Nhận thức được tầm quan trọng của một nền kinh tế tuần hoàn và lợi ích đem lại đối với một quốc gia và cư dân toàn cầu, tác giả đã lựa chọn đề tài Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn ở Trung quốc là đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Trung Quốc là một trong những nước đi đầu trong việc thúc đẩy chuyển đổi nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn và đã đạt nhiều kết quả rất tích cực, chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc và bài học cho Việt Nam
2.1. Nguyên nhân Trung Quốc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn.
Kinh tế Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới đang phát triển, có quy mô lớn thứ hai trên thế giới (sau Hoa Kỳ) nếu tính theo tổng sản phẩm quốc nội (GDP danh nghĩa) và đứng thứ nhất nếu tính theo GDP sức mua tương đương (PPP). GDP Trung Quốc năm 2019 là 14.28 nghìn tỷ USD, GDP bình quân đầu người danh nghĩa năm 2019 là 10.39 USD (World Bank, 2019), ở mức trung bình cao so với các nền kinh tế khác trên thế giới (xếp thứ 78 trên thế giới vào năm 2019). (World Bank, 2019) Trong những năm gần đây, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao. Năm 2005, 70% GDP của Trung Quốc là trong khu vực tư nhân. Khu vực kinh tế quốc doanh chịu sự chi phối của khoảng 200 doanh nghiệp quốc doanh lớn, phần nhiều ở trong các ngành dịch vụ tiện ích (điện, nước, điện thoại…), công nghiệp nặng, và nguồn năng lượng.
Bước đánh dấu sự chuyển mình của nền Kinh tế Trung Quốc là Chính sách Cải cách và Mở cửa được thực hiện năm 1978 – như một tín hiệu của sự chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Kể từ đó, sự phát triển kinh tế Trung Quốc có một bước nhảy vọt (Biểu đồ 2.1). Tuy nhiên, chiến lược của nó vẫn là tập trung vào tiết kiệm và đầu tư cao, định hướng xuất khẩu mạnh mẽ và các ngành sản xuất và xây dựng. Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường đã dần được nhận ra ở Trung Quốc, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn là ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua. Mô hình phát triển kinh tế sâu rộng thực sự làm cho kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trong một thời gian ngắn với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm xấp xỉ 10% (Green và Stern, 2016). Tiến bộ này chủ yếu được đóng góp bởi các ngành công nghiệp nặng sử dụng nhiều năng lượng ở Trung Quốc. Kết quả của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, tỷ trọng đóng góp trong tổng GDP của công nghiệp sơ cấp giảm dần, trong khi tỷ trọng đóng góp trong tổng GDP của công nghiệp dịch vụ đã tăng lên rõ rệt kể từ năm 1980 (Biểu đồ 2.2). Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp vào tổng GDP của công nghiệp thứ cấp vẫn ở mức cao (gần 50%), điều này cho thấy vị trí quan trọng của công nghiệp nặng trong hỗ trợ kinh tế Trung Quốc. ( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Hội đồng Hợp tác Quốc tế về Môi trường và Phát triển Trung Quốc (CCICED) và Garnaut et al (2013) đã mô tả sự phát triển kinh tế Trung Quốc như sau: a) các ngành công nghiệp nặng như sản xuất thép và xi măng có mức đầu tư rất cao. Đây cũng là các ngành tiêu thụ rất nhiều năng lượng (cả tiêu thụ trực tiếp nhiên liệu hóa thạch và tiêu thụ chuyển hướng do tiêu thụ điện từ đốt than); b) nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu và thị trường bên ngoài, do đó nền kinh tế Trung Quốc khá dễ bị tác động bởi sự thả nổi kinh tế từ bên ngoài (CCICED, 2014, Garnaut và Ross, 2014, Garnaut et al., 2013). Trong giai đoạn 2000-2013, tiêu thụ than tăng trưởng bình quân 8% / năm, điều này dẫn đến Trung Quốc phải nhập khẩu than ròng từ năm 2009 và tiêu thụ than chiếm gần một nửa lượng than tiêu thụ toàn cầu (NBS, 2015). Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 và 2009 rõ ràng đã giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, chứng tỏ sự phụ thuộc của nền kinh tế Trung Quốc vào thị trường bên ngoài (Biểu đồ 2.1) (Green và Stern, 2016).
Mặc dù mô hình tăng trưởng kinh tế này đã đưa hàng trăm triệu người Trung Quốc thoát khỏi đói nghèo, nhưng ngày càng có nhiều ý kiến nhất trí rằng mô hình này không bền vững hoặc không như mong muốn – vì các nguyên nhân từ kinh tế, tài chính, xã hội và môi trường địa phương (Trung tâm Nghiên cứu Pew, 2013, Wike và Parker, 2015, Ngân hàng Thế giới & DRC, 2013, IMF, 2015). Khi các vấn đề kinh tế, tài chính, xã hội và môi trường địa phương đã được các nhà lãnh đạo Trung Quốc công nhận, các nhà lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu kêu gọi sự cần thiết phải thay đổi cơ cấu cơ bản và cải cách chính sách để đáp ứng việc hướng con đường phát triển của Trung Quốc theo một lộ trình bền vững và mong muốn hơn (Green và Stern, 2016).
Có thể thấy mô hình phát triển kinh tế tập trung vào công nghiệp nặng trên diện rộng của Trung Quốc đã mang lại thành công to lớn. Tuy nhiên hiện nay các ngành xây dựng và công nghiệp nặng đã đạt đến điểm bão hòa, và việc tiếp tục khuyến khích kinh tế-chính trị đầu tư vào những ngành này sẽ làm giảm lợi nhuận trên vốn và làm suy yếu tăng trưởng năng suất (CCICED, 2014, IMF, 2015). Như vậy, sẽ khó giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Mô hình tăng trưởng kinh tế truyền thống đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường. Việc khai thác nguyên liệu thô đã gây ra một lượng lớn chất thải và phát thải ô nhiễm. Năm 2010, ngành công nghiệp liên quan đến kim loại thô (bao gồm kim loại đen, kim loại màu) tạo ra 1,8 tỷ chất thải rắn công nghiệp và thải ra 2,73 triệu tấn SO2. Ô nhiễm và rủi ro từ việc xử lý chất thải sản phẩm không thường xuyên đã gây ra những ảnh hưởng xấu cho môi trường và sức khỏe con người.
Sự phụ thuộc vào nhiệt điện than và việc sử dụng phương tiện ngày càng tăng trong khu vực đô thị đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí trầm trọng. 85% lượng khí thải SO2, NOx, CO2 và 70% bụi là từ than. Năm 2012, tỷ trọng tiêu thụ chính của than thô ở Trung Quốc là 86%, cao hơn nhiều so với tỷ trọng trung bình của thế giới (63%). Tổng lượng phát thải khí nhà kính ở Trung Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ đứng đầu thế giới kể từ năm 2007. Rohde và Muller (2015) ước tính rằng ô nhiễm vật chất dạng hạt Ô nhiễm PM2.5 góp phần gây ra 1,6 triệu ca tử vong sớm mỗi năm. Ô nhiễm nước và đất cũng đáng chú ý. Theo báo cáo của (MEP & DLR, 2014) rằng khoảng 16% đất bị ô nhiễm, trong đó có khoảng 20 triệu ha đất nông nghiệp (chiếm 1/5 tổng diện tích đất nông nghiệp). Về tình trạng nước, theo báo cáo vào tháng 1 năm 2015, 29% tổng lượng nước bề mặt bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau, trong đó có 11% lượng nước bề mặt bị ô nhiễm nặng (Envrinmental Mornitoring Station of PR China, 2015). Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường và suy thoái sinh thái gây ra tương đương 10% GDP hàng năm và số tiền khổng lồ đã được chi cho việc khắc phục môi trường (Sun Y, 2010).( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Ngoài ra, tài nguyên và năng lượng đã trở thành một hạn chế lớn đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới và chiếm 1/5 dân số thế giới. Tuy nhiên, Trung Quốc chỉ nắm giữ một lượng tài nguyên bình quân đầu người thấp, với 1/4 tài nguyên nước bình quân đầu người trên thế giới, 1/3 diện tích đất trên đầu người trên thế giới và 1/2 tài nguyên khai thác trên đầu người của thế giới (Qian, 2009, Sun , 2010). Trung Quốc nắm giữ khoảng 19% dân số thế giới, nhưng chỉ sở hữu 17% quặng sắt, 17% quặng đồng, 11% alumin, 11% dầu mỏ và 4,5% khí đốt tự nhiên. Số liệu này cho thấy trữ lượng tài nguyên nước, đất đai và tài nguyên kim loại chính trên đầu người thấp hơn mức trung bình trên thế giới.
Với nguồn lực hạn chế như vậy, hiệu quả sử dụng nguồn lực cũng tương đối thấp. Để tạo ra 1 đô la Mỹ GDP cần 2,5 kg nguyên liệu ở Trung Quốc so với 0,54kg nguyên liệu trên một đô la Mỹ GDP ở các nước OECD (Mathews và Tan, 2016). Các ngành công nghiệp tiêu thụ tài nguyên và năng lượng cũng đòi hỏi một lượng lớn nhiên liệu hóa thạch và khoáng sản đầu vào – các nguồn lực đã vượt quá nguồn cung trong nước. Do đó, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chủ yếu dựa vào nguồn cung cấp nguồn lực bên ngoài, và sự bất ổn định của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc tăng lên (Sun, 2010).
Có thể thấy mô hình tăng trưởng kinh tế thông thường là không bền vững. Do đó, cần phải có một chiến lược phát triển bền vững, thân thiện với môi trường và có khả năng phục hồi để giải quyết các vấn đề và thách thức nêu trên đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý. Do đó, ý tưởng về nền kinh tế tuần hoàn đã xuất hiện và thúc đẩy ở Trung Quốc nhằm tách biệt sự tăng trưởng kinh tế với việc suy thoái môi trường và tiêu thụ tài nguyên kém hiệu quả.
2.2. Thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc
1. Cơ sở pháp lý và thể chế về kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc ( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Phát triển các khái niệm về Kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc
Vào cuối những năm 1990, đối mặt với những thách thức về tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và giảm thiểu phát thải carbon, các học giả Trung Quốc đã lấy cảm hứng từ việc xuất bản Đạo luật quản lý chất thải và chu trình kín của Đức vào năm 1996 và lần đầu tiên đề xuất khái niệm nền kinh tế tuần hoàn ở Trung Quốc (Zhu, 1998 , Zhu, 2008).
Luật Khuyến khích Kinh tế Tuần hoàn định nghĩa kinh tế tuần hoàn là: Các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế trong quá trình sản xuất, luân chuyển và tiêu dùng (NDRC, 2008). Định nghĩa đơn giản này tuy không thể hiện tốt hết các chức năng và nội hàm của kinh tế tuần hòan, nhưng nó bao hàm giá trị cốt lõi của các nguyên tắc 3R. Các nguyên tắc “3R” – bao gồm giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế vật liệu và năng lượng – thường được mô tả như ba cách tiếp cận khả thi để thực hành kinh tế tuần hoàn (Feng, 2004). Chúng đã được đưa vào cả sản xuất và tiêu dùng khi nguyên liệu và năng lượng được sử dụng trong hai lĩnh vực này (Zhu và Qiu, 2007).
