Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam theo lí thuyết về hoạt động GT này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. Định hướng chung cho việc dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam theo lí thuyết về hoạt động giao tiếp.

2.1.1. Dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam theo tinh thần bám sát đặc điểm người viết.

  • Thạch Lam – con người hướng nội.

Nếu Xuân Diệu là con người hướng ngoại, luôn có những khát khao được giao cảm với đời, luôn muốn đem trái tim thanh xuân và rạo rực men tình để giao hòa cùng nhân gian, thì Thạch Lam lại là con người hướng nội, lấy chính mình để giao tiếp với chính mình như là một sự giao tiếp đặc biệt để khám phá con người và cuộc sống.

  • Nhà văn có tâm hồn hoài cổ.

Thạch Lam là nhà văn có tâm hồn thi sĩ hơn rất nhiều thi sĩ khác. Ở Hà Nội, trong khi bao nhiêu bạn hữu chọn những nơi phố xá để ở thì Thạch Lam lặng lẽ về làng Yên Phụ nằm cạnh Hồ Tây để tìm một nơi trú ngụ. Làng Yên Phụ thuở ấy theo lời Đinh Hùng kể lại, thì gần nửa làng chạy vòng theo bờ nước, phần lớn dân trong làng làm nghề trồng hoa, gần Tết đi dạo trong làng “tưởng như lạc tới một hoa thôn trong cổ tích”. Chính cái khung cảnh tuyệt vời này đã khơi nguồn những mạch văn lai láng ở Thạch Lam.

Sống giữa phố phường Hà Nội nhộn nhịp nhưng ông vẫn viết những trang văn đồng quê, nhớ những cảnh tượng xa xưa dường như cất kỹ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn ông: “Rồi đến những ngày đi mót lúa mỏi lưng trên cánh đồng, nhặt những bông lúa thơm, những lúc vò lúa dưới chân…Bác Lê nhớ lại cái cảm giác vui mừng khi thấy cạnh bông lúa sắc xát vào thịt da. Đấy còn là những ngày no đủ. Rồi đến những buổi chợ sáng, những ngày nhịn đói như hôm nay” (Nhà mẹ Lê)

Qua những hồi ức mà những người thân của ông kể lại, ta thấy Thạch Lam là một người rất hướng nội và hoài cổ. Những bạn bè thật tâm giao thì mới đến với ông. Ngôi nhà cạnh Tây Hồ ông trồng một cây liễu rủ bóng xuống mặt hồ. Những buổi chiều tà, một vài người bạn của ông ghé lại chơi. Khách cũng như chủ đều ngồi im lặng hàng giờ cạnh khay nước chè. Cái tâm hồn thi sĩ mơ mộng của ông khi đó đưa ông ngao du về những miền quê có “gió bụi xa xưa, hương ruộng lúa, mùi rạ phơi, tiếng tre réo rắt, thứ bóng tối nhẫn nại uất ức đời thôn quê dưới mái rạ hay là những đêm sâu điểm trống huyện, những buổi sáng trăng dặt dìu, từ sự thực lầm lội đến cảnh êm dịu mơ màng” như lời Thế Lữ viết về ông.

Huyền Kiêu kể lại những mộng mơ của ông như sau: “Hồi còn khỏe, Thạch Lam thường vẫn ao ước với tôi là ngày nào có đủ tiền, anh với tôi sẽ chít khăn nhiễu Tam Giang, mặc áo the ba chỉ, đi guốc kinh rồi chống gậy trúc lang thang hết làng này đến thôn mạc khác trong nước, xem ngắm hết những cảnh đẹp của mọi vùng, thụ hưởng hết những cảnh đẹp, của ngon vật lạ của từng thổ ngơi thì mới thực là thỏa thích”. Một con người như thế cho nên ông thích ở nhà tranh, dùng ghế mây, giường gỗ, phên trúc, mành tre, và những sáng tác của ông thì “gợi một nỗi niềm thuộc về quá vãng” như lời Nguyễn Tuân nhận xét về truyện ngắn Hai đứa trẻ của ông. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

  • Sống khép mình với trang văn nhẹ nhàng.

Có một điều rất lạ, là Thạch Lam không hề tham gia hoạt động chính trị dù trong báo chí hay văn chương, ông là một con người đầy nhiệt huyết, dù hai ông anh ruột Nhất Linh, Hoàng Đạo là những người hoạt động chính trị rất sôi nổi, dù Nhất Linh là một trong những người lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng khi đó. Nguyễn Tường Giang, con trai của Thạch Lam cũng thắc mắc: “Tôi vẫn tự hỏi, tại sao cha tôi không tham dự vào một hành động chính trị nào. Trong khi bác Tam, nửa đêm ghé qua nhà, uống một ly cà phê mẹ tôi pha, bàn cãi với người em một vài chuyện về báo chí rồi vội vã vượt biên giới qua Tàu. Bác Long bị mật thám Pháp bắt và treo lên xà nhà bằng hai ngón tay cái. Thạch Lam phải chạy trốn suốt đêm ngoài nghĩa địa. Nhưng sau đó, cha tôi cũng chỉ nhận trông coi tờ báo và viết những bài văn nhẹ nhàng. Có phải chăng – ông là một sợi tơ giăng giữa một trời bão táp?”

“Cao hơn một mét bảy mươi. Mắt sâu và buồn. Buổi sáng lặng lẽ đội chiếc mũ phớt lên đầu, tay cầm vài cuốn sách để đi đến tòa báo. Ăn ít và nhỏ nhẹ như một con mèo, bát đũa phải sạch và đẹp” – những dòng hồi ức rời rạc về Thạch Lam còn lại trong trí nhớ của người vợ ông, được người con trai chép lại. Hồi ức viết tiếp: “Vào mùa hạ, khi những cơn gió Lào nóng nhất đã thổi về Hà Nội, trời cao và trong. Trời xanh và gió nhẹ. Buổi chiều, Thạch Lam ngồi câu những con cá mát rợi nước hồ Tây, những con tôm tươi trong suốt còn lóng lánh những giọt nước đọng trên mình. Ông ngồi lặng lẽ trên một gốc cây lớn đã gãy”.

Nhà văn Vũ Bằng, khi nhận xét về lối sống tao nhã của Thạch Lam, đã viết rằng: “Nghĩ lại thì trong suốt cuộc đời anh, cái gì cũng nhẹ nhàng: Nhẹ nhàng từ cử chỉ, từ tiếng nói, nhẹ nhàng từ câu nói, từ bước đi…dường như nếu bước mạnh thì đất nó đau”.

Đọc những dòng này ta hình dung ra một con người có cuộc sống thu mình như vỏ ốc, lặng lẽ trong một không gian khép kín để viết nên những câu văn nhẹ nhàng như lá rơi. Sau này Đinh Hùng hồi tưởng về Thạch Lam, đã viết những câu thơ nói về cái nỗi “sầu vạn cổ” của ông như sau: “Ai biết lòng anh thương nhớ đâu / Gần nhau không nói, nói không sầu / Cầm tay hỏi mộng, buồn như tủi / Thầm hiểu anh thôi, lặng cúi đầu”. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

  • Luôn muốn “tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác”.

