Vai trò kinh tế của nhà nước là một trong những chủ đề hot, Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta nhằm hướng tới mục tiêu chung, làm cho dân giàu, nước mạnh, tăng trưởng ổn định và công bằng xã hội. Sự định hướng nền kinh tế của nhà nước được thực hiện thông qua việc nhà nước xây dựng quy hoạch, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Dưới đây là Đề tài Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mời các bạn đọc giả đón đọc.
3.1 Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước với tư cách là nhà quản lý điều hành nền KTTT, Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng nền KTTT theo CNXH.
- Nhà nước điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô, Nhà nước tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế tạo nên sự cân bằng giữa cung – cầu đảm bảo môi trường kinh tế thuận lợi và ổn định nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế trong từng xí nghiệp và trên phạm vi toàn xã hội.
- Nhà nước đảm bảo ổn định chính trị, lấy ổn định chính trị để phát triển kinh tế. Nhà nước thiết lập khuôn khổ luật pháp đặc biệt là hệ thống pháp luật kinh tế, hệ thống các chính sách kinh tế xã hội mà trước hết là các chính sách về tài chính tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động kinh tế. Một đất nước có ổn định chính trị, có những chính sách kinh tế phù hợp mới tạo ra được những thuận lợi để các doanh nghiệp sản xuất. Mặt khác có như vậy mới thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài và tư nhân và họ tin vào sự ổn định đó để tiếp tục và mở rộng sản xuất, phát triển sản xuất. Như vậy thông qua các chính sách Nhà nước đã gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế .
Nhà nước có chức năng tạo ra môi trường và điều kiện cho việc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường bằng cách:
- Duy trì pháp luật, trật tự an toàn xã hội, thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi truờng kinh tế thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô kìm chế lạm phát, điều tiết thị trường ngăn ngừa và sử lý kịp thời những “cơn sốt” về giá cả. Nhà nước đề ra luật pháp bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
- Nhà nước ngăn ngừa các tác động bên ngoài ngăn ngừa những âm mưu phá hoại nền kinh tế của các thế lực thù địch để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
- Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc mở rộng quan hệ ngoại giao, buôn bán với nước ngoài.
- Thông qua hệ thống pháp luật, Nhà nước đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh. Trong nền KTTT mục đích của các nhà sản xuất kinh doanh là lợi nhuận vì vậy họ bằng mọi cách và tìm mọi cách để thu lợi nhuận cao có thể là thủ tiêu đối thủ cạnh tranh của mình vì vậy Nhà nước cần phải có sự can thiệp để điều chỉnh những hành vi của họ vào những việc làm có lợi như nâng cao chất lượng sản phẩm đa dạng phong phú mẫu mã cạnh tranh về giá cả. Đồng thời Nhà nước còn có chức năng chống độc quyền của các doanh nghiệp. Độc quyền trong nền KTTT đồng nghĩa với sự mất cân đối giữa cung – cầu, giữa tiêu dùng và sản xuất, đồng nghĩa với sự leo thang của giá cả vì vậy đầy có thể là nguyên nhân dẫn đến lạm phát.
- Nhà nước dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển của các thành phần kinh tế. Thông qua kế hoạch và chính sách kinh tế sử dụng có trọng điểm và hiệu quả các năng lực tập trung và lực lượng dự trữ. Nhà nước kiểm soát và phân phối các nguồn tài nguyên của đất nước để nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo vệ môi trường sinh thái. Quản lý và kiểm soát tài sản quốc gia tại các doanh nghiệp nhà nước nhằm bảo tồn và phát triển và duy trì sự hoạt động liên tục.
- Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo cho hoạt động kinh tế bao gồm: cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, phương tiện vận chuyển, thông tin liên lạc, dự trữ quốc gia…) cơ sở hạ tầng văn hoá xã hội như giáo dục, nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường… nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế. ( Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta )
- Nhà nước kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng tương đương và ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng trung ương làm chức năng dự trữ vừa làm chức năng điều tiết và kiểm soát lượng tiền được cung ứng thông qua hệ thống ngân hàng thương mại điều khiển nền kinh tế có thể tránh được khủng hoảng thất nghiệp và lạm phát.
- Mặt khác Nhà nước thông qua các chính sách ưu đãi thể hiện một số hình thức hỗ trợ cho các lĩnh vực mà Nhà nước muốn ưu tiên phát triển . Nhà nước có chức năng phân phối lại thu nhâp bằng các khoản thu từ thuế, phân phối lại của cải xã hội.
- Nhà nước đưa ra những đề tài nghiên cứu khoa học, nhập những tiến bộ của KHKTCN vào sản xuất nhằm đưa nền kinh tế phát triển nhanh hơn.
- Nhà nước có vai trò điều chỉnh các quan hệ kinh tế, tác động tới quan hệ lao động và thị trường lao động giới hạn thất nghiệp, sử dụng các khoản chi của chính phủ để phát triển y tế, giáo dục, lập các quỹ phúc lợi, phân công lại lao động giữa các ngành nghề và giữa các vùng.