Cắt giảm là giảm thiểu đầu vào của năng lượng và nguyên liệu thô bằng cách nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời giảm thiểu các loại chất thải trong quá trình sản xuất, luân chuyển và tiêu dùng, đây là phương án được ưu tiên nhất trong ba nguyên tắc. Tái sử dụng đề cập đến các sản phẩm phụ, sản phẩm thu hồi, sản phẩm tái sản xuất và chất thải từ một công ty hoặc ngành đang được sử dụng làm tài nguyên / nguyên liệu thô cho chính nó hoặc các ngành công nghiệp khác. Nó yêu cầu sử dụng các sản phẩm ở khả năng tối đa với việc bảo trì và cải tạo thường xuyên để kéo dài độ bền của sản phẩm. Tái chế khuyến khích chế biến các vật liệu có thể tái chế thành các sản phẩm mới để có thể giảm mức tiêu thụ nguyên liệu thô. Những cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ đạt được một nền kinh tế hiệu quả trong khi thải ra ít chất ô nhiễm hơn.
Qua 10 năm thăm dò và thực hành, Trung Quốc đã nêu ra nội hàm và đặc điểm của riêng mình cho nền kinh tế tuần hoàn. Yuan và cộng sự (2008) kết luận rằng nền kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc là một ý tưởng về mô hình kinh tế và chiến lược phát triển tôn trọng tự nhiên hơn là chính sách quản lý môi trường (Zhu, 2008, Su và cộng sự, 2013, Geng và cộng sự, 2012). Nó phù hợp với chiến lược phát triển khoa học của Trung Quốc và rất hữu ích trong việc nâng cao hiệu quả tài nguyên và quản lý môi trường, cùng với việc đạt được sự phát triển bền vững và đôi bên cùng có lợi trong cả kinh tế và môi trường. Ngoài ra, nền kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc không chỉ hướng đến nền kinh tế 3R để xử lý chất thải rắn đối với các vật thể mà ở tất cả các nguồn lực khan hiếm liên quan đến sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, bao gồm nước, đất đai, năng lượng, vật liệu và chất thải tương ứng. Các học giả và nhà hoạch định chính sách cũng nhận ra nhu cầu ngày càng tăng trong việc phát triển từ tái chế chất thải mức độ thấp dựa trên hiệu quả sinh thái (giảm ô nhiễm và chất thải) sang tái chế sản phẩm và dịch vụ mức độ cao dựa trên các hiệu ứng sinh thái (ngăn ngừa ô nhiễm và tiêu dùng) (Yuan và cộng sự, 2008)( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
2. Thiết lập các đường lối, mô hình, chiến lược và chính sách phát triển Sau khi tham dự hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển năm
1992, phát triển bền vững đã được chính quyền trung ương Trung Quốc đưa vào lịch trình. Cụ thể năm 1992 Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã xây dựng 10 Chiến lược hàng đầu cho Môi trường và Phát triển và chính thức đề xuất luật Sản xuất sạch hơn. Năm 1993, Cục Bảo vệ Môi trường Nhà nước Trung Quốc, được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, bắt đầu Dự án Trình diễn B-4, dự án sản xuất sạch hơn có hệ thống đầu tiên ở Trung Quốc. Thông qua dự án, chính phủ đã kiểm toán kế hoạch sản xuất sạch hơn của 27 công ty và 29 dự án nhỏ khác. Kết quả đánh giá cho thấy nhiều công ty đạt được sản xuất sạch hơn thông qua việc chấn chỉnh. Ví dụ, sau khi đầu tư 68.500 CNY và thực hiện 10 chương trình, nhà máy bia Yên Đài số 2 đã thu được lợi ích kinh tế 2,89 triệu CNY và giảm sử dụng than xuống còn 810 tấn (21%), điện năng xuống 134.000 kWh (18%), lương thực 3,56 tấn (18%), lượng nước lên 98,000 tấn (28 %), và xả rác thải còn 20.000 tấn (27%). Sau đó, một số dự án sản xuất sạch hơn hợp tác Trung – nước ngoài được thực hiện liên tiếp, do đó đã thúc đẩy hiệu quả sự phát triển của sản xuất sạch.
Năm 1994, Trung Quốc xác định phát triển bền vững là chiến lược quốc gia của mình bằng cách xuất bản Dân số và Phát triển cho thế kỷ 21 trên Sách trắng Trung Quốc. Kinh tế tuần hoàn là một trong những cách tiếp cận hiệu quả để thúc đẩy phát triển bền vững về phía trước, các hành động đã được thực hiện sau khi khái niệm kinh tế tuần hoàn được đề xuất vào năm 1996. Cục Bảo vệ Môi trường Nhà nước (SEPA, trước đây là Bộ Bảo vệ Môi trường-MEP) bắt đầu thúc đẩy khái niệm Kinh tế tuần hoàn bằng cách khởi động một loạt các dự án thử nghiệm trên khắp đất nước vào năm 1998 (Yuan và cộng sự, 2008).
Năm 2002, Luật Khuyến khích sản xuất sạch hơn chính thức được phát hành. Luật này không đề cập trực tiếp đến kinh tế tuần hoàn, nhưng nó đề cập đến kiểm toán môi trường để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, ngăn ngừa và giảm thiểu phát sinh chất thải, phù hợp với nền kinh tế tuần hoàn và hữu ích trong việc thực hiện kinh tế tuần hoàn trong thời gian đầu (NPC, 2002).( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Sau đó, Gợi ý về Đẩy nhanh Phát triển Nền kinh tế Tuần hoàn của Quốc vụ viện Trung Quốc được xuất bản vào năm 2005, đây là tài liệu đầu tiên hỗ trợ việc thúc đẩy thực hiện nền kinh tế tuần hoàn ở cấp quốc gia (The State Council, 2005). Tài liệu này cung cấp hướng dẫn về các biện pháp tài chính, thuế và đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nền kinh tế tuần hoàn, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của chính phủ và trọng tâm của công tác thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn.
Đề cương Phát triển Trung và Dài hạn Quốc gia về Khoa học và Công nghệ (2006-2020) đã đưa Kinh tế tuần hoàn vào làm công nghệ then chốt trong tài liệu phát hành năm 2006, và đã cung cấp các hỗ trợ công nghệ để thực hành kinh tế tuần hoàn (NDRC, 2006).
Cũng cùng năm 2002, Kinh tế tuần hoàn đã được Chính quyền trung ương Trung Quốc chấp nhận là chiến lược phát triển chính của quốc gia (Yuan và các cộng sự, 2008). Kế hoạch quốc gia “5 năm (2005-2010)” lần thứ 11 và kế hoạch quốc gia “5 năm (2011-2015)” lần thứ 12 đều coi Kinh tế tuần hoàn là nhiệm vụ chính để xây dựng xã hội, bảo tồn tài nguyên và thân thiện với môi trường (NPC, 2006 , 2011). Một số mục tiêu của kế hoạch là tăng tỷ lệ tái sử dụng chất thải công nghiệp lên 72% vào năm 2015, đồng thời nâng cao hiệu quả sản lượng tài nguyên lên 15%. Kế hoạch vạch ra một chiến lược ba cấp, trong đó 10 sáng kiến tái chế quan trọng đối với chất thải công nghiệp và chuyển đổi các khu công nghiệp đã được thực hiện, 100 thành phố thí điểm như Quảng Châu và Tô Châu.đã quyết định thử nghiệm các sáng kiến, và 1,000 khu công nghiệp nữa sẽ được thành lập (John A. Mathews& Hao Tan, 2016). Một khoản đầu tư trị giá 468 tỷ đô la Mỹ đã được đưa ra để đạt được các mục tiêu được trình bày trong kế hoạch, trong đó kế hoạch cũng hướng vào việc nội bộ hóa các mục tiêu bền vững trong các tổ chức và thúc đẩy một mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng lượng tái tạo. Mục tiêu của các sáng kiến là đưa 50% khu công nghiệp quốc gia và 30% khu công nghiệp cấp tỉnh trải qua quá trình chuyển đổi kinh tế hoàn toàn theo tuần hoàn vào năm 2015, và tại đó sẽ gần như không phát thải chất ô nhiễm và chất thải vào năm 2008, trong báo cáo trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 17 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Hu, 2007), Chủ tịch Hồ đã tuyên bố rằng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trên quy mô lớn là yêu cầu chính trong việc xây dựng một xã hội thịnh vượng. Sau đó năm 2012, trong báo cáo trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18, Chủ tịch Hồ cũng một lần nữa chỉ ra rằng Phát triển Kinh tế tuần hoàn là một chiến lược quốc gia, và cũng là một trong những cách tiếp cận chính để đạt được mục tiêu xây dựng nền văn minh sinh thái (Hu, 2012).
Liên hợp quốc cũng đã đồng ý rằng Kinh tế tuần hoàn có thể là một cách tiếp cận để đạt được phát triển bền vững. Trong nghị quyết thứ 5 về Hóa chất và Chất thải, được Hội đồng Môi trường Liên hợp quốc (UNEA) của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) thông qua tại phiên họp đầu tiên năm 2014, nhấn mạnh rằng việc quản lý hợp lý hóa chất và chất thải – một phần của thực hiện Kinh tế tuần hoàn, sẽ đóng góp đáng kể vào phát triển bền vững (UNEP, 2014). Sau đó, tại kỳ họp thứ hai của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Môi trường của UNEP vào năm 2016, nghị quyết thứ 7 và nghị quyết thứ 9 đã tuyên bố thêm rằng tất cả các bên liên quan đều cần và được yêu cầu tham gia vào việc quản lý chất thải lành mạnh về môi trường để ngăn ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi chất thải, kể cả thức ăn thừa. Trong nghị quyết thứ 8, cũng đã tuyên bố rằng Kinh tế tuần hoàn có thể là một cách tiếp cận để tiêu dùng và sản xuất bền vững (UNEP, 2016). Những nội dung này đều đã được thể hiện trong Luật Khuyến khích Kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc được xuất bản năm 2008.( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Cụ thể, vào ngày 29 tháng 8 năm 2008, Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc lần thứ 11 đã thông qua Luật Khuyến khích Kinh tế Tuần hoàn, có hiệu lực tại Trung Quốc vào ngày 1 tháng 1 năm 2009 (NPC, 2008). Đây là luật chuyên ngành thứ ba về Kinh tế tuần hoàn sau Đức và Nhật Bản trên toàn thế giới. Về nội dung, Luật cho rằng các chiến lược kinh tế tuần hoàn sẽ chỉ được thực hiện nếu nó khả thi về công nghệ, thực tế về kinh tế, phù hợp trong việc tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý việc thúc đẩy nền Kinh tế tuần hoàn, nơi họ phải tổ chức, điều phối và điều chỉnh các chiến lược Kinh tế tuần hoàn quốc gia. Theo luật, bất kỳ chính sách công nghiệp mới nào do Chính phủ tạo ra đều phải đáp ứng các tiêu chí thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Ngành công nghiệp phải thực hiện các hệ thống quản lý nhằm giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên và phát sinh chất thải, đồng thời cải thiện việc thu hồi và tái chế tài nguyên. Thông qua Luật thúc đẩy Khuyến khích Kinh tế tuần hoàn , Chính phủ Trung Quốc khuyến khích nghiên cứu, phát triển, thúc đẩy và hợp tác quốc tế về khoa học liên quan đến nền kinh tế tuần hoàn, cũng như hỗ trợ giáo dục, công khai và phổ biến kiến thức khoa học. Mục đích là cung cấp cho người dân nhận thức tốt hơn về việc thực hành tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường (Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, 2008).
Năm 2012, Luật Khuyến khích Sản xuất Sạch hơn cũng được sửa đổi, theo đó nâng cao cường độ trừng phạt các hành vi bãi bỏ quy định (The State Council, 2013).
