khu giảng đường gồm 1 tòa nhà 6 tầng , 3 tòa nhà 3 tầng và 1 tòa hiệu bộ. Năm 2002, trường đã lắp đặt hệ thống camera cho 100% các phòng học, nối mạng nội bộ, mạng internet trong toàn trường.
Mặc dù đã trải qua muôn vàn khó khăn và thử thách, thầy và trò trường Đại học Dân lập Hải Phòng vẫn một long đoàn kết, vững tay chèo lái, đưa con thuyền mang thương hiệu “Đại học dân lập Hải Phòng” cập bến bờ của thành công và tạo dựng uy tín. Cho đến nay, trường đã có khu giảng đường hiện đại với 5 tòa nhà từ 4 – 6 tầng với tổng số trên 140 phòng học, phòng thí nghiệm, phòng hội thảo,… Tất cả đều được trang bị đầy đủ nhu cầu nghe giảng và thực hành của sinh viên như màn chiếu, camera, projector, điều hòa nhiệt độ,… Thu viện với trên 62.000 đầu sách, 82.000 tài liệu điện tử Elib, 85.000 tài liệu điện tử ProQuset đáp ứng yêu cầu phục vụ sinh viên. Đây là thư viện đầu tiên ở Hải Phòng sử dụng phần mềm Libol vào công tác quản lý; toàn trường được nói mạng nội bộ, mạng internet và wifi miễn phí phủ song. Khu liên hợp thể dục thể thao – khách sạn sinh viên với 5 hạng mục công trình như bể bơi thông minh theo công nghệ của Pháp, sân vận động, nhà tập đa chức năng, khu nội trú – khách sạn sinh viên, nhà ăn có sức chứa 1.500 chỗ/ca. Khách sạn sinh viên dành cho sinh viên nội trú, có đầy đủ tiện nghi khép kín, được lắp đặt các thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời cung cấp nước nóng đến từng phòng cho sinh viên…
Đại học Dân lập Hải Phòng là trường đại học đa ngành, đa nghề, đa hệ, có cơ sở vật chất hiện đại, với đội ngũ giảng viên có năng lực chuyên môn cao, cung cấp cơ hội học tập tốt nhất cho sinh viên. Hiện nay trường có hơn 620 cán bộ, giảng viên, nhân viên, trong đó 338 cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu, số giảng viên là 244 người với 7 Giáo sư, 8 Phó giáo sư, 3 Tiến sĩ khoa học, 28 Tiến sĩ và 136 Thạc sĩ, 21 nghiên cứu sinh và 25 người đang học cao học đảm nhận 80% khối lượng giảng dạy đã đào tạo và cung cấp cho xã hội gần 15.000 kỹ sư, cử nhân có chất lượng; đang đào tạo hơn 8.000 sinh viên góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới và công tác xã hội hóa giáo dục của đất nước. Theo con số thống kê thì có rất nhiều sinh viên ra trường giữ các trọng trách cao trong xã hội, hàng trăm sinh viên đã học tiếp lên Thạc sĩ và Tiến sĩ.
Năm 2009, Đại học dân lập Hải Phòng được Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục công nhận là 1 trong 20 trường đại học đầu tiên trong cả nước đạt chuẩn chất lượng giáo dục quốc gia và được bình chọn là một trong một trăm thương hiệu hàng đầu Việt Nam năm 2009. Với mục đích “phục vụ” sinh viên chứ không làm “dịch vụ”, tất cả các hoạt động đều vì mục đích xã hội hóa, vì chất lượng đào tạo và làm cho sinh viên cảm thấy tự hào và hăng say học tập, năng động, bản lĩnh khi ra trường. Kể từ năm 2008 – 2009, nhà trường đã đưa học chế tín chỉ áp dụng vào một số ngành và cho đến nay đã áp dụng cho tất cả các ngành. Hiện nay, nhà trường đã xây dựng và công bố chuẩn đầu ra cho 100% các ngành.
Để nâng cao năng lực tin học và ngoại ngữ, các chương trình đào tạo đã chính thức đưa 2 chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh theo chuẩn TOEIC, tiếng Trung theo chuẩn HSK và chứng chỉ tin học văn phòng quốc tế để xét điều kiện làm tốt nghiệp cho sinh viên. Để được làm tốt nghiệp sinh viên phải đạt điểm TOEIC là 600 với các ngành kinh tế, văn hóa và 550 đối với các ngành kỹ thuật và công nghệ. Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Nhằm từng bước hội nhập, nhà trường đã liên kết đào tạo – nghiên cứu khoa học với các trường đại hoc cua các nước như Trung Quốc, Singapore, Malaysia; mở lớp đào tạo cử nhân tài năng theo chuẩn quốc tế; gửi cán bộ, giảng viên đi đào tạo Tiến sĩ tại các nước như Úc , Nhật, Trung Quốc, Đức, Nga… Xây dựng môi trường hợp tác làm việc, quan hệ bình đẳng, dân chủ, cởi mở, thân thiện, đối xử với nhau trên tinh thần đoàn kết thân ái, xậy dựng nét đẹp văn hóa học đường, giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp cũng là nét đặc trưng của nhà trường từ ngày thành lập đến nay. Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết đầy đủ các chế độ chính sách, ổn định cuộc sống để mọi người yên tâm phấn khởi công tác, gắn bó lâu dài với nhà trường cũng là điểm nổi bật của nhà trường trong suốt những năm qua. Với sinh viên, nhà trường cũng luôn động viên, hỗ trợ để các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn không phải bỏ học giữa chừng.