Với tư cách là người đầu tư kinh doanh, Nhà nước trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh trong một số lĩnh vực.
- Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, Nhà nước là người sở hữu đại biểu và quản lý các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc
- Các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân ngoài yêu cầu đảm bảo nền kinh tế phát triển đúng định hướng XHCN còn do thành phần kinh tế này gắn với loại hình sở hữu cao nhất là sở hữu nhà nước. KTNN phát triển dựa trên một trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao trình độ quản lý và phân phối sản phẩm gần với mục tiêu của CNXH thời kỳ quá độ.
- Kinh tế Nhà nước đóng vai trò là mạch máu lưu thông, bao gồm những ngành nghề lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống tài chính, ngân sách bảo hiểm , những cơ sở thương mại, dịch vụ quan trọng với quy mô lớn và vừa, công nghệ tiến bộ.
- Kinh tế nhà nước thể hiện đầy đủ tính ưu việt của CNCS đảm bảo sự thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, thống nhât chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
- Kinh tế nhà nứơc chiếm vị trí then chốt có liên quan tới hoạt động của toàn nền kinh tế, chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác.
- Kinh tế nhà nước mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách và là đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Kinh tế nhà nước mở đường hướng dẫn hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
- Kinh tế nhà nước thể hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
Ngoài ra chức năng kinh tế nhà nước thể hiện ở vai trò điều tiết kiểm kê kiểm soát của nhà nước đối với khu vực tư nhân.
- Một mặt nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất không giới hạn quy mô nhưng mặt khác Nhà nước cũng cần phải tăng cường công tác kiểm soát nhằm hạn chế những nhược điểm của nền kinh tế tư nhân và phát huy tính độc lập tự chủ. Nhà nước có thể kiểm soát kinh tế tư nhân bằng lãi suất của các ngân hàng thương mại và sử dụng thuế khoá đối với các doanh nghiệp tư nhân. Trong những trường hợp quan trọng và thật sự cần thiết nhà nước có thể đặt ra giá cho các sản phẩm quan trọng, kiểm soát việc mua và bán ngoại tệ.
Với tư cách là người lập kế hoạch, Nhà nước tác động một cách trực tiếp vào phương hướng đầu tư và phát triển kinh tế.
- Nhà nước xác lập những cân đối chung cơ bản trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Thông qua hệ thống các phương hướng nhiệm vụ mục tiêu và chỉ tiêu được vạch ra trong các chiến lược kế hoạch các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Việc định hướng trước tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển cân đối nhịp nhàng với tốc độ và hiệu quả Nhà nước đưa ra các kế hoạch và trên thực tế đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp dự đoán được xu hướng biến đổi của thị trường mà hành động một cách có lợi nhuận nhất trong khuôn khổ của thể chế thị trường.
Việc hoạch định và thể hiện các chính sách xã hội, các chương trình điều tiết thu nhập đảm bảo sự thống nhất hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Việc hoạch định, xác lập kế hoạch hoá của Nhà nước trong nền kinh tế có những tác dụng sau:
- Đề ra mục tiêu và những trật tự cho các chính sách kinh tế.
- Phát hiện ra những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục sửa chữa đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động một cách thông suốt.
- Định hướng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Nói tóm lại, Nhà nước có chức năng kinh tế rất lớn, điều hành quản lý ở tầm vĩ mô nhưng đối với từng nước thì các chức năng đó thể hiện công dụng một cách khác nhau tuỳ thuộc vào chế độ kinh tế của từng nước, tuỳ thuộc sự phát triển kinh tế của nước đó ra sao mà sử dụng cho phù hợp. ( Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta )
Có thể bạn quan tâm:
3.2. Các công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Để thể hiện một cách triệt để các chức năng của Nhà nước thì đòi hỏi Nhà nước phải có hệ thống công cụ quản lý kinh tế. Hệ thống công cụ đó bao gồm hệ thống luật pháp, các chính sách kinh tế (chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách tín dụng…) và các kế hoạch nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển có hiệu quả.
- Hệ thống luật pháp: Nhà nước sử dụng và ban hành hệ thống pháp luật đặc biệt là luật kinh tế nhằm tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho sản xuất kinh doanh, duy trì được kỷ cương trật tư về kinh tế và xã hội, hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo quy định của luật pháp. Pháp luật là công cụ cưỡng chế hành vi của doanh nghiệp nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh cuả họ làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội.