Thạch Lam cho rằng điều cốt yếu là nhà văn phải nắm bắt cái diễn ra bên trong sự vật, cái chiều sâu của tâm lí, của cảm xúc, của tư tưởng trong nhân vật. Ông viết: “Nhà văn cốt nhất phải đi sâu vào trong tâm hồn mình, tìm những tính tình và cảm giác thành thực: tức là tìm thấy tâm hồn mọi người qua tâm hồn của chính mình, đi đến chỗ bất tử mà không tự biết”. Chính hành trình luôn muốn “tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác” ấy mà tâm hồn Thạch Lam “đa cảm và tinh tế đến độ có thể thu nhận được sự thay đổi về độ ánh trăng hay âm sắc của các loại lá khô rụng va vào đất”. Với Thạch Lam, tâm hồn con người cũng đầy bí ẩn và hấp dẫn như cuộc sống muôn màu ngoài kia.Vậy nên muốn lắng nghe sự sống hãy lắng nghe chính mình, GT với chính mình để thấy mình cần gì và làm gì cho cuộc đời này.

Đây chính là nhân tố đầu tiên giúp cho quá trình dạy học  đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam theo lí thuyết về hoạt động GT, vì hướng nội cũng là GT, một cuộc GT đặc biệt, và cũng là nền tảng của sự GT sau này giữa nhà văn với bạn đọc qua tác phẩm, qua các yếu tố ngôn ngữ, hình tượng và tư tưởng của tác phẩm. Do vậy khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV cần cho HS thấy được “văn cũng là người”. Đằng sau những trang sách, người đọc – HS thấy được một Thạch Lam với tấm lòng yêu thương, trân trọng con người, một con người không chịu bị cuốn vào cái ồn ào của ngoại cảnh. Có lẽ chính vì vậy mà trong bài Thạch Lam (In trong cuốn Chuyện nghề), Nguyễn Tuân đã tâm sự: “Về Thạch Lam và đọc truyện ngắn của Thạch Lam, tôi cứ nghĩ đó như một người tính tình nhẹ nhàng, tinh tế, từng trải sự sống ở một số mặt sống, vừa sống vừa lắng nghe chung quanh cũng là lắng nghe mình phản ứng trước mọi diễn biến cả bên trong và bên ngoài mình”.

2.1.2. Dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam cần chú ý đến các yếu tố tham gia giao tiếp khác của lí thuyết hoạt động giao tiếp. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

2.1.2.1. Bối cảnh giao tiếp.

Bối cảnh giao tiếp rộng (bối cảnh văn hoá): đó là bối cảnh xã hội, lịch sử, địa lí, văn hoá, phong tục, tập quán,…ở bên ngoài ngôn ngữ. Những yếu tố đó tạo nên môi trường giao tiếp, chi phối cả người nói và ngời nghe, cả quá trình tạo lập và quá trình lĩnh hội lời nói, câu văn.

Khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV cần hướng dẫn HS tìm ra được bối cảnh GT rộng ở đây là gì, bối cảnh GT ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với nghệ thuật xây dựng nhân vật, lời thoại, hình ảnh, chi tiết…trong tác phẩm. Bối cảnh GT rộng trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam là: Xã hội Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Lúc đó đời sống của người dân, nhất là người bán hàng nhỏ nơi phố huyện rất lam lũ, nghèo khổ. Họ luôn mong đợi, ao ước một cuộc sống tươi sáng hơn. Khi xây dựng được cho các em bối cảnh GT rộng như vậy, HS sẽ đặt mình vào quá khứ để giao cảm và thấu hiểu cuộc sống đói nghèo, chật vật và tù túng của người dân đương thời, qua đó hiểu hơn những suy nghĩ, mong muốn và mơ ước của nhân vật trong truyện. Cuộc GT quay ngược thời gian là rất cần thiết giúp các em kéo gần khoảng cách giữa thời gian mà tác phẩm ra đời với cuộc sống hiện tại mà các em đang sống. Đôi khi quá khứ giúp con người nhìn nhận hiện tại một cách thấu suốt hơn. Ở đây khi đã có sự đồng cảm về nhân vật trong truyện, các em sẽ nhận ra đâu đó trong cuộc sống hiện tại này và cả mai sau nữa, vần còn những mảnh đời lay lắt vì miếng cơm manh áo như mẹ con chị Tí, như gia đình bác Xẩm, như bác Phở siêu, như bà cụ Thị điên và như hai chị em Liên.

Bối cảnh GT hẹp (bối cảnh tình huống): đó là thời gian, địa điểm cụ thể, tình huống GT cụ thể. Bối cảnh GT hẹp tạo nên tình huống của từng câu nói.

Những hiểu biết của HS về quê hướng sáng tác của Thạch Lam là điều rất cần thiết cho việc giải mã tác phẩm, giúp HS thấy rõ hơn tình cảm mà nhà văn dành cho quê hương xứ sở, đó là phố huyện Cẩm Giàng (Hải Dương). Đây là một vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ, mà nổi bật hơn cả là hình ảnh một phố ga nhỏ nghèo, vắng vẻ đầu thế kỷ. Con người sinh sống quanh cái ga xép tỉnh lẻ này chủ yếu là người làm ruộng quê ở Hà Nam, Phủ Lý vì bị lụt lội không đủ sống nên đưa nhau đến đây. Đa số, các gia đình làm nghề đi kéo xe hoặc làm mướn, đánh cá, vớt tép và còn nổi tiếng nghèo vì quá đông con. Với bối cảnh GT hẹp về quê hương sáng tác , GV nên liên hệ trong bài giảng của mình. Chẳng hạn khi phân tích câu nói của chị Tí: “Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?” trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV có thể đặt câu hỏi: Câu nói của chị Tý được nói trong bối cảnh GT nào? HS sẽ tìm câu trả lời theo định hướng sau: câu nói có bối cảnh hẹp là trên con đường , nơi bán hàng nhỏ ở ga xép, vào lúc trời tối của một phố huyện nghèo, vắng lặng, mọi người đang chờ đợi khách hàng.

2.1.2.2. Mục đích giao tiếp. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam GV cần hưỡng dẫn HS đi tìm đúng đích GT mà nhà văn muốn hướng tới là gì. Do vậy để tránh xác định sai đích GT, GV trong quá trình đặt câu hỏi cần bám sát mục tiêu bài học mà SKG yêu cầu như sau:

Kiến thức: Cảm nhận được tình cảm xót thương của Thạch Lam đối với những con người sống nghèo khổ, quẩn quanh và sự cảm thông, trân trọng của nhà văn trước mong ước của họ về một tương lai tươi sáng hơn.

Kỹ năng: Nhận diện và phân tích được nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam được thể hiện qua một truyện ngắn thuộc loại “truyện ngắn tâm tình”.

