Nhận thức được tầm quan trọng của một nền kinh tế tuần hoàn và lợi ích đem lại đối với một quốc gia và cư dân toàn cầu, tác giả đã lựa chọn đề tài Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc là đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Trung Quốc là một trong những nước đi đầu trong việc thúc đẩy chuyển đổi nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn và đã đạt nhiều kết quả rất tích cực, chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc và bài học cho Việt Nam
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, xu hướng toàn cầu hóa, sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo tiền đề thúc đẩy nhiều ngành nghề phát triển, đặc biệt là các ngành công nghiệp sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn về kinh tế mà sự phát triển này đem lại, nhiều thách thức liên quan đến môi trường và sức khỏe con người cũng qua đó mà gia tăng. Chính vì thế, chủ đề phát triển bền vững đang ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm từ các học giả và quốc gia trên thế giới. Khi các vấn đề về môi trường càng tăng lên thì sức khỏe con người, đời sống sinh hoạt cũng ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng. Có thể tại thời điểm hiện tại, phần lớn cư dân toàn cầu vẫn có thể sống ổn định và đầy đủ, tuy nhiên trong một tương lai không xa, đặc biệt khi năng lượng, tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng khan hiếm, các quốc gia trên thế giới sẽ cạnh tranh về năng lượng và địa chiến lược ngày càng gay gắt hơn, sự thịnh vượng, an ninh toàn cầu và cuộc sống ổn định của phần lớn cư dân sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng.
Việc cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên và suy thoái hệ sinh thái môi trường phần lớn là do nền kinh tế thế giới hiện nay phần lớn hoạt động dựa trên nguyên lý một chiều – tuyến tính là “khai thác – sản xuất – thải bỏ”, cụ thể tài nguyên thiên nhiên sẽ được khai thác sau đó sử dụng để sản xuất ra sản phẩm cho người tiêu dùng và cuối cùng bị thải bỏ khi hết giá trị sử dụng. Việc nền kinh tế vận hành theo nguyên lý như vậy gây ra sự tích lũy về rác thải và làm cạn kiệt dần nguồn tài nguyên hữu hạn của thiên nhiên. Trong một nghiên cứu của Viện Rocky Mountain tại Mỹ vào năm 2000 thì các nhà sản xuất toàn cầu sử dụng khoảng 500 tỷ tấn nguyên liệu tự nhiên đầu vào nhưng chỉ có 1% trong số đó sản xuất ra các sản phẩm sử dụng lâu dài, 99% còn lại sẽ bị thải ra môi trường bên ngoài sau 6 tháng sử dụng. Lượng tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên toàn cầu đã tăng lên gấp tám lần trong thế kỷ qua do sự tăng trưởng dân số và thu nhập toàn cầu (UNEP, 2016). Liên Hợp Quốc dự đoán tăng trưởng dân số sẽ tăng lên gần 10 tỷ người đến năm 2050 và nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên toàn cầu theo đó cũng sẽ tăng gấp ba lần. Theo nghiên cứu của Earth Overshoot Day, con người hiện đang sử dụng nhiều hơn 60% tài nguyên thiên mà Trái đất có thể cung cấp, nếu cứ tiếp tục duy trì mức độ sử dụng tài nguyên như hiện tại thì đến năm 2050 nhân loại sẽ phải cần thêm 1 Trái đất nữa mới có thể cung cấp đủ tài nguyên cho nhân loại. Nếu cứ tiếp tục tăng trưởng như vậy thì trong tương lai tài nguyên thiên nhiên toàn cầu sẽ bị cạn kiệt, môi trường tự nhiên sẽ bị phá hủy hoàn toàn, biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, đa dạng sinh học sẽ mất đi, chiến tranh, khủng hoảng… Nhận thức rõ được thách thứ vô cùng lớn này, nhiều nước chính phủ trên thế giới đã đặt ra những chính sách và quyết tâm cụ thể để chuyển dần sang mô hình kinh tế tuần hoàn (Circular Economy), tiêu biểu như Chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn đến năm 2050 của Hà Lan, Lộ trình kinh tế tuần hoàn 2.0 của Phần Lan, Chiến lược quốc gia về phát triển nền kinh tế tuần hoàn của Đan Mạch,… Nếu tuân thủ đúng theo như kế hoạch này khi hoàn toàn thay đổi sự vận hành của nền kinh tế cũ sang nền kinh tế tuần hoàn sẽ đem lại những lợi ích về kinh tế cũng như môi trường đối với không chỉ các quốc gia này mà còn đối với toàn cầu.
Trung Quốc là một trong những nước đi đầu trong việc thúc đẩy chuyển đổi nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn và đã đạt nhiều kết quả rất tích cực. Bước đánh dấu sự chuyển mình của nền Kinh tế Trung Quốc là Chính sách Cải cách và Mở cửa được thực hiện năm 1978 – như một tín hiệu của sự chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Kể từ đó, sự phát triển kinh tế Trung Quốc có một bước nhảy vọt. Tuy nhiên, mặc dù mô hình tăng trưởng kinh tế này đã đưa hàng trăm triệu người Trung Quốc thoát khỏi đói nghèo, nhưng cũng ngày càng cho thấy đây không phải là một mô hình bền vững – vì các nguyên nhân từ kinh tế, tài chính, xã hội và môi trường địa phương. Một trong những hệ lụy của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh trong thời gian khá dài ở Trung Quốc là tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Như năm 2010, ngành công nghiệp liên quan đến kim loại thô (bao gồm kim loại đen, kim loại màu) tạo ra 1,8 tỷ chất thải rắn công nghiệp và thải ra 2,73 triệu tấn SO2. Hay về tình trạng nước, theo báo cáo vào tháng 1 năm 2015, 29% tổng lượng nước bề mặt bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau, trong đó có 11% lượng nước bề mặt bị ô nhiễm nặng (Envrinmental Mornitoring Station of PR China, 2015). Trong khi đó Trung Quốc chỉ nắm giữ một lượng tài nguyên bình quân đầu người thấp, với 1/4 tài nguyên nước bình quân đầu người trên thế giới, 1/3 diện tích đất trên đầu người trên thế giới và 1/2 tài nguyên khai thác trên đầu người của thế giới (Qian, 2009, Sun , 2010) (trong khi dân sô Trung Quốc chiếm 1/5 dân số thế giới). Đây là lý do buộc nước này phải tìm kiếm một mô hình phát triển tiết kiệm tài nguyên và có lợi cho môi trường – thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Nhân thức được điều này, Chính phủ Trung Quốc đã có những bước đi quan trọng như thông qua Luật thúc đẩy kinh tế tuần hoàn với mục tiêu sử dụng tối ưu tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững. Theo tính toán, với việc áp dụng các nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn có thể tạo ra những hàng hóa và dịch vụ với giá phải chăng hơn đối với các cư dân đô thị, giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính 23% và tình trạng tắc nghẽn giao thông 47% vào năm 2040. Thống kê cho thấy trong giai đoạn 1980-2010, quy mô kinh tế Trung Quốc đã mở rộng 18 lần, song tiêu thụ năng lượng chỉ tăng 5 lần. Đây là một trong những thành quả tích cực khiến cho quốc gia đông dân nhất thế giới này tiếp tục nỗ lực đẩy mạnh phát triển kinh tế tuần hoàn trong thời gian tới.
Tại Việt Nam, khái niệm kinh tế tuần hoàn hiện nay còn chưa phổ biến rộng rãi, Việt Nam cũng chưa có mô hình kinh tế tuần hoàn nào được thiết lập. Chúng ta mới dừng lại ở bước tái sử dụng, tái chế chất thải mang lại lợi ích về tài chính cho cơ sở sản xuất và tiêu dùng chứ chưa có một hình dung cụ thể nào về kinh tế tuần hoàn. Hiện nay, kinh tế tuần hoàn được coi là xu hướng phát triển bền vững trên thế giới. Trong khi đó Việt Nam lại là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao nhận thức và hành động phát triển bền vững với những mô hình như thu gom tái chế sắt vụn, thu gom tái chế giấy, vườn – ao – chuồng, thu hồi gas từ chất thải vật nuôi…Mặc dù chưa rõ ràng và còn rất sơ bộ nhưng các mô hình này đều đã bước đầu tiếp cận với kinh tế tuần hoàn.
Nhận thức được tầm quan trọng của một nền kinh tế tuần hoàn và lợi ích đem lại đối với một quốc gia và cư dân toàn cầu, tác giả đã lựa chọn đề tài “Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc và bài học cho Việt Nam” là đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Việc lựa chọn nền kinh tế tuần hoàn là yêu cầu tất yếu nhằm khắc phục hạn chế của mô hình tăng trưởng truyền thống, gắn với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nền kinh tế tuần hoàn cũng đòi hỏi nhiều điều kiện khắt khe về thể chế, nguồn lực. Vì thế, việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi trước, chỉ ra những khó khăn, thuận lợi, từ đó soi chiếu vào Việt Nam, xác định các điều kiện để có thể chuyển đổi từ nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn là nội dung chủ yếu mà luận văn hướng đến.
Xuất phát từ những thành tựu Trung Quốc đã đạt được trong quá trình triển khai kinh tế tuần hoàn, cũng với sự tương đồng ở hai quốc gia về chế độ chính trị, nền văn hóa và nhiều khó khăn tương tự nhau trong quá trình cải cách mở cửa ở cả hai nước, tác giả đã lựa chọn Kinh tế tuần hoàn Trung Quốc là đối tượng để nghiên cứu trong luận văn. Đặc biệt khi Trung Quốc còn là top quy mô nền kinh tế lớn nhất trên thế giới, đã đặt ra cho Trung Quốc nhiều thách thức khi triển khai kinh tế tuần hoàn, và cách Trung Quốc giải quyết các bài toán đó sẽ là tấm gương phản chiếu để các nền kinh tế nhỏ hơn có thể thấy được mình một phần trong đó để học hỏi kinh nghiệm vận dụng vào quốc gia mình. Ngoài ra, Trung Quốc còn là một đất nước có quan hệ hợp tác kinh tế nhiều mặt và là đối tác chiến lược của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực. Việc thúc đẩy hợp tác với Trung Quốc trong các lĩnh vực tiêu biểu sẽ giúp Việt Nam tiếp cận được những công nghệ và những giải pháp tương lai cho môi trường và kinh tế – là những vấn đề nan giải hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Đây cũng là hình thức đi tắt, đón đầu trong thời đại công nghệ 4.0 phát triển rất nhanh. Việc này cũng sẽ giúp cho Việt Nam sớm đạt được mục tiêu trong quá trình triển khai kinh tế tuần hoàn. Đặc biệt với vị trí là quốc gia láng giềng cũng sẽ giúp cho Việt Nam dễ dàng hơn khi tiếp nhận sự giúp đỡ từ Trung Quốc nhờ lợi thế về mặt địa lý.