- Pháp luật là công cụ tạo ra môi trường tự do kinh doanh tự do cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp bởi vì nhờ có pháp luật mà các doanh nghiệp biết mình phải làm những gì và những gì mình được làm. Trên cơ sở những điều pháp luật cho phép thì được pháp luật bảo hộ quyền tự do, bảo vệ lợi ích và ngoài những điều luật pháp nghiêm cấm thì các doanh nghiệp có quyền được làm tất cả những gì mà khả năng của họ cho phép. Ngược lại nêú vượt quá giới hạn thì sẽ bị pháp luật cưỡng chế. Chính vì vậy mà pháp luật Nhà nước rất có hiệu lực. Đó là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế một cách gián tiếp, điều khiển các hoạt động của các doanh nghiệp đi đúng hướng đúng pháp luật. Như vậy Nhà nước dùng pháp luật để tác động tích cực đến đời sống kinh tế, chi phối mạnh mẽ các quan hệ kinh tế. Thực tiễn quá trình phát triển lịch sử đã cho thấy không ít trường hợp pháp luật đóng vai trò là người dẫn đường cho các quá trình kinh tế, khai phá những lộ trình mới cho kinh tế phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên cũng không ít trường hợp do sự khắt khe chặt chẽ của pháp luật hay do sự pháp luật lạc hậu chậm đổi mới mà pháp luật trở thành lực cản kìm hãm sự phát triển của kinh tế. Thực ra pháp luật không đóng vai trò quyết định tới sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế và ngược lại sự tăng trưởng kinh tế hoàn toàn không phụ thuộc vào bản thân luật pháp mà cái chính là phụ thuộc vào khả năng của Nhà nước trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thể hiện pháp luật ở từng mô hình kinh tế cụ thể.
Về phương diện lý luận, pháp luật là yếu tố quan trọng của kiến trúc thượng tầng, có vai trò chính trị chi phối mạnh mẽ chính sách xã hội. Trước kia, nền kinh tế nước ta là tập trung quan liêu bao cấp hệ thống pháp luật đưa ra như là mệnh lệnh vì vậy vai trò của pháp luật đối với kinh tế là rất mờ nhạt. Đến nay khi chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì vai trò của pháp luật là rất to lớn và thực sự đã phát huy sức mạnh. Nó không chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội nói chung mà đi sâu hơn pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh tế nói riêng. Pháp luật đang đóng vai trò của phương pháp điều chỉnh chính yếu đối với các quá trình kinh tế. Nó mở đường cho các quan hệ kinh tế mới phát sinh, củng cố các quá trình đổi mới kinh tế đảm bảo cho các quá trình này diễn ra có trật tự có hệ thống không thể đảo ngược được. Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã sử dụng pháp luật như là một công cụ không thể thay thế của quá trình CNH – HĐH trong nền KTTT mở, vừa đảm bảo hội nhập quốc tế vừa đảm bảo định hướng XHCN. Quyền tự do kinh doanh sự bình đẳng của các chủ thể kinh tế được ghi trong hiến pháp và trên thực tế quyền này hoạt động có hiệu quả khi các chủ thể kinh tế hoạt động trong môi trường pháp lý bình đẳng. Nhà nước sử dụng pháp luật đó kiểm soát quá trình vận động nền kinh tế từ quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật tự do cạnh tranh là đặc thù của KTTT. Bài học về khủng hoảng tài chính ở khu vực Đông Nam á bắt đầu từ Thái Lan sang Hàn Quốc, Inđonêsia… Đã chỉ rõ sự yếu kém của cơ chế kiểm soát đối với hoạt động tài chính tiền tệ. Vì vậy vai trò pháp luật trong việc quy định chế độ kiểm tra giám sát của các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh là cực kỳ quan trọng. Nó còn cho phép nền KTTT của nước ta hoà nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế một cách an toàn và có hiệu quả. Mặt khác Nhà nước còn sử dụng công cụ luật pháp trong phân phối. Làm theo năng lực hưởng theo lao động vốn là nguyên tắc của CNXH do vậy pháp luật tạo ra sự bình đẳng cho mọi cá nhân tạo điều kiện cho các cá nhân được hưởng đúng với đóng góp của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh.
3.2.1. Các chính sách kinh tế ( Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta )
Hệ thống các chính sách kinh tế giúp cho Nhà nước có thể điều khiển hoạt động của các doanh nghiệp. Mỗi chính sách kinh tế là một hành lang hướng dẫn hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất phát triển, hướng dẫn các doanh nghiệp hành động một cách phù hợp đối với lợi ích của toàn xã hội. Mỗi chính sách kinh tế đều có thể tác động về cả hai phía cung và cầu:
- Chính sách tài chính: trong cơ chế thị trường việc phân phối tài chính được thể hiện trên thị trường theo các các qui luật của thị trường thậm chí còn tồn tại thị trường tài chính mà ở đó diễn ra hoạt động trao đổi mua bán đáp ứng quan hệ cung – cầu về nguồn lực tài chính. Hoạt động tài chính càng trở nên phong phú đa dạng tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội. Nhà nước sử dụng chính sách tài chính như là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế. Chính sách tài chính là một trong những công cụ quản lý vĩ mô chủ yếu của Nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình thể hiện đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng.