Chiến lược Phát triển Nền kinh tế Tuần hoàn và Kế hoạch Hành động hiện tại được lập vào ngày 23 tháng 1 năm 2013 đã tiếp tục trình bày chi tiết hơn về ý tưởng một nền Kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc. Kế hoạch vạch ra ba cấp độ của nền kinh tế tuần hoàn ở Trung Quốc, theo thứ tự: trong một công ty, trong các khu công nghiệp và ở cấp thành phố hoặc khu vực (Hubert Thieriot, 2015). Kế hoạch đưa ra nhiều mục tiêu khác nhau cho năm 2015 và 2020, bao gồm cả lĩnh vực công nghiệp và xã hội. Các mục tiêu đề ra cần đạt được vào năm 2015 là có một công nghệ tái chế tài nguyên được sử dụng rộng rãi, tiên tiến, tái sử dụng 72% chất thải rắn công nghiệp, một hệ thống hiện đại để thu hồi ít nhất 70% sản phẩm chất thải và cải thiện sự phục hồi của các nguồn lực quan trọng. Các mục tiêu khác bao gồm nâng cao năng suất năng lượng lên 18,5%, tăng năng suất nước lên 43%, hỗ trợ ngành công nghiệp tái chế đạt sản lượng 276 tỷ đô la Mỹ và tái sử dụng 70% một số khoáng chất gây ô nhiễm nặng. Các mục tiêu cho năm 2020 được vạch ra trong kế hoạch bao gồm việc có một hệ thống công nghệ công nghiệp sáng tạo có thể tái sử dụng và tái chế vật liệu một cách hiệu quả, cũng như tạo ra một ngành công nghiệp mới liên quan đến sản xuất thiết bị kỹ thuật tiên tiến nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh. Hệ thống công nghệ công nghiệp tiên tiến sẽ có thể giải quyết các mối quan tâm về quản lý chất thải của các khu vực nông thôn và thành thị vào năm 2020 (Qi, Jianguo và các cộng sự, 2016)..
Tiếp sau đó Phiên bản mới nhất của Luật Bảo vệ Môi trường, được sửa đổi vào năm 2014, nhấn mạnh đến việc tăng cường tái chế tài nguyên và sản xuất sạch hơn (NPC 2014). Luật Phòng chống và Kiểm soát Ô nhiễm Môi trường do Chất thải rắn được sửa đổi năm 2015 cũng tuyên bố thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn và sản xuất sạch hơn (NPC 2015). Ngoài ra, hơn 200 chính sách, quy định, hướng dẫn và tiêu chuẩn liên quan đến Kinh tế tuần hoàn đã được công bố trong giai đoạn 2005-2015 để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kinh tế tuần hoàn( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Và gần đây nhất, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia đã đưa ra một kế hoạch mới cho 5 năm từ 2016 – 2020, và bản dự thảo Hướng dẫn Kế hoạch phát triển Kinh tế tuần hoàn cũng đã được công bố. Kế hoạch này dựa trên ba ý tưởng cốt lõi, đó là tăng cường các giải pháp quản lý, nâng cao chất lượng môi trường và đẩy nhanh việc sửa chữa các thiệt hại về môi trường. Nhiệm vụ chủ yếu của Kế hoạch 5 năm (2016 – 2020) lần thứ 13 là: thúc đẩy toàn diện sản xuất vòng tuần hoàn nhằm thiết lập nền Kinh tế tuần hoàn ở mọi cấp độ trong xã hội: từ ngành công nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp, dịch vụ đến xã hội tuần hoàn; xây dựng hệ thống phát triển tuần hoàn và chiến lược tài nguyên mới; giảm tiêu thụ và phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và thúc đẩy cuộc sống xanh (bao gồm tiêu dùng xanh, phân loại chất thải, v.v.) (NDRC, 2016). Kế hoạch cũng dự kiến năng suất tài nguyên sẽ tăng 15% so với mức năm 2015 và Tỷ lệ sử dụng toàn diện chất thải rắn công nghiệp, Tỷ lệ sử dụng toàn diện rơm rạ lần lượt phải vượt mức 73% và 85%. Trên 75% khu công nghiệp quốc gia và 50 khu công nghiệp cấp tỉnh phải thực hiện các chiến lược hoàn chỉnh vào năm 2020. Giá trị sản lượng dự kiến của các ngành công nghiệp tái chế là 3000 tỷ RMB (tương đương 450 tỷ đô la Mỹ).
Ngoài ra, kế hoạch còn đặt trọng tâm vào việc cải thiện chất lượng tài nguyên nước, thông qua quản lý theo đơn vị, các sáng kiến trên toàn lưu vực để giải quyết ô nhiễm nước, bảo vệ các nguồn nước với chất lượng tốt, tạo ra các chiến lược để giải quyết ô nhiễm nước ngầm và cải thiện chất lượng nước ở cả thành thị và nông thôn. Theo quy hoạch, chất lượng nước đạt loại III hoặc tương đương đối với 70% số quốc gia có nước mặt vào năm 2020. Ngoài ra còn tập trung vào ô nhiễm đất, nơi sẽ phải thực hiện nhiều hơn việc giám sát toàn diện. Mục tiêu là có thể sử dụng 90% đất bị ô nhiễm, tăng từ 70,6% vào năm 2015 (Bảng 2.2). Khung thuế bảo vệ môi trường mới và bồi thường được đưa ra trong kế hoạch, nhằm mục đích thúc đẩy thị trường trái phiếu xanh trong nước (China Water Risk, 2016).
Từ các chính sách xuyên suốt từ năm 1992 đến nay, có thể thấy Trung Quốc thực sự đánh giá Kinh tế tuần hoàn là một mô hình tất yếu cần phải thực hiện để đảm bảo sự phát triển bền vững và lâu dài cho đất nước, và cũng nghiêm túc nỗ lực xây dựng và triển khai đưa Kinh tế tuần hoàn vào thực tiễn.
3. Áp dụng Chính sách kinh tế tuần hoàn vào thực tiễn tại Trung Quốc ( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Như đã trình bày ở trên, Trung Quốc là một trong các quốc gia điển hình cho việc triển khai Kinh tế tuần hoàn theo hệ thống nền kinh tế. Cụ thể được chỉ ra chi tiết như dưới.
Chiến lược Kinh tế Tuần hoàn đòi hỏi phải cải tổ hoàn toàn toàn bộ hệ thống hoạt động của con người, bao gồm cả quá trình sản xuất và hoạt động tiêu dùng. Như vậy, đó là một quá trình biến đổi lâu dài ở cả cấp độ cá nhân và cấp độ quốc gia. Trước khi nền kinh tế tuần hoàn chính thức được đề xuất, Cục Bảo vệ Môi trường Nhà nước (SEPA) bắt đầu thúc đẩy khái niệm Kinh tế tuần hoàn và khởi động một loạt dự án trên khắp cả nước. Các dự án này chủ yếu tập trung vào tái chế chất thải thông qua việc xây dựng các vòng lặp khép kín dựa trên chất thải giữa các công ty khác nhau. Những thực hành đó đã cung cấp hướng dẫn và kinh nghiệm cho việc tiếp tục thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn và một cách tiếp cận ba lớp để thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn đã được đề xuất.
Từ năm 2005, cách tiếp cận ba lớp đã được áp dụng để thực hiện nền kinh tế tuần hoàn.
Ở cấp độ vi mô (doanh nghiệp hoặc cá nhân), việc thực hiện Kinh tế tuần hoàn đạt được bằng cách tiến hành đánh giá Sản xuất sạch hơn (CP), vốn là bắt buộc đối với các doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng. Cơ chế đánh giá doanh nghiệp thân thiện với môi trường cũng được đưa ra. Ở cấp độ này bao gồm một loạt các sáng kiến cấp công ty (cấp vi mô) như thiết kế sinh thái của các nhà máy sản xuất, giảm thiểu chất thải, sản xuất sạch hơn và hệ thống quản lý môi trường (EMS). Cho đến nay, sản xuất sạch hơn là hoạt động quan trọng và thành công nhất ở cấp vi mô của nền kinh tế tuần hoàn. Với việc ban hành Luật khuyến khích sản xuất sạch hơn của Trung Quốc vào năm 2002, khái niệm sản xuất sạch hơn đã được các công ty trên khắp đất nước chấp nhận như một thực tế mới. Cho đến nay, các dự án áp dụng sản xuất sạch hơn đã được thực hiện tại 24 tỉnh, liên quan đến nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau, bao gồm hóa chất, vật liệu xây dựng, hóa dầu, dược phẩm, chế tạo máy, khai thác mỏ, gạch ngói, nhà máy điện, công nghiệp luyện kim, nhẹ công nghiệp, giao thông vận tải và công nghiệp điện tử (Geng, Yong; Doberstein, Brent , 2008). Để thúc đẩy khái niệm này, một trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia, bốn trung tâm sản xuất sạch hơn trong lĩnh vực công nghiệp (tức là hóa dầu, hóa chất, công nghiệp luyện kim và chế tạo máy bay) và 11 trung tâm sản xuất sạch hơn ở địa phương đã được thành lập. Các trung tâm như vậy đã tổ chức 550 chương trình đào tạo và hơn người đã được đào tạo (Wang Y, 2004). Ngoài ra, luật sửa đổi về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối với chất thải rắn đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm Luật này còn yêu cầu các công ty quản lý chất thải rắn của họ và giảm thiểu tổng lượng chất thải (Yuan và các cộng sự, 2008).
Ở cấp độ trung bình hoặc cấp độ thứ hai, mục tiêu chính là phát triển mạng lưới công nghiệp sinh thái mang lại lợi ích cho cả hệ thống sản xuất trong khu vực và bảo vệ môi trường bằng cách sử dụng năng lượng theo tầng, chia sẻ cơ sở hạ tầng địa phương, trao đổi phụ phẩm và tái chế chất thải. Phát triển các khu công nghiệp sinh thái (EIP) là một thực tiễn điển hình ở cấp độ này. Mục đích của các EIP là để tận dụng việc kinh doanh các sản phẩm phụ công nghiệp như nhiệt năng, nước thải và chất thải sản xuất (Yuan và các cộng sự, 2008). Để thúc đẩy sự phát triển của các dự án EIP, Cục Bảo vệ Môi trường Nhà nước (SEPA) đã ban hành hướng dẫn quốc gia về EIP (Wang YQ, 2004). Hướng dẫn này phác thảo phương pháp lập kế hoạch EIP của Trung Quốc, nhấn mạnh đến việc thiết lập các hệ thống quản lý vật liệu, nước và năng lượng tích hợp ở cấp khu công nghiệp. Cách tiếp cận tích hợp này khuyến khích việc tạo ra và duy trì mạng lưới công nghiệp sinh thái giữa các công ty
Bằng cách hỗ trợ quản lý chuỗi cung ứng xanh và hậu cần đảo ngược, các sản phẩm từ tái chế hoặc thiết kế lại vật liệu đóng gói để giảm năng lượng và ô nhiễm do phân phối sản phẩm (Rogers và Tibben-Lembke, 1998)), các nhà quản lý khu công nghiệp có thể đạt được mục tiêu về mức tối thiểu tổng thể lãng phí, đồng thời tối đa hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên.( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Cũng cần lưu ý rằng các khu công nghiệp của Trung Quốc có chức năng kép vừa là khu sản xuất vừa là khu dân cư. Một khu công nghiệp điển hình của Trung Quốc có khu sản xuất công nghiệp, khu nghiên cứu khoa học, khu dân cư và khu kinh doanh và dịch vụ, khác với mô hình Bắc Mỹ nơi các khu công nghiệp chủ yếu dựa vào sản xuất (Geng Y and Côté R, 2003) . Do đó, các hướng dẫn EIP khuyến khích các nhà lập kế hoạch EIP cần cân nhắc kết hợp cả công nghiệp và nhu cầu vào kế hoạch của họ, ủng hộ đề xuất EIP nên bao gồm kế hoạch ứng phó khẩn cấp và kế hoạch giáo dục sinh thái cộng đồng để tăng cường năng lực của địa phương trong việc ứng phó với các trường hợp khẩn cấp. Hướng dẫn cũng yêu cầu thành lập một nhóm công tác EIP cụ thể để điều phối việc thực hiện các kế hoạch EIP và tạo ra các diễn đàn nơi tất cả các bên liên quan có thể phản ánh ý kiến của họ.