Có thể bạn quan tâm:
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
a.Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Khái niệm Kinh tế tuần hoàn lần đầu tiên được biết đến nhiều nhất trong báo cáo của Stahel và Ready năm 1976 về lĩnh vực công nghiệp chế tạo ô tô và xây dựng với những lập luận rằng một nền kinh tế với các vòng tuần hoàn khép kín ưa thích việc tái sử dụng, ưa thích sửa chữa và tái sản xuất hàng hóa hơn là sản xuất hàng hóa mới. Sau đó cùng với sự phát triển của Kinh tế tuần hoàn đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể của các công trình nghiên cứu trong vài năm gần đây. Theo nghiên cứu của Jose Luis Ruiz Real, Juan Uribe-Toril, Jaime De Pablo, Juan Carlos Gázquez-Abad (2018), chỉ trong giai đoạn từ 2014 – 2017, số lượng bài báo học thuật được xuất bản liên quan đến Kinh tế tuần hoàn đã tăng từ 27 bài báo vào năm 2014 lên đến 371 bài báo vào năm 2017, tức tăng 1275% chỉ trong ba năm. Cũng theo báo cáo này, Trung Quốc dẫn đầu bảng xếp hạng các quốc gia có ảnh hưởng nhất, cả về số lượng bài báo (21%) và số trích dẫn (23,8%), tiếp theo là Vương quốc Anh với 102 bài báo (10,6%). Điều này có thể thấy tầm quan trọng của chủ đề này đối với Trung Quốc trong những năm gần đây, không chỉ trong lĩnh vực học thuật và nghiên cứu, mà còn vì chiến lược phát triển bền vững do chính quyền trung ương Trung Quốc đề xuất, nhằm nâng cao hiệu quả của vật liệu và sử dụng năng lượng.
Một số nghiên cứu tiêu biểu về Kinh tế tuần hoàn có thể kể đến:
- Hai báo cáo của viện nghiên cứu Ellen-MacArthur-Foundation vào năm 2012 và Hai nghiên cứu đã nêu ra những hạn chế của nền Kinh tế tuyến tính và đánh giá những rủi ro mà nó gây ra đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tiếp đến là đưa ra khái niệm về Kinh tế tuần hoàn, nguồn gốc và những thành công ban đầu của một số mô hình kinh doanh tuần hoàn và cách chúng thúc đẩy việc tạo ra giá trị. Từ đó đưa ra các đề xuất cho lộ trình chuyển đổi nhanh chóng sang nền kinh tế tuần hoàn.
- Bài nghiên cứu của Ml Arpin (2015) đã chỉ ra Kinh tế tuần hoàn là một khái niệm thường được trình bày như một sự thay thế cho ‘nền kinh tế tuyến tính’, mà theo một số bên liên quan nhất định đồng nghĩa với cách tiếp cận ‘tận dụng’. Nó thường được gắn với bối cảnh khủng hoảng kinh tế và môi trường sắp xảy ra. Trong tổng quan tài liệu này, các yếu tố chính sau đây đã được nghiên cứu: – Một tổng quan chung về các khái niệm chính liên quan làm nền tảng cho Nền Kinh tế tuần hoàn, bao gồm các định nghĩa, nguyên tắc, cách thực hiện và các rào cản; định vị Kinh tế tuần hoàn theo phạm vi và tính cụ thể, cách tiếp cận bền vững và tư duy tuần hoàn. Quan niệm về Kinh tế tuần hoàn từ các quan điểm lịch sử và khái niệm.
- Bài Nghiên cứu của Julian Kirchherr và P. Hekkert (2017) đã tạo ra sự minh bạch về cách hiểu hiện tại về khái niệm kinh tế tuần hoàn. Qua việc tập hợp 114 định nghĩa về nền kinh tế tuần hoàn từ các bài nghiên cứu, bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng nền kinh tế tuần hoàn thường được mô tả là sự kết hợp của các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế, trong khi thường không nhấn mạnh rằng Kinh tế tuần hoàn đòi hỏi một sự thay đổi có hệ thống. Bài viết cũng cho thấy rằng các định nghĩa cho thấy ít có mối liên hệ rõ ràng giữa khái niệm kinh tế tuần hoàn với phát triển bền vững. Mục tiêu chính của nền kinh tế tuần hoàn được coi là sự thịnh vượng kinh tế, tiếp theo là chất lượng môi trường; tác động của nó đối với công bằng xã hội và các thế hệ tương lai hầu như không được đề cập đến.
- Bài nghiên cứu của Naustdalslid, J (2017) thảo luận về chính sách của Trung Quốc trong việc phát triển một nền kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, bài viết cũng đưa những điểm nghẽn và thách thức cần đối mặt với việc thực hiện Kinh tế tuần hoàn trong bối cảnh kinh tế xã hội.
- Bài nghiên cứu của Su, B.; Heshmati, A.; Geng, Y.; Xiaoman, Y (2013) cũng cung cấp một đánh giá tổng thể về Kinh tế tuần hoàn bao gồm khái niệm, thực hành và đánh giá. Ngoài ra, thông qua việc xem xét thực hiện Kinh tế tuần hoàn ở 1 thành phố cụ thể nghiên cứu cũng xác định được những vấn đề và thách thức cơ bản đối với việc triển khai kinh tế tuần hoàn và đưa các khuyến nghị về chính sách để cải thiện trong tương lai. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
b. Tình hình nghiên cứu trong nước
Về phía các nghiên cứu bằng tiếng Việt, các nghiên cứu về Kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam còn khá ít do đây là chủ đề nghiên cứu khá mới. Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như dưới đây:
- Bài nghiên cứu của tác giá Nguyễn Hoàng Nam, Hoàng Thị Huệ, Nguyễn Thị Bích Phương (2019) đăng trong Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội đã chỉ ra cách thức phát triển kinh tế truyền thống thường đặt ra bài toán phải đánh đổi giữa lợi ích kinh tế và môi trường. Vì đó là cách thức của mô hình kinh tế tuyến tính, dựa vào khai thác tài nguyên làm đầu vào cho quá trình sản xuất, phục vụ tiêu dùng và cuối cùng là thải loại, dẫn đến suy giảm tài nguyên thiên nhiên và gia tăng chất thải gây ô nhiễm môi trường. Kinh tế tuần hoàn là sự thay đổi về triết lý phát triển, hướng tới phục hồi và tái tạo, từ đó giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và hạn chế rác thải, trong khi không hề xem nhẹ phát triển kinh tế. Bài viết này phân tích sự khác nhau giữa kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn. Đặc biệt, bài viết làm rõ tính tất yếu của sự chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn, vốn đang trở thành xu hướng diễn ra tại rất nhiều nước trên thế giới
- Bài nghiên cứu của tác Nguyễn Hoàng Nam và Nguyễn Trọng Hạnh (2019) Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường đăng trong Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội: Kinh tế và Kinh doanh. Bài viết tổng hợp lịch sử khái niệm và phân tích kinh nghiệm thực hiện kinh tế tuần hoàn của một số quốc gia tiêu biểu. Theo đó, kinh tế tuần hoàn không phải là một mô hình đồng nhất cho cả nền kinh tế, mà nó là nhiều mô hình khác nhau được xây dựng theo cùng một triết lý, đó là triết lý tái tạo và khôi phục. Những kinh nghiệm quốc tế được tổng hợp trong bài viết là cơ sở để rút ra một số gợi ý chính sách cho Việt
- Bài nghiên cứu của Huỳnh Trung Hải, Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Hoàng Nam (2020) thuộc Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường và Đại học Bách Khoa Hà Nội. Bài viết đã trình bày tình hình phát sinh chất thải và quản lý chất thải ở Việt Nam – quốc gia có thu nhập trung bình tăng trưởng nhanh nhất trong 30 năm qua. Cùng với sự phát triển đó, Việt Nam đang phải đối mặt với sự gia tăng chất thải ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là chất thải sinh hoạt trong khi cơ sở hạ tầng để quản lý chất thải chưa đáp ứng đủ. Việt Nam cũng chưa có bộ luật riêng biệt về Kinh tế tuần hoàn, tuy nhiên sự cần thiết của việc tuần hoàn các nguồn lực tự nhiên đã được nhấn mạnh trong một vài văn bản pháp lý nhỏ khác và một số mô hình nhỏ về tái sử dụng và tái chế đã được thực hiện. Thực tế thì lượng nguyên liệu được tái chế của Việt Nam vẫn còn khá thấp so với tổng số nguyên liệu đầu vào. Trong tương lai gần, Việt Nam vẫn sẽ tập trung vào chính sách 3R để xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc trước khi áp dụng mô hình Kinh tế tuần hoàn và hướng đến là đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
Ngoài một số bài báo khoa học kể trên, thông tin về Kinh tế tuần hoàn chủ yếu là các bài báo nhỏ lẻ được tổng hợp đưa tin và nhìn chung đều đưa ra nhận định xu thế phát triển của Kinh tế tuần hoàn là không thể phủ nhận, rằng đây là một mô hình với nhiều ưu điểm vượt trội. Đặc biệt, với điều kiện và đặc điểm của Việt Nam như hiện nay, việc triển khai Kinh tế tuần hoàn cần được xem xét một cách cẩn trọng và cân nhắc kĩ.
Nhìn chung các nghiên cứu bằng Tiếng Việt ở Việt Nam mới chỉ tập trung chủ yếu ở các bài báo mà ít thấy xuất hiện trong các công trình nghiên cứu quy mô lớn hơn.
Từ những tổng hợp trên có thể thấy, các nghiên cứu cả trong và ngoài nước đều đã đạt được những kết quả nhất định về Kinh tế tuần hoàn. Từ thực tế này, bài luận văn sẽ kế thừa những thành quả đã có từ những nghiên cứu trước về các chính sách triển khai Kinh tế tuần hoàn tại các quốc gia trên thế giới, tập trung cụ thể hơn ở Trung Quốc, những ưu nhược điểm cũng như những khuyến nhị tham khảo đối với Việt Nam kết hợp cùng những kiến thức tác giả tự nghiên cứu, cập nhật và tổng hợp để thực hiện và hoàn thiện nội dung luận văn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc triển khai kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Các nhiệm vụ nghiên cứu gồm có:
- Làm rõ cơ sở lý luận về kinh tế tuần hoàn.