- Nhà nước sử dụng chính sách tài chính nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một định hướng cơ bản để xác định nền tài chính quốc gia lành mạnh vững chắc. Kinh nghiệm thực tiễn chứng tỏ một nền kinh tế kém phát triển tất yếu sẽ kéo theo một nền tài chính ốm yếu ngân sách thâm hụt. Sự cân bằng ngân sách Nhà nước chủ yếu dựa vào tăng trưởng kinh tế vì vậy để nguồn tài chính không bị thâm hụt thì Nhà nước phải tăng cường quản lý bằng pháp luật, kế hoạch và chính sách.
- Chính sách tài chính có tác dụng đẩy mạnh quá trình CNH -HĐH đất nước: để tiến hành CNH – HĐH thì đòi hỏi phải có đầu tư. Muốn vậy phải có một nền tài chính thặng dư mới giải quyết được nhu cầu vốn. Để tăng mức vốn phải giải quyết mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng theo hướng tiết kiệm. Điều này cũng giải quyết phần nào yêu cầu
- Chính sách tài chính góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô: Để ổn định kinh tế, đòi hỏi phải có một ngân sách Nhà nước lành mạnh mà các khoản chi được trang trải từ thuế. Vì vậy Nhà nước đã sử dụng công cụ tài chính để kích thích sản xuất hàng hoá phát triển đồng thời kết hợp với các công cụ quản lý vĩ mô khác để kiểm soát và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường thuân lợi cho nền kinh tế phát triển trong trạng thái ổn định với hiệu quả
- Chính sách tiền tệ: chính sách tiền tệ là một trong những chính sách lớn của Nhà nước, là công cụ sắc bén để quản lý nền kinh tế thị trường, vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ được thể hiện.
- Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ để điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng nhiều biện pháp để cho khối lượng tiền tệ tăng lên hoặc giảm xuống nhằm duy trì mối quan hệ cân đối số hàng hoá với lượng tiền.
- Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ kết hợp chính sách tài chính thể hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tức là đẩy lùi lạm phát kìm chế lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái giá trị tiền trong nước tạo môi trường ổn định cho tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao về bền vững. Thông qua sự phối hợp hoạt động giữa ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm, giảm tỷ lệ người thất nghiệp.
- Nhà nước sử dụng chính sách tài chính tiền tệ để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ sang cơ cấu”công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ”.Nhà nước phát triển thị trường tiền tệ ở nông thôn đáp ứng nhu cầu phát triển của nông dân đưa nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường thể hiện chương trình xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước đồng thời thông qua chính sách phát triển nhằm nâng cao đời sống nhân dân ỏ nông thôn rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Thông qua hoạt động của thị trường tiền tệ cho vay với lãi suất ổn định nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo cơ chê thị trường nâng cao tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp để doanh nghiệp có điều kiện đổi mới thiết bị công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
- Chính sách tín dụng, chính sách ngoại hối cũng là một trong những công cụ quản lý của nhà nước. Nhà nước sử dụng chính sách ngoại hối nhằm thể hiện các nghiệp vụ hối đoái, tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế… nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ, nguồn vốn từ nước ngoài và thu hút kiều hối, ổn định tỷ giá hối đoái nhằm kìm chế lạm phát ổn định giá cả trong nước, tổ chức quản lý chặt chẽ nợ nước ngoài.
Về chính sách tín dụng, thông qua các ngân hàng trung ương, xuất phát từ nhu cầu của thị trường và các nhà doanh nghiệp vay vốn để đầu tư sản xuất. Nhà nước sử dụng chính sách tín dụng nhằm thể hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ đồng thời tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng.
3.2.2 Chính sách tài chính đối ngoại. ( Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta )
Nhà nước sử dụng chính sách đối ngoại nhằm tiếp nhận viện trợ hoặc vay vốn từ nước ngoài, tiếp nhận vốn liên doanh, chuyển giao công nghệ giữa trong nước với nước ngoài. Sử dụng chính sách tài chính đối ngoại nhằm thực hiện các quan hệ quốc tế, các hoạt động kinh tế liên quan tới nhập khẩu và xuất khẩu. Nhà nước thông qua đó điều chỉnh sao cho hợp lý nhằm thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển.
- Chính sách lao động tiền lương: Nhà nước đã và đang từng bước đổi mới chế độ lao động tiền lương cho phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước mà đỉnh cao là việc Quốc hội Ban hành bộ luật lao động. Về lao động, Nhà nước đã ban hành Nghị quyết 120/HĐBT xây dựng việc làm quốc gia giải quyết cho hơn một triệu việc làm góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhà nước đang từng bước chuyển hình thức biên chế suốt đời sang làm việc theo hợp đồng nhằm giải phóng năng lực tạo nên sự chuyển dịch lao động giữa các thành phần kinh tế. Nhà nước cũng đang có những biện pháp nhằm cân đối lại lực lượng lao động giữa các ngành nghề giữa nông nghiệp – công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị làm giảm bớt sự lãng phí lao động.