Sau khi phát hành các hướng dẫn mới, khái niệm EIP đã trở nên phổ biến trên toàn quốc. Yuan và cộng sự. (2008) đã chỉ ra hơn 100 khu công nghiệp đã được hướng dẫn bởi các nguyên tắc EIP. Trong số này, 16 dự án EIP đã được SEPA chọn làm dự án thực hiện EIP quốc gia, nhằm đưa ra nhiều mô hình phát triển cho các khu vực và lĩnh vực công nghiệp khác, đồng thời tổng kết các kinh nghiệm và bài học liên quan.
Ở cấp độ vĩ mô hoặc xã hội, Kinh tế tuần hoàn thể hiện ở việc phát triển các thành phố sinh thái, đô thị sinh thái hoặc các tỉnh sinh thái. Ở Trung Quốc, sự khác biệt giữa thành phố sinh thái và EIP là các thành phố sinh thái tập trung vào cả hoạt động sản xuất và tiêu dùng, trong khi EIP tập trung vào hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp (Yuan và cộng sự, 2008). Hành động cụ thể có thể kể đến Chính quyền các thành phố, bao gồm Thượng Hải, Hàng Châu, Dương Châu và Quý Dương, và các chính quyền cấp tỉnh Liêu Ninh, Hải Nam, Giang Tô và Cát Lâm đã thiết lập kế hoạch xây dựng một thành phố sinh thái hoặc một tỉnh sinh thái (Lowe E and Geng Y, 2003). Khác với hai cấp độ đầu tiên, cấp độ này đề cập đến cả vấn đề sản xuất và tiêu dùng. Từ quan điểm sản xuất, khái niệm Kinh tế tuần hoàn khuyến khích việc thiết lập các mạng lưới công nghiệp sinh thái khu vực và tìm cách tạo ra một xã hội tuần hoàn bằng cách tối ưu hóa hiệu quả sinh thái sử dụng nguyên liệu. Các công ty ‘người nhặt rác’, nơi hình thành các chức năng thu hồi, tái sử dụng, sửa chữa và điều chỉnh lại chất thải, và các công ty ‘người phân hủy’, cho phép tái chế bằng cách chia nhỏ các chất thải phức tạp thành các thành phần hữu cơ, kim loại, nhựa và các thành phần khác có thể tái sử dụng (Geng Y and Côté R, 2003), đang được thúc đẩy bởi các chính quyền địa phương. Các chính sách tài chính và tuyển dụng lao động ưu đãi (như giá thuê đất thấp và cho vay lãi suất thấp) đã được soạn thảo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các công ty này. Từ quan điểm tiêu dùng, khái niệm Kinh tế tuần hoàn khuyến khích việc tạo ra một xã hội theo định hướng bảo tồn, tìm cách giảm cả tổng tiêu dùng và sản xuất chất thải. Cả cá nhân và chính phủ đều được khuyến khích giảm thiểu tác động của việc tiêu dùng, nhằm hướng dẫn người tiêu dùng tránh xa các hình thức tiêu dùng lãng phí để tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường trong cuộc sống hàng ngày của họ. Ví dụ, người dân thành thị hiện được lựa chọn mua các sản phẩm nông nghiệp trong siêu thị không bị phun thuốc trừ sâu. Một số sản phẩm công nghiệp, như giấy tái chế, đã được dán nhãn là ‘sản phẩm xanh’, trong khi việc sản xuất các sản phẩm không thân thiện với môi trường, chẳng hạn như thiết bị làm lạnh có CFC (chloro- fluorocarbons), sẽ bị loại bỏ vào năm 2007 (World Bank, 2005 ).
Các nỗ lực ở cả ba cấp bao gồm phát triển các doanh nghiệp, phục hồi tài nguyên và xây dựng các cơ sở công cộng, đã được thực hiện để hỗ trợ việc hiện thực hóa khái niệm Kinh tế tuần hoàn. Số lượng các đơn vị thực hiện ở mỗi cấp tăng dần để mở rộng việc thực hành và chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn.
Mô hình triển khai CE tại Trung Quốc thể hiện tóm tắt trong Hình 2.1
Năm 2005, giai đoạn thực hiện Kinh tế tuần hoàn đầu tiên đã được đưa ra, đánh dấu mốc khởi đầu của việc thực hiện Kinh tế tuần hoàn. Tổng cộng có 7 ngành công nghiệp và 4 hệ thống tái chế tham gia vào giai đoạn này, bao gồm: Sắt thép, Kim loại màu, Than đá, Điện lực, Công nghiệp hóa chất, Vật liệu xây dựng, Công nghiệp nhẹ, trong đó chủ yếu tập trung vào việc chuyển đổi các ngành công nghiệp nặng sang phát triển tuần hoàn. Tổng số 67 doanh nghiệp, khu công nghiệp từ 19 tỉnh đã hoàn thành chuyển đổi và được phê duyệt vào năm 2014 (NDRC và cộng sự, 2014) (Bảng 2.3).
Giai đoạn thứ hai triển khai nền kinh tế tuần hoàn được đưa ra vào năm 2007. Dự án này không chỉ nhắm vào các ngành công nghiệp nặng, mà còn bao gồm các ngành sản xuất giấy và dệt may, những ngành có tác động tiêu cực đáng kể đến môi trường cũng như nông lâm nghiệp. Đã có thêm 66 doanh nghiệp, khu công nghiệp, thành phố, thị xã và tỉnh vượt qua vòng kiểm tra quốc gia, trong năm 2015 tổng số đơn vị thực hiện đã tăng lên 150 đơn vị. Thêm 9 tỉnh vào diện thực hiện. Đến cuối năm 2015, 29 tỉnh trong tổng số 34 tỉnh đã bắt đầu chuyển đổi sang Kinh tế tuần hoàn (Bảng 2.3)( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Một dự án lớn khác, được gọi là dự án Kinh tế tuần hoàn “Mười, Trăm, Nghìn” đã được thực hiện từ năm 2013. Dự án này nhằm mục đích đạt được công nghệ xuyên suốt và đổi mới quản lý, nhằm thúc đẩy nền Kinh tế tuần hoàn ở một phạm vi đáng kể. Đầu tiên, mười dự án triển khai Kinh tế tuần hoàn được thiết lập như danh sách trong Bảng 2.3. Mỗi dự án riêng lẻ sẽ có số lượng đơn vị (xí nghiệp, khu công nghiệp, thành phố) hoàn thành nhiệm vụ. Những nhiệm vụ đó bao gồm cải thiện tỷ lệ sử dụng toàn diện, thiết lập các phương pháp tiếp cận sáng tạo để đạt được hiệu quả sử dụng toàn diện, giảm lượng khí thải hoặc thậm chí đạt được mức không phát thải, đổi mới công nghệ, quy trình xử lý chất thải vô hại. Một trăm thị trấn, thành phố và một nghìn doanh nghiệp và khu công nghiệp được lựa chọn để tham gia một hoặc nhiều dự án. Hướng dẫn Kế hoạch phát triển Thông tư (NDRC, 2016) cũng nêu rõ rằng đến năm 2020, 75% công viên cấp quốc gia và 50% công viên cấp tỉnh phải thực hiện cải cách tuần hoàn. Về cấp độ xã hội, sản xuất tuần hoàn và tiêu dùng xanh đã được thúc đẩy, và cần xây dựng một hệ thống tái chế hoàn chỉnh cho toàn thành phố. Qua nhiều năm triển khai Kinh tế tuần hoàn, những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong việc thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Dưới đây là một vài ví dụ.
Có thể bạn quan tâm:
4. Tái chế thiết bị điện và điện tử thải (WEEE) – Waste Electrical and Electronic Equipment
Tái chế WEEE là một lĩnh vực tương đối tốt trong việc thực hiện nền kinh tế tuần hoàn. Ngoại trừ Quy định về Quản lý Thu gom và Xử lý Thiết bị Điện và Điện tử Rác thải, có rất ít tài liệu hỗ trợ và quy định việc tái chế WEEE, chẳng hạn như Hướng dẫn Chuẩn bị Kế hoạch Phát triển Xử lý WEEE và Danh mục Xử lý WEEE. Các Biện pháp Hành chính về Giấy phép Xử lý WEEE làm cho việc tái chế WEEE được bình thường hóa hơn, và Các Biện pháp Hành chính về Thu và Sử dụng Quỹ Xử lý của WEEE quy định rằng các doanh nghiệp được ủy quyền có thể thu được lợi nhuận nhỏ hơn khi thực hiện việc tái chế WEEE. Cho đến năm 2015, 109 doanh nghiệp tái chế WEEE đã nhận được giấy phép Xử lý WEEE và được đưa vào danh sách của Quỹ Xử lý chất thải điện tử của WEEE. Các sản phẩm được ủy quyền đã tăng từ 5 loại lên 14 loại trong năm 2014. Rõ ràng là tỷ lệ tái chế TV, Tủ lạnh, Máy giặt, Điều hòa, Máy tính đã tăng lên đáng kể kể từ khi Quỹ WEEE được áp dụng vào năm 2012.
- Công nghiệp hóa tái sản xuất
Trong giai đoạn 2008-2014, có tổng cộng 42 doanh nghiệp được chọn làm thí điểm phụ tùng ô tô để thúc đẩy ngành công nghiệp tái sản xuất ở Trung Quốc. Dự án thử nghiệm sản phẩm tái sản xuất “cũ để tái sản xuất” được khởi động vào năm 2013, sau đó vào năm 2015, 10 doanh nghiệp đã được chọn làm đơn vị thí điểm và danh sách các sản phẩm được triển khai đã được đưa ra, trong đó chủ yếu bao gồm hộp số và động cơ (NRCD, 2015).
- Phát triển thí điểm rác thải nhà bếp
Hội đồng nhà nước đã ban hành Ý kiến về việc tăng cường quản lý dầu ăn bất hợp pháp và chất thải thực phẩm nhà bếp vào năm 2010, và chính quyền quốc gia bắt đầu thực hiện công việc thí điểm tái chế chất thải nhà bếp đô thị và xử lý hợp lý môi trường, Trung Quốc đã tổ chức 5 đợt dự án thí điểm tái chế chất thải nhà bếp từ năm 2010, tìm hiểu việc thiết lập các điều kiện về đăng ký chất thải nhà bếp, hệ thống quản lý thu hồi, đánh giá và giám sát được ủy quyền đối với việc xử lý tập trung và sản phẩm dựa trên tài nguyên. Dự án này cũng bao gồm việc xây dựng các dự án thực hiện tái chế chất thải nhà bếp và tiêu hủy an toàn, hướng dẫn tiêu dùng khoa học và giảm thiểu phát sinh. Hiện tại, số lượng thành phố thực hiện xử lý chất thải nhà bếp đã lên đến con số 100 ở Trung Quốc. NDRC và Bộ Tài chính đã thành lập năm đợt thí điểm thành phố sử dụng và xử lý vô hại chất thải nhà bếp vào các năm 2011, 2012, 2013, 2014 và 2015, và số thành phố của mỗi đợt lần lượt là 33, 16, 17, 17 và 17.
