Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam nhằm nhấn mạnh sự phát triển của công nghệ cũng mang lại nhiều thách thức như sự bảo đảm an toàn của giao dịch TMĐT, tính chất pháp lý của các giao dịch, tranh chấp tên miền nảy sinh, nguồn nhân lực để triển khai TMĐT còn bị hạn chế bởi trình độ chuyên môn hay số lượng hữu hạn, chi phí triển khai còn là vấn đề nan giải cho nhiều doanh nghiệp…Những thách thức này nếu không được khắc phục kịp thời sẽ làm cản trở không nhỏ đến sự phát triển của hoạt động TMĐT ở nước ta đều được tác giả khắc hoạ rõ nét cùng với bố cục khoa học trong Đề tài: Phân tích tình hình TMĐT của các siêu thị tại Hà nội và Việt Nam
2.1. Hoạt động kinh doanh của các siêu thị tại Hà nội và Việt nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Để phù hợp với xu thế phát triển đô thị hóa đất nước trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế, văn minh, hiện đại của các nước trên thế giới và hơn thế nữa, Hà nội là thủ đô, là bộ mặt kinh tế-chính trị-văn hóa của cả nước, là đầu mối giao lưu quốc tế nói chung và giữa các nước trong khu vực Đông nam á nói riêng, đông thời là nơi có tỷ lệ khách du lịch và người nước ngoài cư trú và làm việc cao so với các tỉnh và thành phố khác, do vậy việc thu gọn lại một số chợ không còn phù hợp cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống siêu thị ở thủ đô là một tất yếu khách quan. Tại Hà nội hiện có các siêu thị chính như:
+ Siêu thị Fivimart với các chi nhánh tại 210 Trần Quang Khải, 10 Trấn Vũ, 163 Đại La, Nhà D5 Nguyễn Phong Sắc, 671 Hoàng Hoa Thám, 12 Đặng Tiến Đông, 71 Nguyễn Chí Thanh),
+ Siêu thị Intimex với các chi nhánh tại 22-23 Lê Thái Tổ, 131 Hào Nam, 27 Huỳnh Thúc Kháng, 27 Lạc Trung, 96 Định Công)
+ Siêu thị Hapro với các chi nhánh tại D2 Giảng Võ, 53 Hàng Giấy, B3A Nam Trung Yên – Cầu Giấy, 2 Ngô Xuân Quảng – Gia Lâm, 7 Hàng Đường, 176 Hà Huy Tập, Phố Sài Đồng Gia Lâm, C12 Thanh Xuân Bắc
+ Siêu thị Metro với các chi nhánh Đường Phạm Văn Đồng Cổ Nhuế Từ Liêm, Ô 4 Lô 6 Đền Lừ 2
+ Các siêu thị điện máy bao gồm: Điện máy Pico 76 Nguyễn Trãi Thượng Đình Điện máy HC 36 Phạm Văn Đồng Điện máy TODIMAX 5 Điện Biên Phủ Siêu thị điện máy 126 53 Nguyễn Tuân, Điện máy Tràng Thi Hà Nội 10B Tràng Thi, Điện tử Vietbaby 1 ngõ 178 Thái Hà
+ Các siêu thị khác: Siêu thị ASEAN (10 Phạm Ngọc Thạch); Siêu thị Big C (222 Trần Duy Hưng); Siêu thị Cát Linh (1E Cát Linh); Siêu thị Citimart (Tầng 3 TTTM Vincom191 Bà Triệu); Siêu thị Hoa Ly Ly (40 Phố Yên Phụ); Siêu thị Unimart trước đây là Seiyu (8 Phạm Ngọc Thạch); Siêu thị nội thất Nhà Đẹp (222 Trần Duy Hưng); Siêu thị nội thất DAFUCO (26 Phạm Văn Đồng); Siêu thị Sao Hà Nội (2B Phạm Ngọc Thạch); Siêu thị Seapon MiniMart (247 Giảng Võ); Siêu thị Thái Hà (174 Thái Hà); Siêu thị Vinaconex (Nhà 17T1 Trung Hoà Nhân Chính)
Một số thông tin chính về các siêu thị lớn như sau:
- Siêu thị Unimart nằm ở số 8 Phạm Ngọc Thạch, quận Đống đa, là công ty liên doanh giữa President Chain store Corporation (Đài loan), Công ty Thực phẩm Hà nội và Công ty Mitsubishi (Nhật bản). Tầng 1 có diện tích trên 500 m2, tầng 2 có diện tích 300 m2. Thực phẩm tươi sống và đồ khô bán ở tầng 1, tầng 2 bán các đồ phi thực phẩm. Có khoảng 14.000 mặt hàng trong đó 60% mua từ trong nước và 40% nhập khẩu chủ yếu từ Nhật bản (đây là thế mạnh của Unimart).
- Siêu thị Big C là thương hiệu của tập đoàn Casino, một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Âu với hơn 000 cửa hàng tại Việt Nam và các nước ở châu Á, châu Phi và châu Âu với trên 190.000 nhân viên. Big C Việt Nam khai trương đại siêu thị đầu tiên tại Đồng Nai năm 1998. Hiện nay, các cửa hàng Big C hiện diện ở hầu hết các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Biên Hòa, TP.HCM và sắp tới là Đà Nẵng với trên 50.000 mặt hàng thực phẩm và phi thực phẩm.
- Công ty Thương mại Hà nội là doanh nghiệp Nhà nước thành lập theo quyết định số 129/2004QĐ-TTg ngày 14/7/2004 của Thủ tướng chính phủ và quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hà nội ngày 11/8/2004 theo mô hình công ty mẹ con.
- Công ty Thương mại Hà nội là doanh nghiệp kinh doanh nhiều lĩnh vực như xuất nhập khẩu, thương mại và chuỗi siêu thị với thương hiệu HaproMart, cửa hàng miễn thuế, khách sạn, du lịch, nhà hàng và phát triển cơ sở hạ tầng.
- Công ty Cổ phần Xây lắp điện Công nghiệp – Pico plaza là Công ty cổ phần Xây lắp điện Công nghiệp được thành lập ngày 30/10/2006. Với 200 nhân viên, định hướng của công ty là mở rộng thị trường và phát triển các sản phẩm kinh doanh, thiết lập quan hệ sản xuất và kinh doanh với các bạn hàng tin cậy và có định hướng lâu dài. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
2.1.1.1. Giai đoạn 1: Xuất hiện siêu thị (1994-1996)
Ở Việt nam thời kỳ sau năm 1990 đã đánh dấu nhiều sự kiện kinh tế- chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước như thực hiện chính sách mở cửa, đa dạng hóa các thành phần kinh tế và đặc biệt là mối quan hệ Việt-Mỹ được bình thường hóa. Môi trường đầu tư hấp dấn, mức sống của người dân được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng cũng có nhiều thay đổi theo hướng đa dạng hơn và cao cấp hơn. Trong bối cảnh đó, một số tổ chức đã mạnh dạn bắt tay vào loại hình kinh doanh mới mẻ đầy triển vọng – đó là kinh doanh siêu thị.
Đi sau thành phố Hồ chí minh là Hà nội, với siêu thị đầu tiên mở vào tháng 9 năm 1994 mang thương hiệu Minimart 66 phố Bà triệu của Công ty TNHH Phát triển Mỹ thuật liên doanh với một số tư nhân ở Singapore. Tiếp theo đó có siêu thị Minimarts Hà nội do Công ty liên doanh Vũng tàu – Sihanco mở cửa vào năm 1995. Siêu thị này khi đó được đặt ở tầng 2 chợ hôm Đức viên, quy mô tương đối nhỏ với diện tích kinh doanh khoảng 200 m2, chủ yếu bán các mặt hàng tiêu dùng ngoại nhập với giá cả khá cao. Do đó đối tượng khách hàng vào siêu thị phần lớn là khách nước ngoài và những ngựời có thu nhập cao nên chưa phục vụ được đông đảo người tiêu dùng.
Sau đó lần lượt ra đời một số siêu thị nhỏ khác song vẫn chưa mang đặc tính chuyên nghiệp của một siêu thị mà hầu hết chỉ có tính chất của cửa hàng tự chọn. Các nhà kinh doanh siêu thị hầu hết chưa đủ lực hoặc kinh nghiệm để có một hình dung đầy đủ về một mô hình siêu thị chuẩn. Song dù sao sự xuất hiện của loại hình kinh doanh mới mẻ này cũng đã tạo ra một bước tiến mới về hình thức kinh doanh phục vụ, nâng cao văn minh thương nghiệp và đáp ứng nhu cầu phát triển của Thủ đô Hà nội.
2.1.1.2. Giai đoạn 2: Bắt đầu phát triển về lượng (1997-1999) ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đời sống nhân dân được cải thiện nhanh chóng và nhu cầu mua sắm cũng trở nên ngày càng phức tạp, cao cấp hơn. Đòi hỏi của người tiêu dùng về sản phẩm tăng lên cả về quy mô, số lượng, chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ kèm theo. Xu hướng mua sắm cũng có sự thay đổi về phong cách phục vụ bán hàng văn minh, hiện đại và tiện nghi. Đáp ứng yêu cầu này, các siêu thị bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiêu với quy mô và chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú hơn.