Trường Đại học Dân lập Hải Phòng gồm 26 đơn vị trực thuộc: Khoa điện – điện tử, Khoa Môi trường, Trường mầm non Hữu Nghị quốc tế, Khoa Văn hóa du lịch, Bộ môn cơ bản – cơ sở, Khoa Xây dựng, Khoa Quản trị kinh doanh, Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở 2, Phòng quan hệ công chúng và hợp tác quốc tế, Ban thanh tra, Khoa ngoại ngữ, Ban bảo vệ, Tổ nhà ăn, Phòng y tế, Phòng kế hoạch tài chính, Phòng quản lý khoa học và đào tạo sau đại học, Đảng bộ trường Đại học Dân lập Hải Phòng, Ban công tác sinh viên, Hội sinh viên Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trường, Khoa Công nghệ thông tin, Phòng đào tạo, Phòng tổ chức hành chính, Trung tâm thông tin thư viện, Bộ môn Giao dục thể chất, Ban đảm bảo chất lượng quản lý và ISO.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch
2.2. Giới thiệu về Khoa Văn hóa du lịch
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngành Văn hóa du lịch thuộc Bộ môn Hóa – Môi trường được thành lập từ năm 2001. Đến năm học 2007 – 2008, ngành Văn hóa du lịch được tách ra thành Bộ môn Văn hóa du lịch và chính thức trở thành Khoa Văn hóa du lịch ngày 10/6/2011.
Phó trưởng khoa Văn hóa du lịch là Thạc sĩ Đào Thị Thanh Mai, ngoài ra Khoa có 2 Tiến sĩ, 1 Nghiên cứu sinh, 4 Thạc sĩ, 2 Cử nhân. Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Ngành Văn hóa du lịch là đơn vị đầu tiên đào tạo cử nhân chính quy về du lịch, văn hóa du lịch trên địa bàn Thành phố Hải Phòng và khu vực miền Duyên hải Đông Bắc. Ngành đào tạo cử nhân Văn hóa du lịch có kiến thức chuyên môn, có kỹ năng nghiệp vụ, có trình độ ngoại ngữ và khả năng tác nghiệp tốt trên các lĩnh vực du lịch và văn hóa.
11 năm qua, Khoa Văn hóa du lịch đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay số giảng viên cơ hữu của khoa đã tăng lên 8 người, ngoài ra Khoa còn có đội ngũ giảng viên thỉnh giảng lá các giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ đến từ các trường Đại học, các Viện nghiên cứu có uy tín trong cả nước.
Đến nay, Khoa đã đào tạo được hơn 1.300 Cử nhân Văn hóa du lịch. Sinh viên tốt nghiệp ra trường có khả năng tác nghiệp ở nhiều vị trí khác nhau như: Cán bộ giảng dạy; Điều hành du lịch; Quản lý khách sạn – nhà hàng; Cán bộ nghiên cứu; Hướng dẫn viên du lịch; Phóng viên… Nhiều sinh viên ngành Văn hóa du lịch sau khi ra trường đã nắm giữ những vị trí quan trọng tại các doanh nghiệp, các tổ chức. Điển hình có thể kể đến: Tô Duy Tòng, sinh viên lớp VH705 (khóa 2003- 2007) hiện là Uỷ viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh Đoàn Quảng Ninh; Trương Thị Lệ Trang, sinh viên lớp VH701 (khóa 2003 – 2007), hiện nay là phóng viên báo Pháp luật và đời sống, là tác giả ý tưởng Lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng; Nguyễn Thị Hà, sinh viên lớp VH501 (khóa 2001 – 2005), là Giám đốc Công ty TNHH một thành viên du lịch và tiếp thị giao thông vận tải Việt Nam ( Vietravel) chi nhánh Hải Phòng.
Có thể nói, Khoa văn hóa du lịch – Trường Đại học Dân lập Hải Phòng là địa chỉ tin cậy về đào tạo nguồn nhân lực du lịch phục vụ sự phát triển của thành phố Hải Phòng và đất nước trong thời kỳ hội nhập.
2.2.2. Các hoạt động của Khoa Văn hóa du lịch Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
2.2.2.1. Các hoạt động chuyên môn
Trong những năm qua, tập thể cán bộ giảng viên của Khoa luôn tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, xây dựng và chỉnh sửa chương trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực tế, đồng thời tiến hành xây dựng hệ thống bài giảng điện tử, bài thực hành và tham khảo cho hầu hết các môn chuyên ngành. Bên cạnh đó còn viết bài cho các báo, tạp chí chuyên ngành, tham gia các hoạt động đoàn thể của nhà trường,… giảng viên và sinh viên của Khoa đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, được đánh giá xếp loại xuất sắc và giỏi, trong đó có một đề tài của sinh viên được nhận bằng khen của Bộ GD ĐT.
Hiện tại, Khoa Văn hóa du lịch đã thiết lập quan hệ tốt với trên 150 cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố và các tỉnh miền Bắc để sinh viên có địa chỉ thực tập tin cậy.