Thái độ: Trân trọng, xót thương cho những con người nhỏ nhoi trong xã hội cũ.

Tuy nhiên mục tiêu dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam không chỉ đơn thuần là nhận thức về bức trang đời sống và con người, là tấm lòng nhân đạo sâu sắc và bút pháp nghệ thuật viết truyện ngắn của Thạch Lam mà thông qua đó, GV cần hướng tới những nội dung khác. Đó là bồi dưỡng, kích thích năng lực liên tưởng, tưởng tượng về cảnh chiều quê nơi phố huyện, những kiếp người tàn và sự lay thức số phận những con người không đầu hàng số phận. Họ vẫn khao khát hướng về ánh sáng, khao khát hướng tới ngày mai tươi sáng hơn, dù còn rất mơ hồ.

Dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam cũng cần chú ý đến ý nghĩa của tác phẩm trong trong xã hội hiện tại: Liệu bóng dáng của nhân vật Liên có còn trong cuộc đời ngày nay? Để trả lời được câu hỏi này rất cần đến sự bình giá, khẳng định, nhập cuộc của các độc giả khi tiếp nhận tác phẩm. Vẫn biết đây là một tác phẩm của quá khứ nhưng giá trị và sức sống của nó thì vẫn trường tồ cùng với thời gian. Những cư dân nhỏ bé nơi phố huyện, đặc biệt là hai đứa trẻ khao khát hướng về ánh sáng chính là sự lay thức, sự thức tỉnh mỗi số phận con người. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng không bao giờ được đầu hàng số phận. Mỗi con người cần biết nuôi dưỡng ước mơ để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

2.1.2.3. Nội dung giao tiếp. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Câu hỏi đặt ra khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam là: Vậy nội dung GT khi tiếp nhận tác phẩm này là gì? Để giúp các em GT đúng với nội dung GT, GV cần cho các em thấy đươc đặc trưng của truyện là: Đây không phải là tác phẩm được viết theo lối thông thường mà được viết theo lối “truyện ngắn tâm tình”. “Truyện ngắn tâm tình” là loại truyện nghiêng về cảm xúc, cảm giác và mang nhiều đặc điểm của thể loại trữ tình. Truyện không có cốt truyện hoặc cốt truyện rất mờ nhạt, chú trọng đến cảm xúc, cảm giác của các nhân vật đặc biệt là nhân vật mang theo thế giới quan của tác giả. “Truyện ngắn tâm tình” có các đặc trưng nổi bật sau đây:

  • Truyện không có cốt truyện hoặc cốt truyện rất mờ nhạt.
  • Không có xung đột, kịch tính mạnh mẽ.
  • Nhân vật không có tính cách rõ ràng.
  • Chuyện kể giàu chất cảm xúc, trữ tình, giàu chất thơ.
  • Lời kể chuyện nhỏ nhẹ, ân tình, thâm thuý.
  • Cảm xúc kín đáo, thâm trầm và tinh tế.

Các đặc điểm trên của “truyện ngắn tâm tình” đều xuất hiện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Chính vì vậy, có nhà nghiên cứu khi đọc tác phẩm này đã nêu lên nhận xét rằng truyện ngắn giống như một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi. Truyện hầu như không có cốt truyện (điều tối kỵ với một tác phẩm văn xuôi vì cốt truyện kịch tính có thể quyết định đến hơn 50% sự thành công của một tác phẩm). Đa số các tác phẩm tự sự đều rất coi trọng cốt truyện và các tác giả đều cố gắng xây dựng cốt truyện với những tình huống thật gay cấn, kịch tính. Do vậy, nội dung GT khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam không giống như các tác phẩm tự sự thông thường mà là tập trung vào làm nổi bật tâm trạng man mác của chị em Liên trước khung cảnh một phố huyện nghèo nàn vào ba thời điểm: phố huyện lúc chiều muộn, phố huyện lúc tối, phố huyện lúc về đêm khi đoàn tàu đi qua.

2.1.2.4. Phương tiện giao tiếp.

Phương tiện GT trong văn bản truyện sẽ là chìa khóa để GV hướng dẫn HS giải mã đúng đích GT và nội dung GT. Khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV nên cho HS tìm ra phương tiện GT chính ở đây là ngôn ngữ và hình tượng nhân vậ, bên cạnh đó, GV cũng nên cho HS tìm ra các biện pháp nghệ thuật khác (giọng điệu câu văn, cách xây dựng và lựa chọn từ ngữ, chi tiết, hình ảnh, lời thoại của nhân vật…) để thông qua đó, HS tiếp cận đúng nội dung GT và đích GT.

2.2. Các nguyên tắc thực hiện bài học “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam theo lí thuyết về hoạt động giao tiếp. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

2.2.1. Nguyên tắc người học phải xác định được đích giao tiếp trong dạy học truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.

Đích là nơi cần đi tới, theo đó đích GT với hình tượng nhân vật trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam không cùng đích GT với tác giả, và cũng không phải là đích GT với các nhân vật tham gia GT khác. GT với hình tượng nhân vật và tác giả là để hiểu các giá trị của tác phẩm, còn GT với GV và HS là để so sánh và khẳng định kết quả tiếp nhận của bản thân người học.

Thông thường đích GT với hình tượng trong tác phẩm tự sự là sự kiện, tình tiết còn trong tác phẩm trữ tình là tình cảm, tâm trạng, cảm xúc – diện mạo tinh thần của thơ. Tuy nhiên như phần trên đã trình bày, Hai đứa trẻ của Thạch Lam là truyện ngắn không có cốt truyện, tác giả không chú trọng xây dựng tình tiết, sự kiện mà đi vào miêu tả bức tranh tâm trạng của nhân vật. Do vậy, GV cần có định hướng ngay từ đầu để HS tránh xác định sai đích GT là đi tìm những tình tiết, sự kiện khi tiếp nhận tác phẩm. Khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV nên cho HS thấy rõ tình tiết, sự kiện ở đây chỉ là phông nền cho những rung động, ước mơ và khát khao trong tâm hồn nhân vật. Thực tế dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam cho thấy nhiều GV và HS nhầm tưởng  đích GT là tìm hiểu về cuộc sống nghèo nàn, bế tắc ở một phố huyện nghèo. Do vậy GV cần hướng cho HS xác định được đích GT ở đây là những rung động sáng trong, tinh tế và những suy tư nhân văn của nhân vật toát lên từ cái nhìn thiên nhiên và đời sống nghèo nàn, bế tắc. Hiện thực chỉ là điểm tựa soi chiếu thế giới tâm tư của con người. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Đích GT với tác giả là thông qua truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam GV giúp HS thấy được tư tưởng, thái độ, tình cảm của tác giả dành cho các nhân vật, đặc biệt là nhân vật Liên, qua đó tìm được được bức thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm tới bạn đọc.