Đây là giai đoạn hệ thống siêu thị ở Hà nội phát triển nhanh về lượng. Các siêu thị của thương nghiệp quốc doanh gồm có: Trung tâm thương mại số 7-9 Đinh Tiên Hoàng, Siêu thị số 2 Giảng Võ, Siêu thị 18 Hàng Bài, Siêu thị số 5-7 Tràng tiền…với diện tích trung bình 200 m2. Ngoài ra còn có một số siêu thị khác với quy mô lớn hơn như Siêu thị số 5 Nam bộ với diện tích khoảng 1.000 m2, Siêu thị 1E Cát Linh với diện tích khoảng 2.000 m2,…Các siêu thị ngoài quốc doanh gồm có: Siêu thị 218 Thái Hà có diện tích khoảng 300 m2, Siêu thị Sao Hà nội có 4 cơ sở tại 60 Ngô Thì Nhậm, 36 Cát Linh, 32 Đê La Thành và 2B Phạm Ngọc Thạch với diện tích kinh doanh đều xấp xỉ 200 m2,…trong đó nhiều siêu thị có tên tuổi có thể kể đến là siêu thị Fivimart, Sao Hà nội, Siêu thị Thái Hà, Siêu thị Asean, Siêu thị Hà nội-Marko, Siêu thị Seiyu (bây giờ là siêu thị Unimart),…Về cơ bản, những siêu thị này đã phần nào đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của người dân thủ đô, khách quốc tế cũng như những người nước ngoài đang sống và làm việc tại Hà nội. Mức giá cũng ngày càng cạnh tranh so với giá thị trường mặc dù chi phí đầu tư và vận hành tương đối lớn. Người dân bắt đầu đã quen dần với việc đi mua sắm ở siêu thị, đặc biệt là các mặt hàng công nghệ phẩm và đồ gia dụng.
Bên cạnh đó còn có sự xuất hiện hàng loạt các siêu thị chuyên ngành như siêu thị mỹ phẩm Hàn Quốc (Chùa Bộc), Siêu thị điện tử IMS (Thanh Xuân Nam), Siêu thị điện máy Hai Bà Trưng,…
Theo con số thống kê của Sở thương mại Hà nội, đến năm 1999, trên địa bàn thành phố Hà nội đã có hơn 20 siêu thị lớn nhỏ khác nhau [7, tr 101]. Mặc dù số lượng các siêu thị tăng nhành đáng kể nhưng các dịch vụ kèm theo còn hạn chế do giới hạn về diện tích và mức sử dụng mặt bằng kém hiệu quả. Các siêu thị có phòng chờ, khu vui chơi, ăn uống giải trí còn rất kém, hơn nữa các mặt hàng thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày còn kém phong phú, giá cả lại cao hơn nhiều so với giá chợ thông thường trong khu nhu cầu ngày càng tăng, do vậy chưa kích thích và khai thác được tối đa nhu cầu của người tiêu dùng. So với hệ thống siêu thị ở thành phố Hồ chí minh cả về phương thức thanh toán, tổ chức bán hàng, cơ cấu hàng hóa cũng như quy mô hoạt động thì hệ thống siêu thị ở Hà nội còn yếu hơn nhiều, cụ thể các mặt hàng còn ít, chưa phong phú, đa dạng, hình thức bán hàng đơn điệu, nghèo nàn, giá cả chưa thật cạnh tranh và việc thanh toán còn chậm.
Các siêu thị ra đời và phát triển chủ yếu mang tính chất tự phát và do tiếp thu không có hệ thống và không đầy đủ về tiêu chuẩn siêu thị của một số nước trong khu vực như Hồng Kông, Thái Lan,…nên có rất nhiều hạn chế cả về thiết kế xây dựng , tổ chức kỹ thuật cũng như kinh nghiệm kinh doanh siêu thị và nghiên cứu thị trường. Phân bố của các siêu thị cũng chưa hợp lý, có khu vực tập trung từ 4 đến 5 siêu thị trong khi ở khu vực khác lại không có siêu thị nào. Các siêu thị lại không cung một cơ quan chủ quản quản lý nên việc thống kê và giám sát hoạt động rất khó khăn, chồng chéo. Song đây cũng là điều kiện thuận lợi để các siêu thị tự do phát triển, mở rộng quy mô, địa bàn và phát huy những thế mạnh của mình.
Trong giai đoạn này các siêu thị chưa có khái niệm về TMĐT mà chỉ có khái niệm bán hàng tập trung một cách có tổ chức.
2.1.1.3. Giai đoạn 3: Cạnh tranh, đào thải và phát triển (từ cuối năm 1999 đến nay) ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Kể từ năm 1999 đến này còn có thêm nhiều siêu thị nữa xuất hiện như Siêu thị Láng Hà, Siêu thị Big Mart, Siêu thị Intimex, Siêu thị Hà nội, Siêu thị Tây Đô, Siêu thị Todimax, Siêu thị bán buôn Metro, Đại siêu thị Big C,…Hầu hết các siêu thị có quy mô vừa và nhỏ, cơ cấu ngành hàng cơ bản như nhau và đều mang những đặc trưng của một siêu thị. Điều này tất yếu dẫn đến một cuộc cạnh tranh sàng lọc, đào thải giữa các siêu thị với nhau và giữa siêu thị với loại hình bán lẻ truyến thống khác.
Do thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng quản lý và kinh nghiệm cũng như do chiến lược chính sách kinh doanh không phù hợp, một số siêu thị đã không thể trụ nổi và phải lặng lẽ rút lui khỏi thị trường như siêu thị Triệu Gia (Phùng Hưng), siêu thị Thành Hưng (Gia Lâm). Bên cạnh đó, nhiều siêu thị đã đững vững và thành công nhờ biết đi đúng hướng, kịp thời rút kinh nghiệm và tìm cách thích nghi được với môi trường kinh doanh. Các siêu thị này đã chú trọng các biện pháp để nâng cáo chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Hoạt động kinh doanh siêu thị dần dần đi vào nề nếp và mang tính chuyên nghiệp hơn, hiệu quả hơn. Những siêu thị thành công đã tiếp tục củng cố vị trí, phát huy thế mạnh mở rộng quy mô để tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường. Mô hình 2-3 siêu thị trở nên khá phổ biến như siêu thị Fivimart 1 (Trần Quang Khải), Fivimart 3 (đường Giải Phóng), Fivimart 5 (đường Đại La), Marko 1 (V Tower – Cầu giấy), Marko 2 (Tây Sơn),…
Cùng với các nhà đầu tư trong nước, lĩnh vực kinh doanh mới mẻ này cũng bắt đầu hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài. Siêu thị 100% vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên có mặt tại Hà nội là siêu thị Seiyu với mặt bằng trên 500 m2 là liên doanh giữa Công ty thực phẩm Hà nội với đối tác Nhật Bản khai trương và cuối quý III năm 1999. Mới đây, đi sau Seiyu là siêu thị bán buôn Metro Thăng Long của tập đoàn Metro Cash and Carry của Đức, đại siêu thị Big C Thăng Long của Tập đoàn Bourbon Pháp.
Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn sẽ thúc đẩy các nhà kinh doanh siêu thị trong nước phải cố gắng nhiều hơn nữa mới có thể duy trì được vị thế hiện nay của mình, đồng thời cũng làm cho cuộc chạy đua giữa các siêu thị trong việc thu hút và giữ khách hàng ngành càng trở nên sôi động, quyết liệt hơn.
Trong giai đoạn này, ý thức về TMĐT đã hình thành rõ đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên các doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu cũng nhận thức được những thách thức mà họ phải giải quyết. Một trong các vấn đề là chính sách pháp lý về TMĐT chưa rõ ràng. Xuất phát từ thực tế này mà Bộ thương mại cũng đã nhận thức được môi trường kinh doanh của doanh nghiệp còn bị hạn chế. Do đó Bộ thương mại đã và đang nghiên cứu để soạn thảo các chính sách thích hợp kể từ năm 2000.
Có thể bạn quan tâm:
2.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các siêu thị trên địa bàn Hà nội ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
2.1.2.1. Về quy mô hoạt động:
Mặc dù siêu thị phát triển nhanh về lượng song quy mô của từng siêu thị vẫn ở mức vừa và nhỏ. Chỉ một số siêu thị có quy mô thuộc loại 2 và 3 (theo quy định của Sở thương mại Thành phố) như siêu thị Fivimart của Công ty Nhất Nam tại 210 Trần Quang Khải với diện tích kinh doanh lên đến trên 2.000 m2, vốn điều lệ trên 9 tỷ đồng, có khoảng 20.000 mặt hàng khác nhau. Bên cạnh đó còn có siêu thị Fivimart Trúc Bạch với diện tích mặt bằng gần m3.000 m2 tại số 10 Trấn Vũ và Fivimart Đại La với diện tích mặt bằng hơn 3.000 m2 tại 163A Đại La, siêu thị 1E Cát Linh (Trung tâm thương mại điện tử) với diện tích 1.800 m2, mới đây là siêu thị bán buôn Metro Thăng Long với hơn 15.000 mặt hàng (trong đó hơn 7.000 mặt hàng thực phẩm và hơn 8.000 mặt hàng phi thực phẩm) và hơn 300 nhân viên tại mỗi kho Thăng Long…
Một số siêu thị khách cũng có diện tích trên 1.000 m2 là siêu thị Kim Liên của Công ty dịch vụ kỹ thuật và Xuất nhập khẩu (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), Siêu thị số 5 Nam Bộ, Siêu thị Hà nội Marko Cầu giấy,…còn lại phần lớn là các siêu thị có diện tích dưới 1,000 m2 với tổng số vốn đầu tư nhỏ hơn gấp nhiều lần như siêu thị UniMart (trước đây là siêu thị Seiyu) với diện tích hơn 600 m2, những siêu thị có quy mô nhỏ bày bán quá nhiều chủng loại hàng hóa nhưng vấn không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về số lượng, mẫu mã, kiểu dáng,…thường có xu hướng bị mất dần chỗ đứng trên thị trường do chi phí lớn trong khi doanh số bán ra không thể bù đắp chi phí, bị mất dần khách hàng và dẫn đến tình trạng thua lỗ kéo dài.