- Làm rõ các biện pháp và điều kiện cần để triển khai kinh tế tuần hoàn
- Phân tích quá trình triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc, từ đó rút ra bài học để áp dụng cho Việt
- Làm rõ thực trạng nền kinh tế tuần hoàn tại Việt
- Đưa ra một số khuyến nghị về việc triển khai kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam Để đạt được mục đích nghiên cứu và thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên, luận văn đã trả lời các câu hỏi nghiên cứu:
- Kinh tế tuần hoàn là gì?
- Vì sao cần triển khai kinh tế tuần hoàn?
- Các bước để triển khai kinh tế tuần hoàn là gì?
- Trung Quốc đã triển khai kinh tế tuần hoàn như thế nào?
- Bài học rút ra từ kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc mà Việt Nam có thể áp dụng?
- Việt Nam cần có những điều kiện gì để áp dụng được bài học kinh nghiệm trên?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cách Trung Quốc triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn từ năm 1990 đến 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu: ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để triển khai với nguồn dữ liệu thu thập từ năm 1990 đến 2020 từ các Tổ chức uy tín trên thế giới, được triển khai thông qua các phương pháp chi tiết hơn bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống hóa, cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của khóa luận. Cụ thể là được sử dụng để đi sâu vào tìm tòi, trình bày các lí thuyết, quan điểm về Kinh tế tuần hoàn dựa trên sự kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước (chương 1); Phân tích và làm rõ quá trình triển khai Kinh tế tuần toàn ở Trung Quốc (chương 2), ở Việt Nam (chương 3) thông qua chính sách liên quan; Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt
- Phương pháp so sánh được áp dụng chủ yếu ở chương 3 trong việc rút ra bài học kinh tế đối với Việt Nam từ kinh nghiệm của Trung Quốc.
- Phương pháp hệ thống hóa: Được sử dụng xuyên suốt toàn bộ khóa luận nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận văn theo một trình tự, một bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận văn.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và phần phụ lục, bài luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về kinh tế tuần hoàn và triển khai kinh tế tuần hoàn
Chương 2: Thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc Chương 3: Điều kiện áp dụng bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc tại Việt Nam
Chương 3: Điều kiện áp dụng bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn của trung quốc tại việt nam
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN VÀ TRIỂN KHAI KINH TẾ TUẦN HOÀN
1.1. Lý thuyết chung về Kinh tế tuần hoàn
- Khái niệm Kinh tế tuần hoàn
Kinh tế tuần hoàn không phải là một khái niệm mới. Schivelbusch (2015) chỉ ra rằng những ý tưởng đầu tiên về tuần hoàn vật liệu đã xuất hiện trong nông nghiệp từ thế kỷ XVIII. Tới năm 1966, Boulding so sánh Trái đất như một tàu vũ trụ trong không gian và đưa ra luận điểm rằng một hệ thống Kinh tế tuần hoàn là bắt buộc để duy trì sự tồn tại bền vững của con người trên Trái đất. Tuy nhiên, được biết đến nhiều nhất là báo cáo của Stahel và Ready năm 1976 về lĩnh vực công nghiệp chế tạo ô tô và xây dựng, với ý tưởng cốt lõi là việc kéo dài vòng đời sản phẩm sẽ giúp tiết kiệm năng lượng và sức lao động của ngành này. Từ đó, họ lập luận rằng một nền kinh tế với các vòng tuần hoàn khép kín, ưa thích viêc tái sử dụng, ưa thích sửa chữa và tái sản xuất hàng hóa hơn là sản xuất hàng hóa mới sẽ có tác động tích cực trong việc tạo việc làm, cạnh tranh kinh tế, tiết kiệm tài nguyên. Đây là một quan điểm mới có tính đột phá ở thời điểm đó. Những năm sau, khái niệm Kinh tế tuần hoàn tiếp tục trải qua nhiều bước thay đổi để phát triển toàn diện hơn. Tới gần đây, Kirchherr, Reike và Hekkert (2017) thống kê rằng đã có tới 114 cách hiểu về Kinh tế tuần hoàn được đưa ra. Trong đó có cả những cách hiểu đơn giản như Kinh tế tuần hoàn là giảm phát thải, đến những khái niệm phức tạp hơn như 3R và 4R. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
Đến nay, được thừa nhận rộng rãi nhất là khái niệm Kinh tế tuần hoàn do tổ chức Ellen MacArthur Foundation trình bày tại Hội nghị Kinh tế toàn cầu năm 2012. Theo đó, Báo cáo về kinh tế tuần hoàn của Quỹ Ellen MacArthur năm 2012 đã định nghĩa “Kinh tế tuần hoàn là một hệ thống có tính tái tạo và khôi phục thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động. Nó thay thế khái niệm ‘kết thúc vòng đời’ của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tổn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải thông qua việc thiết kế vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả các mô hình kinh doanh trong phạm vi của nó. Đó là một nền kinh tế công nghiệp được thiết kế để hoạt động dựa trên nguyên tắc tự tái tạo hoặc tự phục hồi nhằm mục đích giảm lượng khai thác tài nguyên, giảm thiểu chất thải, cải thiện hiệu suất sử dụng tài nguyên và giảm tác động của biến đổi khí hậu đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp. Những sản phẩm cuối đời thay vì bị thải bỏ sẽ được khôi phục, năng lượng sử dụng trong sản xuất sẽ được chuyển dịch theo hướng năng lượng tái tạo, nguyên vật liệu không dùng các hóa chất độc hại gây ảnh hưởng tới việc tái sử dụng. Mục tiêu giảm thiểu chất thải sẽ đạt được thông qua việc thiết kế lại vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả các mô hình kinh doanh. Nền kinh tế này đem lại những lợi ích chiến lược và có tiềm năng to lớn để tạo ra giá trị trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, môi trường và xã hội” (Ellen MacArthur Foundation, 2012).
Cùng quan điểm đó, Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) năm 2017 cũng cho rằng “Kinh tế tuần hoàn là một cách mới để tạo ra giá trị, và hướng tới mục tiêu cao nhất là sự thịnh vượng. Nó hoạt động bằng cách kéo dài vòng đời sản phẩm thông qua việc cải tiến thiết kế và bảo dưỡng, chuyển chất thải từ điểm cuối chuỗi cung ứng trở lại điểm đầu – qua đó, sử dụng các tài nguyên hiệu quả hơn bằng cách sử dụng nhiều lần chứ không chỉ một lần”.
Tổng kết các khái niệm Kinh tế tuần hoàn hiện đại, Geissdoerfer và cộng sự (2017) đã đưa ra một cách nhìn cụ thể về Kinh tế tuần hoàn, đó là “một hệ thống mà trong đó tài nguyên đầu vào và chất thải, phát thải, hao hụt năng lượng được giảm thiểu thông qua việc làm chậm, làm hẹp và đóng kín các vòng vận động của vật liệu và năng lượng. Điều này có thể đạt được thông qua các thiết kế có tính dài hạn, bảo dưỡng, sửa chữa, tái sử dụng, tái sản xuất, làm mới và tái chế”.
Một số định nghĩa về nền kinh tế tuần hoàn của các học giả nổi tiếng trên thế giới như Geng và Doberstein vào năm 2008 giải thích khái niệm kinh tế tuần hoàn theo kinh nghiệm của Trung Quốc, mô tả nền Kinh tế tuần hoàn là sự luân hồi nguyên vật liệu khép kín trong hệ thống kinh tế (Yong Geng và Brent Doberstein, 2008). Webster năm 2015 cho rằng một nền kinh tế tuần hoàn là nền kinh tế được thiết kế để tự phục hồi và nhằm mục đích giữ cho các sản phẩm, linh kiện và nguyên liệu luôn ở trạng thái tốt nhất, cốt lõi của kinh tế tuần hoàn là nguồn nguyên liệu đầu vào phải có sự tuần hoàn và phải có nhiều giai đoạn để sử dụng nguồn nguyên liệu đó (Ken Webster, 2015). Bocken và cộng sự năm 2016 định nghĩa kinh tế tuần hoàn là chiến lược, mô hình và thiết kế kinh doanh làm chậm, đóng và thu hẹp các chu trình sử dụng tài nguyên (Nancy Bocken, 2016).
Dựa trên những định nghĩa khác nhau này, có thể hiểu nền Kinh tế tuần hoàn là một nền kinh tế hoạt động dựa trên nguyên lý tự tái tạo, trong đó nguyên liệu đầu vào (tài nguyên thiên nhiên, năng lượng,…), các loại chất, phát thải được giảm thiểu bằng cách làm chậm, đóng và thu hẹp các vòng năng lượng và vật liệu. Để đạt được điều này các sản phẩm cần có sự thiết kế, bảo trì, sửa chữa, tái sử dụng, tái sản xuất, tân trang và tái chế lâu dài. Điều này trái ngược với một nền kinh tế tuyến tính là mô hình sản xuất, tiêu thụ, loại bỏ. Trong khi một nền kinh tế tuyến tính lấy nguyên liệu thô, tiêu thụ chúng và thải ra chất thải, thì nền kinh tế tuần hoàn làm giảm nguyên liệu thô, giảm tiêu thụ và khuyến khích tái chế chất thải để vật liệu bị loại bỏ giảm đến mức nhỏ nhất (Hình 1.1). Việc này đòi hỏi tất cả những người tham gia trong quá trình tiêu thụ (nhà sản xuất, vận chuyển, người tiêu dùng và cơ quan quản lý, xử lý chất thải) phải thay đổi tư duy về nguồn gốc và cách sử dụng, thải bỏ của các sản phẩm trong nền kinh tế. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
Các nguyên tắc và mô hình cơ bản của nền Kinh tế tuần hoàn
- Nguyên tắc của nền Kinh tế tuần hoàn
Từ khái niệm trên có thể thấy Kinh tế tuần hoàn không phải là một mô hình đồng nhất cho cả nền kinh tế, mà nó là nhiều mô hình khác nhau được xây dựng theo cùng một triết lý, đó là triết lý tái tạo (Regeneration) và khôi phục (Restoration). Kinh tế tuần hoàn có các nguyên tắc cơ bản, gồm:
Thứ nhất, trong nền kinh tế tuần hoàn, không có khái niệm chất thải. Chất thải sẽ không tồn tại nếu các thành phần cấu tạo hóa học và kỹ thuật của sản phẩm được thiết kế để có thể tái sản xuất, dễ dàng tách rời, tái sử dụng và tái gia nhập thị trường. Nếu phải thải ra môi trường, các sản phẩm tuần hoàn ưu tiên sử dụng các vật liệu sinh học không độc hại và có thể dễ dàng hấp thu vào đất bằng cách phân hủy hoặc phân hủy kỵ khí, cũng có thể tạo ra các chất có giá trị cao hơn trước khi phân hủy. Vật liệu kỹ thuật như polyme, hợp kim và các vật liệu nhân tạo khác, được thiết kế để có thể phục hồi trạng thái ban đầu và nâng cấp, giảm thiểu đầu vào năng lượng cần thiết và tối đa hóa việc duy trì giá trị về cả kinh tế và tài nguyên. Đây là một sự khác biệt cơ bản so với phương pháp tái chế trong nền kinh tế tuyến tính, các sản phẩm được tái chế thì sẽ không đảm bảo được giá trị như ban đầu so với các sản phẩm được thiết kế ngay từ đầu để tái sử dụng dẫn đến suy giảm giá trị nhanh chóng. Không giống như các sản phẩm đang bán hiện nay, các sản phẩm tạo ra trong nền kinh tế tuần hoàn phần lớn được làm từ các thành phần sinh học không độc hại và thậm chí có thể có lợi với môi trường và an toàn khi đưa ra hệ sinh thái. Các vật liệu như động cơ hoặc máy tính được làm từ các nguyên liệu kỹ thuật không thể đưa ra hệ sinh thái như kim loại và các loại nhựa được thiết kế từ đầu để tái sử dụng và các sản phẩm công nghệ được thiết kế để dễ dàng nâng cấp.
