Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập

Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội nhận định được điều đó, tác giả lựa chọn Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập. Con người là một nhân tố quan trọng nhất quyết định trực tiếp đến sự phát triển của xã hội của đất nước. Vì vậy muốn có một xã hội phát triển đòi hỏi chúng ta phải phát triển nguồn nhân lực trong đó có việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Do đó đề tài  Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh, sẽ mong là tài liệu phù hợp cho các bạn đọc giả.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động y tế – hoạt động chăm lo sức khoẻ cho con người là hoạt động rất quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm và chú trọng phát triển ngành y tế và việc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gắn các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội với các mục tiêu phát triển sư nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Ngành y tế phấn đấu đảm bảo công bằng, nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của mọi tầng lớp nhân dân. Trước năm 1989, Nhà nước đã cung cấp gần như toàn bộ nguồn tài chính cho các hoạt động của các cơ sở y tế công lập. Tuy nhiên, trước những khó khăn về kinh tế, nguồn kinh phí ngân sách quá eo hẹp, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để xã hội hoá các hoạt động y tế như: Quyết định số 95/HĐBT ngày 25/4/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cho phép ngành Y tế được thu một phần viện phí nhằm giải quyết một số khó khăn cho công tác khám chữa bệnh; bên cạnh đó Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, chính sách Bảo hiểm y tế (ra đời năm 1992), Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 và Nghị quyết số 46- NQ/TW ngày 23/2/2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính Phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, đã tạo điều kiện pháp lý để huy động các nguồn lực khác của xã hội, tham gia vào phát triển các dịch vụ y tế phục vụ việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Cũng như hoạt động của bất cứ loại hình kinh tế nào, trong quá trình phát triển, các đơn vị sự nghiệp công lập phải có nguồn tài chính đủ để thực hiện các chức năng của mình. Triển khai quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá các hoạt động y tế, ngành y tế đã huy động được khá nhiều nguồn lực tài chính khác ngoài nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước để phục vụ cho các hoạt động của các cơ sở y tế công lập. Nhận thức rõ vai trò của các đơn vị sự nghiệp công lập cũng như vai trò của tài chính trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Song song với các chiến lược huy động nguồn lực tài chính cho ngành y tế cũng cần phải có các chính sách nhằm quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính một cách có hiệu quả. Điều này đòi hỏi ngành y tế nói chung và cụ thể là các đơn vị sự nghiệp công lập – nơi trực tiếp nhận các nguồn lực tài chính này phải có cơ chế quản lý tài chính phù hợp.

TP.Hồ Chí Minh nằm giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Thành phố có số lượng bệnh viện công lập nhiều nhất so với các địa phương trong cả nước, trong thời gian vừa qua việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với Bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố đã tác động tích cực đến chất lượng hoạt động, như: đổi mới cơ chế quản lý; nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ; chủ động huy động các nguồn lực ngoài ngân sách; chủ động trong chính sách đãi ngộ, thu hút cán bộ y tế, đội ngũ chuyên gia, y, bác sĩ có tay nghề cao,… qua đó, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và cung ứng dịch vụ y tế. Tuy nhiên, hiện nay, Bệnh viện công lập đang gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện cơ chế tự chủ: định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên giao tự chủ còn thấp, chưa tính đến hoạt động đặc thù về mô hình bệnh tật và đặc điểm địa bàn; chính sách viện phí, giá dịch vụ khám chữa bệnh còn chậm đổi mới, chưa thực hiện tính đúng và thu đủ chi phí nên mức thu thấp, dẫn đến bao cấp tràn lan, không công bằng; cơ chế huy động nguồn lực từ hoạt động xã hội hóa, liên doanh, liên kết còn nhiều khó khăn và vướng mắc

Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn trên, nhằm từng bước hoàn thiện cơ chế tự chủ của các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh, trong đó có tự chủ tài chính, học viên đã chọn đề tài: “Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh” làm luận văn cao học.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Trong thời gian qua, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này dưới hình thức các bài báo, các luận văn, các công trình nghiên cứu khoa học đề cập dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu quản lý về tài chính đối với các cơ quan HCNN một cách có hệ thống, nhất là đối với hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính, một cơ quan HCNN mang nhiều tính đặc thù.Đã có một số công trình, bài viết tiêu biểu sau:

Bài viết “Về chế độ tự chủ tài chính ở đơn vị sự nghiệp công lập ” của tác giả Nguyễn Vũ Lưu (2012). Bài viết đã đề cập được đến những vấn đề chung về tự chủ tài chính ở đơn vị sự nghiệp công lập, các đơn vị tự chủ có quyền tự quyết, được quyền hành động trong khuôn khổ của pháp luật đối với các hoạt động tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính của đơn vị. Mặt khác, bài viết cũng đã chỉ ra và phân tích rõ các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập như: Cơ chế quản lý tài chính, tổ chức quản lý thu – chi, trình độ cán bộ quản lý…

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, nghiên cứu tương đối tổng quát về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu (Trần Thu Hà, 1997). Đề tài là một công trình khoa học nghiên cứu tương đối tổng quát về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp, đã giải quyết được các vấn đề như: Làm rõ được vai trò, vị trí của các đơn vị SN đối với sự phát triển của kinh tế – xã hội (KT-XH), sự tồn tại khách quan của các hoạt động SN. Tổng kết, đánh giá tương đối toàn diện về thực trạng hoạt động SN và tình hình quản lý tài chính đối với các đơn vị SN trong thời kỳ chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường (giai đoạn 1991 – 1995). Đã đánh giá được những vướng mắc, hạn chế trong chính sách như: về quản lý phí, lệ phí, cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị SNCT chưa thống nhất, chưa phù hợp với các loại hình hoạt động SN… Đã đưa ra được một số quan điểm, định hướng và kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các đơn vị SNCT cho giai đoạn 1999 – 2005. Trên cơ sở các kiến nghị, đề xuất này, Bộ Tài chính đã tiếp tục nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị SNCT và tiếp sau là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành cơ chế tự chủ tài chính đối với tất cả các đơn vị SN công lập.

Luận văn thạc sỹ kinh tế Trường Đại học kinh tế quốc dân với đề tài “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo thuộc Bộ Tài chính” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải (2010). Luận văn đề cập chủ yếu tới việc quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí của các đơn vị sự nghiệp đào tạo để phân tích và tìm giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo thuộc Bộ Tài chính

Bài viết về “Giải pháp cải cách, tăng cường tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp” của tác giả Mai Phương (2012). Bài viết đánh giá kết quả đạt được giai đoạn 2006-2010 thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời bài viết cũng đã phản ánh được những bất cập, tồn tại trong nhận thức và cơ chế chính sách, bất cập trong thực hiện để qua đó đưa ra một số giải pháp tháo gỡ vướng mắc như cần phải hướng dẫn các đơn vị xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ; xác định loại hình đơn vị sự nghiệp căn cứ vào số thu sự nghiệp của đơn vị; tăng cường thanh tra, kiểm tra phát hiện những bất cập để kiến nghị xử lý; rà soát, đồng bộ các cơ chế, chính sách trong các ngành, các lĩnh vực; và quy định rõ vai trò, quyền hạn của người đứng đầu đơn vị.