2.1.2.2. Về cơ cấu, hàng hóa, giá cả
Cơ cấu hàng hóa kinh doanh của hầu hết các siêu thị ở Hà nội đã bắt đầu tương đối phù hợp với cơ cấu hàng hóa ở các siêu thị trên thế giới nói chung, đảm bảo hàng hóa trong siêu thị là những hàng hóa tiêu dùng thông thường. Loại trừ các siêu thị chuyên dụng như về hàng mỹ phẩm, điện máy,…thì các siêu thị thường có cơ cấu hàng hóa như sau:
+ Hàng lương thực thực phẩm gồm thực phẩm tươi sống, thực phẩm đông lạnh, lương thực, thực phẩm chế biến…khoảng từ 30% đến 35%
+ Đồ gia dụng từ 20% đến 25%
+ Hóa mỹ phẩm từ 15% đến 20%
+ Hàng vải sợi may mặc thời trang từ 10% đến 15%
+ Hàng bách hóa như đồ chơi trẻ em, văn phòng phẩm, văn hóa phẩm,… từ 5% đến 10%
Nhìn chung, chủng loại hàng hóa tại siêu thị là khá đa dạng và phong phú nhưng mặt hàng thực phẩm tươi sống là nhu cầu cần thiết hàng ngày của người dân lại không được chú trọng vì vốn đầu tư bỏ ra cao, chi phí bảo quản lớn,…nên hiệu quả kinh doanh thấp hoặc bị lỗ. Nên hiện nay mặc dù thực phẩm tươi sống là mặt hàng tiêu dùng hàng ngày nhưng người dân khi đi siêu thị lại rất ít quan tâm mà chỉ mua tại chợ truyền thống.
Một điều đặc biệt là khi siêu thị ra đời, người dân thường có quan niệm là giá cả tại siêu thị là quá cao, cao hơn gấp nhiều lần ở chợ truyền thống. Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình phát triển và cạnh tranh lẫn nhau, các siêu thị đã dần điều chỉnh cơ cấu hàng hóa và giá cả phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và thu nhập của người tiêu dùng.
2.1.2.3. Về nguồn hàng ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Ở các siêu thị, nguồn hàng thường gồm cả hàng sản xuất trong nước và hàng nhập ngoại. Hàng sản xuất trong nước do các công ty, doanh nghiệp trong nước của các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài sản xuất tại Việt Nam với chất lượng cao và giá cả hợp lý. Thường tỷ lệ hàng nội chiếm tỷ trọng nhiều hơn hàng nhập ngoại, trừ những siêu thị có vốn đầu tư nước ngoài thì hàng nhập khẩu thường chiếm đa số (đại siêu thị Melinh, siêu thị Unimart, đại siêu thị Big C).
2.1.2.4. Về cơ sở vật chất phục vụ bán hàng
Hiện nay, rất nhiều các siêu thị đã được đầu tư trang thiết bị một cách chuyên nghiệp như hệ thống máy tính tiền chất lượng cao, hệ thống Camera quan sát, hệ thống điều hòa trung tâm, thang máy, các hình thức thanh toán đa dạng phong phú thuận tiện, có khu vực gửi đồ cho khách hàng trước khi vào mua hàng, xe đẩy tiện lợi, giỏ mua hàng, chỗ để xe thuận tiện, khu vực giải khác riêng…Tuy nhiên vẫn còn một số siêu thị do diện tích quá nhỏ, bày bán hàng quá nhiều chủng loại mặt hàng…nên chưa chú trọng đầu tư và hệ thống tính tiền hiện đại, hình thức thanh toán vẫn chủ yêu là bằng tiền mặt, chỗ để xe quá nhỏ,…
2.1.3. Đặc điẻm tổ chức quản lý kinh doanh và bộ máy tổ chức của các siêu thị tại Hà nội
Qua quá trình phát triển của hệ thống siêu thị ở Hà nội từ khi xuất hiện cho đến nay, có thể thấy rằng các siêu thị thường được tổ chức dưới 2 dạng phổ biến là siêu thị độc lập và chuỗi siêu thị (hệ thống siêu thị mắt xích)
Các siêu thị độc lập: Là các đơn vị tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ, ở siêu thị ban đầu thường tổ chức siêu thị dưới dạng siêu thị độc lập, thuộc quyền sở hữu tư nhân, của doanh nghiệp nhà nước hoặc của công ty liên doanh và 100% vốn nước ngoài
+ Cơ quan quyết định cao nhất là đại hội đồng cổ đông, có nhiệm vụ như: thông qua báo cáo tài chính, định hướng phát triển của công ty, quyết định bổ sung, sửa đổi điều lệ công ty, bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát…
+ Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty do đại hội đồng cổ đông bầu và miễn nhiệm
+ Ban kiểm soát là cơ quan kiểm soát hoạt động của công ty cổ phần do đại hội đồng cổ đông bầu và miễn nhiệm
+ Giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm và là người điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
+ Các phòng ban có nhiệm vụ phụ trách các công việc thuộc phạm vi của mình cùng phối hợp điều hành mọi hoạt động của công ty
+ Bộ phận bán hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh bán hàng như siêu thị, cửa hàng…
+ Bộ phận kho là nơi để tập kết hàng và là nơi trung chuyển hàng đến các bộ phận bán hàng của công ty ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Qua sơ đồ tổ chức bộ máy trên, có thể thấy rằng thực tế hiện nay các siêu thị thuộc loại siêu thị độc lập được tổ chức hoạt động là đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty thành lập ra siêu thị, siêu thị này không có tư cách pháp nhân và không có con dấu riêng, sử dụng con dấu của công ty.
Các siêu thị loại chuỗi: Là hệ thống siêu thị mắt xích thuộc cùng một chủ sở hữu như là công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,… bao gồm nhiều siêu thị có địa điểm kinh doanh khác nhau
Các đơn vị thành công bước đầu trong kinh doanh siêu thị theo kiểu mắt xích có thể kể đến là: Công ty cổ phần Nhất Nam (siêu thị Fivimart 1,3,5), Công ty Phương Anh (siêu thị Hanoi Marko 1,2), Công ty Thiên Giang (siêu thị sao Hà nội 1,2,3,4). Hệ thống siêu thị mắt xích thường có mô hình quản lý theo sơ đồ như sau:
Các siêu thị loại này là những đơn vị được tổ chức hoạt động là đơn vị trực thuộc:
Đứng đầu là Giám đốc hệ thống siêu thị cũng là Giám đốc Công ty thành lập, chịu trách nhiệm về hoạt động của các siêu thị trong hệ thống
Các siêu thị (còn gọi là các cơ sở) trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh siêu thị, được đặt ở các địa điểm khác nhau. Tại các siêu thị, tình hình phân cấp được thể hiện như sau:
+ Đứng đầu là giám đốc siêu thị, chịu trách nhiệm trước giám đốc hệ thống về toàn bộ hoạt động của cơ sở
+ Dưới giám đốc siêu thị là các phó giám đốc, từng người chịu trách nhiệm về các hoạt động do mình phụ trách như Phó giám đốc phụ trách phát triển thị trường, phó giám đốc phụ trách hoạt động knh doanh của siêu thị, phó giám đốc phụ trách hành chính
Trong đó: Phó giám đốc phụ trách hoạt động kinh doanh của siêu thị quản lý bộ phận kinh doanh, các trưởng ngành hàng, phó ngành hàng
Ví dụ, tại hệ thống siêu thị Fivimart có chia thành 2 ngành hàng là ngành hàng thực phẩm và ngành hàng phi thực phẩm ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
+ Bộ phận kinh doanh siêu thị chịu trách nhiệm về hàng hóa kinh doanh của siêu thị như yêu cầu nhà cung cấp giao hàng, lập danh mục mã hàng…
+ Các trưởng ngành hàng và phó ngành hàng quản lý các nhân viên ngành hàng của mình và các hoạt động nhập xuất hàng vào kho và quầy
+ Bộ phận thu ngân chịu trách nhiệm thu tiền của khách hàng, người phụ trách thu ngân chịu trách nhiệm quản lý bộ phận thu ngân, quản lý thanh toán tiền và xuất hóa đơn, sau đó làm nhiệm vụ giao chứng từ có liên quan cho kế toán công ty.