5. Sự khác biệt giữa Phát triển bền vững và Kinh tế tuần hoàn
Từ thế kỷ 20, gánh nặng môi trường đáng kể liên quan đến bùng nổ dân số, sự gia tăng của hiện tượng ấm lên toàn cầu, suy thoái môi trường và khan hiếm tài nguyên hiện đã trở thành những mối quan tâm lớn trên toàn thế giới. Trước nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế, việc cân bằng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, môi trường và tài nguyên đã trở thành thách thức lớn nhất và khiến nhiều các quốc gia tìm kiếm các cách tiếp cận sáng tạo để giải quyết những vấn đề này.
Kể từ khi Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển tổ chức vào năm 1992, phát triển bền vững đã được chấp nhận rộng rãi như là chìa khóa để đáp ứng nhu cầu phát triển của con người đồng thời bảo vệ các hệ thống hỗ trợ sự sống của trái đất. Phát triển bền vững có thể được định nghĩa là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các nhu cầu của chính họ. Phát triển bền vững hiện đã trở thành một sự đồng thuận quốc tế và là mục tiêu quan trọng của hợp tác quốc tế và khu vực, và các quốc gia đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) (NDRC, 2012a). Để thúc đẩy và thực hiện phát triển bền vững hơn nữa trong mười lăm năm tới, Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững đã được các nhà lãnh đạo thế giới thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững của LHQ vào tháng 9 năm 2015 và đã thiết lập 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) làm cốt lõi (LHQ, 2016). Chương trình nghị sự này nhằm mục đích huy động nỗ lực đạt được sự phát triển bền vững từ cấp địa phương đến toàn cầu.( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Cụ thể 17 mục tiêu này bao gồm:
- SDG 1: Xóa nghèo dưới mọi hình thức ở mọi nơi
- SDG 2: Xóa đói, đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng, phát triển nông nghiệp bền vững.
- SDG 3: Đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh và nâng cao phúc lợi cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi.
- SDG 4: Đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở và công bằng và nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người.
- SDG 5: Đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái.
- SDG 6: Đảm bảo sự sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và cải thiện các điều kiện vệ sinh cho tất cả mọi người.
- SDG 7: Đảm bảo việc tiếp cận năng lượng với giá cả hợp lý, tin cậy, bền vững và hiện đại cho tất cả mọi người.
- SDG 8: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, rộng mở và bền vững, việc làm đầy đủ và năng suất và công việc tốt cho tất cả mọi người.
- SDG 9: Xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa rộng mở và bền vững, khuyến khích đổi mới.
- SDG 10: Giảm bất bình đẳng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc
- SDG 11: Xây dựng các đô thị và các khu dân cư mở cửa cho tất cả mọi người, an toàn, vững chắc và bền vững.
- SDG 12: Đảm bảo các mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững.
- SDG 13: Có biện pháp khẩn cấp để chống lại biến đổi khí hậu và các tác động của nó.
- SDG 14: Bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển cho phát triển bền vững.
- SDG 15: Bảo vệ, tái tạo và khuyến khích sử dụng bền vững các hệ sinh thái trên cạn, quản lý tài nguyên rừng bền vững, chống sa mạc hóa, chống xói mòn đất và mất đa dạng sinh học.
- SDG 16: Thúc đẩy xã hội hòa bình và rộng mở cho phát triển bền vững, mang công bằng đến với tất cả mọi người và xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm và rộng mở ở tất cả các cấp.
- SDG 17: Đẩy mạnh cách thức thực hiện và đem lại sức sống mới cho quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển bền vững.
Từ các mục tiêu của phát triển bền vững, có thể thấy, Kinh tế tuần hoàn chỉ đáp ứng được cải thiện hoạt động môi trường, chủ yếu tập trung đề cập đến lợi ích kinh tế thông qua giảm đầu vào, tăng hiệu quả và tránh lãng phí với kết quả tương đối tức thì hơn là xem xét một cách tổng thể về cả ba khía cạnh của tính bền vững. Do đó, đây được coi là một cách tiếp cận được đề xuất để đạt được một phần phát triển bền vững, nhằm giải quyết vấn đề suy giảm các nguồn lực kinh tế bằng cách coi chất thải kinh tế như một nguồn tài nguyên kinh tế hữu ích. Đây cũng là một mô hình giúp loại bỏ lãng phí và tối đa hóa giá trị của các nguồn lực, tiếp cận tổng thể trong nhiều lĩnh vực, và khi được kết hợp với các cân nhắc về công bằng xã hội và con người sẽ cung cấp một khuôn khổ góp phần đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).
Cụ thể Kinh tế tuần hoàn đã thực hiện hóa mục tiêu phát triển bền vững như sau:
- SDG 12: Đảm bảo các mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững.
Đây là một đặc điểm trọng tâm của kinh tế tuần hoàn. Thiết kế chất thải ra khỏi các sản phẩm chúng ta sản xuất và tiêu thụ là một trong những nguyên tắc chính của nền kinh tế tuần hoàn
Các hoạt động của nền kinh tế tuần hoàn như giảm thiểu, thiết kế lại, tái sử dụng, sửa chữa, tái sản xuất và tái chế liên quan trực tiếp đến việc đạt được SDG 12 (Sản xuất và tiêu dùng bền vững) bằng cách sử dụng công nghệ và mô hình kinh doanh mới, giảm lượng sản phẩm không bền vững được sản xuất và mua, chia sẻ và sửa chữa, thiết kế loại bỏ chất thải và quản lý an toàn các chất độc hại. Do đó, hiệu quả sử dụng tài nguyên có thể được cải thiện và giảm áp lực lên môi trường tự nhiên.
Đặt trong trường hợp Trung Quốc, dể thực hiện mục tiêu này, Chính phủ Trung Quốc hoàn toàn cam kết tuân thủ nguyên tắc về phát triển xanh, đặt ngay trong nền kinh tế tuần hoàn và đã xây dựng các quan niệm về bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên và năng lượng vào các quá trình công nghiệp hóa kiểu mới, thông tin hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa nông nghiệp. Trung Quốc đã áp dụng hệ thống kiểm soát kép, cụ thể là kiểm soát cả khối lượng và cường độ tiêu thụ năng lượng và tiêu thụ nước theo quy định trong các Kế hoạch 5 năm lần thứ 11, 12, 13 về Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia. Trung Quốc đã thực hiện kết hợp nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy việc tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. Chiến lược Phát triển Nền kinh tế Tuần hoàn và Kế hoạch Hành động hiện tại được ban hành năm 2013 đã kích thích sự phát triển của kinh tế tuần hoàn trên tất cả các mặt bằng cách tăng cường cung cấp thể chế, tạo động lực mới cho sự phát triển thông tư và khởi động các chiến dịch đặc biệt lớn. Các ý kiến chỉ đạo về việc thúc đẩy xây dựng cơ sở tái chế tài nguyên và các biện pháp tạm thời để đánh giá và quản lý việc sử dụng toàn diện các nguồn chất thải rắn công nghiệp đã được ban hành để thúc đẩy việc xử lý tập trung và tiêu chuẩn hóa và tái chế chất thải công nghiệp và thành phố như quặng thải, xỉ luyện kim , thép phế liệu, phế liệu kim loại màu, lốp xe đã qua sử dụng, phế thải xây dựng và phế thải nhà bếp.( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Bên cạnh SDG 12, nền kinh tế tuần hoàn cũng có thể giúp đạt được nhiều mục tiêu SDG khác. Trên thực tế, bằng cách hiện thực hóa SDG 12, các mục tiêu về giảm thiểu khí hậu và môi trường như SDG 14 (Môi trường nước) và SDG 15 (Môi trường cạn) cũng có thể đạt được.
- SDG 2: Xóa đói, đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng, phát triển nông nghiệp bền vững.
Nền kinh tế tuần hoàn bao gồm các hoạt động nông nghiệp tái tạo phục hồi đất và những cải tiến mới như làm vườn thủy canh, cùng với việc giảm lượng thực phẩm chúng ta lãng phí và chế độ ăn bền vững là chìa khóa để giảm suy dinh dưỡng và loại bỏ nạn đói. Ngoài ra, kinh tế tuần hoàn cũng bao gồm các hoạt động nông nghiệp tái sinh.
- SDG 3: Đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh và nâng cao phúc lợi cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi
Các giải pháp di chuyển mạch vòng carbon thấp để cắt giảm ô nhiễm không khí đô thị và giảm chất thải độc hại và nước thải từ hoạt động công nghiệp có thể góp phần vào sức khỏe tốt và hạnh phúc của cộng đồng.
- SDG 6: Đảm bảo sự sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và cải thiện các điều kiện vệ sinh cho tất cả mọi người.
Nhiều giải pháp kinh tế tuần hoàn tồn tại cho lĩnh vực nước và vệ sinh có thể cung cấp nước uống an toàn và các dịch vụ vệ sinh cho hàng triệu người hiện đang không có điều kiện tiếp cận. Các giải pháp kinh tế tuần hoàn cũng tạo ra nước uống an toàn và vệ sinh
- SDG 9: Xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa rộng mở và bền vững, khuyến khích đổi mới
Các mô hình kinh doanh vòng tuần hoàn mới dựa trên các giải pháp kỹ thuật số là yếu tố chính cho các nền kinh tế có khả năng phục hồi và bền vững. Các mô hình kinh doanh vòng tuần hoàn mới dựa trên các giải pháp kỹ thuật số, sản xuất phụ gia như in 3D và hệ thống hậu cần mới để đóng các vòng lặp tài nguyên, là những yếu tố quan trọng cho nền kinh tế có khả năng phục hồi và bền vững.
- SDG 11: Xây dựng các đô thị và các khu dân cư mở cửa cho tất cả mọi người, an toàn, vững chắc và bền vững.
Cải thiện điều kiện nhà ở tại các khu định cư phi chính thức thông qua các giải pháp xây dựng mô-đun giá cả phải chăng và thúc đẩy các giải pháp giao thông các-bon thấp có thể khiến các thành phố và cộng đồng trở thành những nơi tốt hơn để sống. Điều quan trọng là, một nền kinh tế bao trùm và công bằng về mặt xã hội giải quyết điều kiện lao động kém trong lĩnh vực chất thải cũng có thể đóng góp vào các SDG bổ sung như SDG 8 (Việc làm bền vững và Tăng trưởng Kinh tế).( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Cuối cùng, việc đạt được tất cả các SDG sẽ là cần thiết để xóa bỏ đói nghèo và nâng cao mức sống của người dân (SDG 1: Không nghèo đói). Nền kinh tế tuần hoàn, nếu được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực và tập trung vào một quá trình chuyển đổi công bằng, là cơ hội để góp phần đạt được một số lượng đáng kể các mục tiêu SDG, từ đó làm cho cuộc sống của con người và hành tinh trở nên tốt đẹp hơn.
Như vậy triển khai kinh tế tuần hoàn không phải là chìa khóa để đạt được tất cả mục tiêu của phát triển bền vững mà chỉ đáp ứng được là công cụ giải quyết một phần bài toán phát triển bền vững. Với các khía cạnh liên quan cụ thể hơn về con người, xã hội, các quốc gia, cụ thể ở đây là Chính phủ Trung Quốc vẫn phải áp dụng các chính sách phát triển bền vững khác. Ví dụ:
- SDG 4: Đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở và công bằng và nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người.