Thứ hai, nền kinh tế tuần hoàn cần có tính linh hoạt và thích ứng cao. Các hệ thống sản xuất trong nền Kinh tế tuần hoàn cần trở nên linh hoạt hơn để có thể sử dụng nhiều nguyên liệu đầu vào khác nhau cùng một lúc giúp tăng khả năng chống chịu trước những tình huống khan hiếm nguồn tài nguyên hoặc khi đối mặt với các cuộc khủng hoảng bên ngoài so với các hệ thống hiện tại được xây dựng đơn giản để tối đa hóa sản lượng và năng suất.
Thứ ba, nền kinh tế tuần hoàn hoạt động bằng các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời,…Các hệ thống sản xuất phải thay thế việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất, vận hành, chế biến… bằng các loại năng lượng tái tạo. Các hệ thống phân phối được tích hợp vào nền kinh tế tuần hoàn sẽ làm giảm nhu cầu đầu vào nhiên liệu hóa thạch và thu được nhiều giá trị năng lượng hơn từ các sản phẩm phụ và rác thải. Khi tham gia vào hệ thống kinh tế tuần hoàn thì mức năng lượng sử dụng cũng sẽ giảm đi so với nền kinh tế tuyến tính, vì vậy sử dụng năng lượng tái tạo hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
Thứ tư, cần phải có tư duy hệ thống trong nền kinh tế tuần hoàn. Tư duy hệ thống là khả năng hiểu cách các bộ phận của một hệ thống tương tác để tạo ra hành vi của toàn bộ. Nắm rõ các bộ phận vận hành, ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào trong tổng thể nền kinh tế và mối quan hệ của tổng thể với các bộ phận là rất quan trọng trong nền kinh tế tuần hoàn. Nếu chỉ tư duy cục bộ mà không hiểu được cách cả hệ thống vận hành và phụ thuộc lẫn nhau như thế nào thì rất khó xác định nguyên nhân gốc rễ của vấn đề và tạo ra những cơ hội mới. Những thay đổi để hướng đến mô hình tuần hoàn đều cần thiết kế hệ thống bao gồm tất cả các yếu tố từ con người, sản phẩm, địa điểm, quy trình… Tất cả phải thiết kế lại để tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu các tác động tiêu cực.
Thứ năm, bảo tồn và phát triển vốn tự nhiên thông qua việc kiểm soát, nhằm sử dụng hợp lý các tài nguyên và tái tạo các hệ thống tự nhiên; đặc biệt là đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo. Việc kiểm soát không chỉ ở khâu đầu ra cuối mà đặc biệt được chú trọng ở khâu đầu vào, khi các nguồn tài nguyên được đưa vào hệ thống phải đảm bảo cố gắng kiểm soát ở mức tối thiểu nhất có thể, được sử dụng 1 cách tối ưu nhất trong quá trình sản xuất để lượng thải ra môi trường là ít nhất. Đặc biệt năng lượng tái tạo được thúc đẩy sử dụng thay thế các nguồn nhiên liệu truyền thống, nhằm giảm thiểu việc khai thác các nguồn tài nguyên hữu hạn .
Thứ sáu, tối ưu hóa lợi tức của tài nguyên bằng cách tuần hoàn các sản phẩm và vật liệu nhiều nhất có thể trong các chu trình kỹ thuật và sinh học. Nguyên tắc này nhấn mạnh 1 lần nữa về việc chất thải là khái niệm gần như không tồn tại trong Kinh tế tuần hoàn. Một chi phí tài nguyên khi bỏ ra cần đem lại lợi nhuận lớn nhất, khi không chỉ lưu thông theo 1 chiều, là chi phí tính trên một sản phẩm duy nhất mà sẽ được luân chuyển để vừa là đầu ra của quy trình này nhưng sẽ tiếp tục là đầu vào của quá trình khác, tiết kiệm chi phí nguyên liệu, tạo ra mức lợi tức tối đa nhất.
Thứ bảy, nâng cao hiệu suất chung của toàn hệ thống bằng cách tối thiểu hóa các ngoại ứng tiêu cực, thông qua thiết kế chất thải, thiết kế ô nhiễm ngay từ đầu của quá trình sản xuất. Ngay từ trước khâu sản xuất đầu vào, Kinh tế tuần hoàn đã phải tính toán đường đi của các chất thải sau quá trình sản xuất. Quy trình xử lý loại thải sau cùng được đặc biệt trú trọng, để đảm bảo chất thải (nếu có) khi đưa ra khỏi quy trình sản xuất cũng không gây ra ảnh hưởng xấu cho môi trường (như ô nhiễm nước, ô nhiễm đất,…) Đặc biệt các sản phẩm tạo ra trong nền kinh tế tuần hoàn phần lớn được làm từ các thành phần sinh học không độc hại và thậm chí có thể có lợi với môi trường và an toàn khi đưa ra hệ sinh thái.
- Mô hình cơ bản của Kinh tế tuần hoàn
Để giúp các quốc gia đạt được các điều kiện của nền kinh tế tuần hoàn, bốn mô hình có thể giúp các hoạt động sản xuất kinh tế tạo ra giá trị gia tăng từ các vật liệu được sử dụng trong nền kinh tế trong khi đảm bảo các nguyên tắc của nền kinh tế tuần hoàn.
- Mô hình luân chuyển nguyên liệu nội bộ: Chuỗi cung ứng trong nền kinh tế tuyến tính hoạt động rất tốn nguyên liệu, việc áp dụng mô hình này đem lại hiệu quả sử dụng nguyên liệu thô đầu vào cao hơn. Mô hình luân chuyển càng khép kín thì thời gian sử dụng sản phẩm càng được kéo dài, mô hình này hiệu quả nhất khi áp dụng chủ yếu đối với nhóm hàng tiêu dùng nhanh cụ thể như bao bì, chai lọ tẩy rửa, dầu gội hoặc hàng hóa có thể được tái sử dụng trực tiếp như quần áo, hàng dệt may. Cụ thể, các bao bì và chai lọ này được thiết kế từ đầu để quay lại với nhà sản xuất để làm nguyên liệu cho lô hàng tiếp theo tạo thành một vòng tròn khép kín giúp tiết kiệm chi phí từ việc không phải nhập thêm nguyên liệu thô đầu vào, nhân công,… Đồng thời việc phát thải khí nhà kính và các hóa chất độc hại cũng được giảm đáng kể. Mục tiêu là tạo ra nhiều giá trị và lợi ích kinh tế đồng thời giảm mức tiêu thụ vật liệu và năng lượng. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
- Mô hình kéo dài chu kỳ sử dụng sản phẩm: Mô hình thứ hai làm nên giá trị của nền kinh tế tuần hoàn bắt nguồn từ việc giữ cho các sản phẩm, linh kiện và vật liệu có giá trị sử dụng lâu hơn trong nền kinh tế. Điều này có thể đạt được bằng cách thiết kế các sản phẩm và hệ thống có độ bền cao hơn. Trong lĩnh vực tiêu dùng, Hàng hóa tiêu dùng có giá trị tương đối thấp, tuy nhiên lượng hao hụt tài nguyên và lượng rác thải từ hoạt động này rất cao. Hàng tiêu dùng hàng ngày như thực phẩm phần lớn kết thúc chu kỳ tại bãi rác hoặc lò đốt. Như vậy nếu ta gia tăng khả năng tái sử dụng trực tiếp những mặt hàng này bằng cách tái sử dụng các bao bì và lọ chứa nhiều lần, có thể giảm đáng kể lượng nguyên liệu thô cần thiết, và các chi phí liên quan. Để làm được điều này cần xem xét các thông số kỹ thuật sản phẩm nghiêm ngặt, cải thiện quản lý số lượng cung ứng và đưa ra các lựa chọn cho người tiêu dùng tốt hơn để giúp đảm bảo rằng các sản phẩm đó được kéo dài chu kỳ sử dụng của mình. Việc xây dựng các lại hệ thống phân phối bán lẻ định hướng người tiêu dùng đem trả lại các sản phẩm, sau đó nhà phân phối sẽ thu gom và rửa các loại chai tiếp tục bán, hoặc tái sử dụng quần áo thay vì sản xuất quần áo mới góp phần kéo dài thời gian sử dụng bao bì và hàng tiêu dùng. Một điều cần thiết nữa là áp dụng công nghệ và nâng cao nhận thức để cải thiện tỷ lệ thu hồi từ các hệ thống tái chế hiện tại và giữ lại tỷ lệ luân chuyển của nguyên liệu trong chu kỳ đạt mức cao hơn. Khi mà chi phí cho việc thu thập, xử lý lại sản phẩm, nguyên vật liệu cấu thành sản phẩm thấp hơn so với chi phí xử lý rác thải hiện này thì nền kinh tế tuần hoàn có thể vận hành.