+ Văn phòng kho chịu trách nhiệm nhập, xuất hàng, dán mã tem vào hàng hóa, theo dõi chi tiết hàng hóa nhập, xuất, tồn kho
Qua đặc điểm tổ chức quản lý nói chung của các siêu thị, có thể thấy rằng việc tổ chức quản lý hàng tồn kho tại các siêu thị được thực hiện rất chặt chẽ. Các siêu thị khi nhận hàng về thì bộ phận kho căn cứ vào hóa đơn mua hàng do nhà cung cấp chuyển đến, căn cứ vào danh mục mã hàng của bộ phận phòng kinh doanh tiến hành in tem giá, dán tem giá vào sản phẩm hoặc trong trường hợp có loại hàng đã có mã vạch thống nhất trên bao vì thì không cần dán tem. Đối với siêu thị có kho chứa hàng thì hàng được nhập kho sau đó xuất ra quầy, còn đối với siêu thị không có kho chứa hàng thì khi hàng về được đưa thẳng lên quầy siêu thị hoặc trong trường hợp loại siêu thị mắt xích, ở mỗi siêu thị cơ sở có bộ phận kinh doanh làm nhiệm vụ mua hàng về các siêu thị trong hệ thống theo báo cáo tình hình thực tế hàng tại các siêu thị, đối với những siêu thị có bộ phận KCS thì bộ phận này sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra hàng từ khâu nhập đến khâu xuất. Khi hàng được giao lên quầy do nhân viên phụ trách quầy ký nhận hoặc có thể có nhân viên bảo vệ kiểm tra, giám sát và chứng thực số lượng hàng, mặt hàng nhập xuất lên quầy. Từng quầy hàng có nhân viên bán hàng phụ trách quầy thực hiện bán hàng và theo dõi quản lý hàng, tránh mất cắp đồng thời có nhân viên bảo vệ thường xuyên giám sát các quầy hàng để quan sát người mua hàng và nhân viên bán hàng. Hàng ở trên quầy được trưng bày theo nhóm hàng, ngành hàng, đuợc bố trí hợp lý và khoa học giúp khách hàng có thể quan sát được kỹ hàng và dễ dàng lựa chọn hàng theo đúng nhu cầu của mình. Tại siêu thị thực hiện phân công theo ca bán hàng trong ngày, khi hàng đuợc bán ra khỏi quầy thì khách hàng sẽ mang hàng qua quầy thu ngân để thanh toán, nhân viên thu ngân làm nhiệm vụ tính tiền và đồng thời kiểm tra hàng luôn theo số thực tế mà khách hàng đã mua qua máy tính tiền hiện đại.
Như vậy, có thể thấy rằng để quản lý tốt hàng hóa trong siêu thị thì các bộ phận và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm vật chất về toàn bộ hàng hóa của siêu thị đó là phòng kinh doanh (trong trường hợp hàng hóa bị nhập sai mã hay nhầm mã) bộ phận an ninh bảo vệ, nhân viên quầy và nhân viên thu ngân.
2.2. Thực trạng công tác triển khai mô hình thương mại điện tử tại Hà nội và Việt nam
2.2.1. Bối cảnh chung ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Hòa nhập cùng sự phát triển của nền TMĐT toàn cầu, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao trong việc tạo thuận lợi cho việc giao thương và buôn bán giữa các quốc gia trên thế giới, giữa các doanh nghiệp với nhau, và nhất là tạo ra một hình thức thanh toán nhanh, gọn, tiết kiệm, an toàn. TMĐT đã tạo ra một bước ngoặc phát triển trong việc kinh doanh và giao thương giữa các nơi trên thế giới diễn ra một cách trơn tru.
Theo báo cáo của Bộ Thương mại, Việt Nam hiện có khoảng 17.500 website của doanh nghiệp [7, tr. 89]. Loại hình giao dịch B2C (doanh nghiệp với người dùng – PV) tăng trưởng mạnh. Ngoài số lượng website của doanh nghiệp còn có nhiều website hỗ trợ doanh nghiệp giao dịch với nhau. Tuy nhiên, các website đều chưa có định hướng rõ ràng, vốn kinh doanh nhỏ, nhân lực hạn chế… nên giá trị giao dịch còn thấp. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2010 sẽ có 70% doanh nghiệp lớn ứng dụng TMĐT, 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ có ứng dụng nhất định, 15% hộ gia đình có thói quen mua sắm trên mạng và 30% mua sắm của Chính phủ được thực hiện qua Internet [7, tr 70].
Giai đoạn 2006 – 2010 là giai đoạn TMĐT sẽ phát triển nhanh nhất, tốc độ nhất ở Việt Nam vì một số yếu tố sau: – Việt Nam sẽ gia nhập WTO, AFTA… trong năm 2005 – 2006. TMĐT mang lại nhiều cơ hội kinh doanh mới. Giai đoạn 2006 – 2010 sẽ có nhiều doanh nghiệp xuất hiện hoặc nhảy sang lĩnh vực mới này. Sẽ có nhiều website lớn với chức năng phức tạp xuất hiện, và nếu hoạt động tốt sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho nhà đầu tư
2.2.2. Thực trạng các mô hình thương mại điện tử
2.2.2.1. Mô hình kinh doanh sàn thương mại điện tử B2B
Tính đến cuối năm 2006, có khoảng 30 sàn giao dịch TMĐT B2B của Việt Nam đang hoạt động với số cơ hội kinh doanh và số lượng thành viên tương đối lớn. Khảo sát ở các doanh nghiệp này cho thấy doanh nghiệp TMĐT B2B trong năm 2006 đã có những bước tiến bộ rõ rệt và thu được nhiều thành công trong hoạt động. Bên cạnh việc cố gắng cải tiến website, thay đổi giao diện với các hình ảnh đẹp hơn, tốc độ truy cập nhanh hơn, các ban quản lý sàn cũng đã chú ý đến việc tuyên truyền đào tạo cho cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, nỗ lực nâng cao chất lượng phục vụ và thu hút được lượng thành viên tham gia đông đảo hơn [7, tr. 56].
Điểm đáng lưu ý đầu tiên khi khảo sát các sàn B2B là các ban quản lý sàn đã có chiến lược kinh doanh rõ nét và đầu tư mạnh hơn cho phát triển sàn cả về công nghệ như phần mềm, máy chủ, mạng cũng như kinh doanh như nguồn lực, quảng bá, hỗ trợ thông tin, tư vấn. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Ngoài đăng tải cơ hội kinh doanh mua bán hàng hoá và dịch vụ, các sàn giao dịch đã cung cấp các hỗ trợ khác như đấu giá, đấu thầu trục tuyến, hỗ trợ thành viên trực tuyến, các bản tin điện tử, tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, tiện ích lớn nhất của phần lớn các sàn TMĐT B2B mới giới hạn ở đăng tải nhu cầu mua bán. Hầu như chưa sàn nào có tiện ích hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành đàm phán tiến tới giao kết hợp đồng, thực hiện hợp động và trợ giúp sau bán hàng.
Mặc dù số sàn giao dịch B2B tương đối nhiều, một vấn đề đặt ra chất lượng các sàn chưa thật sự đồng đều. Ngoài một số sàn thu hút được khá đông doanh nghiệp tham gia với số lượng cơ hội kinh doanh tăng lên nhanh chóng, nhiều sàn giao dịch phát triển tương đối chậm. Một điều quan trọng để thể hiện mức độ tin cậy và chữ tín của một sàn giao dịch là sự thẩm định các doanh nghiệp thành viên và các cơ hội kinh doanh. Trong khi có một số sàn tập trung vào thẩm định thông tin của doanh nghiệp và của các cơ hội chào bán, chào mua, nhiều sàn đăng tải thông tin có độ tin cậy chưa cao.
Đáng chú ý là số lượng các sàn TMĐT B2B đã tăng lên khá nhanh trong năm 2006. Tuy nhiên, phần lớn các sàn này đều có mô hình kinh doanh tương tự nhau và là các sàn kinh doanh tổng hợp. Hầu như chưa xuất hiện các sàn TMĐT B2B chuyên doanh một vài sản phẩm hàng hoá và dịch vụ và có uy tín cao.
2.2.2.2. Mô hình kinh doanh sàn thương mại điện tử B2B ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Tính đến cuối năm 2006, Việt Nam có khoảng 80 doanh nghiệp kinh doanh sàn TMĐT B2C [8, tr. 55]. Trong khi một số sàn TMĐT B2B do các tổ chức phi lợi nhuận xây dựng và vận hành với mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp làm quen với TMĐT thì các sàn B2C đều do các doanh nghiệp kinh doanh với mục tiêu thu lợi nhuận.