2.2.2.2. Các hoạt động đoàn thể
Bên cạnh hoạt động chuyên môn, các hoạt động đoàn thể của Khoa cũng rất sôi nổi. Công đoàn Khoa nhiều năm liền đạt danh hiệu Công đoàn lao động tiên tiến. Liên chi đoàn Văn hóa du lịch là một trong những Liên chi có hoạt động phong trào khá mạnh của Trường Đại học Dân lập Hải Phòng. Được sự giúp đỡ của Khoa và Nhà trường, Liên chi đoàn đã có bước phát triển nhanh chóng và tổ chức thành công nhiều hoạt động như Liên hoan văn nghệ toàn ngành, Tìm hiểu hội nghị Apec 2006, Cuộc thi Tìm hiểu văn hóa và luật du lịch 2007. Khoa cũng tổ chức thành công nhiều cuộc thi vừa trau dồi kiến thức, vừa là sân chơi bổ ích cho các bạn sinh viên như: Cuộc thi “Hướng dẫn viên du lịch tài năng”, “Thuyết minh viên du lịch”…
Ngoài ra, sinh viên ngành Văn hóa du lịch còn tích cực tham gia các phong trào Tình nguyện, tham gia các Hội thi, Liên hoan văn nghệ, các giải thể thao toàn trường và giành được nhiều giải cao.
2.2.3. Các chuyến đi thực tế của sinh viên
Trong quá trình học tập, Khoa Văn hóa du lịch tổ chức các chuyến đi thực tế dài ngày cho sinh viên các năm thứ 2, 3, 4 như thực tế môn Dân tộc học ở Hòa Bình, thực hành môn Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch tại Ninh Bình, đặc biệt là chuyến thực tế tổng hợp chuyên ngành tại các tuyến điểm du lịch miền Trung. Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Chuyến đi thực tế môn Dân tộc được tổ chức thường niên cho sinh viên hệ đại học các khóa sau khi sinh viên hoàn thành phần lý thuyết. Chuyến đi thực tế giúp các bạn sinh viên tìm hiểu đời sống, văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số. Chuyến đi thường để lại nhiều ấn tượng sâu sắc nhất đối với các bạn sinh viên, bởi lẽ, đây là chuyến đi mà các bạn sinh viên không chỉ thu lượm được những kiến thức chuyên môn mà còn rèn luyện các kỹ năng sống và củng cố tinh thần đoàn kết, làm việc theo nhóm. Đối với các bạn sinh viên hệ đại học thì đây là chuyến đi đầu tiên khi bước chân vào mái trường Đại học Dân lập Hải Phòng, chuyến đi này sẽ giúp các thành viên trong lớp xích lại gần nhau hơn, thêm hiểu nhau hơn, đồng thời qua chuyến đi các bạn được cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào dân tộc thiểu số sẽ giúp các bạn có được những cái nhìn chân thực hơn thông qua “lăng kính cuộc sống” của đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó giúp các bạn thêm yêu hơn quê hương đất nước và phần nào đó giúp các bạn sinh viên thấy được ý nghĩa của cuộc sống. Qua chuyến đi các bạn sinh viên cũng học được cách “nhập gia tùy tục” thông qua việc giao tiếp với những người trong gia đình mà mình được sống cùng, cũng như các sinh hoạt truyền thống trong gia đình họ. Chuyến đi cũng là cơ hội để các bạn sinh viên rèn luyện sự tương tác, sự trao đổi giữa các thành viên trong cùng một nhóm.
Chuyến đi thực tế môn Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và chuyến đi thực tế tổng hợp chuyên ngành tại các tuyến điểm du lịch miền trung, đều là những chuyến đi nằm trong chương trình đào tạo của ngành Văn hóa du lịch nhằm tăng cường kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo cử nhân Văn hóa du lịch. Thông qua các chuyến đi này, các bạn sinh viên được nâng cao kiến thức về các điểm đến, tham gia vào công tác chuẩn bị và tổ chức chuyến đi, đặc biệt là được thực hành các kỹ năng như thuyết minh trên xe và tại các điểm du lịch, kỹ năng hoạt náo và tổ chức các hoạt động tập thể, kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo đoàn, bố trí phòng ở và ăn uống cho khách tại khách sạn, nhà hàng trong quá trình thực hiện chương trình du lịch,… Cũng thông qua các chuyến đi thực hành môn học này, sinh viên ngành Văn hóa du lịch đã rèn luyện được sự tự tin khi đứng trước đám đông, được va chạm và được tiếp cận với thực tế, giúp các bạn hiểu hơn về đặc thù nghề nghiệp. Các bạn sinh viên đã có sự chuẩn bị bài một cách chu đáo theo yêu cầu của giáo viên và coi đây thực sự là một chuyến đi thực hành chứ không đơn thuần là một chuyến đi chơi. Các bạn đề đặt mình vào vị trí của những người phục vụ chứ không phải những người khách đi du lịch. Chuyến đi giúp các bạn sinh viên trau dồi kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp trước khi bước vào đời.