Nguyễn Trường Giang (2003), với nghiên cứu “Đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, đề tài đã sử dụng số liệu thứ cấp để đánh giá thực trạng việc đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách trong lĩnh vực y tế nhằm thích ứng với cơ chế thị trường gắn với sự quản lý của nhà nước. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để phân tích thực trạng và hệ thống hóa khung lý thuyết của đề tài.

Bộ Y tế (2008) với đề án “Nghiên cứu xây dựng đề án đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương, giá dịch vụ y tế) đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập”, đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, công phu với việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu toàn diện, cả đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập. Trong đổi mới cơ chế tài chính, đề án tập trung phân tích cơ chế tự chủ tài chính gắn với tiền lương và giá dịch vụ y tế. Đây là tài liệu tham khảo rất hữu ích để hệ thống hóa khung lý thuyết và đề xuất giải pháp cho đề tài nghiên cứu.

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thế Cương (2016), với hướng nghiên cứu “Mở rộng tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập ở Việt Nam (qua khảo sát các bệnh viện công lập trên địa bàn TP. Hà Nội)”, luận án đã hệ thống hóa khung lý thuyết về tự chủ tài chính và các tiêu chí đo lường tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập, từ đó phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập. Đây là tài liệu tham khảo rất có giá trị đối với hướng nghiên cứu của đề tài này.

Như vậy, đến thời điểm hiện tại có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến đơn vị sự nghiệp công lập, tuy nhiên nghiên cứu sâu về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí

Minh hiện chưa có đề tài nào, vì vậy hướng nghiên cứu của đề tài này không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

3.1.Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

  • Hệ thống hóa khung lý thuyết về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của Hồ Chí Minh.
  • Đánh giá thực trạng quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí
  • Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP.Hồ Chí

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các Bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào:

  • Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các Bệnh viện công lập của Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2018 và định hướng cho thời gian tiếp theo;
  • Phạm vi không gian: Các bệnh viện công lập của Hồ Chí Minh.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

5.1.Phương pháp luận

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và lý luận quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin

Được thực hiện thông qua nghiên cứu, tổng hợp từ các tài liệu, công trình được công bố có liên quan đến đề tài, phương pháp này chủ yếu dùng để thực hiện hệ thống hóa khung lý thuyết, phân tích thực trạng và giải pháp.

Phương pháp thống kê, so sánh:

Sử dụng phương pháp này nhằm thống kê, so sánh với các số liệu, đơn vị liên quan, được sử dụng chủ yếu tại chương 1 và chương 2 của luận văn.

Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp:

Nguồn dữ liệu cơ bản được thu thập là số liệu thứ cấp, vì vậy luận văn sử dụng phương pháp này để phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh và đưa ra cách giải quyết tối ưu cũng như các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập của thành phố.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

  • Tổng hợp một số lý luận chung về đơn vị sự nghiệp công lập; cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại đơn vị sự nghiệp công lập làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu cơ sở khoa học và thực trạng triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các bệnh viện công lập của TP. HCM.
  • Phân tích những hạn chế, khó khăn khi áp dụng các quy định của nhà nước về tài chính trong hoạt động của các bệnh viện công lập của HCM.
  • Đề xuất một số giải pháp để khắc phục những khó khăn; tăng cường về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các bệnh viện công lập của HCM.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, trang mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP.HCM

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP.HCM

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP.HCM

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1. Khái quát chung về bệnh viện công lập và cơ chế tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại về bệnh viện công lập

1.1.1.1. Khái niệm

Trong chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp giai đoạn 2004- 2005 ban hành kèm theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra: đơn vị sự nghiệp là những đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục; khoa học công nghệ; môi trường; y tế; văn hóa nghệ thuật; thể dục thể thao; sự nghiệp kinh tế; dịch vụ việc làm… do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập. Các đơn vị sự nghiệp được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao. Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu, theo đó đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị do Nhà nước thành lập, hoạt động có thu nhằm thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục; khoa học công nghệ; môi trường; y tế; văn hóa nghệ thuật; thể dục thể thao; sự nghiệp kinh tế; dịch vụ việc làm.

Theo khái niệm này, các tiêu chí để xác định đơn vị sự nghiệp có thu đó là: có văn bản ra quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương; được Nhà nước cấp một phần kinh phí để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của pháp luật; có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ hiện hành; có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ đưa ra khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán), hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục- đào tạo dạy nghề, sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội, sự nghiệp văn hóa thông tin, sự nghiệp thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Như vậy, khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập mới đưa ra về cơ bản thống nhất với các khái niệm trước đây. Tuy nhiên việc xóa bỏ khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP cũng là một bước chuyển quan trọng. Theo đó, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính không chỉ áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu mà còn được áp dụng đối với cả các đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu hoặc có nguồn thu ít.

Đối với bệnh viện công lập, theo Nghị định 85/NĐ-CP của Chính phủ ngày15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập thì “Bệnh viện công lập (trong đó có bệnh viện công lập) là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm ,trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số – kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (sau đây gọi tắt là “đơn vị sự nghiệp y tế ”).

1.1.1.2. Đặc điểm của bệnh viện công lập

Một là, bệnh viện công lập là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời là chính. Không như hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiêp, để thực hiện vai trò của Nhà nước, Nhà nước đã tổ chức và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung ứng sản phẩm, dịch vụ xã hội công cộng, hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường.

Hai là, sản phẩm của các bệnh viện công lập là các sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ của bệnh viện công lập chủ yếu là giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức… có tính phục vụ không chỉ một ngành, một lĩnh vực nhất định mà kho tiêu thụ sản phẩm đó thường có tác dụng lan toả, truyền tiếp, tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm đó là “hàng hoá công cộng” tác động đến con người về trí và lực tạo điều kiện cho hoạt đông của con người, tác động đến đời sống của con người, đến quá trình tái sản xuất xã hội.

Ba là, hoạt động sự nghiệp trong các bệnh viện công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước. Chính phủ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội nên các hoạt động này có gắn liền với nhau.