Năm 2006, phần lớn các sàn TMĐT B2C vẫn hoạt động theo dạng siêu thị điện tử tổng hợp kinh doanh nhiều mặt hàng, trong đó chủ yếu là các mặt hàng có tính tiêu chuẩn cao như hàng điện tử (máy tính, điện thoại di động, thiết bị điện, đồ điện gia dụng, điện lạnh), sách báo, văn phòng phẩm, quà tặng, hoa tươi, mỹ phẩm, thời trang, v.v… Mỗi siêu thị có những nhóm hàng nổi bật. Chẳng hạn, siêu thị BTSPlaza bán rất chạy điện thoại, hoa, đồ gia dụng, mỹ phẩm, doanh số của những sản phẩm này chiếm đến 70% doanh số của sàn. Một số sàn bắt đầu cung cấp dịch vụ qua mạng hoặc hỗ trợ dịch vụ qua mạng đối với phần mềm tin học, tour du lịch, cung cấp vé máy bay, tuyển dụng lao động, v.v…[8, tr. 69]
Khác với năm 2005 và các năm trước, một nhóm sản phẩm mới nổi lên và được khá nhiều người tiêu dùng quan tâm trên các chợ mạng trong năm nay là quần áo, đồ mỹ phẩm và trang sức. Những hàng hóa này không có đặc tính tiêu chuẩn hoá cao, nhưng với sự hỗ trợ của hình ảnh đẹp nên các sàn cũng đã đăng tải nhiều sản phẩm này, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng, nhất là giới trẻ
Trong năm 2006, số lượng hàng hóa giao dịch trên các sàn B2C đã tăng lên đáng kể, chất lượng phục vụ của các sàn cũng đã có nhiều tiến bộ.Theo báo cáo của Công ty GOL, trong năm 2006 phạm vi thị trường và khách hàng của GOL không những vươn tới các tỉnh thành xa từ Yên Bái, Điện Biên đến Cà Mau, Sóc Trăng mà còn phát triển thêm ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada. Nhiều khách hàng đã trở thành khách hàng thân thiết, thường xuyên đặt mua nhiều đơn hàng với giá trị lớn phục vụ tiêu dùng và phân phối lại. Số lượng khách hàng mà GOL phục vụ tăng trưởng nhanh hơn nhiều lần so với những năm trước đây. Số lượng tài khoản tăng từ 30.000 năm 2005 lên đến gần 50.000 trong năm 2006. Trong đó, số lượng khách hàng ở nước ngoài tăng trưởng mạnh và đã chiếm hơn 35% số tài khoản khách hàng đăng ký mua hàng tại các sàn TMĐT của công ty. Mạng lưới phục vụ quà tặng rộng khắp của GOL đã thỏa mãn được hầu hết nhu cầu quà tặng giữa nhiều tỉnh thành khác nhau ngoài hai trung tâm chính là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội [8, tr. 49, 50].
Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp đã chú trọng hơn về đầu tư xây dựng chiến lược kinh doanh, quảng bá hình ảnh doanh nghiệp và quảng bá website. Sàn giao dịch TMĐT B2C BTSPlaza của Trung tâm Công nghệ và Truyền thông BTS mới hoạt động từ ngày 15/12/2005, tuy nhiên thông tin về mô hình kinh doanh này đã được nhắc đến trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình. Theo thống kê của BTSPlaza, đến tháng 9/2006 sàn giao dịch đã thu hút được 1500 thành viên, trong đó 500 doanh nghiệp đăng ký tham gia giao dịch. Tăng trưởng bình quân từ việc bán hàng trực tuyến là 133 triệu đồng/tháng [8, tr. 58]
Đối tượng khách hàng tham gia tại các siêu thị điện tử B2C khá đa dạng, nhưng khách hàng chủ yếu là nhân viên văn phòng, công chức.
Các sàn B2C trong năm qua tiếp tục vận dụng nhiều phương thức thanh toán đa dạng, từ trả tiền mặt, điện chuyển tiền, thanh toán qua người vận chuyển, séc, thẻ thanh toán nội địa và quốc tế, thẻ hội viên, v.v… Tuy nhiên, hầu hết các sàn chưa có các giải pháp tốt cho thanh toán trực tuyến. Qua điều tra, khâu vận chuyển hàng hoá hiện vẫn là một vướng mắc lớn cho các doanh nghiệp TMĐT B2C. Việc vận chuyển vẫn còn tốn thời gian và thông thường phải qua các công ty trung gian hoặc bưu điện, do đó hiệu quả đem lại chưa cao.
Các doanh nghiệp kinh doanh các sàn TMĐT loại hình B2C đã bắt đầu quan tâm đến đảm bảo an toàn thông tin nhưng mức độ an toàn thông tin còn thấp. Thậm chí việc bảo mật cho chính website của doanh nghiệp chưa được chú trọng đúng mức. Hai vụ tấn công website www.vietco.com và www.chodientu.com là hai ví dụ điển hình, đòi hỏi các doanh nghiệp TMĐT cần chú trọng hơn đến bảo mật và xa hơn nữa là bảo vệ thông tin khách hàng của doanh nghiệp. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Một số website đã chú trọng tới các hình thức tư vấn, hỗ trợ cho khách hàng để khách hàng có thể đi đến quyết định mua sản phẩm. Các hình thức thường là tư vấn chuyên gia hoặc kinh nghiệm mua hàng, tạo các diễn đàn, hỗ trợ trực tuyến… Một số website có dịch vụ hỗ trợ này khá tốt là: www.vdctravel.vnn.vn; www.btsplaza.com.vn; www.megabuy.com.vn; www.kiemviec.com; www.golmart.com.vn.
Ngoài mục đích chính là đăng tải các chào mua, chào bán, thông tin giới thiệu doanh nghiệp, v.v… các website TMĐT với lưu lượng người xem lớn là vị trí lý tưởng cho quảng cáo trực tuyến. Do đó, một phần đáng kể doanh thu của các doanh nghiệp TMĐT B2C có được từ quảng cáo.
Một số doanh nghiệp đã xây dựng chiến lược hợp lý và tạo được doanh thu khá lớn từ việc quảng cáo trực tuyến trên website B2C. Theo báo cáo của GOL, doanh số quảng cáo từ các website do doanh nghiệp quản lý cũng tăng với tỉ lệ hơn 10 lần so với năm 2005 [8, tr. 63]
2.2.2.3. Mô hình kinh doanh sàn thương mại điện tử C2C
C2C là mô hình TMĐT hỗ trợ các giao dịch giữa những người tiêu dùng với nhau. Trong hai năm 2004 và 2005 rầm rộ xuất hiện các sàn TMĐT C2C, nhưng năm 2006 số lượng sàn loại này tăng chậm. Thay vì tăng về số lượng, chất lượng các sàn đã có sự thay đổi tích cực. Các sàn C2C trong năm qua đã sôi động hơn, nhiều người mua và bán, số lượng giao dịch tăng. 5 website C2C tiêu biểu năm 2006 là: www.1001shoppings.com; www.chodientu.vn; www.heya.com.vn; www.sieuthihangchatluong.com; www.vietco.com; [7, tr. 97]
2.3. Đánh giá thực trạng công tác thương mại điện tử tại Hà nội và Việt nam
2.3.1. Đánh giá thực trạng ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
2.3.1.1. Đánh giá chung về thực trạng TMĐT tại Hà nội và Việt nam
Hàng năm, Vụ TMĐT – Bộ thương mại đều tiến hành các hoạt động điều tra, đánh giá thực tế hoạt động TMĐT ở Việt nam, đặc biệt là tình hình ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp. Theo báo cáo TMĐT năm 2005, trong tổng số 504 doanh nghiệp được khảo sát thì có 46,2% doanh nghiệp đã thiết lập website. Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều tập trung ở những thành phố, khu công nghiệp trọng điểm của các tỉnh, nơi hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông tương đối tốt. Chiếm phần lớn 68,7% trong những doanh nghiệp đã thiết lập website là các doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ [7, tr. 74].
Nhìn vào cơ cấu hàng hóa dịch vụ được giới thiệu trên các trang website doanh nghiệp có thể thấy nhóm hàng hóa phổ biến nhất hiện nay vẫn là thiết bị điện tử-viễn thông và hàng tiêu dùng. Những mặt hàng này có độ chuẩn hóa cao với những thông số kỹ thuật cho phép người mua đánh giá và so sánh các sản phẩm mà không cần phải giám định trực quan. Nhóm hàng này sẽ tiếp tục chiếm ưu thế khi thâm nhập các kênh tiếp thị trực tuyến trong những năm tới.
Có 87,6% số doanh nghiệp có website cho biết đối tượng hướng tới khi thiết lập website là các tổ chức và doanh nghiệp khác, trong khi 65,7% doan nghiệp chú trọng tới đối tượng người tiêu dùng. Như vậy phương thức B2B sẽ là lựa chọn chiếm ưu thế đối với doanh nghiệp khi triển khai ứng dụng TMĐT một cách chuyên nghiệp trong những năm tới [7, tr. 92].
Hơn 50% số doanh nghiệp được khảo sát cho biết rằng họ chỉ cập nhật thông tin trên website một tháng một lần hoặc ít hơn. Chưa đến 30% doanh nghiệp coi việc rà soát website là công việc hàng ngày. Sở dĩ như vậy là thực tế có khoảng 30% số website có tính năng hỗ trợ giao dịch TMĐT. Như vậy các doanh nghiệp chưa nhìn nhận đúng về vai trò trang website như một kênh giao tiếp và tương tác thường xuyên với khách hàng, do đó chưa có sự đầu tư đúng mức về nguồn lực cũng như thời gian để xây dựng, duy trì và khai thác website một cách thật hiệu quả [7, tr. 98].
Thực tế cho thấy 56% tự quản trị website của mình, 44% ký hợp đồng với một nhà cung cấp dịch vụ web để làm việc này. Như vậy việc giao vào tay một công ty bên ngoài việc quản trị mạng đã vô tình bỏ đi chức năng tương tác với khách hàng qua website, còn các doanh nghiệp tự quản trị thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin cũng là một vấn đề [7, tr. 61]. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Mặc dù tỷ lệ doanh nghiệp có website tăng nhưng tính năng TMĐT chưa được cải thiện chủ yếu dừng lại ở mức thông tin chung nhất về giới thiệu công ty, sản phẩm hàng hóa dịch vụ với giới thiệu đơn giản. Chỉ có 32,8% có tính năng hỗ trợ giao dịch TMĐT như cho phép hỏi về hàng hóa, gửi thư yêu cầu, một số ít cho phép đặt hàng trực tuyến [7, tr 87].