Như vậy xác định được đích và mục đích GT cũng có nghĩa xác định được các yêu cầu cơ bản về mục tiêu dạy học. Đích và mục đích GT là căn cứ để xây dựng kế hoạch dạy học nhằm thực hiện các chuẩn kiến thức kĩ năng theo yêu cầu của chương trình. Nhiều GV khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam không tổ chức được các hoạt động dạy và học với đúng nghĩa phải có trong bài học là do không xác định được mục đích GT này. Một số GV khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn này chưa giúp HS thấy được phải “đối thoại” với ai, đối diện với vấn đề gì và quan trọng là sẽ thu hoạch được gì qua các hoạt động đó. Vì lẽ đó mà dẫn đến thực trạng HS cho rằng truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam không hấp dẫn và khó cảm thụ.

2.2.2. Nguyên tắc luôn bám sát nội dung giao tiếp, cắt nghĩa các yếu tố nội tại và các quan hệ của văn bản truyện.

Bám sát nội dung GT là yêu cầu cơ bản và thường xuyên trong suốt quá trình dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam nói riêng và các Tác phẩm văn chương nói chung. Như ở trên đã trình bày, việc xác định được đích GT sẽ giúp cho việc lựa chọn chính xác nội dung GT trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam như sau:

  1. Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc chiều muộn.
  2. Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc tối.
  3. Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc về đêm khi đoàn tàu đi qua.

Cắt nghĩa các yếu tố nội tại của văn bản truyện gồm cắt nghĩa ngôn ngữ VH, cắt nghĩa hình tượng và luận giải các thông điệp của tác giả qua tác phẩm: Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Cắt nghĩa ngôn ngữ VH là tìm ra nghĩa và lí giải ý nghĩa của từng đơn vị ngôn từ trong hệ thống ngôn ngữ của tác phẩm. Các đơn vị ngôn ngữ VH gồm từ, câu, đoạn…Mỗi đơn vị ngôn ngữ bao giờ cũng chứa đựng một nội dung ý nghĩa nhất định, không dừng lại ở nghĩa đen mà còn có nghĩa bóng, nghĩa phái sinh, nghĩa ngoài lời…Các lớp nghĩa này do nhà văn tạo ra với dụng ý nghệ thuật riêng. Như vậy cắt nghĩa ngôn ngữ là chỉ ra mối quan hệ giữa ý nghĩa của hình tượng lôgíc – sự vật và ý nghĩa của hình tượng thẩm mĩ – nghệ thuật của đơn vị ngôn ngữ đó.

Khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV cho HS cắt nghĩa một số câu văn, đoạn văn hay, tiêu biểu như: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”, “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng cửa im ỉm, trừ một vài của hàng còn thức, nhưng cửa chỉ hé ra một khe sáng”.Trong những đoạn văn này GV nên hướng dẫn các em làm rõ dụng ý nghệ thuật của điệp từ “chiều”, các hình ảnh “ánh sáng” và “bóng tối”, từ đó thấy được ý nghĩa tư tưởng của tác giả là gì.

Cắt nghĩa ngôn ngữ còn là cắt nghĩa cấu trúc của ngôn ngữ, cắt nghĩa dụng ý nghệ thuật trong sắp xếp hệ thống ngôn ngữ của nhà văn. GV có thể cho HS cắt nghĩa cấu trúc của đoạn văn sau: “Tiếng trống thu không trên cái chòi canh của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều” bằng cách cho HS tìm ra nghệ thuật sắp xếp cụm từ ở đây.

Cắt nghĩa hình tượng: Hình tượng VH phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình giúp ta có thể nhận thức trực tiếp bằng cảm tính. Trước một hình tượng VH, mỗi người đọc lại hình dung ra một dáng vẻ khác nhau cùng với cách lỉ giải khác nhau. Người tiếp nhận không chỉ biết tái hiện hình tượng bằng trí tưởng tượng mà còn phải hóa thân vào nó để hiểu và cảm mới thấy hết được vẻ đẹp toát ra từ đó. Chỉ có đặt mình trong thế GT, đối thoại thì HS mới có điều kiện bộc lộ và phát triển sự năng động của tư duy trong việc khám phá cảm nhận hình tượng và bài học Tác phẩm văn chương mới trở nên lí thú, hấp dẫn. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV cần giúp HS cắt nghĩa được hình tượng nhân vật để đối thoại với hình tượng đó. Nổi lên trong thiên truyện này là hình tượng nhân vật Liên mang những nét khác biệt so với cách xây dựng hình tượng nhân vật của các nhà văn khác. Thạch Lam không chú trọng xây dựng diện mạo, tính cách cho nhân vật trung tâm mà chủ yếu đi vào thể giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật. Do vậy việc cắt nghĩa hình tượng nhân vật này ở đây không phải là đi tìm ngoại hình nhân vật như thế nào, tính cách nhân vật ra sao, mà phải “tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác” của nhân vật. Muốn vậy, người đọc phải theo sát mỗi bước phát triển tâm trạng của nhân vật này qua từng thời điểm khác nhau của phố huyện là lúc chiều muộn, lúc tối, lúc về đêm khi đoàn tàu đi qua.

Việc cắt nghĩa hình tượng nhân vật Liên bên cạnh việc theo sát những rung động tinh tế trong tâm hồn thơ trẻ của nhân vật, người đọc cần phải có vốn hiểu biết về con người Thạch Lam để thấy được sự chi phối của tính cách, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của tác giả trong việc xây dựng nhân vật (dành tình cảm đặc biệt cho trẻ thơ, con người có tâm hồn dễ xúc động, sống hướng nội).

Luận giải các thông điệp của tác giả qua tác phẩm: Trên cơ sở các giá trị hiện thực và giá trị nghệ thuật mà nêu ra các giá trị tư tưởng của tác phẩm. Qua các giá trị tư tưởng thấy được điều tác giả muốn nói với bạn đọc là gì. Kết quả của việc luận giải không chỉ nhằm đưa ra những nhận định khái quát về giá trị nội dung của tác phẩm mà quan trọng là phải xét các giá trị đó trong mối quan hệ với mục tiêu bài học, với nhu cầu tiếp nhận của HS. Đó là một yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy Tác phẩm văn chương nói chung và dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam nói riêng theo lí thuyết về hoạt động GT.

Cắt nghĩa các quan hệ của văn bản truyện: Như ở trên đã trình bày, Tác phẩm văn chương vốn là phương tiện GT đa chiều, do vậy khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV phải xây dựng được các quan hệ GT: Thông qua văn bản truyện, HS hiểu được phần nào tư tưởng, tình cảm, quan điểm…của nhà văn Thạch Lam, cũng thông qua văn bản truyện, HS hiểu được mọi người và cuộc sống xung quanh. Văn bản truyện chính là cầu nối giữa HS với nhà văn, giữa HS với hiện thực.