Về tiền lương, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Nhà nước đã thay đổi kết cấu tiền lương đưa sự ưu đãi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Cùng với tiền lương. Đồng thời Nhà nước cũng có chính sách nâng cao tiền lương lực lượng lao động công tác ở nông thôn miền núi hải đảo. Chính nhờ có sự thay đổi đó trong tiền lương và lao động (giảm lao động từ 48 tiếng đến 40 tiếng trong một tuần) tạo cho người lao động hứng thú làm việc hơn qua đó gián tiếp nâng cao năng suất lao động làm cho thị trường sản phẩm hàng hoá phát triển nhanh chóng.
Ngoài những công cụ trên , Nhà nước còn điều khiển sự hoạt động của nền kinh tế bằng các chiến lược, các kế hoạch dài hạn can thiệp vào các hiện tượng các quan hệ kinh tế bằng công cụ lãi suât và chỉ tiêu kế hoạch vừa là công cụ, vừa là phương pháp quản lý điều khiển nền kinh tế. Kế hoạch hoá là công cụ thể hiện các mục tiêu lý tưởng của nền kinh tế, nhờ có kế hoạch mà chính phủ có thể phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp, của các bộ, các ngành các địa phương kế hoạch hoá là công cụ duy nhất để chính phủ có thể chuyển tải nội dung đường lối chính sách kinh tế quản lý tập trung. Kế hoạch giúp cho không những chính phủ mà cả các nhà sản xuất kinh doanh nhìn nhận đúng hướng đi sao cho có lơị nhất bởi kế hoạch cũng như một dự án được đưa ra bàn luận phân tích trước khi đưa vào sử dụng.
Có thể nói, kế hoạch đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Kế hoạch có đúng có hiệu quả thì nền kinh tế thông qua đó mà có điều kiện để phát huy những mặt tích cực. Thực tế cho thấy các nước trên thế giới và cả Việt Nam ta khi bước vào xây dựng nền kinh tế đều đưa ra những kế hoạch nhằm định hướng cho các hoạt động kinh tế trong tương lai. Kế hoạch đó có thể là ngắn hạn trung hạn hay dài hạn, 5 năm, 10 năm 20 năm hoặc có thể dài hơn.
Mời bạn tham khảo thêm:
4.1 Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta hiện nay.
Khác với một số nước trên thế giới, chúng ta tiến lên CNXH từ một nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu mà bỏ qua giai đoạn phát triển lên chủ nghĩa tư bản. Bởi vậy chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế đó là do chúng ta chưa chuẩn bị được cơ sở vật chất kỹ thuật để tiến lên CNXH. Mặt khác nền kinh tế của nước ta trước đây dập khuôn theo mô hình kinh tế của Liên xô với chế độ xã hội công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể trong đó sở hữu toàn dân đóng vai trò chủ đạo. Xuất phát từ quan niệm nền kinh tế XHCN là nền kinh tế phát triển có kế hoạch, quy luật phát triển có kế hoạch là quy luật điều tiết mọi hoạt động của nền kinh tế nên nhà nước ta lấy kế hoạch hoá làm công cụ chủ yếu để quản lý kinh tế. Việc lãnh đạo phát triển kinh tế quốc dân có kế hoạch là một vấn đề cơ bản nhất trong nhiệm vụ quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN.
Công cụ đổi mới nền kinh tế của nước ta bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng. Đó là điểm mốc cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước. Từ đại hội 6 nhà nước ta mới thấy rõ lợi ích của việc chuyển đổi nền kinh tế và đó là thời điểm Đảng ta xác định phải chuyển dần nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đang tồn tại sang nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước. ( Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta )
Trong hơn 10 năm đổi mới đất nước ta đã phải đối phó với rất nhiều khó khăn nhưng nhờ sự lãnh đạo, sự quản lý chặt chẽ của Đảng và đặc biệt là vai trò tham gia điều tiết nền kinh tế của Nhà nước, sự định hướng theo kế hoạch và quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước theo hướng có lợi nhất nên chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi đáng kể sau:
- Về cơ bản về nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế một thành phần với hai hình thức sở hữu là toàn dân và tập thể đã dần chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần với đa hình thức sở hữu. Các thành phần kinh tế đều được quyền bình đẳng trước pháp luật. Trước kia nền kinh tế nước ta không tồn tại loại hình kinh tế tư bản tư nhân với hình thức sở hữu tư nhân thì từ khi chuyển đổi nền kinh tế đã chấp nhận loại hình này và ngày nay Đảng và Nhà nước ra còn có rất nhiều chính sách nhằm phát triển quy mô sản xuất của mô hình này nhằm thu hút đầu tư mở rộng sản xuất của khu vực tư nhân.