Ngoài 3 chuyến đi thực tế trên, các bạn sinh viên Khoa Văn hóa du lịch còn 1 chuyến đi thực tế cho môn Quản trị kinh doanh lữ hành. Chuyến đi này là chuyen di cuối cùng và thường được tổ chức cho sinh vien năm cuối. Các bạn sinh viên sẽ tự làm mọi việc để chuẩn bị cho một chuyến đi được an toàn và tiết kiệm nhất, các bạn thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo, từ khâu thiết kế chương trình, cho đến các công việc như đặt các dịch vụ, công tác hậu cần và tổ chức thực hiện. Chuyến đi thực tế này giúp các bạn có cơ hội được đến gần hơn với công việc của mình sau khi ra trường. Các khâu chuẩn bị trước chuyến đi cũng là cơ hội để các thành viên trong lớp thể hiện tinh thần đoàn kết, sự tương hỗ, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc. Đồng thời qua chuyến đi này còn thể hiện được sự năng động của mỗi bạn sinh viên, khi mỗi bạn đều được được giao nhiệm vụ. Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
2.3. Nhu cầu du lịch và tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên Khoa Văn hóa du lịch – Trường Đại học Dân lập Hải Phòng
Để nắm bắt được nhu cầu đi du lịch cũng như nhu cầu tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên Khoa Văn hóa du lịch – Trường Đại học dân lập Hải Phòng, tác giả đã tiến hành điều tra trên 120 phiếu về nhu cầu du lịch và tham gia các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng của sinh viên trong Khoa. Phiếu điều tra được chia làm 2 phần, phần I, gồm 10 câu là những câu hỏi dành cho việc thu thập các thông tin về nhu cầu tham gia du lịch, phần II, gồm 7 câu là những câu hỏi để thu được những thông tin cần thiết về nhu cầu tham gia các hoạt động tình nguyện của các bạn sinh viên trong Khoa. Kết quả cụ thể như sau:
2.3.1. Nhu cầu du lịch
Nhu cầu du lịch được thể hiện thông qua 1 số chỉ tiêu như: mức độ thường xuyên đi du lịch, mục đích đi du lịch, thời gian đi du lịch, độ dài chuyến đi, địa điểm khi đi du lịch, phương tiện sử dụng khi đi du lịch, hình thức đi du lịch và chi tiêu trung bình.
Theo số liệu điều tra thu thập và tổng hợp được, thì tình hình về nhu cầu đi du lịch của các bạn sinh viên Khoa Văn hóa du lịch được thể hiện như sau:
2.3.1.1. Mức độ thường xuyên
Theo như biểu đồ trên thì số các bạn sinh viên thỉnh thoảng đi du lịch chiếm đa số ( 60,8%), số các bạn sinh viên hiếm khi đi chiếm 29,2 %, còn với những bạn thường xuyên đi du lịch chỉ chiếm 10%. Những con số này cho thấy mức độ thỉnh thoảng đi du lịch của các bạn sinh viên trong khoa là cao nhất, mức độ thường xuyên đi du lịch là ít nhất, điều này có những lý do sau để giải thích:
Hầu hết các bạn đều là sinh viên nên thời gian dành cho học tập chiếm đa số thời gian, đó là những lúc các bạn học trên giảng đường, thời gian các bạn tự học và thời gian để tìm kiếm thông tin phục vụ cho việc học tập.
Với những bạn sinh viên sống xa nhà, điều kiện kinh tế lại hạn chế, cho nên ngoài thời gian học tập thì các bạn dành thời gian cho công việc làm thêm.
2.3.1.2. Mục đích đi du lịch Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Theo như kết quả thu thập được từ 120 phiếu điều tra, các bạn sinh viên khi tham gia một chuyến du lịch thường đi du lịch với mục đích khám phá là chủ yếu, chiếm 58,3%, các bạn đi với mục đích học tập nghiên cứu chiếm 16,7% và các bạn đi với mục đích nghỉ dưỡng chiếm 25%. Sinh viên thường muốn được tự thể hiện bản thân, luôn muốn được khẳng định cái tôi. Họ mong muốn có được các chuyến đi được hòa mình với thiên nhiên, được trải lòng mình, không thích bị bó buộc, nên mục đích đầu tiên của chuyến đi là được khám phá những điều lý thú về vùng đất mà họ đặt chân tới, điều mà các bạn mong muốn trong chuyến đi đó là điểm đến thú vị, hấp dẫn và được tự do khám phá. Hầu hết họ đều mong muốn được hiểu biết thêm về phong tục tập quán, văn hóa ở những nơi mình đặt chân tới và lưu lại những khoảnh khắc đáng nhớ qua những bức ảnh để đánh dấu một thời tuổi trẻ đầy tràn nhiệt huyết.
Nếu xếp theo thứ tự ưu tiên về những điều mà các bạn mong muốn trong chuyến đi thì thứ tự như sau: 1. Điểm đến hấp dẫn, 2. Tự thiết kế chương trình, 3. Được tự do khám phá, tham quan, 4. Có người hướng dẫn, 5. Dịch vụ đa dạng phong phú, 6. Nơi ăn uống lưu trú đạt tiêu chuẩn, 7. Được nghỉ ngơi thư giãn. Như vậy, có thể thấy điều mà các bạn ưu tiên số 1 là điểm đến, điểm đến có sức lôi cuốn về tự nhiên về nhân văn, điểm đến càng thú vị thì càng có sức thu hút các bạn sinh viên, các bạn sinh viên thường không coi chuyến đi của mình là một chuyến đi nghỉ dưỡng mà các bạn thường coi đó là chuyến đi để các bạn ấy được trải nghiệm, được học tập và được thỏa mãn ý thích tự thể hiện bản thân.