- Mô hình tạo ra các tầng sử dụng nguyên liệu khác nhau: Trong khi mô hình trước đề cập đến việc tái sử dụng các sản phẩm và nguyên liệu, thì tại mô hình này, các vật liệu bị loại bỏ từ một chuỗi sản xuất có thể làm nguyên liệu thô đầu vào trong chuỗi sản xuất khác. Mô hình này mang tính kinh tế cao bởi trên thực tế chi phí cận biên của việc tái sử dụng nguyên vật liệu thấp hơn chi phí nhập nguyên liệu thô mới. Kiểm soát và điều chỉnh các luồng nguyên liệu khác nhau của sản phẩm có thể cải thiện doanh thu và lợi nhuận cho các công ty. Một số ví dụ của việc sử dụng nguyên vật liệu theo tầng có thể kể đến như:
+ Thực phẩm thừa có tiềm năng lớn để trở thành nguồn nguyên liệu cho việc sản xuất năng lượng sinh khối, chất dinh dưỡng cho đất nếu chúng được thu thập và phân loại hiệu quả. Một số thành phố đang thúc đẩy quá trình phân hủy kỵ khí hoặc ủ phân, mặc dù quy mô còn nhỏ trên thị trường.
+ Chất thải của con người và động vật sẽ được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành nông nghiệp giúp bổ sung chất dinh dưỡng cho cây trồng.
+ Quần áo bằng vải cotton có thể làm sợi quang cho đồ nội thất và vật liệu cách nhiệt trước khi đưa trở lại môi trường một cách an toàn với điều kiện không có chất phụ gia hoặc thuốc nhuộm có hại đã được sử dụng trong quá trình sản xuất.
– Mô hình nguyên liệu đầu vào được tạo ra từ nguyên chất, không độc hại, hoặc dễ phân tách: Mô hình thứ tư này đảm bảo tính an toàn cho ba mô hình đầu tiên bằng cách giúp cho các nguyên liệu đạt mức an toàn cho vòng sử dụng tiếp theo. Ngoài nhu cầu nâng cao tuổi thọ sản phẩm và khả năng quay vòng chặt chẽ và nhiều lần, giai đoạn cuối vòng đời của sản phẩm cần được dự đoán trước trong việc lựa chọn vật liệu. Hiện tại, nhiều luồng vật liệu sau tiêu thụ trở thành dạng nguyên liệu hỗn hợp, do cách thức các nguyên liệu này được chọn và kết hợp trong một sản phẩm như nhãn PVC trên chai PET hoặc do chúng được thu thập hoặc xử lý mà không phân loại hoặc chú ý giữ gìn độ tinh khiết và chất lượng ban đầu (chất thải thực phẩm được loại bỏ thông qua việc thu gom rác thải đô thị hỗn hợp). ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
Các mô hình kinh tế tuần hoàn có thể cung cấp cơ hội mới cho tăng trưởng bền vững trong bối cảnh có rất nhiều thách thức toàn cầu nổi lên. Tập trung vào việc tối ưu hóa toàn diện hệ thống sản xuất, bán lẻ và tiêu dùng thay vì tối đa hóa hiệu suất của một dây chuyền riêng lẻ. Nói tóm lại, kinh tế tuần hoàn sẽ thay thế mô hình tuyến tính đề cao sản lượng và hiệu quả, nhưng liên tục làm suy giảm nguồn tài nguyên, thay vào đó kinh tế tuần hoàn sẽ tái thiết và bảo trì nguồn tài nguyên bằng một chu kỳ tịnh tiến và liên tục với sản phẩm và vật liệu được luân chuyển liên tục, giúp ổn định giá trị tài nguyên tự nhiên và đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm bền vững. Trong nền kinh tế tuần hoàn, các hoạt động nông nghiệp vừa tối ưu hóa năng suất vừa có thể cải thiện chất lượng đất, nước và không khí. Hệ thống nông nghiệp phát triển bền vững mới dẫn đến sự thịnh vượng lâu dài. Việc chuyển sang một mô hình như vậy có thể dẫn đến lợi ích kinh tế đáng kể, giúp giảm thiểu các khía cạnh của hệ thống hiện tại gây áp lực lên nguồn cung tài nguyên, tăng giá hàng hóa và tăng biến động giá.
1.2. Lý thuyết về triển khai Kinh tế tuần hoàn
1. Những hạn chế của nền kinh tế tuyến tính
Nhu cầu chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn xuất phát từ những hạn chế mà nền kinh tế tuyến tính đang gặp phải.
– Lãng phí tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất và tiêu thụ: Từ khi cách mạng công nghiệp nổ ra cách đây 150 năm, trong suốt quá trình phát triển và đa dạng hóa, nền kinh tế công nghiệp, phương thức sản xuất và tiêu thụ được thiết kế theo mô hình tuyến tính hay mô hình “sản xuất – sử dụng – loại bỏ”. Các công ty khai thác tài nguyên thiên nhiên để sản xuất và bán sản phẩm cho người tiêu dùng, người tiêu tùng sau đó thải bỏ sản phẩm khi hết mục đích sử dụng. Một phần rất nhỏ trong số các sản phẩm bị thải bỏ được tái chế, số còn lại trở thành rác thải và bị đem đi chôn lấp, thiêu hủy.
Các mô hình sản xuất và tiêu dùng hiện tại đang khiến cho các nguồn tài nguyên cạn kiệt nhanh chóng. Theo số liệu của WEF, nền kinh tế toàn cầu đã tiêu thụ khoảng 65 tỷ tấn nguyên liệu thô vào năm 2010, con số này dự kiến sẽ tăng lên khoảng 82 tỷ tấn vào năm 2020 (WEF, 2012). Trong quá trình sản xuất hàng hóa theo mô hình của nền kinh tế tuyến tính, một khối lượng vật liệu đáng kể thường bị mất đi trong khâu khai thác và sản xuất sản phẩm. Theo thống kê của Viện nghiên cứu phát triển bền vững châu Âu (SERI), ước tính mỗi năm, việc sản xuất các sản phẩm ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) làm mất đi hơn 21 tỷ tấn nguyên liệu không thể tái sử dụng như các lớp đất đá bị đổ bỏ sau khi khai thác mỏ, những sản lượng không mong muốn từ việc đánh bắt cá (các loài cá nhỏ và các loài cá không phải mục tiêu đánh bắt), những sản lượng hỏng hủy trong sản xuất nông nghiệp, cũng như việc đào đất và nạo vét vật liệu từ các hoạt động xây dựng (CRCLR, 2019).
Trong sản xuất thực phẩm, nguyên liệu đầu vào bị lãng phí do sâu bệnh hoặc mầm bệnh, do năng suất kém hoặc vấn đề trong quá trình vận chuyển, lưu trữ và tại nhà bán lẻ do thực phẩm hết hạn sử dụng hoặc được bảo quản trong các điều kiện không đảm bảo cũng cực kỳ lớn. Tính sơ bộ trên toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu, các sản phẩm bị hỏng chiếm 1/3 thực phẩm được sản xuất ra mỗi năm (FAO, 2011). ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
Xét riêng tại châu Âu, việc lãng phí nguyên liệu vẫn đang diễn ra hàng ngày. Có tới 2,7 tỷ tấn chất thải đã được tạo ra trong năm 2010, nhưng chỉ khoảng 40% trong số đó được tái sử dụng và tái chế. Theo UNEP, trong số 60 kim loại trên thế giới chỉ thì có 1/3 đạt được tỷ lệ tái chế, tỉ lệ tái chế cũng hết sức khiêm tốn chỉ khoảng hơn 25% (UNEP, 2011). Ngay cả đối với các kim loại quý và có tỷ lệ tái chế cao, một lượng lớn vẫn bị mất đi, ước tính mức lỗ hàng năm do mất nguyên liệu là 52 tỷ USD (Eurostat, 2016). Từ năm 2000, giá kim loại, cao su và năng lượng lần lượt tăng 176%, 350% và 260% do sự khan hiếm toàn cầu. Việc khai thác và sử dụng kém hiệu quả nguồn tài nguyên gây thiệt hại tối thiểu 3,7 nghìn tỷ USD trên toàn cầu mỗi năm (EC, 2014). Không chỉ kim loại, lãng phí nguyên vật liệu cũng xảy ra ở một số ngành sản xuất và xây dựng. Các nguyên vật liệu như đá vụn, thép, gỗ, bê tông bị loại bỏ trong quá trình xây dựng và phá hủy các tòa nhà chiếm 26% tổng lượng chất thải rắn phi công nghiệp được sản xuất tại Mỹ. Chỉ có chưa đầy 20% đến 30% của tất cả chất thải xây dựng và chất thải còn thừa khi phá dỡ được tái chế hoặc tái sử dụng (U.S. EPA, 2009).
– Ảnh hướng đến hệ sinh thái: Hoạt động sản xuất, tiêu dùng trong nền Kinh tế tuần hoàn tạo ra chất thải và khiến hệ sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong vòng hai thế kỷ qua, biến đổi khí hậu, sự xói mòn từ các tài nguyên rừng, đất, nước đã khiến hệ sinh thái của trái đất bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Lượng tiêu thụ tài nguyên của con người hiện vượt quá 60% khả năng cung ứng của hệ sinh thái Trái đất. Chỉ riêng việc mất đa dạng sinh học do phá rừng đã khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại lên tới 4,5 triệu USD/năm tương đương 650 USD/người, không kể những thiệt hại do việc thâm canh và biến đổi khí hậu (Indepentdent, 2010). Trong khi đó, các loại chất thải từ các ngành nghề không được quản lý và thu gom xử lý tập trung đúng cách, dẫn đến một loạt các vấn đề về môi trường và hệ sinh thái. Ngoài đại dương, rác thải tích tụ trên các bãi biển lẫn trong nguồn thức ăn của cá, chim và các động vật khác và cuối cùng lẫn trong thức ăn của con người.
Như vậy, nền kinh tế tuyến tính mặc dù cho thấy một sự phát triển mạnh mẽ, tăng trưởng vượt trội của một số ngành nghề kinh tế trong thời gian qua nhưng cũng để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, phá hủy kết cấu hệ sinh thái, dẫn tới những nguy cơ tổn hại toàn cầu cho con người. Điều này đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển mình, vận hành theo một cách thức mới để bảo toàn đa dạng hệ sinh thái, đưa nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững hơn.
Mời bạn tham khảo thêm:
2. Những yếu tố thúc đẩy chuyển dịch sang nền kinh tế tuần hoàn ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
Mặc dù hiện tại mô hình kinh tế tuyến tính vẫn là mô hình phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao do nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, chi phí sản xuất thấp và được hỗ trợ bởi các công nghệ sản xuất hiện đại, chuỗi cung ứng toàn cầu hóa, nhân công giá rẻ và các dây chuyền tự động. Tuy nhiên, mô hình hiện tại lại không tối đa hóa hiệu suất sử dụng năng lượng. Trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên có hạn, Kinh tế tuần hoàn bộc lộ rõ nhiều hạn chế và gây tác động tiêu cực lên môi trường, thúc đẩy các quốc gia chuyển đổi mô hình hoạt động của nền kinh tế sang Kinh tế tuần hoàn.