2.2.3. Nguyên tắc tôn trọng sự trao đổi, đối thoại, thảo luận đa chiều của HS khi tiếp nhận truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Tác phẩm văn học lớn nào cũng là tác phẩm văn học có vấn đề. Hai đứa trẻ của Thạch Lam đặt ra cho người đọc các vấn đề về nhân sinh, quan niệm sống, do vậy GV cần đưa ra những tình huống, câu hỏi có vấn đề nêu lên để HS trao đổi. Thông qua những giờ học như vậy HS có dịp được bộc lộ sự cảm nhận của mình. Và GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS với những mặt mạnh và mặt yếu cần điều chỉnh, biểu dương, phát huy. Không khí giờ học thật sự dân chủ khi mỗi HS là một chủ thể chứ không phải là một thực thể thụ động, các em được phát triển về văn học, hoàn thiện về nhân cách, trau dồi khả năng GT. GV không những phải nắm vững tác phẩm mà còn phải dự đoán những tình huống nảy sinh trong sự tiếp nhận của HS. GV không chỉ thuyết trình mà còn phải biết tổ chức cho HS tham gia vào cuộc đối thoại sao cho có trật tự, lôgíc mà vẫn đảm bảo không khí tự do tư tưởng, không khí cởi mở của một giờ văn.

Giờ văn đối thoại chỉ có thể tiến hành khi GV đã phát hiện và đặt được những vấn đề có tình huống vừa không thoát li tác phẩm vừa phù hợp với sự tiếp nhận của HS, lại phải đảm bảo thời gian cho phép của một tiết học chỉ có 45 phút. GV vận dụng đối thoại để giờ dạy học văn tạo được không khí cảm xúc, sự đồng cảm, giao cảm, sự cộng hưởng cảm xúc giữa nhà văn, GV và HS. HS trò chuyện với nhà văn thông qua tác phẩm. GV là người hướng dẫn, tổ chức cho cuộc đối thoại thật sự tự nhiên, bình đẳng, lôi cuốn lay động được từng HS trong lớp.

Như vậy trong quá trình GT với tác phẩm văn học, GT với tác giả, HS phải tự đối thoại, GT với chính mình, sẽ hướng đến đối thoại với nhau, đối thoại với GV để có kết quả tốt nhất, bổ sung kiến thức, hoàn thiện nhân cách của bản thân. Khi dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV nên khuyến khích HS đặt câu hỏi ngược cho GV để tạo không khí đối thoại trong giờ học.

2.3. Đề xuất quy trình dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” theo lí thuyết về hoạt động giao tiếp. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

2.3.1. Bước 1: Giáo viên hướng dẫn HS tự đọc tác phẩm và xây dựng các quan hệ giao tiếp.

Với tác phẩm (Nội dung GT): GV – người bắc cầu nối giữa văn bản và HS, phải tạo điều kiện cho HS tự lĩnh hội văn bản văn chương một cách tích cực, sáng tạo để các em có một quan điểm riêng, hành động riêng trong việc tiếp xúc sáng tạo với nghệ thuật, làm phát triển năng lực hình dung, tưởng tượng, so sánh thông qua một loạt các phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức điều khiển, xây dựng các quan hệ GT với chủ thể GT trong tác phẩm.

GV hướng dẫn HS tự đọc tác phẩm, công việc này được các em thực hiện chủ yếu ở nhà. Ở khâu này, GV yêu cầu HS chuẩn bị các câu hỏi căn cứ vào mục tiêu bài học, một số câu hỏi trong phần hướng dẫn bài học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam như sau:

  • Đọc diễn cảm tác phẩm, hình dung mạch tâm trạng của nhân vật hai chị em Liên trong tác phẩm.
  • Tác phẩm được viết theo thể loại tự sự, nhưng ít tình tiết, sự kiện mà chủ yếu là tâm trạng, cảm xúc của nhân vật, em hãy tìm những chi tiết, hình ảnh thể hiện điều đó?
  • Nhân vật trung tâm trong truyện ngắn là biểu tượng cho “tính cách và tâm hồn An Nam”, em cảm nhận được gì khi tiếp cận với hình tượng nghệ thuật ấy?

Rõ ràng đọc là con đường duy nhất để tiếp xúc với tác phẩm. Nhưng HS đọc tác phẩm không phải để giải trí mà để hiểu, trước hết là để hiểu ngôn ngữ và hình tượng, sau đó là hiểu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Trong yêu cầu tiếp nhận truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam phải xác định rõ GT với hình tượng nhân vật nào, đích cần đạt đến là gì. Muốn vậy, GV phải hướng dẫn HS nhận diện đối tượng GT (nhân vật), vấn đề GT (nội dung) qua các câu hỏi yêu cầu chuẩn bị bài. Đây chính là những câu hỏi giúp HS có định hướng khi tiếp xúc với tác phẩm và tạo tâm thế bước đầu học văn. Vì vậy, số lượng câu hỏi không cần nhiều, cũng không cần HS phân tích quá sâu vào nội dung tác phẩm.

Với nhà văn (người nói / viết): thông qua hoạt động đọc và xây dựng các quan hệ GT với tác phẩm ở trên, GV sẽ tiếp tục hướng dẫn HS xây dựng mối quan hệ GT với nhà văn bằng cách đặt câu hỏi trong phần chuẩn bị ở nhà như sau:

Trong tiểu luận “Theo dòng” nhà văn Thạch Lam có viết: “Văn chương giúp ta làm người một cách toàn diện hơn, vì thưởng thức văn chương tâm hồn ta được rèn luyện thành một sợi dây, sẵn sàng rung động trước mọi vẻ đẹp của vũ trụ, trước mọi cái cao quý của cuộc đời”, em có suy nghĩ gì về tiếng lòng của tác giả khi học truyện ngắn này?

Cũng từ hoạt động này, HS sẽ có hứng thú đi sâu tìm hiểu các vấn đề khác ngoài hệ thống câu hỏi định hướng để có thể nêu ra những đánh giá, những suy nghĩ có thể không đồng nhất với GV hoặc tác giả, hoặc có thể đối lập với tác giả.

Với những người khác (GV, gia đình, bạn bè): để xây dựng mối quan hệ GT giữa HS với mọi người xung quanh thông qua tác phẩm, GV có thể gọi HS đọc diễn cảm một số đoạn tiêu biểu ngay trên lớp, cho các em phát biểu suy nghĩ cảm nhận ban đầu với thầy cô, bạn bè và gia đình khi đọc truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Biết lắng nghe, chia sẻ và yêu thương mọi người xung quanh như nhân vật Liên, luôn sống với những khát khao và mơ ước và biết nuôi dưỡng niềm tin và hi vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

2.3.2. Bước 2: Tổ chức cho HS trao đổi, thảo luận về những vấn đề nảy sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm.