2.3.1.3. Thời điểm đi du lịch Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Các chuyến đi của các bạn thường được tổ chức các chuyến đi vào những thời điểm khác nhau, thể hiện ở biểu đồ sau:
Dựa vào biểu đồ trên ta có thể thấy các bạn sinh viên thường đi du lịch vào bất cứ khi nào có thể, bởi lẽ, do thời gian và chi phí của các bạn sinh viên nên các chuyến đi của các bạn hầu như là tự phát và tự thiết kế, lúc nào thấy thuận lợi thì cùng nhau tổ chức 1 chuyến đi. Thông qua chuyến đi, các bạn sinh viên còn thể hiện ý thức cộng đồng rất cao bằng cách kết hợp các hoạt động tình nguyện vào chuyến đi của mình, các bạn tiến hành vận động quyên góp của cải vật chất cho những mảnh đời bất hạnh ở những nơi trên lịch trình đường đi của mình. Điều này càng góp phần làm cho chuyến đi càng trở nên ý nghĩa, các bạn học được cách yêu thương dân tộc, yêu thương đồng bào bằng những việc làm thiết thực nhất. Khi các bạn được nhìn thấy những nụ cười hạnh phúc và nhận được những lời cảm ơn chân thành từ những người khốn khó, các bạn cảm thấy tự hào vì đã làm được một việc có ích cho cộng đồng.
Các dịp nghỉ lễ và cuối tuần thì lượng khách có thể đông, tác động đến giá cả cũng như sự đông đúc khiến các bạn lựa chọn ít vào hai thời điểm này. Sau kỳ thi, sau biết bao suy tư, các bạn muốn được thư giãn, vậy nên số lượng các bạn muốn đi du lịch sau kỳ thi cũng tương đối, chiếm 20,8%, dịp nghỉ hè có thể do các bạn bận học bận kiếm tiền cho một năm học mới, vậy nên số lượng các bạn lựa chọn thời điểm này để đi du lịch cũng khá it, chỉ có 16,7%.
2.3.1.4. Độ dài chuyến đi
Thời gian kéo dài cho mỗi chuyến đi của các bạn sinh viên cũng không cố định là bao nhiêu ngày, biểu đồ sau thể hiện sự dao động đó:
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, chuyến đi của các bạn thường keó dài từ 1 đến 2 ngày, bởi lẽ, đây có thể là độ dài thời gian phù hợp với các bạn nhất, không quá dài để các bạn ấy phải chuẩn bị quá nhiều thứ, với độ dài là 1 dến 2 ngày thì các bạn sẽ chỉ phải chuẩn bị một khoản tiền cũng như những thứ liên quan với số lượng vừa phải, như vậy các bạn sẽ thấy chuyến đi của mình nhẹ nhàng hơn, đi với thời gian như vậy các bạn có thời gian để học tập và làm những công việc khác, với thời gian là 1đến 2 ngày các bạn thường lựa chọn những điểm đến tương đối gần nơi mình cư trú, nhưng cũng có sự hấp dẫn về mặt tự nhiên cũng như về các yếu tố nhân văn, các bạn thường đến những bãi biển, hay các di tích lịch sử trong thành phố.
2.3.1.5. Địa điểm khi đi du lịch Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Nhu cầu về điểm đến khi đi du lịch của các bạn sinh viên được thể hiện thông qua biểu đố sau:
Theo như biểu đồ trên ta thấy rằng điểm đến ưa thích của các bạn sinh viên khi đi du lịch đó là, vùng nông thôn, vùng núi và miền biển/sông nước. Vì sao họ lại muốn tận hưởng chuyến du lịch của mình tại các vùng này, bởi lẽ, do đặc trưng về địa hình cũng như con người với các phong tục tập quán nơi đây có sức hấp dẫn đặc biệt để lôi cuốn họ. Họ muốn được thỏa sức khám phá và được gần gũi với thiên nhiên, được cảm nhận vẻ đẹp của núi non, của sông nước, muốn được sẻ chia cuộc sống của người nông dân, nên họ đã ưu tiên các điểm đến như vậy cho chuyến du lịch của mình.
2.3.1.6. Phương tiện sử dụng khi đi du lịch
Phương tiện mà các bạn sinh viên sử dụng trong chuyến du lịch của mình cũng đa dạng, điều này được thể hiện ở biểu đồ sau:
Các bạn sinh viên sử dụng cả 2 loại phương tiện cá nhân và công cộng để đi du lịch, phương tiện cá nhân (xe đạp, xe máy) là phương tiện mà các bạn sử dụng cho những chuyến đi trong ngày hay chuyến các đi tự thiết kết, để thuận tiện trong việc di chuyển. Với phương tiện công cộng (ô tô, máy bay, tàu thủy, tàu hỏa), là phương tiện mà các bạn không tự lái cho nên ít nguy hiểm, thường được các bạn sử dụng khi tham gia các chuyến đi dài ngày do các doanh nghiệp lữ hành tổ chức. Tuy nhiên, họ cũng sử dụng phương tiện công cộng để di chuyển đến các điểm đến mà không cần đi theo tour.
2.3.1.7. Hình thức đi du lịch
Khi đi du lịch, các bạn sinh viên thường lựa chọn các hình thức như đi cùng gia đình, đi theo nhóm bạn bè hay đi theo tập thể lớp. Qua kết quả điều tra, cho thấy tỉ lệ của từng hình thức thể hiện ở biểu đồ sau :
Số liệu trên cho thấy các bạn sinh viên thường đi du lịch theo nhóm bạn bè, bởi lẽ họ thường tập hợp trong cùng một nhóm với cùng sở thích, niềm đam mê nên thường tổ chức các chuyến đi du lịch cùng nhau, như vậy sẽ làm chuyến đi ý nghĩa và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc.