- Dân số thế giới ngày càng tăng đặc biệt là giới trung lưu. Năm 2050, dự kiến dân số toàn cầu sẽ đạt 9 – 10 tỷ người, trong đó nổi lên là tầng lớp trung lưu khiến nhu cầu về nguyên liệu để phục vụ sản xuất đang ngày càng tăng (World Bank, 2019). Ngoài tác động môi trường tiêu cực lên môi trường cao hơn, dân số cao dẫn đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, mất đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu. Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia có dân số lớn nhất thế giới, mỗi quốc gia đã trải qua một quá trình chuyển đổi kinh tế đáng kể về cả phạm vi và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong những thập kỷ qua. Một lượng lớn người tiêu dùng trung lưu mới có thể tham gia vào nền kinh tế toàn cầu nếu hai nước tiếp tục mô hình tăng trưởng hiện tại. Lượng người tiêu dùng mới sẽ làm tăng nhu cầu về tài nguyên.
- Nhu cầu cơ sở hạ tầng. Cơ cấu dân số lớn đòi hỏi cơ sở hạ tầng lớn hơn. Các công cụ kĩ thuật để khai thác cũng cần được cải tiến để khai thác nguồn tài nguyên mới mà hiện tại chưa thể khai thác được. Các mỏ tài nguyên mới vẫn có thể tồn tại, nhưng khai thác chúng sẽ đòi hỏi việc đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng và công nghệ mới. Ước tính để đáp ứng nhu cầu trong tương lai về thép, nước, nông sản và năng lượng sẽ cần tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng khoảng 3.000 tỷ USD/năm. Số tiền cao hơn khoảng 60% so với mức đầu tư hiện tại (McKinsey, 2013). Nếu khoản đầu tư này không giúp tìm ra các mỏ tài nguyên mới, thì nguồn cung tài nguyên càng trở nên hạn hẹp. Công nghệ và cơ sở hạ tầng mới có lẽ là thách thức đối với các nền kinh tế phát triển, khi mà công nghệ và năng suất tại các nước này gần như đã đến giới hạn của công nghệ hiện tại.
- Các bãi chôn lấp rác đã gần quá tải. Ở một số nơi trên thế giới như tại Hy Lạp, Ấn Độ, Việt Nam, chất thải rắn đô thị được chôn lấp ở các bãi rác không đạt tiêu chuẩn (BBC, 2013). Việc chôn lấp rác ở những vị trí như vậy gây ra rất nhiều yếu tố ảnh hưởng sức khỏe con người và môi trường như nước rỉ rác, bụi, mùi, gánh nặng giao thông địa phương và khí thải nhà kính. Các chất thải chôn lấp đều tạo ra khí phân hủy trong điều kiện yếm khí. Khí phân hủy bao gồm khoảng 50% khí mê- tan, là khí nhà kính mạnh hơn hai mươi lần so với CO2. Đối với mỗi hộ gia đình ở Anh, quần áo chôn lấp tạo ra khoảng 1,5 triệu tấn khí thải CO2 mỗi năm chiếm 0,3% tổng lượng phát thải (Iain MacLeay, Kevin Harris, Anwar Annut, 2012). Rất nhiều các khu vực chôn lấp rác đang dần hết chỗ. Bắc Kinh sẽ không còn không gian chôn lấp trong 4 năm nữa, tại New Zealand trong khoảng 12 năm và Vương quốc Anh sẽ hết công suất chôn lấp vào năm 2027 nếu tiếp tục các hoạt động xử lý như hiện hiện tại. Tại Việt Nam nhiều bãi rác cũng trong tình trạng quá tải và nguy cơ đóng cửa trong năm 2020, UBND Hà Nội cho biết Hai bãi rác lớn nhất của thành phố là bãi Nam Sơn và bãi Xuân Sơn đang phải hoạt động quá công suất và nếu không có giải pháp công nghệ thay thế thì sẽ buộc phải đóng bãi vào cuối năm 2020 (Báo Tài nguyên & Môi trường, 2020). ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
- Căng thẳng địa chính trị gia tăng. Những cuộc căng thẳng và cạnh tranh chiến lược địa chính trị gây ảnh hưởng với nguồn cung hàng hóa. Nhiều trường hợp xung đột chính trị đã làm giá cả hàng hóa tăng cao như lệnh cấm vận dầu mỏ Ả Rập năm 1972, lượng xuất khẩu dầu mỏ giảm sau cuộc cách mạng Iran 1978, cú sốc giá sau cuộc xâm lược Kuwait của Iraq năm 1990… Trữ lượng kim loại quý và tài nguyên dầu mỏ phần lớn nằm ở các quốc gia bất ổn về chính trị như Iran, Iraq, .. Khoảng 80% đất canh tác, 64.5% trữ lượng dầu trên thế giới và 38.4% trữ lượng khí đốt nằm ở các quốc gia Trung Đông này (OPEC, 2018). Với việc các cuộc xung đột chính trị đang ngày càng có xu hướng gia tăng tại các điểm nóng dầu mỏ sẽ tạo ra rào cản thương mại, tình trạng độc quyền…làm trầm trọng thêm sự khan hiếm tài nguyên và đẩy giá hàng hóa và mức độ biến động giá lên cao.
- Biến đổi khí hậu. Một số ngành công nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt trong lĩnh vực nước và nông nghiệp. Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến dòng chảy và sự di chuyển của những tảng băng và qua đó ảnh hưởng trực tiếp lên nguồn cung nước ngọt, mô hình xói mòn, nhu cầu tưới tiêu và công tác quản lý lũ lụt. Nhu cầu nước toàn cầu được dự báo sẽ tăng 55% vào năm 2050, chủ yếu là do nhu cầu ngày càng tăng từ ngành sản xuất (tăng 400%). OECD dự báo hơn 40% dân số toàn cầu sẽ phải sống trong các khu vực khan hiếm nguồn nước vào năm 2050 (UNWATER, 2012).
Liên kết những yếu tố này lại với nhau có thể thấy thách thức đối với mô hình kinh tế tuyến tính là rất lớn. Thị trường sẽ không thể tự khắc phục được những mặt hạn chế của dây chuyền sản xuất và nếu không thể thay đổi tư duy, hành vi hiện tại của nhà sản xuất và người tiêu dùng thì không giải quyết được bài toán mất cân bằng trong khai thác và sử dụng tài nguyên cũng như đáp ứng nhu cầu của người dùng toàn cầu ngày càng lớn trong tương lai. Ngay cả khi nền kinh tế tuyến tính đáp ứng sự khan hiếm nguồn cung, những hậu quả về xã hội và môi trường vẫn hiện hữu. Để tiếp tục phát triển lâu dài, việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên là rất cần thiết. Điều này đòi hỏi một nền kinh tế vẫn đáp ứng nhu cầu của con người mà không gây tác động tiêu cực lên môi trường và không làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Việc này không chỉ đòi hỏi chúng ta phải thay đổi tư duy tách rời việc sử dụng nguyên liệu thô và việc tăng trưởng kinh tế, mà còn đòi hỏi thay đổi tư duy trong việc tăng trưởng kinh tế và quản lý môi trường. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nhằm đảm bảo an ninh và bền vững nguồn cung nguyên liệu là điều kiện tiên quyết cho việc này. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng không phải là không thể đạt được và hiện nền kinh tế tuần hoàn là câu trả lời cho những thách thức lớn mà chúng ta phải đối mặt trong thế kỷ 21, đó là việc khai thác và sử dụng nguyên liệu thới hiệu quả cao hơn và và tìm ra giải pháp cho những tác động tiêu cực lên hệ sinh thái môi trường.
Các bước triển khai nền kinh tế tuần hoàn
3. Xây dựng cơ sở pháp lý và thể chế về kinh tế tuần hoàn ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
Hành lang pháp lý là điều kiện tiên quyết để dẫn dắt các chủ thể đi đến mục tiêu nền kinh tế định hướng tuần hoàn cũng như các chủ thể trong nền kinh tế ấy có thể tuỳ biến phối hợp chặt chẽ trong từng bước đi sao cho phù hợp với thực tế nền kinh thế trong từng giai đoạn.
Một nền kinh tế chỉ có thể tiến tới Kinh tế tuần hoàn với điều kiện các hành lang pháp lý như luật và các chính sách, chủ trương phải được thể hiện rõ ràng để giúp việc thực hiện và chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn một cách hệ thống và đồng bộ. Cùng với đó là các hình thức khuyến khích khác như ưu đãi về cơ chế và thủ tục hành chính, về tài chính, về tiếp cận các nguồn lực cùng chế tài rõ ràng, minh bạch.
Các thành phố và khu vực có thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn nhờ khả năng kích hoạt các mô hình kinh doanh mới, chẳng hạn như các mô hình kinh doanh trong khuôn khổ nền kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu kinh tế tuần hoàn, các chính phủ địa phương cần được hỗ trợ bởi một khuôn khổ hỗ trợ mà các chính phủ quốc gia có thể thiết lập một cách hiệu quả.
Các công cụ quản lý, tài chính và kinh tế là cần thiết để chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Điều quan trọng là phải thiết lập chính sách và khuôn khổ quy định phù hợp ở tất cả các cấp.
Hiểu được điều này, một số quốc gia đã ban hành các đạo luật và luật để thiết lập nguyên tắc tái chế của nền kinh tế tuần hoàn. Đức là nước đi đầu trong lĩnh vực này khi nước này bắt đầu thực hiện Kinh tế tuần hoàn vào năm 1996. Theo đó, Đức đã sớm ban hành Luật về quản lý chất thải và chu trình khép kín từ năm 1996, với ý tưởng cốt lõi là tuần hoàn vật liệu. Họ ý thức được rằng nền kinh tế công nghiệp nặng của Đức luôn cần rất nhiều vật liệu đầu vào, do đó việc tuần hoàn vật liệu sẽ giúp giảm phụ thuộc vào tài nguyên, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững lâu dài của cả nền kinh tế. Vì vậy, Luật cung cấp các khuôn khổ để thực hiện quản lý chất thải theo chu trình khép kín và đảm bảo việc xử lý chất thải tương thích với môi trường cũng như khả năng đồng hóa chất thải. Từ đó thúc đẩy nhiều mô hình giảm thiểu chất thải, tái sử dụng, tái chế và đốt rác thải để sản xuất điện và nhiệt. Thậm chí, nếu chỉ tính riêng về chính sách tái chế, Đức đã có luật về đóng gói(Verpackungsverordnung) từ năm 1991. Ngoài ra, Đức còn phát triển các chính sách năng lượng, công nghiệp và môi trường rất cụ thể ở cấp quốc gia và đóng vai trò rất mạnh mẽ trong các lĩnh vực này ở cấp độ châu Âu.