Về mức độ đầu tư, các doanh nghệp đã thiết lập website còn chưa chú trọng về đầu tư ứng dụng TMĐT. Hầu hết các doanh nghiệp có chi phí đầu tư như mua phần mềm và bảo dưỡng không quá 5% tổng chi phí [7, tr 45].
Theo khảo sát thì gần 30% doanh nghiệp cho rằng tỷ lệ tăng trưởng doanh thu nhờ áp dụng TMĐT từ 5% đến 15% [7, tr 45].
Khảo sát cũng cho thấy 37% doanh nghiệp được hỏi cho rằng doanh thu từ kênh tiếp thị TMĐT sẽ tăng trong những năm tới, 62% cho rằng sẽ không có thay đổi và chỉ 1% cho rằng sẽ giảm [7, tr 45].
Trong những năm qua, hàng loạt các loại hình TMĐT khác ra đời và phát triển nhanh như các sàn giao dịch trực tuyến, games online, hệ thống trang web của cộng đồng doanh nghiệp…cơ cấu phát triển giữa các loại hình TMĐT đã có sự thiếu cân đối. Nếu như mức trung bình trên thế giới đối với loại hình giao dịch B2B (doanh nghiệp – doanh nghiệp) và B2C (doanh nghiệp – khách hàng) chiếm tỷ trọng 90%, còn lại các loại hình khác chỉ chiếm con số 10% thì ở Việt Nam đang có chiều hướng ngược lại. Xét về bề mặt thì số lượng giao dịch B2C và C2C vượt trội hơn hẳn song xét về chiều sâu và tính hiệu quả thì giao dịch B2B phải chiếm tỷ trọng lớn hơn. Bởi lẽ, mặc dù số lượng các giao dịch của loại hình này thấp hơn nhưng “sức nặng” về tài chính, lượng hàng hóa trao đổi… lại lớn hơn rất nhiều lần. Với 100 giao dịch thành công trên một trang web mua bán trực tuyến bất kỳ của người tiêu dùng, giá trị hàng hóa được trao đổi cũng chỉ có thể đạt mức trên dưới 100 triệu đồng. Trong khi đó, chỉ cần một giao dịch thành công giữa 2 doanh nghiệp, giá trị hàng hóa đã có thể vượt lên con số đó, thậm chí cao gấp nhiều lần.
Thực tế cho thấy đa số các doanh nghiệp cho rằng website chủ yếu phục vụ việc xây dựng hình ảnh công ty và mở rộng kênh tiếp xúc khách hàng hiện có. Việc triển khai ứng dụng TMĐT chưa đạt hiệu quả như mong muốn là vì nhận thức xã hội chưa cao, tiếp theo đó là hệ thống thanh toán, môi trường pháp lý và tập quán kinh doanh, bên cạnh đó là trở ngại về hạ tầng công nghệ thông tin viễn thông. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
- Tại siêu thị ở Hà nội
Việc triển khai của các siêu thị mới chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu triển khai hình thức bán hàng qua mạng. Thực tế cho thấy trên các trang web của các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị thì tốc độ xử lý, công nghệ sử dụng, cách thức hiển thị sản phẩm hàng hóa, giao diện và bố cục, ý đồ quảng cáo, mục đích quản trị thông tin là những vấn đề được các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị quan tâm
+ .NET, không che dấu các thông tin cơ sở dữ liệu dẫn tới độ bảo mật thông tin kém, phân trang có cỡ trang quá lớn dẫn tới KH dễ rối mắt, khó nhìn, kỹ thuật, công nghệ không có gì đặc biệt, thanh toán bằng chuyển khoản, thẻ tín dụng thì chưa không rõ công nghệ.
+ Ưu đi tìm kiếm sản phẩm
tốt: phân loại sản phẩm, tìm kiếm sản phẩm theo kí tự đầu alphabet, tìm kiếm sản phẩm theo từ khóa, tìm kiếm nâng cao. điều này rất quan trọng vì giúp khách hàng khỏi bị lạc giữa một “rừng sản phẩm”, cho phép tìm nhanh , dễ dàng mặt hàng cần mua, hỗ trợ khá đầy đủ tính năng của một site TMĐT: trình bày sản phẩm, giỏ hàng, thanh toán bằng thẻ tín dụng, chuyển khoản…
+ Cách liệt kê, hiển thị sản phẩm được thực hiện thông qua hai cách hiển t, liệt kê theo hàng dọc từ trên xuống, từng sản phẩm một và hiển thị theo từng hình ảnh, mỗi dòng 3 sản phẩm. Cách hiển thị, phân loại, chọn category, chọn cách thức thể hiện không có gì đặc biệt. Có hỗ trợ nhiều sắp xếp, hiển thị giúp khách hàng dễ dàng trong việc tìm kiếm sản phẩm.
2.3.1.3. Công việc cần triển khai ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
+ Bảo mật thông tin: Tạo ra một trang thông tin nhằm chuyển tải tới khách hàng về việc bảo mật thông tin và quản lý thông tin trên website của siêu thị. Giải thích những thông tin về hoạt động thanh toán thẻ được bảo vệ như thế nào trong quá trình truyền thông tin, trên server hay nơi làm việc. Bên cạnh đó, thiết lập một trang liệt kê các câu hỏi và trả lời tới các vấn đề làm thế nào để khách hàng có thể bảo vệ chính mình trong hoạt động giao dịch mua sản phẩm, dịch vụ trên mạng.
+ Không khuyến khích việc sử dụng thư điện tử để giao dịch: Do một số vấn đề an ninh mạng, một số khách hàng có thể gửi thông tin thẻ bằng thư điện tử, đó là phương thức kinh doanh không an toàn. Để bảo vệ khách hàng và nuôi dưỡng long trung thành của khách hàng với mình, bạn hãy nhất mạnh phương thức giao dịch an toàn trên website và trả lời khách hàng bằng thư điện tử. Nên nhấn mạnh rằng:
- Thư điện tử không phải là phương thức giao dịch an toàn và không nên dùng thư điện tử để thông báo các thông tin về thẻ hay những thông tin nhạy cảm khác.
- Khả năng mã hoá thông tin giao dịch qua website tạo ra những hàng rào bảo vệ đáng tin cậy khỏi những nguồn truy cập không được phép và tạo ra phương thức giao dịch an toàn nhất cho khách hàng qua môi trường
+ Mô tả sản phẩm: Đảm bảo rằng sản phẩm, dịch vụ của bạn được mô tả một cách chính xác trên website
- Xây dựng những thông tin mô tả sản phẩm một cách rõ ràng, hoàn chỉnh tránh những tranh chấp, sự không hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm thực nhận so với những sản phẩm được mô tả trên website của đơn vị.
- Sử dụng hình ảnh sản phẩm nếu có thể ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
+ Vận chuyển hàng hóa: Xây dựng một chính sách vận chuyển dễ hiểu, rõ ràng và có đường dẫn từ trang chủ và tại thời điểm kết thúc giao dịch.
- Đưa ra những phương thức vận chuyển và những phương thức giao hàng bạn có thể đáp ứng.
- Liệt kê rõ ràng và đầy đủ các loại phí vận chuyển và bảo quản liên quan.
- Xây dựng hệ thống thư trả lời khách hàng trong trường hợp sản phẩm dịch vụ vận chuyển/giao chậm so với kế hoạch.
+ Hoá đơn: Xây dựng hoá đơn chi tiết về cho tất cả các chi phí liên quan và hiển thị tới khách hàng trong khi khách hàng đang thực hiện giao dịch.
- Giải thích với khách hàng khi nào thẻ của họ bị tính hoá đơn, trừ tiền
- Nếu bạn sử dụng một nhà cung cấp dịch vụ hoá đơn, hãy để khách hàng biết rằng giao dịch sẽ được phản ánh trên sao kê của họ như thế nào (nghĩa là có thông tin của nhà cung cấp dịch vụ và số tiền giao dịch). Điều này sẽ làm giảm những thắc mắc của khách hàng khi họ nhận được sao kê.
+ Hoàn tiền: Xây dựng một chính sách hoàn tiền rõ ràng, cụ thể
- Hiển thị đường dẫn tới quy định này ngay tại trang chủ Homepage của website
+ Truy cập thông tin chăm sóc khách hàng: Cung cấp cho khách hàng một sự lựa chọn cho việc gửi yêu cầu qua thư điện tử. Khách hàng của bạn có thường có những câu hỏi hoặc quan tâm tới việc mua hàng trực tuyến của họ. Bằng việc tạo ra một cách thức để khách hàng có thể liên lạc với bạn nhất và trả lời họ ngay lập tức bạn có thể tránh được những tranh cãi và nguy cơ đòi bồi hoàn xảy ra sau đó.
- Hiển thị những cách thức “Liên lạc” trên website một cách dễ thấy nhất và dễ truy cập nhất. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
- Để thuận tiện trong việc phản hồi một cách hiệu quả tới khách hàng, hãy tạo ra những địa chỉ email riêng biệt cho mỗi danh mục như thông tin về sản phẩm, dịch vụ, hỗ trợ khách hàng, những thông tin liên quan tới việc đặt hàng và vận chuyển hàng hoá.