1.1.1.3. Phân loại bệnh viện công lập ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Đối với bệnh viện công lập, theo Nghị định 85/NĐ-CP của Chính phủ ngày15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, có thể phân loại đơn vị sự nghiệp y tế (trong đó có bệnh viện công lập) được phân loại thành:

Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển;

Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên;

Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên;

Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ.

Việc đăng ký, phân loại các đơn vị sự nghiệp y tế được ổn định trong thời gian 03 năm, sau thời hạn 03 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp. Trường hợp đơn vị có biến động về nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm thay đổi cơ bản mức tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên thì được xem xét điều chỉnh việc phân loại trước thời hạn.

Hoặc cũng có thể xếp hạng bệnh viện theo quy định chung:

  • Bệnh viện hạng đặc biệt là cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, với các chuyên khoa đầu ngành được trang bị các thiết bị y tế và các máy móc hiện đại, với đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho Bệnh viện hạng
  • Bệnh viện hạng I là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho Bệnh viện hạng
  • Bệnh viện hạng II là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho Bệnh viện hạng III.
  • Bệnh viện hạng III là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của quận, huyện trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Sau hơn 10 năm thực hiện, đến nay các tiêu chuẩn xếp hạng bệnh viện cần được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.

Theo quy định sau 5 năm (đủ 60 tháng), kể từ ngày có quyết định xếp hạng, các cơ quan ra quyết định xếp hạng có trách nhiệm xem xét, xếp lại hạng của đơn vị. Đánh giá này nhằm giúp các Bệnh viện phải luôn nỗ lực đảm bảo các yêu cầu về chuyên môn, cũng như các nhiệm vụ chính trị được giao.

1.1.2. Cơ chế tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

1.1.2.1. Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính

Cơ chế tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp nói chung và cơ chế tự chủ bệnh viện công lập nói riêng hiện nay được quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ. Trong đó đơn vị sự nghiệp công lập được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tạo lập và sử dụng nguồn tài chính để thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực hoạt động của mình. Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị.

1.1.2.2. Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập

Thời gian qua, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 71/2006/TT- BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định trên. Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trên cơ sở tổng kết đánh giá kết quả đạt được cũng như những bất cập phát sinh, Nghị định số 85/2012/NĐ- CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập được ban hành. Sau đó, ngày 14/02/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP theo hướng quy định các vấn đề chung, làm căn cứ cho các bộ, cơ quan liên quan xây dựng các Nghị định riêng quy định đối với từng lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên trong ngành y tế hiện nay vẫn chưa có Nghị định sửa đổi hoặc thay thế Nghị định 85/2012/NĐ-CP nên chưa ban hành được các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo từng lĩnh vực chuyên môn y tế, chưa có cơ quan kiểm định, đánh giá chất lượng công việc và có hiện tượng lạm dụng kỹ thuật để tăng nguồn thu.

Nghị định 16/2015/NĐ-CP đã thể hiện rõ mục tiêu đổi mới toàn diện các đơn vị sự nghiệp công lập; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị đồng bộ cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính, quy định: cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công (trong đó có bệnh viện công lập) là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công.

Theo đó, bệnh viện công lập là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ và tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động cần tuân thủ theo cơ chế quản lý về nguồn thu và chi như sau: Tự chủ về các khoản thu, mức thu.

– Đơn vị sự nghiệp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do Nhà nước quy định. Trường hợp Nhà nước quy định khung thu thì đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không được vượt quá khung do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Đơn vị thực hiện chế độ miễn,giảm cho các đối tượng chính sách-xã hội theo quy định của Nhà nước.-

Đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được cơ quan Nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định giá thì chi phí được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp có thẩm định chấp thuận. – Đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước; các hoạt động liên doanh, liên kết; đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cho phù hợp, bảo đảm đủ bù đắp chi phí, có tích lũy. ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính:

  • Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
  • Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc.
  • Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định tại Nghị định này. Tiền lương, tiền công và thu nhập.
  • Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; NSNN không cấp bổ sung; đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN cấp bổ sung (nếu thiếu).
  • Đối với phần thu nhập tăng thêm, các đơn vị được chủ động sử dụng Quỹ bổ sung thu nhập để thực hiện phân chia cho người lao động trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác của người lao động. Tuy nhiên, để đảm bảo mức chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ quản lý không quá chênh lệch so với người lao động, nghị định mới quy định, khi phân bổ thu nhập tăng thêm thì hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 3 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị. Phân phối kết quả tài chính trong năm Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:
  • Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
  • Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
  • Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
  • Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
  • Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có). Mức trích cụ thể của các quỹ theo quy định trên và việc sử dụng các quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị.

1.2. Quản lý tài chính tại bệnh viện công lập theo cơ chế tự chủ

1.2.1. Khái niệm quản lý tài chính tại bệnh viện theo cơ chế tự chủ ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Đối với khái niệm quản lý, theo giáo trình quản lý hành chính công (2011, Học viện Hành chính Quốc gia) thì: “Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý trong từng thời kỳ nhất định”.

Như vậy, do quản lý tài chính tại bệnh viện theo cơ chế tự chủ là một dạng của quản lý, vì vậy, theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nước về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện.

Hay là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn (vốn do ngân sách của chính phủ cấp, vốn viện trợ, vốn vay và các nguồn vốn khác), tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học gắn với cơ chế tự chủ.

1.2.2. Mục tiêu quản lý tài chính tại bệnh viện công lập theo cơ chế tự chủ

Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của quản lý tài chính tại bệnh viện. Các yếu tố của mục tiêu này bao gồm:

  • Duy trì cán cân thu – chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lý mới – tiến tới hạch toán chi phí.
  • Bệnh viện phải cải thiện chất lượng thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn như: tỉ lệ tử vong,…
  • Nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên được cải thiện, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng văn hóa Bệnh viện.
  • Bệnh viện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên
  • Công bằng y tế: chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng
  • Với bệnh nhân: chất lượng chăm sóc và công bằng y tế
  • Với nhân viên: được hài lòng do đời sống được cải thiện.

Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu chi.

  • Y tế Nhà nước : phát triển bệnh viện.

1.2.3. Nội dung quản lý tài chính tại bệnh viện công lập theo cơ chế tự chủ ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và Nghị định 85/NĐ-CP của Chính phủ ngày15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, thì nội dung quản lý tài chính tại bệnh viện công lập theo cơ chế tự chủ gồm: quản lý các nguồn thu, quản lý nhiệm vụ chi, quản lý phân phối kết quả tài chính, quản lý việc trích lập các quỹ và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.

1.2.3.1. Quản lý các nguồn thu của bệnh viện công lập

Các nguồn tài chính hình thành ngân sách của bệnh viện và được quản lý thống nhất theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp bao gồm: Ngân sách nhà nước cấp hàng năm; thu viện phí và bảo hiểm y tế, nguồn viện trợ và các nguồn thu khác.