Một ví dụ khác về việc bắt đầu thực hiện Kinh tế tuần hoàn từ việc xây dựng cơ sở pháp lý và thể chế về kinh tế tuần hoàn là ở Nhật Bản. Kể từ năm 1991, Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện Kinh tế tuần hoàn bằng việc xây dựng các quy định pháp lý nhằm đưa nước này trở thành một “xã hội dựa trên việc tái chế”. Trọng tâm là Luật Cơ bản cho việc thành lập một xã hội dựa trên tái chế (The Basic Law for Establishing a Recycling-Based Society), có hiệu lực năm 2002, đã đưa ra các mục tiêu định lượng về tái chế và phi vật chất hóa trong dài hạn cho xã hội Nhật Bản.
Một đại diện khác ở Châu Á là Hàn Quốc cũng bắt đầu thực hiện Kinh tế tuần hoàn từ việc xây dựng hành lang pháp lý khi Bộ Môi trường Hàn Quốc đã tuyên bố ban hành các nguyên tắc tuần hoàn tài nguyên từ đầu năm 2018 nhằm thực hiện Kinh tế tuần hoàn. Theo đó, Luật Tuần hoàn tài nguyên bao gồm các điều như “nhận diện tài nguyên tuần hoàn”, “quản lý hiệu suất tuần hoàn tài nguyên”, “đánh giá tính khả dụng của chu kỳ tuần hoàn” và “phí xử lý chất thải”. Ngoài ra, luật này cũng bao gồm các chính sách để giảm lượng chất thải trong tất cả các quy trình từ sản xuất, phân phối, tiêu thụ cho đến xử lý sản phẩm và để thúc đẩy tái chế.
Một số quốc gia khác như Thụy Điển từ lâu đã liên tiếp đưa ra nhiều chương trình ưu đãi khác nhau. Họ cũng đã cố gắng tạo điều kiện tối ưu để tăng tỷ lệ tái chế dần dần và hiệu quả thông qua giáo dục công.
Một nỗ lực đáng kể khác của Ủy ban Châu Âu là Nền tảng Hiệu quả Nguồn lực Châu Âu (EREP) – Tuyên ngôn và Khuyến nghị Chính sách được ban hành vào năm 2012. Tuyên ngôn kêu gọi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, lao động và xã hội dân sự hỗ trợ hiệu quả nguồn lực và chuyển sang nền kinh tế tuần hoàn. Nó cung cấp một kế hoạch hành động để chuyển đổi sang một châu Âu sử dụng tài nguyên hiệu quả và cuối cùng trở thành tái tạo theo hướng Kinh tế tuần hoàn. Đặc điểm chung trong các chính sách Kinh tế tuần hoàn của các quốc gia này là ngăn ngừa sự suy thoái môi trường hơn nữa và bảo tồn các nguồn tài nguyên khan hiếm thông qua sử dụng hiệu quả năng lượng tái tạo và quản lý chất thải sản xuất và tiêu thụ, đặc biệt là thông qua quản lý tổng hợp chất thải rắn. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
4. Áp dụng Chính sách kinh tế tuần hoàn vào thực tiễn
Tổng hợp 45 chiến lược về Kinh tế tuần hoàn và hơn 100 trường hợp trên thế giới, Kalmykova và cộng sự (Y. Kalmykova, M. Sadagopan, and L. Rosado, 2018) đã rút ra kết luận rằng hiện nay có hai cách thực hiện Kinh tế tuần hoàn.
- Triển khai theo hệ thống nền kinh tế
Nền kinh tế ở đây không chỉ là nền kinh tế của một quốc gia, mà có nhiều cấp độ khác nhau về quy mô. Đó có thể là nền kinh tế ở cấp địa phương (khu công nghiệp, thành phố, tỉnh) hay nền kinh tế ở cấp vùng (liên tỉnh, liên thành phố), cấp quốc gia hoặc thậm chí là cấp liên quốc gia. Về cơ bản, cách thực hiện này là kết nối các hoạt động kinh doanh và sản xuất thành các vòng tuần hoàn vật liệu trong một không gian kinh tế nhất định. Tiêu biểu của cách tiếp cận này là tại Đan Mạch, Trung Quốc, Nhật Bản và Canada. Tuy nhiên, cách thức áp dụng ở mỗi nước không hoàn toàn giống nhau.
Ví dụ như tại Đan Mạch, Khu công nghiệp Kalundborg là một ví dụ điển hình của cách tiếp cận thực hiện Kinh tế tuần hoàn ở quy mô nền kinh tế cấp độ địa phương. Bản chất của cách thực hiện Kinh tế tuần hoàn tại đây dựa trên quan điểm “cộng sinh công nghiệp – industrial symbiosis”, tức là chia sẻ tài nguyên và tuần hoàn chất thải giữa các lĩnh vực công nghiệp khác nhau, giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế. Theo đó, từ năm 1961, thành phố Kalundborg đã đứng ra xây dựng một mạng lưới đường ống phức tạp, với sự tài trợ của các công ty lọc dầu, để các doanh nghiệp trong thành phố có thể thực hiện trao đổi chất thải và tài nguyên với nhau. Hệ thống này đã giúp tuần hoàn vật liệu, tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu thô, đồng thời giảm chi phí xử lý chất thải cho các doanh nghiệp. Vì thế, số lượng doanh nghiệp và dự án mong muốn tham gia ngày càng tăng. Tuy nhiên, R.Frosch (1992) lưu ý rằng thành công của Kadlundborg là nhờ sự nhận thức rất cao của các doanh nghiệp về các cơ hội và lợi ích kinh tế của Kinh tế tuần hoàn, tầm nhìn và khả năng thiết kế rất tốt của các nhà quản lý, đặc biệt, cũng cần thời gian cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp. Mô hình cộng sinh của Kalundborg được coi là bài học tiêu biểu để xây dựng các mô hình tuần hoàn trong các khu công nghiệp liên ngành khác trên thế giới. Một số mô hình thành công sau đó có thể kể tới như: khu công nghiệp Burnside tại Canada, mạng lưới các khu công nghiệp sinh thái tại Naroda – Ấn Độ và khu công nghiệp Laem Chabang tại Thái Lan.
Nhật Bản được coi là một điển hình của cách tiếp cận ở cấp độ quốc gia. Như đã nêu ở trên kể từ năm 1991, Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện Kinh tế tuần hoàn bằng việc xây dựng các quy định pháp lý nhằm đưa nước này trở thành một “xã hội dựa trên việc tái chế”. Nhờ vậy, nước này đã nhanh chóng đạt được tỷ lệ tái chế cao hàng đầu thế giới. Trong năm 2007, chỉ có 5% chất thải của Nhật Bản phải xử lý bằng chôn lấp, so với 48% của Vương quốc Anh vào năm 2008. Từ năm 2010, tỷ lệ tái chế đối với kim loại lên tới 98%. Luật Tái chế thiết bị của Nhật Bản đảm bảo rằng trên 50% các sản phẩm điện tử được tái chế, so với con số 30- 40% ở châu Âu (Y. Hotta, A. Santo, and T. Tasaki, 2014). Quan trọng hơn cả là khoảng 74-89% vật liệu chứa trong các thiết bị này đã được thu hồi quay trở lại phục vụ cho mục đích sản xuất các sản phẩm cùng loại, giúp tiết kiệm chi phí và giảm phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên (WEEE Forum, 2012).
- Triển khai theo nhóm ngành, sản phẩm, nguyên liệu hoặc vật liệu
Cách tiếp cận này không giới hạn ở phạm vi một không gian hay một hệ thống kinh tế nhất định, mà tập trung theo nhóm ngành, sản phẩm hoặc nguyên vật liệu. Để ngắn gọn, có thể gọi đây là cách tiếp cận theo vật liệu. Diễn đàn Kinh tế Thế giới cũng đồng tình với cách tiếp cận này khi khẳng định vật liệu chính là “mẫu số chung lớn nhất” của tất cả các ngành và không gian địa lý”. Theo đó, các quốc gia nên lựa chọn một số vật liệu và từ đó xác định các ngành liên quan tới vật liệu đó làm ưu tiên cho việc thực hiện Kinh tế tuần hoàn. Tiêu biểu của cách tiếp cận này là khối Liên minh Châu Âu (EU), Hà Lan, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
Kế hoạch hành động được đề xuất của Ủy ban Châu Âu nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn (EC, 2015) bao gồm các đề xuất lập pháp cho lĩnh vực quản lý chất thải liên quan đến việc giảm thiểu đất đai, tăng cường chuẩn bị cho việc tái sử dụng và tái chế các dòng chất thải chính như chất thải đô thị và chất thải đóng gói, cũng như cải tiến các chương trình trách nhiệm của người sản xuất mở rộng. Các đề xuất lập pháp khác bao gồm thúc đẩy các khuyến khích kinh tế, các cam kết toàn diện về thiết kế sinh thái (chủ yếu chỉ liên quan đến các thiết bị tiêu thụ năng lượng) và hành động có mục tiêu trong các lĩnh vực như nhựa, chất thải thực phẩm, xây dựng, nguyên liệu thô quan trọng, chất thải công nghiệp và khai thác mỏ, tiêu dùng và mua sắm công. Các đề xuất lập pháp bổ sung về phân bón và tái sử dụng nước đã được công bố sẽ được đưa ra trong tương lai. Trong số các sản phẩm được ưu tiên thực hiện CE là thiết bị điện và điện tử và hàng dệt may (EC, 2015; WRAP, 2016), đồ nội thất, bao bì và lốp xe (EC, 2015). Danh mục nguyên liệu thô thứ cấp được ưu tiên bao gồm nhựa, kim loại, giấy và bìa cứng, thủy tinh và chất thải phân hủy sinh học (EC, 2014; WEF, 2014).