- Nền kinh tế nước ta từ chỗ mang nặng tính chất tự cung tự cấp đã từng bước chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Các loại mặt hàng sản phẩm hàng hoá ngày càng đa dạng phong phú đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Trước khi đổi mới nền kinh tế nước ta ở trong trạng thái khan hiếm hàng hoá và chủ yếu là nhập khẩu nhân viên trợ từ nước ngoài thì ngày nay theo cơ chế thị trường sở hàng hoá không những đa dạng mà một số hàng hoá còn có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
- Các hình thức sở hữu mở rộng tạo điều kiện giải phóng mọi tiềm năng, phát triển lực lượng sản xuất, mở rộng phân công lao động xã hội nâng cao hiệu quả kinh tế. Mở rộng quy mô sản xuất, đã thu hút được lao động ổn định sự phát triển kinh tế. Đẩy lùi nguy cơ lạm phát. Từ năm 1988 lạm phát của nước ta lên tới 500% và theo sự phát triển kinh tế ổn định lạm phát đã giảm xuống.
- Nền kinh tế từ trong trạng thái khép kín đã dẫn mở cửa thị trường trong nước giai lưu hợp tác vơí các nước trên thế giới tạo nên thị trường thông suốt và chặt chẽ với nền kinh tế các nước trên thế giới và trong khu vực. Chính nhờ chính sách kinh tế đối ngoại cởi mở bảo đảm môi trường chính trị xã hội ổn định đảm bảo cho môi trường phát triển kinh tế đầu tư nước ngoài cho nên trong những năm qua, nước ta đã thu hút rất nhiều nguồn vốn đầu tư từ các nước như Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Pháp… Hiện nay tính trên toàn quốc gia có tới hơn 3 vạn doanh nghiệp ngoài quốc doanh và liên doanh với nước ngoài.
- Hệ thống giá cả đã được tự do hoá theo cơ chế thị trường. Việt độc quyền giá cả, giá cả do uỷ ban đặt giá xoá bỏ đang dần dần xoá bỏ. Nhờ việc tự do hoá giá cả mà các yếu tố cạnh tranh được pháp huy và thúc đẩy làm cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
- Quan hệ hàng hoá tiền tệ được phát triển. Thị trường vốn đã xuất hiện do các ngân hàng nhà nước Việt Nam đảm nhiệm.
- Vai trò quản lý kinh tế vĩ mô nền kinh tế đang dần được khẳng định. Việc quản lý kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính được thay thế dần bằng việc sử dụng các công cụ tài chính tiền tệ Cơ chế quản lý kinh tế hách dịch cửa quyền được xoá bỏ phù hợp với xu hướng vận động của cơ chế thị trường.
- Các loại hình dịch vụ gắn liền với lưu thông hàng hoá phát triển mạnh thúc đẩy kinh doanh đã giải quyết số lượng lớn việc làm. Dịch vụ phát triển nhanh chóng đã đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế.
- Hệ thống các doanh nghiệp nhà nước đã có sự chuyển đổi về tổ chức và phương thức hoạt động kinh doanh và ngày càng mở rộng sản xuất có hơn 57000 doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp này đang từng bước thích ứng với cơ chế mới đang giữ tỷ trọng tuyệt đối về nhập khẩu đóng góp ngày càng nhiều cho nhà nước. Hoạt động của các doanh nghiệp này có hiệu quả đã phát huy được vai trò chỉ đạo trên thị trường nội địa bước đầu tìm chỗ đứng trên thị trường thế giới. Hệ thống doanh nghiệp này đã thực sự là mạch máu lưu thông trong toàn nền kinh tế quốc dân, trong việc điều hoà cung cầu, ổn định giá cả, định hướng cho sự phát triển của các thành phần kinh tế khác.
- Nhiều cán bộ quản lý và kinh doanh qua cơ chế mới của nền kinh tế thị trường đã được sàng lọc và đào tạo lại, đào tạo mới đã khẳng định được phẩm chất năng lực và dần được nâng cao trình độ trong việc giao lưu hợp tác với nước ngoài.
- Sự phát triển tăng trưởng kinh tế góp phần bảo đảm các nhu cầu về vật tư hàng hoá cho nền kinh tế quốc dân, quốc phòng và đời sống nhân dân. Nhờ có sự chuyển đổi nền kinh tế tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, đời sống nhân dân từ đó cũng được nâng lên một bước đáng kể.
4.2 Đạt được những thành tựu bước đầu này là do có đường lối và chính sách đổi mới đúng đắn kịp thời của Đảng và nhà nước.
- Sự cải tiến về mối quan hệ giữa Đảng và nhà nước. Thể hiện vai trò của Đảng và nhà nước là thống nhất, các chính sách của Đảng phù hợp với chính sách của Nhà nước. Đồng thời thể hiện bản chất của Đảng chính sách Việt Nam và nhà nước Việt Nam là vì lợi ích của nhân dân của người lao động.