Đây là một mục tiêu Kinh tế tuần hoàn không đề cập đến được. Để đạt được mục tiêu này, Chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên chiến lược cho giáo dục và liên tục tăng chi tiêu tài chính cho nó. Một hệ thống chính thức với nhiều loại tổ chức khác nhau nhắm vào các giai đoạn giáo dục khác nhau đã được hình thành. Hỗ trợ có sẵn trong tất cả các cơ sở giáo dục cho học sinh từ các gia đình khó khăn về kinh tế. Công bằng giáo dục cũng không ngừng được cải thiện. Trung Quốc cũng tích cực tham gia vào các trao đổi giáo dục quốc tế và hợp tác, đóng góp vào nỗ lực toàn cầu hướng tới mục tiêu phát triển 4.
Trung Quốc cũng đã tăng cường đầu tư vào giáo dục để tạo điều kiện cho sự phát triển cân bằng và chất lượng cao của giáo dục bắt buộc. Năm 2018, Trung Quốc có 213.800 trường giáo dục bắt buộc cộng 101.400 điểm trường tiểu học ngoài khuôn viên, với 150 triệu học sinh và 9,73 triệu giáo viên toàn thời gian; tỷ lệ nhập học chung của các trường tiểu học và trung học cơ sở lần lượt là 103,2% và 100,9%; 99,3% học sinh và 97,1% học sinh trung học cơ sở hoàn thành chương trình học của mình (Bộ ngoại giao Trung Quốc, 2019).
- SDG 5: Đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái
Trung Quốc đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển nam và nữ bình đẳng và đưa ra các cơ chế đánh giá bình đẳng giới đối với các luật, quy định và chính sách. Quan điểm giới và phân tích giới hiện là một phần của quá trình hoạch định chính sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ ngay từ đầu. Đến tháng 3 năm 2019, 30 tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương đã thể chế hóa việc đánh giá bình đẳng giới đối với các luật và chính sách. Vào năm 2018, Bộ Nội vụ và sáu cơ quan khác đã ban hành Ý kiến hướng dẫn về việc làm tốt công việc của thôn và các thỏa thuận của cộng đồng, nhấn mạnh rằng các thỏa thuận tự quản này phải bao gồm nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ. Môi trường gia đình hòa thuận, trong đó tất cả các thành viên đều bình đẳng được khuyến khích cho tất cả các hộ gia đình. Các phương tiện thông tin đại chúng đã nỗ lực tăng cường giám sát. Khái niệm và chính sách quốc gia cơ bản về bình đẳng giới đã trở thành một phần của giáo dục tiểu học và trung học khi 15 tỉnh (khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương) đưa các thông điệp bình đẳng giới vào chương trình giảng dạy. Chiến dịch Care for Girls vẫn tiếp tục.
Trung Quốc bảo vệ quyền bình đẳng về kinh tế của phụ nữ và thực hiện các hành động để thúc đẩy việc làm và tinh thần kinh doanh của phụ nữ. Tài liệu Một số ý kiến của Ủy ban Trung ương CPC và Hội đồng Nhà nước về Ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông thôn và làm tốt công việc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân được xuất bản năm 2019 lần đầu tiên nói rõ điều đó trong việc cải cách quyền tài sản ở nông thôn hệ thống các quyền hợp pháp của con gái đã kết hôn phải được bảo vệ. Luật Giao khoán đất ở nông thôn sửa đổi năm 2018 quy định mọi quyền và lợi ích đối với đất nhận khoán đều được các thành viên trong gia đình trong từng hộ gia đình cụ thể ở nông thôn hưởng như nhau theo quy định của pháp luật.( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
SDG 10: Giảm bất bình đẳng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia Trung Quốc đã cải thiện các đảm bảo về thể chế để thúc đẩy công bằng xã hội. Nhà nước pháp quyền đã được tăng cường để đảm bảo cơ hội bình đẳng. Các Quy định Tạm thời về Giấy phép Cư trú đã được ban hành; Luật Khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi; và Luật Đầu tư nước ngoài đã được thảo luận và thông Các chính sách, luật và quy định hiện hành đã được rà soát và cập nhật để đảm bảo nguồn vốn tư nhân tiếp cận hiệu quả vào các lĩnh vực tài chính, năng lượng, đường sắt, viễn thông và các lĩnh vực khác, đồng thời thúc đẩy một sân chơi bình đẳng ổn định, minh bạch và có thể dự đoán được. Quá trình đô thị hóa kiểu mới đã đạt được những tiến bộ vững chắc. Gần 14 triệu người trước đây làm nông nghiệp đã sống ở các thành phố và thị trấn với khả năng tiếp cận hàng hóa và dịch vụ công cộng đô thị được đảm bảo. Một hệ thống điều chỉnh trung tâm cho các quỹ bảo hiểm hưu trí cơ bản dành cho nhân viên công ty đã được đưa ra. Mức lương hưu cơ bản cho người nghỉ hưu và người dân thành thị và nông thôn đã được tăng lên. Chính sách đóng bảo hiểm xã hội thay cho người nghèo đã được đưa vào thực hiện nhằm khuyến khích người nghèo tham gia các chương trình bảo hiểm. Tập trung vào một số nhóm chính, chẳng hạn như lao động nhập cư, những người có việc làm linh hoạt và những người làm việc trong các ngành nghề mới và đang phát triển.
Tóm lại có thể thấy Kinh tế tuần hoàn là một phần không thể thiếu của chương trình nghị sự bền vững và có thể đóng góp vào một số mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) khác nhau. Đây là một công cụ hiệu quả để các quốc gia triển khai để sớm đạt được mục tiêu phát triển của mình
2.3. Đánh giá chung việc triển khai Kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc
1. Những thành tựu của quá trình triển khai Kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc
Bằng cách thực hiện Kinh tế tuần hoàn đã mang lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội và môi trường và đạt được những lợi ích con người cho cả thế hệ hiện tại và thế hệ sau.
– Giảm đáng kể tác động của phát triển kinh tế đến môi trường và tài nguyên
Nền kinh tế truyền thống chủ yếu dựa vào môi trường và kinh tế. Để tách biệt giữa phát triển kinh tế với môi trường và tài nguyên, hiệu quả sử dụng tài nguyên cao hơn, tái chế tài nguyên và sử dụng tài nguyên tái tạo được thúc đẩy ở Trung Quốc.
+ Cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực
Hiệu quả sử dụng tài nguyên cao hơn có nghĩa là có thể tạo ra GDP cao hơn bằng cách sử dụng ít tài nguyên, nguyên liệu và năng lượng hơn. Nhìn chung, năng suất tài nguyên đã tăng lên đáng kể vào năm 2005 thể hiện nhờ hiệu quả của tài nguyên khoáng sản, năng lượng và nước. Theo báo cáo, mỗi tấn than có thể tạo ra 12,4 nghìn RMB giá trị sản phẩm năm 2010 so với 10 nghìn RMB / tấn than năm 2005, và cường độ năng lượng ước tính sẽ tăng lên 1,47 nghìn RMB vào năm 2015. Cường độ nước đã tăng 59% từ năm 2005 đến năm 2010, và ước tính sẽ tăng 118% đến năm 2015. Một tiến bộ đáng kể trong việc giảm hiệu quả sử dụng năng lượng cũng được ghi nhận. Tiêu thụ năng lượng để tạo ra 10.000 RMB GDP giảm từ 1,22 tấn than xuống 0,76 tấn than. Từ năm 2011 đến năm 2015, mức tiêu thụ năng lượng trên GDP lần lượt giảm 2,0%, 3,6%, 3,7%, 4,8% và 5,6% (NBS, 2016). Theo báo cáo mới nhất, mức tiêu thụ năng lượng trong nửa đầu năm giảm 5,2% so với mức tiêu thụ năng lượng trong năm 2015 (NBS, 2016). Về hiệu quả sử dụng nước, tiêu thụ nước để tạo ra GDP 10.000 RMB đã giảm 70% trong thập kỷ qua (Biểu đồ 2.4). Hiệu suất năng lượng cao hơn có thể làm giảm tiêu thụ than khi tạo ra cùng một GDP, và do đó góp phần giảm phát thải carbon. Hiệu quả sử dụng nước cao hơn có thể giảm thiểu tình trạng khan hiếm nước ở một mức độ nào đó.
+ Thành tích trong việc sử dụng toàn diện tài nguyên
Giá năng lượng sơ cấp, nguyên liệu thô và tài nguyên tiếp tục tăng do vấn đề khan hiếm tài nguyên. Các giải pháp cho chi phí sản xuất ngày càng tăng là sử dụng toàn diện tài nguyên và tái chế tài nguyên tái tạo. Những cách tiếp cận đó có thể trực tiếp cắt giảm đầu vào của nguyên liệu thô và các nguồn tài nguyên sơ cấp.
Hiệu quả định hướng nhất của việc thực hiện kinh tế tuần hoàn là phát triển nhanh chóng việc sử dụng toàn diện các nguồn tài nguyên, bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên chất thải và tài nguyên tái tạo. Nhìn chung, tỷ lệ sử dụng toàn diện tất cả các nguồn lực tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 1% kể từ năm 2005 đến năm 2013 (The State Council, 2013). Bằng cách phát triển sử dụng toàn diện tài nguyên, khoảng 6700 ha đất để lưu giữ chất thải rắn đã giảm.
Bằng cách sử dụng tài nguyên tái tạo như thép và kim loại màu, ước tính có thể tiết kiệm được 0,25 tỷ tấn than mỗi năm, và việc thải nước thải, phát thải carbon và sản xuất chất thải rắn có thể giảm 17 tỷ tấn, 0,6 tỷ tấn và 5 tỷ tấn, tương ứng, so với sử dụng tài nguyên chính (NDRC, 2014). Bằng cách tái chế phế liệu dệt, 3,8 triệu tấn dầu và hơn 220 nghìn ha đất nông nghiệp đã được tiết kiệm.( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
+ Sử dụng toàn diện chất thải
Năm 2013, tỷ lệ thu hồi khoáng chất màu đã tăng lên đến 85%. Tỷ lệ thu hồi khai thác than và sắt cũng đạt 95%. Tỷ lệ thu hồi phụ phẩm trong quá trình khai thác tiếp tục tăng và tỷ lệ thu hồi Au, Ag, S và Mo lần lượt là 66,7%, 71,4%, 76,7% và 47,0%. Lượng chất thải khai thác tái chế hàng năm là 0,3 tỷ tấn vào năm 2013, chiếm 18,9 sản lượng chất thải khai thác. 3% chất thải tái chế được sử dụng để sản xuất kim loại có giá trị, và sản lượng hàng năm vượt quá 10 triệu tấn. Tổng giá trị sản phẩm của việc sử dụng chất thải khai thác là 90 tỷ RMB. Điện năng do chất thải hoặc sản phẩm phụ tạo ra trong quá trình sản xuất than có thể lên tới 30 triệu KWH, tương đương với lượng điện do 450 triệu tấn than nguyên sinh tạo ra (NDRC,2014).