Nguồn ngân sách nhà nước cấp: Nguồn ngân sách nhà nước cấp là các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ. Bệnh viện chỉ được cấp kinh phí NSNN khi có trong dự toán được duyệt, chi đúng tiêu chuẩn định mức, có đầy đủ hồ sơ chứng minh việc chi tiêu của bệnh viện. Theo đó, ngân sách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nước ngoài. Tuy nhiên nguồn NSNN cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa là khoản chi cho bệnh viện từ NSNN cấp cho sự nghiệp y tế cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián thu.

Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế: Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế được Nhà nước quy định là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng. Giá viện phí do giám đốc bệnh viện đề xuất, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của địa phương và phải dựa trên một khung giá tối đa- tối thiểu đã được Bộ Y tế và Bộ Tài chính phê duyệt. Bảng giá phải được niêm yết công khai. Việc thu viện phí trực tiếp của người bệnh phải sử dụng hoá đơn theo mẫu quy định của Bộ Tài chính, một liên của hoá đơn phải trả cho người bệnh. Đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện và phòng tài chính kế toán có trách nhiệm thu viện phí từ cơ quan bảo hiểm y tế. Giám đốc bệnh viện hoặc người được uỷ quyền chịu trách nhiệm xét miễn, giảm viện phí cho người bệnh theo chế độ quy định.

Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác: Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác được Nhà nước quy định là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng được hạch toán theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp. Khi bệnh viện tiếp nhận tiền, hàng viện trợ phải làm các thủ tục xác nhận viện trợ theo quy định và phải sử dụng theo đúng mục đích từ phía nhà   tài trợ. Các loại tài sản được viện trợ phải hạch toán tăng nguồn vốn và quản lý theo quy định như các tài sản được mua bằng nguồn vốn sự nghiệp do Nhà nước cấp. Nguồn thu từ khoản tiền đầu tư, thông qua các hoạt động liên doanh, liên kết để mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ của bệnh viện, đây chính là một cơ chế mở tháo gỡ các khó khăn vướng mắc về góp vốn đầu tư, huy động các nguồn lực tài chính trong cộng đồng và xã hội nhằm chăm sóc sức khỏe cho con người.

Các nguồn thu từ dịch vụ y tế nhằm phục vụ bệnh nhân như:

  • Dịch vụ vận chuyển bệnh nhân.
  • Dịch vụ liên kết trong hoạt động chuyên môn.
  • Dịch vụ cho người cao tuổi.
  • Dịch vụ các phòng điều trị có chất lượng
  • Dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ cho các đơn vị cơ quan, xí nghiệp ,trường học.
  • Dịch vụ ăn uống

1.2.3.2. Quản lý các khoản chi của bệnh viện công lập ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Các khoản chi trong bệnh viện: Trong bệnh viện các khoản chi được chia thành hai loại: các khoản chi hoạt động thường xuyên và các khoản chi hoạt động không thường xuyên.

Chi hoạt động thường xuyên: Là các khoản chi thực hiện nhiệm vụ thường xuyên như sau:

  • Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công. Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, ngân sách nhà nước cấp bổ sung;
  • Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Đối với các nội dung chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Chi hoạt động không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành đối với từng nguồn kinh phí quy định tại Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí), Nguồn Ngân sách nhà nước cấp kinh phí thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; và Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

1.2.3.3. Quản lý việc trích lập các quỹ và phân phối kết quả tài chính

Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP thì Mức trích lập các Quỹ do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và các quy định tại Điều này. Sau khi trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp vẫn còn dư thì bổ sung vào các quỹ còn lại.

Kết thúc năm ngân sách, trước ngày 31 tháng 01 năm sau, đơn vị xác định số chênh lệch thu lớn hơn chi và trích lập các Quỹ theo quy định. Trong đó đối với Quỹ bổ sung thu nhập: Trường hợp số đã tạm chi trước thu nhập tăng thêm của đơn vị vượt quá số được trích lập Quỹ bổ sung thu nhập theo quy định, số chi vượt phải trừ vào nguồn Quỹ bổ sung thu nhập của năm trước còn dư (nếu có) và số dư Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi của đơn vị; nếu vẫn còn thiếu thì trừ vào nguồn Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi của năm sau hoặc trừ vào Quỹ tiền lương năm sau của đơn vị (nếu các Quỹ khác không còn nguồn). Trường hợp số đã tạm chi thấp hơn số được trích lập Quỹ bổ sung thu nhập theo quy định, đơn vị chi trả tiếp thu nhập tăng thêm cho người lao động hoặc để dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau, theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Sau khi quyết toán năm của đơn vị được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trường hợp số được trích lập Quỹ bổ sung thu nhập theo quy định có thay đổi (tăng hoặc giảm) so với số đơn vị xác định khi kết thúc năm ngân sách, đơn vị có trách nhiệm điều chỉnh lại số trích lập Quỹ bổ sung thu nhập, tương tự như khi kết thúc năm ngân sách nêu trên và theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

1.2.4. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá việc thực hiện và kết quả thực hiện các hoạt động tài chính, từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh (nếu cần thiết) nhằm đảm bảo để hoạch tài chính của bệnh viện được thực hiện đứng như dự kiến.Thanh tra, kiểm tra tài chính là nội dung tất yếu của quá trình quản lý tài chính, bởi vì quá trình thực hiện kế hoạch thu chi, do các lý do khách quan và chủ quan, không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến. Mục đích của giám sát, thanh tra, kiểm tra và đánh giá:

  • Tuân thủ thực hiện thu chi so với kế hoạch;
  • Phát hiện những vấn đề nảy sinh, các khác biệt giữa kế hoạch ngân sách và thực hiện kế hoạch;
  • Điều chỉnh kế hoạch và ngân sách cho phù hợp;
  • Nâng cao hiệu quả kinh tế;
  • Làm tiền đề cho kế hoạch trong tương lai
  • Công cụ giám sát, thanh tra, kiểm tra và đánh giá:
  • Công tác kế toán và sổ sách kế toán;
  • Kế hoạch ngân sách và chi tiêu thực tế;
  • Sổ theo dõi quỹ tiền mặt;
  • Bảng theo dõi thu, chi tài chính kế toán;
  • Sổ sách theo dõi tài sản cố định và tài sản khác,kho…
  • Bảng cân đối tài khoản Trong kiểm tra tài chính, công tác đánh giá là không thể thiếu. Đánh giá việc thực hiện kế hoạch tài chính giúp nhà quản lý thấy rõ kế hoạch đang được thực hiên đến mức độ nào, liệu có hoàn thành kế hoạch hay không, nguyên nhân, từ đó có biện pháp động viên hay sửa chữa cũng như rút kinh nghiệm quản lý.Trong hoạt động đánh giá thì nội dung đầu tiên là xác định hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá. Tuy nhiên các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính hiện nay chưa thống nhất và còn nhiều ý kiến trái chiều; đối với các bệnh viện công lập lại càng khó do đặc thù của nó là gắn bó giữa mục tiêu hiệu quả kinh tế và tài chính với mục tiêu công bằng trong cung cấp dịch vụ y tế cho nhân dân. Hướng đến thực hiện đồng thời cả mục tiêu hiệu quả tài chính và mục tiêu công bằng, hiện nay, người ta thường dùng một số tiêu chí đánh giá hoạt động tài chính của bệnh viện sau đây:
  • Mức độ cân đối tài chính: tổng số thu và chi tiêu hàng năm, cơ cấu các nguồn thu và sử dụng các nguồn thu;
  • Hiệu quả các hoạt động (khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học): so sánh kết quả thực tế với chi phí đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó;
  • Chất lượng chuyên môn: kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ, phương pháp điều trị, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ nhân lực của bệnh viện;
  • Hạch toán chi phí bệnh viện: liên quan đến chi phí kế koán và chi phí y tế;
  • Quy mô của bệnh viện: số chuyên khoa, số giường bệnh, số nhân viên y tế, mức độ tiếp cận các dịch vụ của nhân dân trên địa bàn.

1.2.5. Các công cụ quản lý tài chính tại bệnh viện công lập ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

1.2.5.1. Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước

Bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính tại các bệnh viện. Các văn bản pháp luật quy định các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính tại các bệnh viện. Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước thực hiện theo hướng tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các bệnh viện, đó là động lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài chính tại Bệnh viện.

1.2.5.2. Công tác kế hoạch

Công cụ này đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính tại đơn vị, nó đảm bảo cho các khoản thu chi tài chính của bệnh viện được đảm bảo. Căn cứ vào quy mô hoạt động, cơ sở vật chất, hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác năm báo cáo để làm cơ sở có sơ sở dự kiến năm kế hoạch cho bệnh viện. Dựa vào số liệu chi cho con người, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi quản lý hành chính, chi mua sắm, sữa chữa tài sản cố định…của năm báo cáo làm cơ sở dự kiến năm kế hoạch.

1.2.5.3. Quy chế chi tiêu nội bộ

Công cụ này đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý tài chính, nó đảm bảo các khoản thu chi tài chính của bệnh viện được thực hiện theo quy định. Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính. Thông qua quy chế chi tiêu nội bộ sẽ thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu, duy trì và khuyến khích mở rộng các nguồn thu, đảm bảo chi tiêu thống nhất trong toàn bệnh viện, thực hiện chi tiêu hợp lý, tiết kiệm. Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ viên chức trong đơn vị thực hiện và kho bạc nhà nước thực hiện nhằm kiểm soát chi.

1.2.5.4. Hạch toán, kế toán

Hạch toán kế toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính. Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số liệu hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của đơn vị phải chính xác và kịp thời.

1.2.5.5. Hệ thống thanh tra, kiểm tra

Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của các bệnh viện. Đồng thời phát hiện ngăn chặn những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính cho nên cần thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên nhằm giúp bệnh viện quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ, hiệu quả.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại bệnh viện công lập

1.3.1. Các yếu tố khách quan ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng dịch vụ công hướng tới mục tiêu chất lượng, công bằng và hiệu quả trong cung cấp dịch vụ công phù hợp với lộ trình cải cách hành chính Nhà nước và điều kiện thực tế của Việt Nam. Trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các ĐVSN và sửa đổi, bổ sung ở Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về cơ chế tự chủ của ĐVSNCL. Cơ chế tự chủ tài chính đã từng bước giảm thiểu sự can thiệp của các cơ quan quản lý Nhà nước, tạo điều kiện cho đơn vị chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ động phân bổ nguồn tài chính của đơn vị theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả; khuyến khích các đơn vị mở rộng hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu; tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho người lao động.

1.3.1.1. Môi trường chính trị

Dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào thì các tổ chức, cá nhân nào cũng

đều chịu ảnh hưởng bởi các quan điểm, thể chế chính trị, hệ thống quản lý vĩ mô của các tổ chức xã hội, quần chúng và các tổ chức khác. Hoạt động của các yếu tố này gây ảnh hưởng đến điều kiện hoạt động, uy tín của các đơn vị. Ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh được giữ vững được coi là một trong những tiền đề quan trọng cho mọi hoạt động của đơn vị.

1.3.1.2. Môi trường kinh tế xã hội

Thực trạng của nền kinh tế, xã hội và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các hoạt động tiếp sau này của các ĐVSN nói chung và ĐVSNCT nói riêng. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị luôn cần phải quan tâm và phân tích tới các nhân tố của nền kinh tế đó là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối hoái, tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp,… Vì các yếu tố này tương đối rộng và mức độ ảnh hưởng đến các hoạt động cũng khác nhau nên phải dự báo, đánh giá được mức độ tác động tốt hay không tốt của từng yếu tố đến hoạt động của đơn vị. Mỗi yếu tố có thể là cơ hội cũng có thể là thách thức đối với các đơn vị nên các đơn vị cần phải dự báo được sự biến động của các yếu tố này trong tương lai để xây dựng phương án hoạt động cho đơn vị mình cho phù hợp.

1.3.1.3. Cơ chế quản lý tài chính

Cơ chế quản lý tài chính là tổng thể các phương pháp, công cụ và hình thức tác động lên một hệ thống để liên kết phối hợp hành động giữa các bộ phận thành viên trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của quản lý. Quyết định sự thành công hay thất bại trong quản lý nói chung và trong quản lý thu – chi nói riêng, đó chính là phương pháp và công cụ quản lý. Cơ chế quản lý tài chính do Nhà nước ban hành bao gồm xây dựng nguồn thu và định mức thu, nội dung chi và định mức chi tiêu, cùng các quy định về cấp phát, kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập các quỹ tài chính của đơn vị nhằm phát huy vai trò của cơ chế tự chủ tài chính. Cơ chế quản lý tài chính ĐVSNCL tạo hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính, do đó ảnh hưởng đến tự chủ tài chính của đơn vị. Tùy loại hình

ĐVSNCT khác nhau sẽ có cơ chế quản lý tài chính khác nhau. Theo mức độ đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên có 03 loại ĐVSNCT đó là ĐVSNCT tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; ĐVSNCT tự bảo đảm chi thường xuyên và ĐVSNCT tự bảo đảm một phần chi thường xuyên. Mức độ tự chủ của các loại hình ĐVSN này khác nhau, do đó có những quy định về cơ chế tài chính khác nhau.