- Do sự nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp và do mối quan hệ của nhà nước và doanh nghiệp ngày càng gần gũi hơn. Nhà nước đã ban hành các chính sách kinh tế phù hợp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Các chính sách của nhà nước đã được nới lỏng không khắt khe rườm rà từ trên xuống dưới như trước đã tạo cho các doanh nghiệp hoạt động tự do hơn.
- Do nhà nước đã thực sự có những chính sách kinh tế thiết thực nhằm thu hút và phát huy mọi tiềm năng sẵn có trong nước.
- Do sự hoạt động nhạy bén vơí thị trường của các doanh nghiệp sản xuất. Họ đã thích ứng rất nhanh trong các điều kiện của cơ chế thị trường.
Nhưng tựu chung lại là do chính sách đổi mới kinh tế, đổi mới tư duy của đảng và nhà nước, do sự quản lý có hệ thống điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước thì nền kinh tế mới có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên bên cạnh những thay đổi và kết quả trên, cũng như thị trường có ưu điểm và khuyết tật thì nền kinh tế tuy có những thành tựu đáng kể song nó vẫn tồn tại nhiều hạn chế.
4.2.1 Công cuộc đổi mới hơn 10 năm qua đã đem lại bộ mặt mới cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy đã có sự thay đổi căn bản nhưng nền kinh tế thị trường ở nước ta mới chỉ là sơ khai chưa đầy đủ. ( Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta )
- Sản xuất hàng hoá trong các lĩnh vực còn ở trình độ thấp, công nghệ sản xuất còn lạc hậu chưa thực sự tuân theo một chu trình hiện đại nào chính vì vậy sản phẩm sản xuất ra còn kém cả về chất lượng và mẫu mã. Điều này là nguyên nhân chủ yếu đưa sản phẩm của ta dẫn tới tình trạng kém cạnh tranh ngay cả ở trong nước.
- Hệ thống máy móc trang thiết bị lạc hậu không sánh kịp với máy móc tiên tiến hiện đại của nước ngoài là đã dẫn đến năng suất lao động còn thấp. Đó là do việc chuyển giao công nghệ ở nước ta còn quá kém không đủ trình độ chuyên môn nên trong quá trình chuyển giao với nước bạn ta nhập thiết bị máy móc đã qua sử dụng quá lâu hoặc là nhận viện trợ không hoàn lại. Chính vì vậy làm cho máy móc thiết bị của ta một là lạc hậu lỗi thời, thứ hai là kém năng suất
- Hệ thống các xí nghiệp và công ty ở nước ta chưa có sự cân đối giữa các ngành nghề giữa các vùng vì vậy không khai thác triệt để các nguồn tài nguyên và không tận dụng hết nguồn lực lao động ở các địa phương có nơi thừa lao động thất nghiệp trầm trọng nhưng có nơi cần lao động lại không có.
- Thị trường hàng hoá và số lượng doanh nghiệp bung ra kinh doanh phát triển với tốc độ cao nhưng mang nặng tính tự phát. Nền thương nghiệp về cơ bản vẫn là nền thương nghiệp nhỏ tổ chức phân tán manh mún dẫn tới việc ép giá đầu vào nâng giá đầu ra ở thị trường trong nước và bị chèn ép giá trên thị trường nước ngoài.
- Mặc dù giá cả đã được tự do hoá nhưng vẫn còn độc quyền. Đó là ở các ngành điện nước, bưu chính… làm cho giá cả từ đó mà lên tuy rằng cùng có sự điều chỉnh của nhà nước.
- Nhiều điều kiện cần thiết cho sự ra đời của sản xuất hàng hoá như thị trường đất đai thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ chưa được thiết lập một cách công khai hoàn chỉnh.
- Các hoạt động dịch vụ đã phát triển mạnh mẽ nhưng chỉ mới tập trung voà một số ngành như ăn uống buôn bán nhỏ, các hàng công nghiệp tiêu dùng. Các ngành như du lịch bảo hiểm cung ứng kỹ thuật và công nghệ chưa tương xứng, chất lượng hàng hoá dịch vụ nhìn chung còn thấp.
- Mặc dù nước ta đã mở cửa và đã thu hút được nguồn đầu tư từ nước ngoài nhưng trên thực tế nguồn vốn mà nước ngoài đầu tư vào nước ta chỉ dừng lại ở nhỏ và vừa chưa có những dự án đầu tư lớn.
- Số doanh nghiệp nhà nước còn quá lớn vượt quá khỏi khả năng quản lý của bộ máy nhà nước, quy mô doanh nghiệp nhỏ phân tán , phân bổ không hợp lý cả theo ngành và lãnh thổ. Trong một số lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước còn giữ vị trí độc quyền nhưng chưa có quy chế kiểm soát độc quyền thích hợp. Trong thiết bị và cơ sở hạ tầng của thành phần kinh tế chủ đạo này còn rất kém, chỉ có 18% doanh nghiệp được xây dựng từ năm 1986 và chỉ có 15% sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Mặc dù doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ và sử dụng một số đất đai nguồn tài nguyên rất lớn đóng góp vào ngân sách là chủ yếu nhưng chưa nhiều, hiệu quả thấp, thiéu vốn nghiêm trọng .