2.3.2.1 Xác định nội dung giao tiếp và hướng dẫn HS phân tích các nội dung giao tiếp.

Nội dung GT bao giờ cũng chứa đựng các thông tin nhằm phát triển nhận thức và rèn luyện các kĩ năng học tập của HS, là “tâm điểm” của tiến trình dạy học. Đó là các vấn đề hiện thực tư tưởng được phản ánh, thường được biểu hiện bằng các dấu hiệu khác lạ trong văn bản. Khi dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam đa phần GV đều cho HS xác định sai nội dung GT là bức tranh phố huyện lúc chiều đến, vào đêm và về khuya. Tuy nhiên nội dung GT mà Thạch Lam muốn nói đến ở đây là bức tranh tâm trạng của nhân vật Liên nơi phố huyện lúc chiều đến, về đêm và vào khuya khi có toàn tàu đi qua.

Muốn xác định đúng nội dung GT, GV cần cho HS nắm được một số đặc trưng thể loại của tác phẩm. Hai đứa trẻ của Thạch Lam thuộc loại “truyện ngắn tâm tình” (truyện ngắn không thể tóm tắt bằng các tình tiết giống như các truyện ngắn tự sự khác. Tác giả chỉ ghi lại những nét tâm trạng của nhân vật trữ tình khi tiếp xúc với cảnh vật và con người. Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Thạch Lam khi viết truyện ngắn vì thể loại này là sự pha trộn đặc điểm của cả thơ và văn xuôi). Từ đó đưa ra cách xác định nội dung GT ở đây là:

  1. Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc chiều muộn.
  2. Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc tối.
  3. Tâm trạng của chị em Liên khi đoàn tàu đi qua.

Điểm cần lưu ý ở đây nữa là GV giúp HS lựa chọn nội dung GT không chỉ căn cứ vào cái cụ thể hay cái khái quát mà quan trọng nhất là phải thấy được là qua hiện thực được phản (bức tranh tâm trạng của nhân vật Liên nơi phố huyện trong những thời điểm khác nhau), vấn đề mà nhà văn Thạch Lam muốn chuyển tải đến người đọc là gì? Đây cũng chính là cách GV giúp HS GT với hình tượng tác giả. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

  • Để tìm được chủ đề, tư tưởng mà nhà văn muốn chuyển tải qua nội dung GT, GV có thể đưa ra câu hỏi sau:

Có ý kiến cho rằng tâm trạng của Liên là tâm trạng điển hình của văn học lãng mạn 1930 – 1945. Ý kiến ấy đúng hay sai? Vì sao? Thông điệp của tác giả Thạch Lam khi nhà văn tái hiện tâm trạng của chị em Liên?

Định hướng trả lời: Tâm trạng của chị em Liên là tâm trạng điển hình của chủ nghĩa lãng mạn mang khuynh hướng tiêu cực: vì bất hoà sâu sắc với hiện tại mà tìm về nương náu ở miền quá khứ tươi đẹp hoặc khao khát một tương lai mơ ước.

Ý nghĩa: Thông qua việc mô tả tâm trạng của Liên, tác giả Thạch Lam đưa ra một thông điệp: cuộc sống trong xã hội cũ là một cuộc sống úa tàn, vô vọng. Cần phải đem đến một cuộc sống khác đáng sống và xứng đáng hơn với con người. Hãy cứu lấy những đứa trẻ vốn là tương lai của phố huyện cũng là tương lai của cả một đất nước. Bên cạnh đó nhà văn còn muốn đánh thức những tâm hồn đang luẩn quẩn trong vòng tăm tối, tù túng, thúc giục con người phải luôn luôn đi tìm giá trị sự sống đích thực và có ý nghĩa.

Như vậy, việc phân tích nội dung GT có ý nghĩa hết sức quan trọng. Qua đây, HS có dịp trao đổi với người khác, được bộc lộ quan điểm, thái độ tình cảm của mình. Người GV phải có vai trò là cầu nối giữa nhà văn (tác phẩm) và HS, định hướng những rung động thẩm mĩ của HS nhằm tiếp nhận các tác động cụ thể của một văn bản văn chương. GV động viên HS bộc lộ những ý kiến, quan điểm, tình cảm của các em đối với những vấn đề mà tác giả đặt ra trong tác phẩm, thông qua việc thảo luận, đánh giá và trao đổi những tình huống hoặc những vấn đề mang tính nhân cách, từ đó mở rộng, nâng cao sự hiểu biết và phát triển các phẩm chất nhân cách ở HS.

2.3.2.2. Lí  giải các phương tiện giao tiếp trong quan hệ giao tiếp với người đọc HS.

Đây chính là khâu cuối cùng của HS chiếm lĩnh tác phẩm. Quá trình GT bắt đầu từ việc nhận diện, phân tích, tìm ra các lớp ý nghĩa trong các đơn vị thông tin của tác phẩm và sau đó phán đoán được tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả biểu hiện qua các đơn vị thông tin ấy. Điều này chỉ có thể thực hiện được sau khi HS “đối thoại” với tác giả, “nhận” thông điệp của tác giả qua ngôn từ và hình tượng tác phẩm. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

  • Hoạt động GT với việc giải mã ngôn từ.

GT trong giải mã ngôn từ được hình thành bởi hai mối quan hệ: giữa HS với đơn vị ngôn từ, giữa GV với quá trình giải mã của HS. Hoạt động này còn bao gồm cả việc cắt nghĩa và bình giá tác phẩm. Thông qua các hoạt động GT mà HS có thể tự đánh giá được khả năng nhận thức của mình, GV đánh giá được mức độ nhận thức của HS về đơn vị ngôn ngữ ấy.

Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam GV cho HS giải mã một số câu văn, đoạn văn bằng cách đặt câu hỏi như sau:

Đoạn văn: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào” ngoài cung cấp thông tin sự vật còn cung cấp cho chúng ta thông tin nào khác không?

Định hướng trả lời: Trong câu đầu dường như thừa một chữ “chiều” xét theo góc độ thông tin bình thường nhưng thực ra còn có thông tin về tâm trạng mà riêng hai chữ “chiều rồi” chưa truyền tải được (do thiếu vắng nhịp điệu). Mặt khác không có chữ chiều “thừa ra” ấy, sự buông lơi êm đềm của câu sẽ ít có hiệu quả. Tính chất thừa tiếp, hô ứng của mạch văn cũng thiếu trọn vẹn. Rõ ràng, không gian của cảnh vật lúc chiều về được cảm nhận qua sự rung động tinh tế trong tâm hồn của nhân vật Liên. Thiên nhiên được nhìn qua lăng kính chủ quan của nhân vật trở nên có hồn và mang nặng nỗi niềm.

Em có nhận xét gì về cấu trúc ngữ pháp trong đoạn câu văn sau: “Tiếng trống thu không trên cái chòi canh của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”. Dụng ý nghệ thuật của nhà văn khi sắp xếp cấu trúc câu như vậy?

  • Định hướng trả lời: Đảo cụm danh từ lên trên trạng ngữ về nơi chốn.