1.3.2. Các nhân tố chủ quan ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

1.3.2.1. Tính chất hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu trong nền kinh tế

Tính chất hoạt động của ĐVSNCT là đảm nhiệm vai trò cung cấp một số loại hình hoạt động công ích có tính chất thiết yếu cho cộng đồng đồng thời thực hiện các chính sách thúc đẩy văn hóa xã hội nhằm thu hút tối đa nguồn lực cho xã hội dưới sự giám sát và quản lý của Nhà nước. Vì thế, hoạt động của các ĐVSNCT có ảnh hưởng rất lớn đối với toàn xã hội. Thời gian qua, các ĐVSNCT đã đóng góp nhiều cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế xã hội của đất nước. Thể hiện:

  • Cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội trên các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao,…nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
  • Góp phần tăng nguồn lực cho NSNN thông qua hoạt động thu phí và lệ phí theo quy định của Nhà nước.
  • Thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng; thực hiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; cung cấp các sản phẩm văn hóa, xã hội… cho toàn xã hội.

1.3.2.2. Công tác quản lý thu – chi tại bệnh viện

Tổ chức quản lý thu – chi tại các ĐVSNCT tốt mới có thể tạo thêm được nhiều nguồn thu và tăng thêm doanh thu trong những nguồn thu đã có. Đồng thời, sử dụng hợp lý các khoản chi trong điều kiện nguồn thu cho phép. Để công tác TCTC mang lại hiệu quả cao thì công tác tổ chức quản lý thu chi cần phải:

Đối với các nguồn thu: Phải tổ chức lập kế hoạch, dự toán thật khoa học, chính xác và kịp thời. Đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp đối với các nguồn thu từ phí, lệ phí (các nguồn thu không phải từ NSNN cấp) để tránh tình trạng thất thoát nguồn thu. Đối với các khoản chi: Nhằm đạt được tiêu chuẩn tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các khoản chi của các ĐVSNCT cần thiết phải tổ chức chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức, thường xuyên phân tích, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện các khoản chi của các ĐVSNCT nói riêng cũng như công tác tài chính của các ĐVSN nói chung.

1.3.2.3. Công tác kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của đơnvị

Trong quá trình thực hiện cơ chế TCTC ngoài những mặt tích cực vẫn còn tồn tại những sai sót khó tránh khỏi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ chế TCTC như phạm vi chế độ, chính sách, quản lý thu chi tài chính, hạch toán nhầm lẫn, sai sót nghiệp vụ…Vì vậy công tác kiểm tra, kiểm soát tại đơn vị là điều rất cấp thiết. Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của đơn vị gồm kiểm soát trong nội bộ đơn vị và kiểm soát ngoài đơn vị như kiểm tra của Bộ ngành chủ quản, của kiểm toán, của thanh tra, cơ quan thuế,…Việc kiểm tra, kiểm soát phải được tiến hành thường xuyên sẽ giúp cho đơn vị phát hiện kịp thời các sai sót và có biện pháp khắc phục, xử lý, giúp cho việc sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, đóng góp vào việc thực hiện tự chủ của đơn vị.

1.3.2.4. Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật

Khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. Ngày nay những tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ cao và hiện đại trong lĩnh vực khám chữa bệnh, chẩn đoán và điều trị đã mở ra cơ hội hiện đại hóa, phát triển bệnh viện cả về số lượng và chất lượng. Công nghệ và thiết bị phù hợp sẽ quyết định đến năng suất lao động, chất lượng dịch vụ, hiệu quả đào tạo và giảm các loại chi phí có liên quan. Vì thế, sự phát triển của khoa học công nghệ trong đơn vị là nhân tố quyết định tới sự phát triển của ĐVSN nói chung và ĐVSNCT nói riêng.

1.3.2.5. Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ, nhân viên trong đơn vị

Công tác tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ, nhân viên trong đơn vị hết sức quan trọng. Với bộ máy gọn nhẹ, tổ chức tốt bộ máy hoạt động, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, các bộ phận, bố trí lao động hợp lý, tinh giản những lao động thừa hoặc làm việc không hiệu quả, đội ngũ cán bộ nhân viên có năng lực, nhanh nhẹn được bố trí phù hợp với trình độ, năng lực sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị, thực hiện tăng thu tiết kiệm chi. Năng lực của cán bộ, viên chức trong đơn vị sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng công việc. Cán bộ quản lý có năng lực sẽ điều hành đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Cán bộ kế toán có trình độ chuyên môn giỏi sẽ giúp công tác quản lý tài chính, kế toán tại đơn vị đúng với quy định của Nhà nước, sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm, có hiệu quả.

1.3.2.6. Văn hóa bệnh viện, mối quan hệ giữa bệnh viện và khách hàng

Văn hoá bệnh viện, đặc biệt là mối quan hệ giữa bệnh viện với khách hàng trong cơ chế mới, mối quan hệ giữa bệnh viện và bệnh nhân là mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng sử dụng các dịch vụ đó. Mối quan hệ đó trước hết phụ thuộc vào năng lực chuyên môn và thái độ phục vụ của đội ngũ y bác sĩ, nhân viên bệnh viện. Khi cán bộ nhân viên bệnh viện có quan hệ tốt với khách hàng của mình, sẽ tạo được uy tín của bệnh viện trước xã hội, tạo khả năng và xu hướng phát triển bệnh viện trong tương lai. Với uy tín trong hoạt động khám chữa bệnh của mình, bệnh viện còn tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại; hoặc liên doanh, liên kết, mở rộng hợp tác đầu tư trong và ngoài nước. Để xây dựng văn hoá bệnh viện theo hướng phục vụ khách hàng, bệnh viện cần có những quy định cụ thể về thái độ và hành vi ứng xử, về y đức và về chuyên môn cho đội ngũ các y bác sĩ và nhân viên của bệnh viện, quan tâm đến công tác giáo dục và có cơ chế thưởng phạt nghiêm minh đối với những người vi phạm những quy định đó.