- Xây dựng quy chế trả lời thư yêu cầu
- Sử dụng chương trình trả lời thư tự động xác nhận đã nhận được thư yêu cầu và thời gian trả lời thư chính thức
- Đảm bảo rằng doanh nghiệp có một lực lượng nhân viên dồi dào cho bộ phận dịch vụ khách hàng chuyên trả lời thư yêu cầu đúng thời gian đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
- Xây dựng những tiêu chuẩn về việc trả lời thư yêu cầu và kiểm soát hoạt động trả lời của nhân viên
- Xây dựng khung thời gian tiêu chuẩn cho việc trả lời 100% thư yêu cầu, ví dụ 24 giờ. Sử dụng khung thời gian ngắn hơn cho việc trả lời 75% và 95% thư yêu cầu của khách hàng.
- Kiểm soát hoạt động của nhóm dịch vụ khách hàng chuyên trả lời thư yêu cầu của khách hàng để đảm bảo đạt được những tiêu chuẩn đã đề ra. Nếu cần có thể thêm một số tiêu chuẩn cũng như thiết lập lại lịch trình của nhân viên để tăng hiệu quả hoạt động.
- Kiểm soát sự đồng thuận của doanh nghiệp với những tiêu chuẩn trả lời thư theo ngày.
- Thiết lập dịch vụ hỗ trợ khách hàng qua điện thoại miễn phí và hiển thị số điện thoại của doanh nghiệp trên website
- Hiển thị đường dẫn từ trang homepage tới số dịch vụ hỗ trợ khách hàng miễn phí để chủ thẻ có thể sử dụng để nhận được sự phản hồi nhanh nhất cho mỗi yêu cầu.
- Chuẩn bị một lực lượng nhân lực của dịch vụ hỗ trợ khách hàng qua điện thoại một cách đầy đủ trên cơ sở đúng thời
+ Tham gia vào chương trình “xác nhận bởi Visa và Master Secure Code”: siêu thị phải tham gia vào chương trình “xác nhận bởi Visa và Master Secure Code”. Website của siêu thị phải hiển thị logo của “Verify by Visa và Master Secure Code” cũng như Đơn vị cổng thanh toán.
2.3.1.4. Chính sách, quy trình và mẫu biểu bán hàng qua mạng ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
+ Chính sách bán hàng: Chính sách bảo mật thông tin cho nhân viên, chính sách bảo mật thông tin cho khách hàng, chính sách cấp lại mật khẩu, công bố về việc sử dụng thông tin của khách hàng, chính sách mô tả hàng hóa, chính sách giao hàng, chính sách trả lại hàng, mẫu hóa đơn trực tuyến
+ Hỗ trợ khách hàng: Quy trình hỗ trợ trực tuyến, phân loại yêu cầu khách hàng để xử lý, xây dựng dữ liệu hỏi đáp, mẫu hướng dẫn mua hàng, mẫu hướng dẫn về giá, phương pháp mua, và khuyến mại, mẫu hướng dẫn khách hàng theo dõi, thay đổi, hủy đơn hàng, mẫu hướng dẫn khách hàng đăng ký thẻ giảm giá
+ Xử lý giao dịch: Quy trình xử lý giao dịch, theo dõi giao dịch, quy trình giám sát bán hàng, quy trình đối soát thanh toán.
+ Giao hàng: Quy trình giao nhận hàng hóa, mẫu giao nhận hàng hóa
+ Chống rủi ro giao dịch:Xử lý thông tin từ cookies của khách hàng, các thông tin bắt buộc khách hàng phải cung cấp, quy trình xác thực khách hàng, phương pháp chống trùng giao dịch, xây dựng và nhận biết các đặc điểm của giao dịch giả, kiểm tra hiệu suất của phương pháp chống rủi ro
+ Tự bảo vệ tài khoản siêu thị: Đăng ký bảo hộ các nhãn hiệu, hình ảnh nếu cần, kiểm soát giao dịch thường xuyên, thay đổi mật khẩu đăng nhập tài khoản thường xuyên, áp dụng đúng các chính sách của Đơn vị cổng thanh toán.
+ Giải quyết khiếu nại: Phân loại các khiếu nại, quy trình giải quyết khiếu nại
+ Mô tả công việc bộ phận chức năng: Ban điều hành, bộ phận kế hoạch, bộ phận xử lý giao dịch, bộ phận Marketing và PR, bộ phận hỗ trợ khách hàng, bộ phận nội dung và kỹ thuật, bộ phận giải quyết khiếu nại
Trên đây là những công đoạn khi triển khai TMĐT của một siêu thị. Việc nắm bắt nó giúp doanh nghiệp xác định rõ lộ trình, những thuận lợi và khó khăn cần khắc phục trong quá trình triển khai.
2.3.2. Những ưu điểm và thành tựu đã đạt được của TMĐT tại Hà nội và Việt Nam ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Hà nội là thành phố đang trên đà phát triển, mức thu nhập đầu người cao, đời sống dân trí ngày càng nâng cao. Hà nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Do vậy, nhu cầu về các sản phẩm đạt độ chuẩn hóa cao như điện tử, đồ gia dụng,… là một yếu tố tất yếu.
Hà nội có nhiều trường học từ TH, THCS, THPT, các Trường Dạy Nghề, TH Kỹ Thuật,…và đặc biệt là khu vực các trường đại học với hàng chục ngàn sinh viên và lượng sinh viên này không ngừng tăng lên hàng năm.
Số lượng người về Hà nội công tác cũng ngày một gia tăng dẫn đến nhu cầu về mua hàng siêu thị ngày càng phát triển thay thế hình thức mua hàng truyền thống.
Hệ thống Ngân hàng ở Hà nội cũng rất phát triển, đa dạng, với các chi nhánh của các hệ thống ngân hàng lớn như: VietcomBank (VCB), Ngân hàng Ngoại Thương, Ngân hàng NN-PTNT, Ngân hàng Á Châu ACB, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng TMCP Phương Nam, Sacombank,…sẽ rất thuận lợi cho sau này, nếu các ngân hàng này liên kết lại với nhau. Việc thanh toán liên ngân hàng sẽ tạo ra một bước đột phá vĩ đại cho sự thành công của việc áp dụng TMĐT. Hiện nay, hệ thống máy ATM của Ngân hàng VCB, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Ngoại Thương đã phát triển và có nhiều máy ATM được đặt tại Hà nội và các tỉnh lân cận tạo điều kiện dễ dàng cho việc thanh toán thông qua chuyển khoản.
Hệ thống giao thông đường xá đi lại tại Hà nội cũng khá hoàn thiện và không ngừng được mở rộng nâng cấp, tạo điều kiện dễ dàng cho việc vận chuyển hàng đến tận nơi người mua hàng.
Khách hàng sẽ không phải tốn quá nhiều thời gian, chi phí hay công sức cho việc mua sắm. Chỉ cần ngồi tại nhà hay tại công sở hay tại các điểm truy cập Internet công cộng hay tại bất kỳ nơi nào có máy tính kết nối Internet, truy cập vào cửa hàng trên mạng, tha hồ lựa chọn sản phẩm mình ưng ý và đặt hàng.
Hệ thống mạng Internet tại Hà nội cũng rất phát triển, có rất nhiều dịch vụ truy cập mạng với giá phải chăng. Chỉ cần vào một cửa hàng Net bất kỳ, vừa check mail, nghe nhạc, xem phim, chơi game online hay tìm kiếm thông tin hay đọc báo trên mạng, vừa tham quan gian hàng, mua sắm, đặt hàng và hàng hóa có thể được cung cấp tận nơi rất thuận lợi và nhanh chóng.
2.3.3. Những nhược điểm và hạn chế còn tồn tại ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
+ Một là, Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị nói riêng chưa có nhiều kinh nghiệm về TMĐT. Sở dĩ như vậy là do được thừa hưởng thành tựu công nghệ từ các nước tiên tiến trên thế giới.
+ Hai là, trong giai đoạn đầu triển khai TMĐT, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị khó có thể xác định rõ ràng và chính xác hàng hoá mà khách hàng cần.
+ Ba là, có thể khách hàng đặt mua hàng nhưng không có người nhận hàng (chỉ mua thử hay là sự đùa cợt của một số người thiếu ý thức). Biện pháp khắc phục những trường hợp này là kiểm tra số điện thoại, gửi chỉ email xác nhận, yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ số nhà,…. Nếu thanh toán bằng hình thức chuyển khoản và gửi qua đường bưu điện thì sẽ tránh được vấn đề này.
+ Bốn là, các vấn đề về bảo mật trang web, các mối nguy hiểm về tin tặc (hacker) tấn công, tốc độ đường truyền Internet…Khó khăn này có thể được khắc phục bằng cách lập tường lửa (firewall), thường xuyên theo dõi các hoạt động của cửa hàng, kiểm tra các nỗ lực xâm nhập của hacker, thường xuyên cập nhật các bản sửa lỗi mới nhất cho server. Có đội ngũ nhân viên bảo mật nhằm theo dõi và chống lại các cuộc tấn công diễn ra từ bên trong cũng như từ bên ngoài.