Hay như ở Hà Lan, ngoài “thang Lansink” từ những năm 1970 quy định thứ tự ưu tiên trong quản lý chất thải, chương trình “Kinh tế tuần hoàn tại Hà Lan vào năm 2050” đưa ra những tầm nhìn, định hướng lộ trình và cả các mục tiêu rất cụ thể của quốc gia này tại 5 lĩnh vực ưu tiên là: Nhiên liệu sinh khối và thực phẩm, Nhựa, Chế tạo (tập trung vào vật liệu kim loại và các hóa chất độc hại), Xây dựng (tập trung vào tái chế vật liệu xây dựng và phát triển thị trường vật liệu tái chế) và Tiêu dùng.
Một ví dụ khác về cách triển khai này là Đài Loan – vùng ngự trị có mật độ dân số cao nhưng lại không có đủ tài nguyên để đáp ứng các nhu cầu cần thiết. Đài Loan nhập khẩu 98,8% nhiên liệu hóa thạch, 98% kim loại và 71,8% nhu cầu sinh khối. Cùng với đó, Đài Loan có 20 năm kinh nghiệm trong việc tái chế và tỷ lệ tái chế hiện tương đương với châu Âu (ECCT, 2018). Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề như ô nhiễm, nhà máy bất hợp pháp và chất thải. Những vấn đề trên đòi hỏi Chính phủ Đài Loan phải áp dụng một cách tiếp cận toàn diện và có hệ thống hơn, đó là Kinh tế tuần hoàn. Chính phủ Đài Loan hỗ trợ sự phát triển của Kinh tế tuần hoàn bằng cách đưa ra các hành động dựa trên 4 trụ cột của tăng trưởng xanh: luật pháp, quy định, ưu đãi thị trường, đổi mới và kết nối. Vào ngày 1/6/2018, TCEN (Taiwan Circular Economy Network) đã mời các đại diện công nghiệp ký một thỏa thuận “xanh” để thúc đẩy thực hiện Kinh tế tuần hoàn. Trong đó, 3 liên minh công nghiệp đã được thành lập trong lĩnh vực nhựa, điện tử và xây dựng nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác tuần hoàn. Kể từ đó, các liên minh khác đã được thành lập để giải quyết vấn đề chất thải biển cũng như trong ngành công nghiệp năng lượng mặt trời.
Singapore cũng là 1 quốc gia khác triển khai thành công Kinh tế tuần hoàn theo cách tiếp cận theo nhóm ngành. Là một quốc gia nhỏ, Singapore nhận thức được sự cần thiết phải cân bằng giữa phát triển kinh tế và bền vững môi trường. Do đó, việc tiếp cận theo tư duy của Kinh tế tuần hoàn là hoàn toàn phù hợp trong bối cảnh tài nguyên và đất đai khan hiếm tại đất nước này. Singapore triển khai Kinh tế tuần hoàn theo nhiều cách, trong đó bao gồm việc triển khai hệ thống trách nhiệm của nhà sản xuất mở rộng (EPR), bắt đầu từ chất thải điện tử vào năm 2021. Ngoài chất thải điện tử, Singapore cũng đang nghiên cứu tính khả thi của việc mở rộng EPR sang chất thải bao bì. Ngoài ra, Chính phủ Singapore cũng tăng cường sự hợp tác và hỗ trợ giữa các ngành công nghiệp với nhau. Theo đó, một cuộc kêu gọi tài trợ nghiên cứu theo chủ đề “Sáng kiến tuần hoàn chất thải” (Closing the Waste Loop Initiative) đã được đưa ra nhằm hướng tới việc thiết kế vật liệu nhựa một cách bền vững hơn. Mục tiêu ở đây là nhằm cho phép nhựa có thể được tái sử dụng nhiều hơn, dễ tái chế hơn để làm tăng giá trị của nhựa thải.
Như vậy, có thể thấy thực hiện Kinh tế tuần hoàn đang trở thành xu hướng diễn ra rộng khắp trên thế giới. Rất nhiều nước đang thực hiện theo cách tiếp cận theo vật liệu, tập trung giải quyết các vấn đề của một số chất thải và vật liệu, như sản phẩm nhựa dùng một lần, rác thải điện tử, chất thải thực phẩm… Trong khi đó, cách tiếp cận theo khu công nghiệp tuần hoàn được sử dụng kết hợp tại một số nước có công nghiệp phát triển hoặc do đặc thù quản lý của quốc gia, như Đan Mạch, Đức và Trung Quốc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hai cách tiếp cận này trên thực tế không hoàn toàn được phân biệt rạch ròi với nhau. Đơn cử, một khu công nghiệp được tạo ra có thể nhắm tới việc tuần hoàn một hoặc một vài vật liệu nhất định. Vì thế, ở rất nhiều nước, chúng ta thấy hai cách tiếp cận này được sử dụng kết hợp với nhau, tùy vào đặc điểm của từng quốc gia.
5. Điều kiện cần thiết để triển khai thành công kinh tế tuần hoàn ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn )
Để đảm bảo thành công từ nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn cần tập hợp đủ các yếu tố sau đây:
Hoàn thiện thể chế, chính sách về nền Kinh tế tuần hoàn: Bước đầu tiên một quốc gia cần thực hiện trong chiến lược chuyển đổi sang nền Kinh tế tuần hoàn là việc xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách về nền kinh tế tuần hoàn. Thể chế bao gồm các hệ thống quy định pháp luật, cơ chế, chính sách do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển các yếu tố thị trường, thị trường và hoạt động của các chủ thể thị trường; điều tiết hành vi của các chủ thể, qua đó điều tiết hoạt động của mô hình kinh tế và can thiệp giải quyết những khiếm khuyết của thị trường… Một số yêu cầu cụ thể cần được thiết lập để tạo cơ sở cho hình thành và phát triển các mô hình Kinh tế tuần hoàn dưới góc độ thể chế như: thể chế rõ và thực thi đầy đủ vai trò và trách nhiệm của chính quyền các cấp; phát huy vai trò của các công cụ dựa vào thị trường (thuế, phí, lệ phí; cơ chế dựa vào lợi ích) để điều tiết hành vi của các chủ thể trong hệ thống kinh tế (doanh nghiệp, người dân) trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc của nền kinh tế tuần hoàn; tạo dựng các yếu tố thị trường, điều kiện thị trường để hình thành, vận hành và phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ môi trường, các sản phẩm tái chế, tái sử dụng.
Sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong nền kinh tế: Trong thế giới toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường nhà sản xuất và người tiêu dùng đóng vai trò là người chơi, nhà nước đóng vai trò điều tiết. Trong hệ thống kinh tế còn tồn tại các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, do vậy việc chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn đòi hỏi phải có sự thay đổi cả hệ thống, trong đó phát huy vai trò của các bên liên quan là hết sức quan trọng. Thực tiễn cho thấy, để thực hiện Kinh tế tuần hoàn, Ủy ban Châu Âu đã kêu gọi sự tham gia của tất cả các bên liên quan từ các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp sản xuất, phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, người thu gom rác…. Các tổ chức chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho một nền kinh tế tuần hoàn xuất hiện và phát triển mạnh. Họ định hướng và tạo động lực cho đổi mới và đầu tư. Mô hình kinh tế tuần hoàn cung cấp một khuôn khổ cho phép chính phủ và các thành phố hiện thực hóa nhiều tham vọng kinh tế, môi trường và xã hội. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
Cần có các công cụ quản lý và giám sát môi trường: Để đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế tuần hoàn cần có sự quản lý và giám sát về môi trường bởi môi trường và tài nguyên chính là yếu tố thúc đẩy là nền tảng để phát triển nền kinh tế tuần hoàn. Để thực hiện được quản trị môi trường tốt đòi hỏi cần có sự trợ giúp của các công cụ Công nghệ thông tin về giám sát và sự tham gia của các bên liên quan. Ngoài ra cũng cần đề cao trách nhiệm của các bên liên quan trong việc giải quyết các vấn đề, minh bạch thông tin để nâng cao khả năng kiểm tra và giám sát đạt được mục tiêu chung của xã hội trong khi vẫn đảm bảo sử dụng tối ưu nhất các nguồn lực của xã hội.
Thúc đẩy thị trường hàng hóa, dịch vụ môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường để tiến tới phát triển kinh tế tuần hoàn ở cấp độ vĩ mô của nền kinh tế: Hàng hóa môi trường là những sản phẩm được đem ra trao đổi trên thị trường mà sản phẩm đó đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng môi trường do cơ quan quản lý nhà nước quy định. Ngành công nghiệp môi trường bao gồm tất cả các hoạt động mang lại thu nhập gắn liền với sự tuân thủ các quy định luật pháp về môi trường; đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và phục sinh các tài sản đã bị ô nhiễm; cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường như nước, các vật liệu được thu hồi và nguồn năng lượng sạch; và các công nghệ và các hoạt động góp phần tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất sản xuất và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Cần chuẩn bị và không ngừng thúc đẩy nền tảng khoa học công nghệ phù hợp: Trong các mô hình phát triển trước đây, con người chủ yếu khai thác các tài nguyên tự nhiên để tạo ra tăng trưởng và phục vụ cho chính con người. Nhưng tài nguyên tự nhiên luôn có giới hạn và nhân loại hiện đang đứng trước sự khan hiếm tài nguyên nghiêm trọng. Vì vậy, nếu vẫn tiếp tục trông chờ vào nguồn tài nguyên hữu hạn đó thì nguồn lực cho tăng trưởng sẽ sớm cạn kiệt, tăng trưởng sẽ đi đến trạng thái dừng và thậm chí suy giảm. Tuy nhiên, có một loại tài nguyên đặc biệt, không bao giờ cạn, đó chính là sự sáng tạo của con người, cụ thể hóa trong khoa học và công nghệ. Chính vì vậy, khoa học, công nghệ đang được coi là nền tảng và động lực phát triển của các quốc gia. Khoa học – công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, trong các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thì khoa học và công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng, luôn làm thay đổi cơ cấu sản xuất, phân công lao động ngày càng sâu sắc hơn và phân chia thành các ngành nhỏ. Làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới, nhiều lĩnh vực mới. Cơ cấu trong nội bộ ngành cũng thay đổi. Đặc biệt việc triển khai Kinh tế tuần hoàn càng đòi hỏi mỗi quốc gia cần có một nền tảng về công nghệ đáp ứng được nguyên tắc hoạt động của mô hình, công nghệ càng cao sẽ càng nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực, giúp hạn chế việc tiêu tốn tài nguyên phí phạm cũng như giảm tải lượng rác thải. Đặc biệt các quy trình tái chế, tái tạo luôn đòi hỏi công nghệ cao để xử lý. ( Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn)
Xem tiếp phần sau tại:
→ Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn ở Trung quốc

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế của Trung Quốc