1.4. Kinh nghiệm về quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại bệnh viện công lập và giá trị rút ra đối với các bệnh viện công lập tại TP. Hồ Chí Minh

1.4.1. Kinh nghiệm quản lý tài chính ở một số nước Đông Nam Á ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Bệnh viện Tabanan Indonesia: Thực hiện mô hình bệnh viện tự chủ và hình thức tư nhân cùng hoạt động trên cùng một bệnh viện (Private wing), đó là hợp tác với các nhà đầu tư quốc tế Singaparore để mua sắm máy móc trang thiết bị kỹ thuật cao, tháng 9/2002; Hợp tác với Nhật bản cung cấp dịch vụ giường/phòng nghỉ theo yêu cầu, tháng 10/2004. Tất các các hình thức phối hợp công tư trên đều theo hình thức ký biên bản ghi nhớ. Bệnh viện đã xây dựng một chiến lược tăng thu và tăng hiệu suất công việc cân bằng nhau, đồng thời chú trọng xây dựng 148 thương hiệu của bệnh viện và tăng sự hài lòng của bệnh nhân đối với bệnh viện. Kết quả cho thấy, từ một bệnh viện kém chất lượng (trước), khi thực hiện tự chủ tài chính, bệnh viện đã cải thiện được chất lượng khá tốt, nguồn thu tài chính tăng lên và đạt lợi nhuận vào năm 2008. Năm 2009, bệnh viện đã được Tổng thống Indonesia trao tặng cup vàng với danh hiệu: “Bệnh viện chất lượng tuyệt vời”. Bệnh viện Ban Phaeo Thái Lan: Bệnh viện Ban Phaeo thực hiện quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính trong bối cảnh Thái Lan thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2008 – đảm bảo được các chức năng xã hội. Bệnh viện đã thành công trong việc nâng cao chất lượng và tăng nguồn thu bằng cách hấp dẫn bệnh nhân BHYT; thu phí dịch vụ cao hơn đối với các phòng hạng sang hơn; chính sách tiêu chuẩn lâm sàng như nhau cho tất cả bệnh nhân (bao gồm thuốc, xét nghiệm chẩn đoán, chẩn đoán hình ảnh); nhân viên bệnh viện không còn theo chế độ công chức và được bệnh viện tuyển dụng theo Luật tư nhân: tự do đặt mức lương nhân viên cao hơn để khích lệ nhân viên mà không gây ảnh hưởng tiêu cực như chi trả phí dịch vụ hoặc dựa theo lợi nhuận; Hội đồng chỉ đạo (Management Board) đã hoạt động hiệu quả trong việc giám sát quản lý và huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển của bệnh viện.

1.4.2. Kinh nghiệm quản lý tài chính tại một số Bệnh viện ở Việt Nam

Bệnh viện Bạch Mai: Bệnh viện Bạch Mai là một trong những bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh lớn nhất nước trực thuộc Bộ Y tế quản lý, có hạ tầng cơ sở khang trang, thiết bị y tế hiện đại đồng bộ, có đội ngũ giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, bác sỹ, kỹ sư, y tá, hộ lý và các nhân viên giàu kinh nghiệm. Ngày 26/12/2006 Bộ Trưởng Bộ Y tế ký quyết định số 5550/QD-BYT về giao quyền tự chủ tài chính cho Bệnh viện Bạch Mai từ 01/01/2007. Việc giao quyền tự chủ cho bệnh viện là một chủ trương đúng đắn, nước ta đã thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế do vậy việc phát triển các dịch vụ kỹ thuật cao để người dân không phải ra nước ngoài điều trị. Bệnh viện đã áp dụng chính sách xã hội hóa trong đầu tư trang thiết bị y tế chẩn đoán và phục vụ điều trị hiện đại: CT- Scanner, CT 64 dãy, máy chụp cộng hưởng từ, Gia tốc tuyến tính…các thiết bị này đang được sử dụng rất hiệu quả. Từ 01/07/2007 đến nay Bệnh viện đã giao quyền tự chủ tài chính đến tất cả các đơn vị có thu. Kết quả đạt được, giảm chi phí thất thoát chi phí thuốc, máu, dịch truyền, vật tư tiêu hao…xuồng mức thấp nhất, các đơn vị hạch toán đầy đủ, đúng chi phí đã sử dụng. Tiết kiệm chi phí hành chính, văn phòng phẩm, tiêu hao nguyên nhiên liệu, điện, nước.. Bước đầu có tích lũy, năm 2005 Bệnh viện bị thiếu nguồn là 15 tỷ Vnd (theo kết quả kiểm toán Nhà nước năm 2005). Sau 6 năm thực hiện tự chủ tài chính bệnh viện đã bù đắp được nguồn thiếu hụt và trích lập quỹ đầu tư phát triển sự nghiệp (năm 2011 hơn 29 tỷ VND; Năm 2012 hơn 34 tỷ VND), phục vụ nâng cấp máy móc trang thiết bị y tế theo hướng chuyên sâu, phù hợp với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật. Bệnh viện Phụ sản- Nhi Đà Nẵng: Bệnh viện Phụ sản- Nhi Đà Nẵng là bệnh viện chuyên khoa hạng I về lĩnh vực phụ sản và nhi đầu tiên của Thành phố Đà Nẵng. Bệnh viện là đơn vị sự nghiệp y tế tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thực hiện dựa trên nghị định 43/2006 và nghị định 16/2015 của Chính Phủ. Nhằm tăng thêm nguồn thu, Bệnh viện đã mở rộng khu khám bệnh, mở rộng thêm khu xét nghiệm.Về công tác quản lý tài chính: triển khai hạch toán kế toán trực tiếp trên máy, nhằm tiết kiệm được thời gian, tiết kiệm được lao động, mang tính chuyên môn hoá cao đồng thời áp dụng được phần mềm vào công tác quản lý tài sản theo tiêu chuẩn ISO. Cải tiến quy trình quản lý thu viện phí, áp dụng công nghệ thông tin vào công tác thu chi, nhằm đáp ứng kịp thời chính xác cho việc tổng hợp báo cáo, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân trong việc thanh quyết toán viện phí. Cụ thể là triển khai việc thu viện phí tại từng khoa phòng nhằm giảm phiền hà đi lại cho bệnh nhân và người nhà, Bệnh viện cũng tiết kiệm được điện sử dụng cho cầu thang máy để bệnh nhân đi lại, tiết kiệm được chi phí bảo trì bảo dưỡng, chi phí sữa chữa cầu thang máy. Xây dựng kế hoạch thu chi phù hợp với kế hoạch khám chữa bệnh của Bệnh viện, thực hiện thu đúng thu đủ, chống thất thu, tạo được kết dư quỹ ngày một tăng.

Từ đó có nguồn lực đầu tư trang thiết bị hiện đại, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Đồng thời cũng cải thiện được đời sống cho đội ngũ cán bộ công nhân viên để họ yên tâm công tác và phục vụ người bệnh. Năm 2016 nguồn thu sự nghiệp của bệnh viện là 246,262 tỷ đồng chiếm 76,8% tổng nguồn thu. Trong năm 2016, có hơn 50 Đoàn khách Quốc tế, các tổ chức phi chính phủ của các Quốc gia đến thăm và làm việc tại Bệnh viện như Nhật, Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Pháp, Úc, Thụy Điển, Mỹ, Pakistan, Ấn độ, Campuchia, Lào… với mục đích trao đổi kinh nghiệm, tìm hiểu các hoạt động, năng lực, nhu cầu trang thiết bị cũng như đào tạo, hướng phát triển của bệnh viện và ký kết các dự án và triển khai dự án.