Dụng ý nghệ thuật: Cốt lõi ngữ pháp của câu chỉ được nhận ra ở vế sau nhưng sự cảm nhận của người đọc chỉ thực sự khởi hành từ trước cùng cụm danh từ được đảo lên trên. Chính nghệ thuật sắp xếp ấy đã bắt nhịp cho những xúc cảm ban đầu của người đọc khi bước vào thiên truyện – một xúc cảm man mác khó có thể định hình, khó có thể gọi thành tên.

  • Hoạt động giao tiếp với việc giải mã hình tượng. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Giải mã hình tượng VH là quá trình phân tích những đặc trưng của nó để tìm ra thông điệp của tác giả. Lí thuyết về hoạt động GT cho rằng hình tượng cũng là một phương tiện dùng để truyền đạt thông tin, được gọi là kí hiệu phi ngôn ngữ…, đó là một thứ mã không có ở văn tự, không ai biết, được thiết kế tinh vi mà mọi người đều có thể hiểu được. Điều đó có nghĩa là hình tượng có khả năng biểu đạt thông tin như ngôn ngữ, nhưng không có tính xác minh khái niệm như ngôn ngữ.[20, 85]. Nhưng giải mã hình tượng văn học là một việc không dễ dàng và không phải bao giờ cũng tìm được câu trả lời cuối cùng. Điều cuối cùng là GV phải tổ chức được việc giải mã trong quan hệ GT giữa những người tham gia tiếp nhận văn học.

Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam kết quả của những phán đoán có thể rất khác nhau là cơ sở vững chắc cho việc trao đổi bàn bạc để đi tới kết luận về hình tượng nhân vật Liên có một tâm hồn dễ rung cảm trước cảnh vật và số phận những con người nghèo khổ, sống tù túng nơi phố huyện nghèo nàn và tẻ nhạt, nhưng trong tâm hồn tinh tế ấy luôn trỗi dậy  niềm mơ ước, khát khao được đổi thay, được sống một cuộc sống “tràn đầy âm thanh, tràn đầy ánh sáng và màu sắc”.

Để giải mã hình tượng nhân vật Liên, GV lần lượt đưa ra các hệ thống câu hỏi sau:

  • Phố huyện lúc chiều muộn.

Trước khung cảnh phố huyện và số phận của những con người nơi đây, chị em Liên (đặc biệt là Liên) đã có những phản ứng và nét tâm trạng nào? Tâm trạng ấy được thể hiện qua những lời văn và hình ảnh nào?

Định hướng trả lời:

  • Liên ngồi yên lặng, đôi mắt ngập đầy dần bóng tối.
  • Cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị.
  • Liên thấy lòng buồn man mác trước thời khắc của ngày tàn.
  • Liên thương bọn trẻ con nhưng không có tiền mà cho chúng.
  • Hôm nào cũng cố tình rót rượu cho cụ Thi thật đầy.

Tác giả đã diễn tả cái buồn man mác rất tinh tế của Liên trước cảnh vật lụi tàn phố huyện và sự thương xót chân thành của người thiếu nữ ngây thơ trước những số phận lụi tàn, khốn khổ. Liên dường như đã cảm nhận được cuộc sống nghèo khổ đè nặng lên phố huyện và thể hiện sự bất đắc chí của mình trước cuộc sống ấy bằng tâm trạng buồn mơ hồ, tinh tế.

  • Phố huyện lúc tối. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Trước cuộc sống nghèo nàn, tù túng, không có hi vọng của phố huyện, chị em Liên đã bộc lộ những suy nghĩ và tâm trạng nào? Điều đó có ý nghĩa như thế nào?

Định hướng trả lời:

  • Ngày nào cũng ân cần hỏi han mẹ con chị Tí.
  • Nhớ về Hà Nội xa xăm, rực rỡ ánh đèn (nhớ về cuộc sống sôi động, tươi sáng trong quá khứ).
  • Cùng với người dân phố huyện chờ đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày.

Liên bất mãn ghê gớm trước cuộc sống nơi phố huyện qua cách cảm nhận sự tù đọng, trì trệ của nó. Cô cảm thông, thương xót cho chính mình và những người hàng xóm nghèo khổ xung quanh. Đồng thời, Liên bộc lộ khao khát một cách mãnh liệt một cuộc sống mới tươi sáng và sôi động hơn.

  • Khi đoàn tàu đi qua.

Chị em Liên đã bộc lộ đánh giá của mình và nét tâm trạng nào khi đoàn tàu đi qua? Những nét tâm trạng đó có mối liên hệ với nhau như thế nào?

  • Định hướng trả lời:

Nhớ lại hình ảnh Hà Nội xa xăm, rực rỡ ánh đèn à mơ về quá khứ tươi đẹp, một cuộc sống đáng sống, bộc lộ những nuối tiếc, khát khao.

Đêm nào cũng chờ tàu – đoàn tàu gắn liền với hình ảnh Hà Nội rực sáng như một thế giới khác tươi sáng tuyệt vời so với sự tăm tối của phố huyện. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Con tàu là biểu tượng của niềm vui, niềm hi vọng, sinh khí, biểu tượng của tương lai, một thế giới đối lập với cuộc sống hiện tại tăm tối nơi phố huyện. Nó là phút xao động cần thiết khuấy động cái ao tù phẳng lặng như phố huyện.

Liên cảm thấy xa xôi trước hiện tại, mờ mịt giống như ngọn đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất cát à thực tại nhàm chán, bế tắc, không có lối thoát.

Sau khi xây dựng trọn vẹn bức tranh tâm trạng của nhân vật Liên, GV cho HS cắt nghĩa hình tượng bằng những câu hỏi có vấn đề như sau:

Suốt truyện ngắn, nhà văn nhiều lần nhấn mạnh sự “ngây thơ” trong tâm hồn của hai đứa trẻ đặc biệt là nhân vật Liên. Em hãy tìm những chi tiết diễn tả điều đó? Theo em hiểu sự “ngây thơ” trong tâm hồn nhân vật ở đây là gì?

Định hướng trả lời:

Chi tiết:

  • Liên không hiểu sao….”
  • Liên tưởng là…”
  • Tâm hồn Liên có những cảm giác mơ hồ khó hiểu…”
  • -Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ, Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết”

Rất có thể nhân vật của truyện “không biết”, “không hiểu” thật, nhưng điều đáng nói là tác giả đã mượn chính tâm trạng của nhân vật để ám thị người đọc. Các phủ định từ “không” đã “bẫy” họ sa vào một không khí bất định, mông lung. Độc giả cứ ngỡ mình đang cùng nhà văn theo dõi nhân vật, đi tìm câu trả lời tại sao nhân vật lại thế, và cuối cùng bị dẫn vào câu chuyện lúc nào không hay. Bao nhiêu những điều “không hiểu”, “không biết” đó toát lên sự ngây thơ trong tâm hồn Liên, cái ngây thơ của dòng xúc cảm cứ trôi chảy tự nhiên theo ngoại cảnh và sự ngây thơ đó lại là sự thấu hiểu tiếng gọi của vạn vật, tiếng rên rỉ của những số phận trong cảnh đời tối tăm. Hóa ra ngây thơ mà lại rất thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia!