Chất thải rắn công nghiệp cũng được tái chế tốt (Bảng 2.4). 62,3% tổng lượng chất thải rắn công nghiệp sản xuất trong năm 2013 đã được sử dụng toàn diện (NDRC, 2014). Thạch cao, là sản phẩm phụ của các hoạt động công nghiệp, tỷ lệ sử dụng của nó đạt khoảng 50% vào năm 2013 và 10% đã được tăng lên kể từ năm Bã thải từ luyện thép và kim loại màu lần lượt là 67% và 17,5%, tổng lượng sử dụng đạt 0,36 tỷ tấn . Phần còn lại chủ yếu được sử dụng làm vật liệu sản xuất xây dựng và hóa chất. Tỷ lệ sử dụng toàn diện của dư lượng hóa chất công nghiệp khác nhau giữa các loại khác nhau. Một số chất thải rắn có thể tái chế 100% như chất thải canxi cacbua và crôm. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng toàn diện của một số chất thải rắn công nghiệp thấp hơn 20%, bao gồm tro soda và chất thải bari. Tỷ lệ luân chuyển rác thải xây dựng chỉ là 5%.
+ Tái chế tài nguyên tái tạo
Việc tái chế tài nguyên tái tạo cũng có các thành tự đáng kể. Bộ Thương mại xác định có tất cả mười nguồn tài nguyên tái tạo chính. Cũng theo thống kê của Bộ Thương mại, tổng khối lượng tái chế trong 5 năm từ 2010-2015 là 977 triệu tấn, và khối lượng tái chế hàng năm đã tăng lên đáng kể trong năm 2013 và 2014, gấp 1,5 lần so với trước đó (Biểu đồ 2.5). Năm 2014, lượng tài nguyên tái tạo 10 loại ở Trung Quốc đạt 245 triệu tấn, thu hồi xấp xỉ 64467 trăm triệu nhân dân tệ. Chi tiết khối lượng tái chế của mười nguồn tài nguyên tái tạo chính giai đoạn 2011-2015 được trình bày trong Bảng 2.5. Sắt thép, giấy và nhựa là tài nguyên tái tạo được tái chế nhiều nhất ở Trung Quốc, chiếm khoảng 90% tổng khối lượng tái chế.
Lợi thế của việc sử dụng toàn diện tài nguyên và tái chế tài nguyên tái tạo được thể hiện từ ba khía cạnh. Thứ nhất, nền kinh tế vòng tuần hoàn kêu gọi sử dụng các sản phẩm phụ, chất thải và tài nguyên tái tạo thay cho năng lượng và tài nguyên sơ cấp. Điều này có thể làm giảm trực tiếp sự khai thác tài nguyên, bao gồm: khoáng sản, gỗ, nhiên liệu hóa thạch từ môi trường của con người và ít gây thiệt hại hơn cho môi trường. Thứ hai, việc tái chế kim loại, chẳng hạn như thép và kim loại màu, có thể giảm tiêu thụ than được sử dụng để nấu chảy kim loại, và do đó cũng có thể góp phần giảm phát thải carbon. Thứ ba, bằng cách sử dụng những chất thải và sản phẩm phụ đó làm tài nguyên, cần phải xử lý ít chất thải rắn hơn. Nếu chất thải rắn công nghiệp không được xử lý đúng cách, sự ô nhiễm sẽ gây ra cho đất, nước và không khí. Do đó, kinh tế tuần hoàn cũng góp phần cải thiện công tác quản lý chất thải. Ở trên cũng đề cập rằng đất để phục hồi chất thải rắn được tiết kiệm, có thể giúp thành phố giảm bớt căng thẳng về đất đai. Nhìn chung, những lợi thế đó đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các thành phố bao trùm, an toàn, có khả năng phục hồi và bền vững.
+ Tái chế carbon và nước
Việc tái chế nước thải cũng là một khía cạnh được ưu tiên tập trung triển khai Kinh tế tuần hoàn. Hàng năm, khối lượng nước được sử dụng trong các hoạt động công nghiệp là rất lớn, điều này làm trầm trọng thêm vấn đề thiếu nước. Tái chế nước thải có thể làm giảm đáng kể việc khai thác tài nguyên nước. Theo NDRC (2014) tỷ lệ tái chế nước hàng năm ước tính đặt tối thiểu là 62% trong giai đoạn 2010-2013 và lượng nước mỏ tái chế hàng năm là trên 6 tỷ tấn m3. Tái chế nước cũng góp phần ngăn chặn việc nước bị ô nhiễm thải vào hệ thống nước mặt và nước ngầm, do đó đã cải thiện an ninh nước ở một mức độ nhất định.
Cũng theo NDRC (2014) công suất tái chế CO2 đã đạt 10 triệu tấn vào năm 2013, tăng gấp đôi so với công suất tái chế cacbon năm 2000. Lượng khí thải carbon quốc gia năm 2010 là 7,2 tỷ tấn và tiếp tục tăng cho đến năm 2015. Do đó, ước tính rằng việc tái chế carbon có thể giảm 0,1% lượng khí thải carbon mỗi năm. Nếu việc tái chế carbon có thể được thúc đẩy hơn nữa, thì có thể đạt được nhiều thành tựu hơn trong việc giảm phát thải carbon.
+ Tái chế chất thải nông nghiệp và lâm nghiệp
Chất thải nông nghiệp và lâm nghiệp cũng được bao gồm trong các hoạt động triển khai Kinh tế tuần hoàn. Trong Chiến lược phát triển nền Kinh tế tuần hoàn và kế hoạch hành động đã nêu rõ nhiệm vụ quốc gia là chuyển đổi nông nghiệp sang chế độ kinh tế tuần hoàn (The State Council, 2013). Năm 2013, hơn 600 triệu tấn rơm rạ đã được sử dụng toàn diện, chiếm 77,1% sản lượng rơm rạ. Khoảng 95% chất thải lâm nghiệp đã được sử dụng, chủ yếu được sử dụng cho sản xuất giấy và năng lượng sinh khối. Hơn 40% chất thải chăn nuôi đã được tái chế để tạo ra khí mê-ta.
Mời bạn tham khảo thêm:
2. Phát triển kinh tế bền vững( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Kinh tế tuần hoàn với tư cách là chiến lược phát triển quốc gia, ưu tiên hàng đầu vẫn sẽ là phát triển kinh tế nhưng theo hướng bền vững hơn. Phát triển kinh tế bền vững đạt được nhờ hiệu quả sử dụng tài nguyên cao hơn và tỷ trọng tài nguyên tái tạo trong sản xuất cao hơn. Trên thực tế, ngành công nghiệp mới nổi liên quan đến kinh tế tuần hoàn cũng có thể tạo ra lợi ích kinh tế đáng kể. Giá trị sản phẩm của việc sử dụng toàn diện tài nguyên đã lên đến 1300 tỷ RMB vào năm 2013 (NDRC, 2014). Tuy nhiên, việc thúc đẩy kinh tế tuần hoàn có tác động đến sự phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010-2015 có xu hướng giảm dần nhưng GDP vẫn tăng. Tăng trưởng kinh tế chậm hơn có thể bền vững hơn và phù hợp với Trung Quốc (Green and Stern, 2016).
Ngoài ra, kinh tế tuần hoàn được coi là mô hình phát triển bền vững vì Kinh tế tuần hoàn có thể mở rộng chuỗi công nghiệp và do đó tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn (Sun, 2010). Theo báo cáo, 18 triệu người đang tham gia vào các ngành công nghiệp tái chế tài nguyên.
3. Xã hội bền vững
Xây dựng xã hội bền vững có nghĩa là xóa bỏ đói nghèo, đảm bảo cuộc sống lành mạnh và thúc đẩy phúc lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi, đồng thời mang lại chế độ an toàn, khả năng phục hồi và bền vững. Điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế là cần thiết để xây dựng một xã hội bền vững. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng 3R có thể cải thiện khả năng phục hồi của thành phố tốt hơn trước tác động bên ngoài. Kinh tế tuần hoàn cũng làm giảm tác động tiêu cực đến môi trường bằng cách giảm khai thác tài nguyên, phát thải carbon và ô nhiễm, do đó mang lại một môi trường tốt hơn cho con người. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tỷ lệ việc làm cao hơn do Kinh tế tuần hoàn tạo ra có thể làm tăng sự an toàn và ổn định của xã hội.
- Những rào cản và thách thức của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn ở Trung Quốc.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu nhưng vẫn còn nhiều rào cản và thách thức đối với việc thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn ở Trung Quốc. Những rào cản và thách thức như vậy có thể được phân thành ba nhóm: 1) Chính sách và hệ thống quản lý, đánh giá; 2) Thông tin và công nghệ và 3) Sự tham gia của cộng đồng.
- Chính sách và hệ thống quản lý, đánh giá
Từ góc độ chính sách, hệ thống luật pháp của Trung Quốc nhìn chung hiện vẫn chưa tạo ra một nền tảng thống nhất để thúc đẩy nền Kinh tế tuần hoàn.
Luật Khuyến khích Kinh tế tuần hoàn được coi là đạo luật duy nhất về nền kinh tế tuần hoàn. Sự trừng phạt đối với việc không tuân thủ là không đủ, các bên bị thương không được bồi thường thích đáng, và sự tuân thủ của tình nguyện viên không được khen thưởng. Điều này sẽ dẫn đến việc tuân thủ pháp luật kém và hiệu lực của pháp luật rất hạn chế (Wang, 2006).
Bên cạnh đó Hệ thống quản lý của chính phủ đã bị đặt dấu hỏi ở Trung Quốc do cấu trúc phức tạp của các cơ quan chính phủ, trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương kém và nạn tham nhũng. Việc thực hiện Kinh tế tuần hoàn trong một thời gian bền vững đòi hỏi các nỗ lực quản lý tổng hợp, bao gồm lãnh đạo cao nhất, sự tham gia tích cực của các chủ thể chính ở tất cả các cấp chính quyền, cũng như tính minh bạch và khả năng dự đoán trong cả các công cụ chính sách hành chính và kinh tế.( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Ngoài ra, các tiêu chuẩn đánh giá có hệ thống hơn cần được thiết lập với việc xem xét quá trình thu thập, tính toán và đệ trình dữ liệu, các chỉ số giảm tiêu thụ năng lượng / nguyên liệu theo định hướng phòng ngừa và tuyệt đối, để thiết lập các mục tiêu cụ thể và định lượng ở mỗi chính quyền địa phương (Geng và cộng sự, 2012 ). Điều này cũng thể hiện ở việc thiếu các chỉ số để đánh giá việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu trong khi triển khai Kinh tế tuần hoàn – trong khi Giảm thiểu là ưu tiên hàng đầu trong số các khái niệm 3R, nhưng nó chưa được phản ánh từ thực tiễn của nền Kinh tế tuần hoàn. Thành tích giảm thiểu hiếm khi được đề cập trong báo cáo quốc gia và báo cáo công nghiệp. Các doanh nghiệp thích đóng góp vào việc tái sử dụng và tái chế vì nó dễ được chính phủ đánh giá và chấp nhận hơn. Cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cắt giảm và cần thiết lập cơ chế khen thưởng để khuyến khích việc cắt giảm.