- Trong tổ chức của các doanh nghiệp nhà nước tuy đã được sắp xếp lại nhưng hệ thống hiện nay vẫn chưa phù hợp với cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường còn có quá nhiều người tham gia vào quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.
- Cơ chế quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp tuy đã có nới lỏng nhưng vẫn còn tồn tại nhiều mặt gò bó phi lý. Việc quản lý còn lỏng lẻo sơ hở đặc biệt là quản lý tài chính doanh nghiệp. Việc kiểm toán thống kê không được đầy đủ là nguyên nhân do tham nhũng gia tăng .
- Kỷ cương pháp luật bị vi phạm, trật tự thị trường chưa được xác lập. Nạn buôn lậu làm hàng giả diễn ra nghiêm trọng tác động xấu đến sản xuất và đời sống. Tình trạng kinh doanh không đăng ký, trốn thuế, cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ở nhiều nơi nhiều lĩnh vực . Hoạt động quảng cáo thương mại chưa được quản lý tốt gây tác hại đến đạo đức lối sống ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục , đời sống xã hội.
- Quản lý của nhà nước về xuất nhập khẩu và điều hành thị trường còn nhiều khuyết điểm chưa kịp thời đã gây ra tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu. Nhà nước chưa thực hiện đúng chức năng để giải quyết quan hệ giữa bảo hộ sản xuất trong nước và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
- Trong nền kinh tế thị trường công cụ để nhà nước sử dụng để quản lý kinh tế là hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật của Nhà nước càng chặt chẽ đồng bộ thì việc quản lý càng thuận lợi nhưng trên thực tế hệ thống luật pháp của ta còn nhiều thiếu sót sơ hở. Nền kinh tế nước ta đã chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá song những luật lao động, luật doanh nghiệp, luật cạnh tranh chưa đầy đủ vì vậy nhà nước vẫn không thể quản lý chặt chẽ ở tầm vĩ mô và là cơ sở cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phi pháp gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân.
- Mặc dù nước ta đang xoá dần tệ quan liêu bao cấp cửa quyền nhưng một số cán bộ quản lý của ta chưa làm đúng chức năng hoặc là do trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của họ quá yếu kém mà không bị sa thải hay đào thải lại.
- Thủ tục hành chính của ta tuy đã được tổ chức lại song vẫn rườm ra kồng kềnh là nguyên nhân cho việc hạn chế đầu tư của nước ngoài vào sản xuất tại Việt
4.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trên là do nhiều khó khăn và mất cân đối lớn trong nền kinh tế, tính phức tạp của quá trình chuyển đổi và sự bất cập trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế nhà nước nhưng về mặt chủ quan là do: ( Luận văn: Thực trạng quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta )
- Do nhà nước chưa kịp thời ban hành chỉ thị hướng dẫn để phát triển và định hướng nền kinh tế trong cơ chế mới.
- Do nhận thức về cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN trong giai đoạn đầu chuyển đổi còn nhiều lúng túng dẫn đến nhiều sai lệch. Kiến thức và năng lực quản lý điều hành còn yếu. Từ đó có nhiều sơ hở , không đồng bộ và thiéu nhất quán trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô trong quản lý và phát triển kinh tế.
- Chưa xử lý đúng mối quan hệ giữa kế hoạc và thị trường giữa chức năng quản lý của nhà nước và quyền tự chủ của doanh nghiệp. Vì vậy chưa phát huy đầy đủ vai trò của nhà nước đối với lĩnh vực phân phối lưu thông đồng thời chưa phát huy hết tính năng động sáng tạo của doanh nghiệp.
- Nhà nước chưa chăm lo quan tâm đúng mức tới việc xây dựng và tổ chức trong các doanh nghiệp nhà nước, chậm đổi mới xây dựng cơ chế và giải pháp đáng kể phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.
- Bộ máy quản lý nhà nước về doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương chưa kiện toàn kịp thời và đủ mạnh so với yêu cầu và chức năng quản lý của nhà nước. Cơ chế quản lý còn mang nặng tính tập trung quan liêu cửa quyền.
- Đội ngũ cán bộ quản lý chưa được sắp xếp lại, rèn luyện và đào tạo kịp thời với tình hình và nhiệm vụ mới, một bộ phận thoái hoá biến chất không được xử lý kịp thời và kiên quyết.
Tất cả các nguyên nhân trên dẫn đến việc chậm phát triển nền kinh tế. Vì vậy để đưa nền kinh tế phát triển nhanh chóng vận động theo cơc hế thị trường theo đúng hướng thì nhà nước cần phaỉ tăng cường vai trò quản lý của mình hơn nữa.
Các bạn có thể tham khảo thêm:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