GV cũng cần cho HS thấy được hình tượng VH luôn mang dấu ấn của chủ thể hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp bởi có sự tham gia của nhân vật và của các tác giả. Hình tượng VH bao giờ cũng là hình tượng trong con mắt của ai đó, mang tư tưởng, tình cảm, thái độ của một ai đó. Cho nên khi người đọc – HS khi thực hiện GT với hình tượng nhân vật cũng đồng thời là thực hiện hoạt động GT với tác giả. GV cần giúp HS thấy được qua việc phân tích hình tượng nhân vật Liên, chúng ta cảm nhận được những nét tính cách nào trong con người Thạch Lam. Còn người đọc – HS, với kinh nghiệm sống và mong muốn của mình, nhận thức được gì từ bức thông điệp mà Thạch Lam muốn gửi gắm thông qua hình tượng nhân vật? Đây sẽ là cơ hội mở ra muôn vàn suy nghĩ gắn với định hướng, phương châm sống của mỗi người đọc được bộc lộ. Sự đồng tình hay phản đối của người đọc với thông điệp đều yêu cầu phải đưa ra bàn bạc, trao đổi, tranh luận.

  • Để giải mã hình tượng tác giả, GV có thể đặt câu hỏi như sau:

Khác với các nhà văn cùng thời (Nam Cao, Ngô Tất Tố,…), Thạch Lam không xây dựng diện mạo và tính cách cho nhân vật mà lại “tìm về nội tâm, tìm về cảm giác” của nhân vật, điều này cho thấy nét đặc biệt nào trong con người Thạch Lam?

  • Định hướng trả lời: Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Các nhân vật trong truyện ngắn, đặc biệt là nhân vật Liên hiện lên không “đao to búa lớn”, không có những xung đột nội tâm mà chỉ là những lời tâm tình, thủ thỉ nhẹ nhàng như chính con người Thạch Lam vậy. Dường như muốn hiểu nhà văn phải hiểu nhân vật và muốn hiểu được nhân vật phải có hiểu biết về con người nhà văn. Thạch Lam vốn là người có tấm lòng yêu thương, trân trọng con người, một con người không chịu bị cuốn vào cái ồn ào của ngoại cảnh, “ăn nói điềm đạm, mới gặp người ta dễ lầm với một nhà giáo hơn nhà văn”. Chính vì vậy mà cho dù Thạch Lam có bộc lộ mình một cách trực tiếp hay gián tiếp thì người đọc vẫn nhận thấy: “Không có một sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó” (Thế Lữ) – một Thạch Lam nhỏ nhẹ tinh tế, có đời sống nội tâm sâu sắc.

Thạch Lam là con người hướng nội. Muốn hiểu con người nhà văn, người đọc phải có một cuộc giao tiếp đặc biệt – cuộc GT bằng những rung cảm chân thành mới có thể  “tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác” trong con người ấy để hiểu rằng với cách sống đơn giản, xây dựng cốt truyện đơn giản, với những hình tượng nhân vật đơn giản nhưng lại không hề đơn giản một chút nào. Đó phải là cả một nghệ thuật và tài năng sáng tác mới có thể xây dựng nên một thiên truyện đầy ám ảnh như thế.

Như vậy hoạt động GT trong việc giải mã hình tượng VH và hình tượng  tác giả được hình thành và phát triển qua sự bàn bạc trao đổi, thảo luận và tranh luận này. GV có thể đặt thêm một số câu hỏi phụ cho HS để liên hệ bài học cuộc sống bằng câu hỏi như sau:

Qua hình tượng tác giả em hiểu thế nào là “sống đơn giản”? Trong cuộc sống hiện đại ngày nay con người có nên cần sống đơn giản không?

  • Định hướng trả lời:

GV định hướng cho HS thấy rằng con người sống đơn giản như Thạch Lam lại không hề đơn giản một chút nào. “Sống đơn giản” là trở về với tự nhiên, lắng nghe những tiếng gọi bên trong của sự sống, rèn tâm hồn mình như một dây đàn sẵn sàng rung lên trước mọi vẻ đẹp của vũ trụ.Trong cuộc sống hiện đại ngày nay với những bon chen xô bồ, con người mải miết chạy theo những giá trị vật chất để rồi tâm hồn mình xơ cứng, bất động lúc nào không hay. Con người dễ vô cảm, ít có những rung động trước cuộc sống. Do vậy cách sống đơn giản như Thạch Lam là thực sự cần thiết.

Như vây, người đọc – HS với tư cách là chủ thể tiếp nhận cũng phải bộc lộ tư tưởng, thái độ, tình cảm của mình với các hình tượng GT.

2.3.3 Bước 3: Tổ chức đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản bằng tái hiện các cuộc giao tiếp. Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực nhận thức của người học, điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục. GV đáng giá kết quả đọc hiểu văn bản của HS bằng cách cho HS tóm tắt lại nội dung bài học; tiếp đó là tạo không khí cởi mở để các em chia sẻ thái độ quan điểm sau khi tiếp nhận bài học đồng thời cho các em đánh giá kết quả học tập của nhau qua việc trao đổi, thảo luận (nói hoặc viết). Có thể thấy đây là một hình thức cuốn hút được HS tham gia bởi các em được bày tỏ quan điểm, trao đổi, thảo luận về những vấn đề mà GV đưa ra khi tìm hiểu tác phẩm. Đây cũng là dịp để HS rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động GT; và cuối cùng là cho các em làm bài tập theo định hướng GT thông qua hai hình thức: HS làm bài kiểm tra (cả trắc nghiệm và tự luận) và trả lời câu hỏi của GV trong quá trình học tập. (Lưu ý: Về thời điểm đánh giá, đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà cả quá trình. Đánh giá ở những thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong quá trình giáo dục; Về hình thức đánh giá: tùy hình thức học tập thực tế mà GV có thể có những yêu cầu HS thực hiện bài kiểm tra dưới hình thức nói hay viết nhằm phát triển kĩ năng GT của các em. Điều quan trọng là GV phải chú ý đến các đối tượng HS khác nhau, từ những HS nhận thức còn yếu, tới HS trung bình, khá, giỏi. Nếu yêu cầu HS thực hiện bài đánh giá bằng văn “nói” GV phải quan tâm tới cách diễn đạt từ ngữ, cách thức trả lời, nếu yêu cầu HS thực hiện bằng văn viết thì GV chú ý nhiều tới kĩ năng tổ chức câu văn, đoạn văn).

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Khóa luận: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Ở phần này chúng tôi đã đưa ra định hướng về con người nhà văn Thạch Lam cũng như những yêu cầu cần đạt để dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ theo lí thuyết về hoạt động GT. Bên cạnh đó chúng tôi cũng đưa ra các nguyên tắc cần phải tuân thủ và các bước thực hiện để đạt hiệu quả tiếp nhận khi dạy học đọc hiểu tác phẩm này.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537