+ Năm là, những yếu tố bất lợi của thời tiết cũng là một vấn đề nan giải: xảy ra tình trạng mưa lớn diễn ra suốt ngày, lũ lụt đột ngột…làm ngập đường xá, các con hẻm,…. Sẽ gây ra rất nhiều khó khăn trong quá trình giao hàng đến tận tay khách hàng. Khó khăn này có thể được khắc phục bằng cách gọi điện thoại hoặc gửi email hay dùng bất kỳ phương tiện giao tiếp nào, chẳng hạn như thông báo tình trạng khó khăn này ngay trên trang chủ của cửa hàng, để có thể liên hệ với khách hàng hẹn lại vào một ngày nào đó sẽ giao hàng khi thời tiết khá hơn.
+ Sáu là, khó khăn trong quá trình thuyết phục các nhà cung cấp khác tham gia vào việc kinh doanh trên mạng, chẳng hạn như ngành hàng văn phòng phẩm, linh kiện điện tử,…Khó khăn này khắc phục bằng cách kiên trì giải thích và chứng minh cho khách hàng thấy được những lợi ích cũng như tiềm năng phát triển của con đường kinh doanh bằng TMĐT. Chẳng hạn như ta đưa ra các thông tin về trang web goodsonlines.com, và các thành công của nó, cùng với những tiện lợi cho cả khách hàng và cho cả chủ cửa hàng chắc chắn họ sẽ phải suy nghĩ lại.
2.3.4. Nguyên nhân của thực trạng ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Qua tìm hiểu các website, thu thập thông tin về các siêu thị trên địa bàn Hà nội cũng như liên hệ trực tiếp tìm hiểu thì kết quả cho thấy là các siêu thị chưa triển khai hoạt động kinh doanh TMĐT. Nhìn nhận của các doanh nghiệp có những điểm giống và khác nhau, tuy nhiên có thể đúc kết một số điểm ảnh hưởng trực tiếp tới việc triển khai TMĐT của các siêu thị như sau:
+ Một số siêu thị lớn như đại siêu thị Big C, siêu thị Metro kinh doanh trong lĩnh vực hàng thực phẩm và tiêu dùng. Do phần lớn hàng hóa có chu kỳ sống ngắn, các hàng hóa thực phẩm không thể tồn tại lâu dài, thời gian vận chuyển hàng từ người bán đến người tiêu dùng mất nhiều thời gian, không phù hợp với đơn hàng nhỏ, nên việc bán hàng trên mạng là không khả thi. Thay vào việc triển khai TMĐT thì hình thức kinh doanh bán buôn bán hàng qua điện thoại (Telesales) đối với các doanh nghiệp được coi là phù hợp và đang được triển khai.
+ Cơ cấu hàng hóa dịch vụ được giới thiệu trên các website doanh nghiệp có thể thấy nhóm hàng hóa phổ biến nhất hiện nay là thiết bị điện tử, viễn thông và hàng tiêu dùng. Do đặc điểm của mặt hàng điện tử, viễn thông và đồ điện gia đình là mức độ tiêu chuẩn hóa cao, với những thông số kỹ thuật rõ ràng cho phép người tiêu dùng đánh giá và so sánh các sản phẩm mà không cần đến giám định trực quan. Nhóm hàng này sẽ tiếp tục chiếm ưu thế khi thâm nhập các kênh tiếp thị trực tuyến trong những năm tới.
+ Các siêu thị trong nước ở quy mô tương đối như Intimex, Fivimart…thì vẫn chưa triển khai TMĐT. Vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp này là các doanh nghiệp lớn tầm cỡ quốc tế vẫn chưa triển khai TMĐT là một câu hỏi cần giải đáp, do vấn đề pháp lý, văn bản pháp quy, thói quen giao dịch của người tiêu dùng hay các bài toán về lợi ích và hiệu quả kinh tế vẫn luôn đặt ra.
+ Các siêu thị nhỏ mang tính chất trong nước thì gặp khó khăn trong vấn đề ngân sách, nhân lực cũng như thời gian cho TMĐT. Các doanh nghiệp này vẫn nhìn vào các doanh nghiệp siêu thị lớn để thăm dò, tìm hiểu.
2.3.5. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực trạng thương mại điện tử tại Hà nội và Việt Nam ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Tại Việt nam, TMĐT ngày càng được ứng dụng và phổ biến. Từ hoạt động thực tiễn cho thấy trong giao dịch TMĐT trên Internet thường có khả năng xảy ra một số vấn đề giữa người mua và người bán như: Khách hàng thanh toán tiền bằng thẻ tín dụng nhưng người bán không giao hàng hay khách hàng đã thanh toán nhưng người bán giao hàng bị lỗi hoặc hàng kém chất lượng, hư hỏng…
Để đáp ứng yêu cầu về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thực tiễn TMĐT, Việt nam đã và đang xây dựng những định chế pháp lý liên quan tới các khía cạnh khác nhau của TMĐT:
+ Tranh chấp tên miền: Khi một công ty triển khai TMĐT thì doanh nghiệp cần phải đăng ký tên miền, là việc chuyển từ một địa chỉ số IP sang dạng text quen thuộc. Thay vì đánh xxx.xxx.xxx.xxx hầu hết người dùng đều thích đánh dấu phẩy “,” cho dễ nhớ và ít lỗi hơn. Đăng ký tên miền thì không khó nhưng để có một tên phù hợp với tên doanh nghiệp, kiểu logo hoặc nhãn hiệu thì rất khó. Trên Internet thì mọi domain đều cần phải có tính độc nhất để tránh lỗi truyền thông nhưng nó được ấn định cho lần đăng nhập đầu tiên, server cơ bản đầu tiên nghĩa là bất cứ một ai cũng có thể đăng ký tên miền. Các tên miền Internet được thiết lập hoàn toàn dựa trên hai yếu tố riêng biệt là top level domain (TLD) và second level domain (SLD). TLD chứa đựng các thông tin gốc của trang web như “.it” của Italia hoặc “.jp” của Nhật và “.za” của Nam phi. SLD hoàn thành tên miền bằng cách thêm vào tên của công ty nhãn hiệu, chữ cái đầu, các chữ viết tắt, danh từ hoặc bất cứ một từ nào với TLD [5, tr.44].
Vấn đề liên quan tới tên miền chính là bản thân tên miền chứ không phải là nhãn hiệu. Nhiều người đăng ký tên miền cùng nhãn hiệu mà không có liên quan gì tới chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong số này có những người biết được kẽ hở pháp lý nên đăng ký rồi bán lại tên miền mang tính trục lợi. Những quy định mới của Việt nam cũng đã đi vào giải quyết vấn đề này. Nếu như nhãn hiệu đã được đăng ký trước tên miền thì người sở hữu nhãn hiệu đó sẽ được cấp tên miền. Nếu như nhãn hiệu được thành lập sau khi tên miền đã được đăng ký thì chủ sở hữu nhãn hiệu không có được tên miền đó. Do đó doanh nghiệp cần kiểm tra tên miền sẵn có và nhãn hiệu được đăng ký trước khi đăng ký. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
+ Kết nối: Định dạng siêu văn bản cho phép các tài liệu kết nối với nhau trên Web. Các kết nối không hạn chế với một phần cụ thể nào của trang web. Bất kể một trang web nào cũng có thể được kết nối với một trang web khác mà không cần phải đăng ký. Các kết nối được cung cấp như là một dịch vụ tới các nguồn thông tin khác có cùng nội dung hoặc như là một phương tiện để kết nối quảng cáo vào một trang web.
Do chưa có một cơ sở pháp lý nào cho trang web nên tất cả mọi người đều dùng kết nối mà không hề bị hạn chế, đây cũng là một thực tế thông thường khi cung cấp các kết nối tới các trang khác. Vấn đề phát sinh ngay sau khi các kết nối đượ dùng để ngụy tạo cho việc cung cấp các mẩu thông tin được tạo ra bởi người khác. Để tạo ra một dịch vụ mới cung cấp các đề mục cho các tin mới nhất trên các server khác là điều đơn giản. Khách hàng sẽ vào trang web của doanh nghiệp vì ở đó có các đề mục tin tức mới nhất nhưng tất cả những gì doanh nghiệp làm là cung cấp kết nối cho công việc người sử dụng. Thực tế này nếu ở mức kết nối sâu sẽ được coi là vi phạm bản quyền.
+ Nội dung của trang web:
- Vi phạm nhãn hiệu: Những doanh nghiệp thiết kế website phải rất cẩn thận để không sử dụng bất kỳ tên, logo hoặc các ký hiệu nhận diện của nhãn hiệu không được doanh nghiệp sở hữu nhãn hiệu đưa
- Thói quen gian lận trong thương mại: Công nghệ đồ thị, hình ảnh, âm thanh của máy tính cho phép các nhà thiết kế website thực hiện nhiều việc mang tính sáng tạo và thú vị. Những thao tác của các clip bức ảnh, âm thanh và hình ảnh đang tồn tại có thể rất thú vị. Tuy nhiên nếu đối tượng bị thao tác là nhãn hiệu được đăng ký thì những thao tác này có thể vi phạm quyền của người sở hữu nhãn hiệu.
- Quy định về quảng cáo: Việc quy định chính sách này là cần thiết. Các chính sách này bao gồm các thông tin về những quảng cáo được phép như quảng cáo mồi, cho vay và cho thuê, chứng thực chứng nhận, bảo hành và bảo đảm, giá cả…nhằm quy định các thông báo cụ thể phải được đưa kèm trong mỗi quảng cáo cho các sản phẩm. ( Luận văn: Thực trạng phân tích tình hình phát triển TMĐT Việt Nam )
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển TMĐT Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