- Thông tin và công nghệ
Khi phát triển Kinh tế tuần hoàn, cần có thông tin để lập kế hoạch và quản lý hiệu quả, bao gồm cả việc tạo ra các kịch bản để giảm thiểu, tái sử dụng và tái sử dụng một cách tối ưu. Thông tin hệ thống rất quan trọng đối với việc ra quyết định, bởi vì nó cho phép người ra quyết định tìm ra kế hoạch và quản lý thân thiện với môi trường và có lợi hơn về mặt tài chính đối với cấu trúc nguồn lực của họ để thiết kế một kịch bản cụ thể cho các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế tối ưu (Geng và Doberstein, 2008 ). Mọi doanh nghiệp công ty, từ một doanh nghiệp nhỏ đến một tập đoàn đa quốc gia lớn, đều là một phần của hệ thống kinh tế lớn hơn. Các công ty được liên kết với nhau thông qua các chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp. Chính vì thế đối với một doanh nghiệp, không chỉ thông tin nội bộ là cần thiết, mà thông tin của cả một hệ thống kinh tế lớn cũng rất quan trọng. Do đó, việc tạo ra mạng lưới thông tin có hệ thống sẽ là một thách thức rất lớn ở Trung Quốc. Bởi trong hầu hết các trường hợp, thông tin chính xác thường không có sẵn cho những người ra quyết định, hoặc không được truyền đạt kịp thời. Hơn nữa, do khuôn khổ quản lý phân tán, các loại thông tin khác nhau thường thuộc về các cơ quan khác nhau. Ví dụ, các cơ quan bảo vệ môi trường duy trì việc kiểm soát dữ liệu phát thải trong khi các cơ quan phát triển kinh tế thường thu thập và kiểm soát dữ liệu liên quan đến hoạt động kinh tế. Điều quan trọng là cả hai cơ quan này đều không phụ thuộc vào cơ quan kia, và sự hợp tác giữa các cơ quan vẫn còn hiếm, dẫn đến kết quả là cả cơ quan đều không thể đóng vai trò lãnh đạo cũng như cộng tác trong việc cung cấp thông tin như vậy cho cả doanh nghiệp. Tuy nhiên hiện tại nhờ sự phát triển của nền tảng Internet cũng như việc quản lý, tình trạng này đang được cải thiện hơn.
Bên cạnh Hệ thống thông tin, Khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò chủ chốt của nền Kinh tế tuần hoàn. Những thành tựu học thuật mới trong khoa học môi trường và công nghệ môi trường, chẳng hạn như những thành tựu đã đóng góp vào các lĩnh vực thiết kế sinh thái, sản xuất sạch hơn và đánh giá vòng đời, sẽ giúp cách mạng hóa các lĩnh vực liên quan của công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và khoa học vật liệu (Chen và Bacareza 1995). Cuộc cách mạng này sau đó sẽ giúp phát triển nền công nghiệp xanh bằng cách đạt được sản lượng công nghiệp tương đương trong khi sử dụng ít năng lượng hơn và ít nguyên liệu thô hơn với chi phí hợp lý trong khi tạo ra ít ô nhiễm hơn. Nếu không áp dụng các công nghệ hiện đại như vậy, không chắc các doanh nghiệp sẽ có thể nâng cao hiệu quả sinh thái và giảm tổng lượng thải ra. Có thể nói, Khoa học và công nghệ luôn là lực lượng sản xuất chính, đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế quốc dân ở Trung Quốc. Mặc dù mô hình phát triển kinh tế đang chuyển đổi nhưng tầm quan trọng của khoa học và công nghệ không thay đổi. Các nguyên tắc 3R đòi hỏi công nghệ tiên tiến và sự phát triển cũng như cập nhật các phương tiện và thiết bị (Su và cộng sự, 2013). Tuy nhiên, điều này sẽ không tự động xảy ra ở Trung Quốc. Nhu cầu đối với các công nghệ vượt trội về môi trường vẫn còn yếu.
4. Sự tham gia của cộng đồng( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng để xây dựng một nền Kinh tế tuần hoàn. Khi thực hiện khái niệm này, cần phải quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để đảm bảo phân bổ công bằng và hợp lý các nguồn lực khác nhau, và để bảo vệ môi trường; tất cả đều đòi hỏi sự hỗ trợ đầy đủ của tất cả các bên liên quan (tức là các nhà quản lý công nghiệp, quan chức chính phủ, nhân viên của các tổ chức nghiên cứu, cộng đồng). Nếu không có sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, sẽ khó điều phối các đóng góp của họ đối với nền Kinh tế tuần hoàn.
Về nhận thức của cộng đồng, thực tiễn của Đức và Nhật Bản chỉ ra rằng sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng đối với sự phát triển của Kinh tế tuần hoàn. Nó có thể quan trọng hơn đối với Trung Quốc do hiệu ứng ngoạn mục có thể được tạo ra bởi rất nhiều dân số (Geng và Doberstein, 2008). Trên thực tế, Trung Quốc thiếu khả năng về con người và thể chế để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào Kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, các chương trình và cơ sở quản lý môi trường tại nhiều cơ sở học thuật của Trung Quốc còn hạn chế (Su và cộng sự, 2013).
Bên cạnh đó các động lực kinh tế luôn là thứ hữu ích để định hướng phát triển. Ví dụ như giá tài nguyên và năng lượng cao hơn có thể không hữu ích vì nhà sản xuất có thể nâng giá bán, do đó các biện pháp khuyến khích kinh tế có thể hiệu quả hơn trong tình huống này. Thiếu các khuyến khích kinh tế cũng sẽ hạn chế sự đổi mới của các công nghệ thân thiện với môi trường (Su và cộng sự, 2013).
Ngoài ra, các hoạt động nâng cao nhận thức liên quan đến khái niệm nền kinh tế thế giới (bao gồm quảng cáo truyền hình, bản tin và hội thảo) nên được thực hiện định kỳ để xây dựng sự hiểu biết, vì những sáng kiến như vậy có thể cung cấp các diễn đàn mà tại đó các thử nghiệm từ các phần khác nhau thế giới và từ các tổ chức khác nhau có thể được xem xét một cách khách quan và các bài học rút ra từ những thử nghiệm kết hợp này. Các hoạt động này cũng có thể tạo cơ hội cho các bên liên quan tăng cường quan hệ hữu nghị và cơ sở lẫn nhau, đây sẽ là nền tảng vững chắc cho sự hợp tác sâu rộng hơn nữa trong việc thúc đẩy nền Kinh tế tuần hoàn.
5. Bài học thành công có thể vận dụng( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Qua nghiên cứu quá trình triển khai Kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc có thể rút ra một số bài học như sau:
Thứ nhất, muốn thực hiện Kinh tế tuần hoàn phải chú trọng cải cách thủ tục pháp lý liên tục và ban hành các chương trình cải cách nhằm tháo gỡ các vướng mắc và tìm kiếm giải pháp thay thế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế tuần hoàn. Kết quả đầu ra đã chứng minh rõ ràng rằng hàng loạt các rào cản pháp lý đã được gỡ bỏ, giúp các chủ thể kinh tế có thể dễ dàng hơn tham gia kinh tế theo phương thức tuần hoàn. Ngoài ra, những mảng pháp lý còn lỗ hổng cũng được Trung Quốc nỗ lực cải thiện. Bên cạnh đó còn là bài học về việc tăng cường đối thoại và chia sẻ kiến thức: Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, việc giám sát và thực thi sẽ thay đổi để thích ứng với tình hình thực tế, Chính phủ Trung Quốc cũng đã chủ động trong việc trang bị thêm kiến thức, kỹ năng và cải thiện năng lực cũng như lắng nghe nhu cầu của các chủ thể kinh tế, từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp với định hướng hiện thực hóa nền kinh tế tuần hoàn.
Thứ hai, phải thiết lập được các mục tiêu gắn liền với thời hạn đạt được mục tiêu. Chính phủ Trung Quốc với việc đặt ra các mục tiêu trong Kế hoạch 5 năm đã giúp Chính phủ và doanh nghiệp có thời gian đánh giá, cải thiện các biện pháp và chính sách của mình. Chính phủ Trung Quốc đặt ra lộ trình chung cho cả nền kinh tế, các chủ thể, lĩnh vực cũng dựa theo lộ trình chung đó mà đưa ra những lộ trình chuyển đổi riêng đối với các mặt hàng và chuỗi giá trị sản xuất của riêng mình. Lộ trình chuyển đổi cũng phụ thuộc vào các yếu tố nội tại của một quốc gia như quy mô, cơ cấu nền kinh tế, cơ sở hạ tầng, công nghệ phụ trợ…. Đối với các quốc gia đang phát triển khác, còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nguyên liệu thô thì lộ trình này sẽ phải kéo dài thêm một chút nhưng lại có lợi thế về việc tiếp nhận kinh nghiệm từ những nước phát triển đi trước như Trung Quốc.
Thứ ba, rác thải là vấn đề nghiêm trọng và là dẫn chứng vật lý dễ nhìn thấy nhất, do đó phải nhanh chóng phát triển được bộ công cụ giám sát và kiểm soát dòng chảy nguyên liệu và rác thải. Các bộ công cụ này không chỉ giúp Chính phủ kiểm soát được dòng luân chuyển nguyên liệu nội bộ mà còn đánh giá được rủi ro nguồn cung trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Bộ công cụ này phát huy được hiệu quả cao khi cùng lúc giám sát được nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành lĩnh vực để điều chỉnh mức độ tiêu thụ nguyên liệu, hạn chế xả thải và tận dụng các nguồn chất thải của các lĩnh vực khác nhau làm nguyên liệu đầu vào cho mình.
Thứ tư, có chính sách thực thi kinh tế tuần hoàn chi tiết cho từng cấp độ trong nền kinh tế để tổng quan nền kinh tế đi theo định hướng Kinh tế tuần hoàn. Việc chia nhỏ nền kinh tế theo từng cấp độ sẽ giúp cho việc triển khai Kinh tế tuần hoàn được chi tiết và đi đến từng cá nhân tham gia trong nền kinh tế. Các cá nhân có ý thức và thực hiện Kinh tế tuần hoàn sẽ giúp xây dựng những nền móng vững chắc cho triển khai Kinh tế tuần hoàn ở phạm vi rộng và đạt được mục tiêu đề ra. Trong trường hợp Trung Quốc, việc phân cấp thực hiện kinh tế tuần hoàn từ cấp doanh nghiệp lên đến cấp khu công nghiệp, cuối cùng là thành phố sinh thái đã chứng minh hiệu quả. Tại mỗi cấp đều có lộ trình thực hiện và đánh giá cụ thể cho việc triển khai kinh tế tuần hoàn.
Thứ năm, khoa học công nghệ là chìa khóa của kinh tế tuần hoàn. Điều cốt lõi trong triển khai kinh tế tuần hoàn là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, của kinh tế số và kết nối dữ liệu,… Các mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với công nghệ cao và cách mạng công nghiệp 4.0, do vậy, cần có cơ chế, chính sách cho phát triển công nghệ sạch, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải. Chất thải phải là nguồn tài nguyên trong nền kinh tế xét cả khía cạnh sản xuất và tiêu dùng. Trong trường hợp Trung Quốc, việc áp dụng khoa học công nghệ trong từng cấp – đặc biệt từ cấp doanh nghiệp với mô hình sản xuất sạch hơn – áp dụng nhiều tiến bộ khoa học vào quy trình cải tiến, sử dụng tài nguyên đã giúp giảm thiểu đáng kể lượng rác thải cũng như tăng năng suất sử dụng hiệu quả. Khoa học công nghệ còn được áp dụng trong việc liên kết các doanh nghiệp sản xuất sạch, về thông tin nguyên liệu đầu vào đầu ra của từng mô hình giúp các doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng được lượng nguyên lieu xoay vòng, tạo thành mạng lưới EIP hiệu quả, từ đó phát triển thành các thành phố sinh thái, nâng tầm quy mô triển khai kinh tế tuần hoàn. ( Luận văn Thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn)
Xem tiếp phần sau tại:
→ Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế của Trung Quốc tại Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