Hình thức đi du lịch cùng gia đình và đi theo tập thể lớp chiếm tỉ lệ ít, điều này có thể hiểu đơn giản rằng sinh viên thích tự lập, muốn tự thể hiện bản thân, muốn khẳng định sự trưởng thành. Còn với tập thể lớp sẽ không là lựa chọn của đa số các bạn sinh viên.
2.3.1.8. Chi tiêu trung bình Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Với mỗi chuyến đi, thì số tiền trung bình mà các bạn sinh viên chi cũng khác nhau, con số ấy có thể thấy rõ ở biểu đồ sau:
Mức chi mà được đa số các bạn lựa chọn là mức từ 400.000 đến 500.000 đồng, có thể nói các bạn chi như vậy cũng tương đối cho một chuyến đi với khả năng của sinh viên. Có thể nói đây là mức chi trung bình mà các bạn đều cảm thấy thoải mái, chi nhiều thì không có với cuộc sống sinh viên nhưng vì niềm đam mê đi du lịch mà các bạn đã vượt qua những khó khăn nhất định về mặt tài chính cũng như khó khăn về tâm lý để các bạn có được chuyến hành trình đầy bổ ích và gặt hái được những bài học quý giá, như bài học về tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong khi tham gia chuyến đi.
Do thu nhập từ các công việc làm thêm, phải chi trả cho các sinh hoạt phí thường ngày hoặc đóng phần nào học phí, vậy nên với những bạn có mức chi tiêu hạn hẹp, nhưng lại có niềm đam mê với du lịch thì các bạn thường chi với mức tiền từ 200 đến 300 nghìn đồng, nhưng các bạn ấy lại biết cách để chuyến đi của các bạn không đơn điệu, bằng cách các bạn ấy sẽ đi du lịch theo hình thức tự túc và hạn chế sử dụng đến mức có thể các dịch vụ du lịch, như vậy vừa ít tốn kém lại có được những trải nghiệm lý thú về cuộc hành trình của mình.
2.3.2. Nhu cầu tham gia các hoạt động tình nguyện
Tình nguyện là hoạt động thiết thực đối với các bạn sinh viên, hiện nay, hoạt động tình nguyện trong trường Đai học Dân lập Hải phòng đang diên ra cũng khá sôi nổi, tuy nhiên với Khoa Văn hóa du lịch thì không phải bạn nào cũng tham gia và coi đây là 1 hoạt động có ý nghĩa.
Qua 120 phiếu điều tra, có thể biểu hiện tình hình tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên Khoa Văn hóa du lịch qua các tiêu chí: Mức độ thường xuyên, lý do tham gia tình nguyện, hình thức tham gia tình nguyện, địa điểm mong muốn khi tham gia tình nguyện và thời điểm tham gia tình nguyện.
2.3.2.1. Mức độ thường xuyên
Qua số liệu thu nhận được từ 120 phiếu điều tra thì sự thường xuyên tham gia các hoạt động tình nguyện của các bạn sinh viên Khoa Văn hóa du lịch được thể hiên ở biểu đồ sau: Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Nhìn vào biểu đồ trên ta dễ dàng nhận thấy, số lượng các bạn sinh viên thỉnh thoảng tham gia các hoạt động tình nguyện là chiếm đa số( chiếm 49,2%), điều này cho thấy hầu như các sinh viên trong khoa cũng muốn tham gia các hoạt động tình nguyện, muốn được cống hiến một phần sức lực nhỏ bé của mình cho xã hội. Những bạn chưa bao giờ tham gia tình nguyện cũng khá tương đối, chiếm 20,8%, khi được hỏi về lý do vì sao các bạn chưa bao giờ tham gia tình nguyện thì hầu như các bạn đều tích vào ô không thích( 19,8%), ô lý do không có tiền (33,5%), và ô lý do không có thời gian chiếm 46,6%. Như vậy, có thể thấy rằng, lý do những bạn chưa bao giờ tham gia công việc tình nguyện cũng nhiều lý do khác nhau.
2.3.2.2. Lý do tham gia tình nguyện
Qua phân lý về lý do tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên trong Khoa Văn hóa du lịch, cho thấy một số lý do khác nhau, điều này được thể hiện
Các bạn sinh viên tham gia tình nguyện cũng vì nhiều lý do khác nhau, như: theo sở thích( chiếm 18,1%), do bạn bè rủ ( chiếm 32,3%), theo trào lưu (chiếm 34%), tham gia muốn được đóng góp cho cộng đồng (chiếm 15,6%). Cũng có thể hiểu được vì sao các bạn tham gia chỉ vì trào lưu, do cuộc sống ngày nay, nhiều bạn mong muốn đạt được điều gì đó cho riêng bản thân mình vậy nên đã tham gia tình nguyện, tham gia để cho vui, coi tình nguyện như nột trò chơi. Thấy người khác đi tình nguyện mình cũng đi cho có phong trào, những bạn tham gia vì mục đích là được đóng góp cho cộng đồng lại chiếm một tỉ lệ khá nhỏ.
2.3.2.3. Địa điểm mong muốn khi tham gia tình nguyện
Qua phân tích 120 phiếu, cho thấy các địa điểm mà các bạn sinh viên mong muốn đến khi tham gia hoạt động tình nguyện không tập trung mà có nhiều địa điểm được các bạn lựa chọn, được thể hiện ở biểu đồ sau:
Các địa điểm mà các bạn mong muốn đến để tham gia các hoạt động tình nguyện là những vùng nông thôn (chiếm 33,3%), miền núi (chiếm 41,7%) và các trai trẻ mồ côi, trung tâm dưỡng lão (chiếm 25%), đơn giản vì những vùng này thường có không khí trong lành, con người cũng bị tác động ít bởi những mặt trái của công cuộc hội nhập hóa, đến với những vùng này các bạn được tìm hiểu những nét văn hóa độc đáo của con người và được tận tay giúp đỡ những người thực sự có hoàn cảnh khó khăn.