1.4.3. Giá trị kinh nghiệm rút ra đối với các bệnh viện tại TP. Hồ Chí Minh ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

Trong mục tiêu đổi mới khu vực sự nghiệp công lập, đổi mới cơ chế tài chính là một nội dung đặc biệt quan trọng, là điều kiện then chốt để các đơn vị sự nghiệp tự chủ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công cũng như hiệu quả chi ngân sách. Tuy nhiên, hoạt động sự nghiệp diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp dẫn đến nhu cầu chi luôn gia tăng với tốc độ nhanh chóng trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn nên tiết kiệm để đạt hiệu quả trong phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính là vấn đề vô cùng quan trọng. Do đó việc phải tính toán sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề quan tâm hàng đầu của việc phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính.

Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại một số quốc gia và địa phương có thể rút ra một số kinh nghiệm là:

Thứ nhất, về phương pháp phân bổ kinh phí NSNN.

Cần đổi mới phương pháp phân bổ kinh phí NSNN cho các đơn vị sự nghiệp theo kết quả đầu ra; giao ngân sách gắn với nhiệm vụ và sản phẩm cuối cùng. Nhà nước giao ngân sách gắn với các hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật từng lĩnh vực, có sự phân biệt giữa cơ sở hoạt động có chất lượng hiệu quả với cơ sở kém chất lượng, không hiệu quả. Nhà nước thực hiện cơ chế đặt hàng đối các đơn vị.

Thứ hai, Các đơn vị cần tiếp tục đổi mới toàn diện.

Trong đó cốt lõi là: Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ mang tính chi tiết, đảm bảo tính công khai, dân chủ và công bằng; Xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của từng người lao động. Trong đó, chú trọng giải pháp chi trả thu nhập theo hiệu quả công việc, khuyến khích, hấp dẫn, thu hút người có năng lực, có trình độ.

Mặt khác, việc thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của đơn vị, nên các đơn vị cần phải thường xuyên rà soát, bổ sung chỉnh sửa quy chế chi tiêu nội bộ khi có sự thay đổi chính sách của nhà nước hay các định mức chi tiêu không phù hợp. Đồng thời, có những phương án cụ thể về xây dựng tiền lương, thu nhập theo hướng tăng thu nhập, đảm bảo đời sống của cán bộ viên chức và phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị.Thực hiện xây dựng quy chế khoản thu, khoản chi cho các đơn vị trực thuộc theo hướng tạo điều kiện cho các đơn vị mở rộng hoạt động tăng nguồn thu.

Đặc biệt là phải xây dựng được chiến lược tài chính hợp lý cho đầu tư cơ sở vật chất trong ngắn hạn và dài hạn; Coi trọng và tích cực tìm kiếm, thu hút nguồn lực tài chính từ các nguồn dự án, nguồn vốn viện trợ nước ngoài. Cùng với đó, các đơn vị cần xây dựng bộ máy, các chuyên gia, chuyên viên thực hiện các hoạt động tham mưu cho Thủ trưởng đơn vị về nội dung, biện pháp thực hiện, cung cấp các thông tin, các phương án lựa chọn để người lãnh đạo có thể ban hành các quyết định kịp thời, cần thiết.

Thứ ba, quy định trách nhiệm giải trình về tài chính giữa các cấp trong đơn vị.

Phân cấp quản lý tài chính cho các đơn vị trực thuộc, mở rộng cơ chế khoán, nhất là đối với chi hoạt động thường xuyên để các đơn vị chủ động nhiệm vụ được giao và nâng cao ý thức tiết kiệm, quản lý và sử dụng tài sản, thiết bị có hiệu quả.

Cùng với việc phân cấp và mở rộng khoản chi cho các đơn vị trực thuộc, các ĐVSNCL cần củng cố và hoàn thiện các quy định trách nhiệm giải trình về tài chính giữa các cấp trong đơn vị, tổ chức hoạt động kiểm soát nội bộ và công khai tài chính. Đây chính là cơ sở để đảm bảo cho công tác quản lý tài chính hiệu quả và minh bạch.

Thứ tư, tổ chức hoạt động kiểm tra giám sát nội bộ và công khai tài chính.

Kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính là một biện pháp đảm bảo cho các quy định về kế toán và các kỷ luật tài chính được chấp hành nghiêm chỉnh, các số hiệu được ghi chép chính xác, trung thực và có hệ thống. Để thực hiện giải pháp này thì từng đơn vị phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, xây dựng mục tiêu, lập kế hoạch và tiến hành kiểm tra giám sát.

Bên cạnh đó, kiểm tra giám sát phải đi kèm phân tích đánh giá tìm ra những ưu khuyết điểm, những khó khăn trở ngại để có hướng sử dụng các nguồn kinh phí đạt hiệu quả cao hơn.

Thứ năm, nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác quản lý tài chính. Năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính sẽ quyết định chất lượng, hiệu quả công tác hạch toán kế toán và công tác quản lý tài chính. Vì vậy nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính là yêu cầu cấp thiết đối với các đơn vị SNCL trên địa bàn tỉnh.

Để đạt được mục tiêu nâng cao năng lực của đội ngũ làm công tác quản lý tài chính, thì cần phải có kế hoạch tổng thể, thực hiện trong thời gian dài. Theo hướng này thì các giải pháp cần thực hiện như sau:

Xây dựng bộ máy quản lý tài chính sao cho tinh giản, gọn nhẹ, có tiêu chí tuyển dụng cho cán bộ mới, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ được phát huy năng lực, ứng dụng tin học vào công tác tài chính.

Thường xuyên cho cán bộ quản lý tài chính tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng các chế độ chính sách mới về quản lý tài chính nhất là các văn bản mới liên quan đến cơ chế quản lý tài chính và tự chủ tài chính, giúp cập nhập kiến thức, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. ( Luận văn: Công tác quản lý tài chính tại bệnh viện công lập )

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1, luận văn đã hệ thống hóa khung lý thuyết về bệnh viện công lập (khái niệm, các đặc điểm), trên cơ sở đó đi sâu hệ thống hóa khung lý thuyết về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiêp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập (khái niệm, vai trò, nội dung), chương này cũng mô tả các nhân tố ảnh hưởng và kinh nghiệm của một số bệnh viện trong quản lý tài chính, từ đó rút ra giá trị đối với các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh. Đây là nền tảng để phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện ở chương tiếp theo.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537