2.3.2.4. Hình thức tham gia tình nguyện Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Các bạn tham gia tình nguyện dưới nhiều hình thức khác nhau, thể hiện qua biểu đồ sau:
Qua biểu đò trên ta thấy hoạt động tình nguyện mà các bạn đã tham gia được tổ chức theo các hình thức như: các bạn đi theo các chương trình mà nhà trường tổ chức( qua đoàn thanh niên, hội sinh viên) (chiếm43,4%) , tự phát (chiếm 44,4%), theo tập thể lớp, khoa (chiếm 12,3%). Con số nầy cho thấy các bạn thường tham gia hoạt động tình nguyện trong các nhóm tự phát, các nhóm của các bạn có cùng hoài bão và chung một mong muốn là làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
2.3.2.5. Thời điểm tham gia tình nguyện
Lựa chọn thời điểm tham gia các hoạt động tình nguyện, với các bạn sinh viên cũng không thống nhất, điều này thể hiện ở biểu đồ sau:
Các bạn cảm thấy vui, gặp gỡ được nhiều người sau mỗi lần tham gia hoạt động tình nguyện, có những bạn lại thấy yêu cuộc sống này hơn, cảm thấy mình đã đóng góp một phần nhỏ bé cho cộng đồng, cũng có bạn lại cảm thấy thật thoải mái và thấy mình có ích hơn khi được tham gia các hoạt động tình nguyện. Và kết thúc mỗi một lần tham gia tình nguyện thì có bạn lại muốn được tham gia nhiều hoạt động vì xã hội hơn nữa.
Cũng có bạn thấy đồng cảm với những số phận mà mình được tiếp xúc, cũng như thấy được chính bản thân mình trong những số phận ấy. Lại có bạn thấy mình có được nhiều trải nghiệm mới thú vị trong cuộc sống sinh viên. Nhiều bạn lại cảm thấy mệt nhưng thực sự ý nghĩa vì khi ấy kỹ năng giao tiếp được phát huy và được nâng cao sau mỗi lần tham gia tình nguyện. Mỗi chuyến đi tình nguyện đều là mỗi cuộc hành trình mới đầy thú vị.
Tham gia công việc tình nguyện, người trẻ có ý thức hơn trong việc nhận thức được mình là ai và mình cần phải làn gì để giúp ích cho xã hội, cho cộng đồng. Và sự giúp đỡ, sẻ chia của những người trẻ không chỉ đem đến cho những người dân món quà vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn cho những người dân còn gặp nhiều khó khăn. Tham gia hoạt động tình nguyện là cơ hội tuyệt vời để có thể giao lưu kết bạn, trau dồi khả năng và kỹ năng mềm của bản thân.
2.3.3. Đánh giá chung Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Sau khi tiến hành phát phiếu điều tra, tổng hợp và xử lý số liệu thu được, có thể rút ra kết luận sau:
Nhu cầu du lịch là một trong những nhu cầu tất yếu của con người trong xã hội hiện đại ngày nay, con người không thể phủ nhận những ý nghĩa to lớn mà du lịch mang lại, đi du lịch giúp con người ta hiểu thêm bản thân, hiểu thêm thêm về các giá trị truyền thống của đát nước, để từ đó thêm yêu quê hương đất nước hơn. Với sinh viên Khoa Văn hóa du lịch, đi du lịch cũng là niềm đam mê của họ, họ muốn đi du lịch để có cơ hội được tiếp cận sâu hơn với nghề nghiệp của mình sau này, họ đi du lịch và đặt mình vào vị trí của một du khách để hiểu xem khi đi du lịch thì du khách mong muốn điều gì ở hướng dẫn viên và các dịch vụ tại điểm đến, bằng những trải nghiệm thực tế thu được, từ đó họ sẽ có thêm những kinh nghiệm và sẽ làm tốt hơn nhiệm vụ của mình trong vai trò là một hướng dẫn viên.
Bên cạnh đó, họ đi du lịch là để được khám phá và thỏa mãn trí tò mò của mình về những vùng đất mà lần đầu tiện họ được chân tới. Sinh viên Khoa văn hóa du lịch thường xuyên đi du lịch, họ đi vào bất kỳ thời gian nào có thể trong quỹ thời gian của mình, chuyến đi của họ thường là những chuyến đi tự thiết kế, họ đi theo nhóm bạn bè (thường là những người có cùng lý tưởng và chung 1 niềm đam mê), với phương tiện cá nhân, như xe máy, là loại phương tiện được họ ưu tiên, bởi nó giúp họ giảm được chi phí đi lại, cũng như giúp họ dễ dàng di chuyển đến những điểm mà các phương tiện công cộng không thể thực hiện được. Tuy nhiên, đi du lịch với phương tiện là xe máy thì nguy cơ rủi ro cũng khá cao, đòi hỏi họ phải tập trung cao và biết cách xử lý tốt đối với các tình huống bất ngờ khi tham gia giao thông.
Để thỏa mãn nhu cầu được khám phá trong mỗi chuyến du lịch, các bạn sinh viên Khoa văn hóa du lịch thường lựa chọn điểm đến là vùng nông thôn, miền biển/sông nước hay miền núi, đến với mỗi điểm các bạn đều có được những trải nghiệm thú vị khác nhau nhưng đều mang đến cho các bạn niềm vui, sự hào hứng và những điều rất bổ ích.
Tình nguyện là một trong những hoạt động được quan tâm tại các trường đại học và cao đẳng, với trường Đại học dân lập Hải Phòng cũng vậy, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động tình nguyện cho sinh viên, nhằm giúp sinh viên có được những sân chơi bổ ích sau những giờ học căng thẳng. Mặt khác, tham gia hoạt động tình nguyện, sinh viên còn có cơ hội đóng góp cho cộng đồng bằng các việc làm cụ thể như: rọn rác tại bãi biển, thăm hỏi tăng quà cho trẻ em mồ côi và người già không nơi nương tựa, hay dạy học cho trẻ em nghèo tại các gia đình sống trên thuyền ở các làng ven sông,… Tham gia tình nguyện, các bạn sinh viên sẽ được gặp gỡ nhiều người , mở rộng mối quan hệ trong xã hội, điều này tạo cho các bạn sự tự tin khi đứng trước đám đông và rèn cho các bạn cách giao tiếp khéo léo với những người lớn tuổi. Sau mỗi lần tham gia tình nguyện bản thân mỗi bạn sinh viên sẽ trở lên trưởng thành hơn, đồng thời cảm thấy tự hào vì bản thân mình khi đã làm được những điều có ích cho xã hôi. Công việc tình nguyện tạo động lực để đạt được những điều tốt đẹp như làm phước , tích đức. Đôi lúc những người tham gia tình nguyện được coi là những người nuôi tham vọng cải cách, tạo nên được một sự thay đổi, mỗi một cá nhân không thể giải quyết vấn đề của cả thế giới nhưng những việc tình nguyện viên làm có thể làm cho cái góc rất nhỏ trong thế giới nơi chúng ta sống trở nên tốt đẹp hơn. Tình nguyện cũng đưa mọi người từ mọi xuất xứ và địa vị xã hội đến gần nhau hơn. Không chỉ phát triển mối quan hệ lâu dài về mặt cá nhân và công việc, nó còn là một cách để học hỏi từ nhiều người có hoàn cảnh và môi trường sống khác nhau. Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
Yếu tố quan trọng nhất của tình nguyện là sự nhiệt tình, sự hết mình đối với công việc, cho dù đó chỉ là hành động dắt một bà cụ qua đường, cúi nhặt hòn đá để người khác đừng té ngã hay tham gia một dự án đem lại lợ ích cho mọi người chung quanh,… Điều này là quan trọng, vì sự hết mình đã tạo niềm tin cho mọi người và sự thiếu tận tâm trong công việc cũng sẽ ảnh hưởng đến họ. Ngoài sự nhiệt tình, tận tâm, hầu như không có giới hạn nào cho hoạt động tình nguyện.
Với sinh viên Khoa văn hóa du lịch – Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, không phải bạn nào cũng thấy được hết ý nghĩa của việc tham gia tình nguyện và muốn được tham gia tình nguyện. Tuy nhiên với những bạn đã và đang tham gia hoạt động tình nguyện cũng khá đông và họ đều cảm thấy vui thích, tự hào và muốn được tham gia vào các hoạt động tình nguyện khác nữa. Với họ, tham gia Mùa hè xanh cũng là một cách tình nguyện kết hợp du lịch, đây vừa là dịp để họ thể hiện tinh thần xung kích vì cộng đồng, vừa là cơ hội để được tìm hiểu phong tục, bản sắc của người dân địa phương.
Từ những nghiên cứu khảo sát nhu cầu du lịch và tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên Khoa Văn hóa du lịch – Trường Đại học Dan lập Hải Phòng, tác giả đặt ra câu hỏi: Tại sao lại không xây dựng các chương trình du lịch kết hợp với các hoạt động tình nguyện cho sinh viên Khoa Văn hóa du lịch, đặc biệt là các chương trình du lịch đó là sự kết hợp giữa các chuyến đi thực tế vá các hoạt động tình nguyện mà các bạn sinh viên vẫn thường tham gia cho Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tổ chức hay tham gia cùng các nhóm sinh viên, câu lạc bộ tình nguyện? Như vậy không những giúp các bạn sinh viên đạt được những yêu cầu về mặt chuyên môn mà còn được tham gia các hoạt động tình nguyện, đóng góp tích cực cho cộng đồng.
Tiểu kết chương 2
Trong chương 2 đã giới thiệu đôi nét về trường Đại học dân lập Hải Phòng và Khoa văn hóa du lịch, đồng thời tiến hành phát phiếu điều tra, sau đó thu thập và xử lý số liệu về nhu cầu du lịch và nhu cầu tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên Khoa văn hóa du lịch. Qua phân tích thấy được tình hình về nhu cầu đi du lịch cũng như tình hình tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên trong Khoa. Từ kết quả của việc phân tích số liệu về nhu cầu du lịch và nhu cầu tham gia các hoạt động tình nguyện, sẽ là cơ sở để xây dựng các chương trình du lịch kết hợp với hoạt động tình nguyện dành cho sinh viên Khoa Văn hóa du lịch ở chương 3. Khóa luận: Tìm hiểu nhu cầu du lịch và hoạt động tình nguyện.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Xây dựng chương trình du lịch hoạt động tình nguyện

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
