Dưới đây là bài mẫu Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức. Đặc biệt dành cho các bạn sinh viên, học viên đang làm bài tiểu luận có đề tài tương, các bạn có thể tham khảo thêm các bài mẫu đề tài tương tự về môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại website.
Ngoài ra, nếu trong quá trình làm bài các bạn gặp nhiều khó khăn khi làm bài, chưa biết bắt đầu từ đâu thì đừng ngần ngại tham khảo Dịch vụ nhận viết tiểu luận của bên mình, liên hệ với mình qua zalo: https://zalo.me/0362148612 nhé!
BỐ CỤC BÀI TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRIẾT HỌC, CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG CHÍNH
1. Nguồn gốc hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Quá trình hình thành:
1.2 Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh:
2. Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
3. Tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh
4. Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh
KẾT LUẬN
XEM THÊM ➤ DỊCH VỤ THUÊ VIẾT TIỂU LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRIẾT HỌC, CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sản sinh ra biết bao tên tuổi vĩ đại, vừa là anh hùng dân tộc, vừa là nhà tư tưởng lớn, nhưng không ai có được sự nghiệp lẫy lừng như chủ tịch hồ chí minh của chúng ta, không ai có được tầm vóc thời đại, được loài người tiến bộ ca ngợi và thừa nhận như chủ tịch Hồ Chí Minh
Địa vị có một không hai trong lịch sử dân tộc của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được xác lập và củng cố vững chắc nhờ công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại mà Người đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam. Đã đưa Người lên địa vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà lý luận sáng tạo của cách mạng việt nam,
Người đã có công lao to lớn đối với cách mạng việt nam , tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đã truyền bá chủ nghĩa mác lênin vào việt nam, xây dựng lên một khối đoàn kết dân tộc, Người là người cha thân yêu của cách mạng việt nam, đã bồi dưỡng cho họ tinh thần quyết chiến, quyết thắng, làm nên những chiến công hiển hách được cả loài người khâm phục và ca ngợi. Ngày mùng 2/9/1945 Người đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, người đặt nền móng cho việc xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “ của dân, do dân, vì dân”( Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức )
Tất cả những tư tưởng của Người đã được nhân loại ca ngợi và đánh giá rất cao, mang một tầm vóc thế giới.Người không để lại các công trình nghiên cứu rõ ràng về các lĩnh vực nhưng qua những bài báo và những tác phẩm người để lại, nó chứa đựng những tư tưởng lớn mang tầm vóc thời đại, quan trọng nhất là tư tưởng của Người về triết học, chính trị, đạo dức.
NỘI DUNG CHÍNH TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRIẾT HỌC, CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC
1. Nguồn gốc hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Quá trình hình thành:
Vào những năm giữa thế kỉ XIX, phương thức sản suất tư bản chủ nghĩa đã thống trị ở Anh, Pháp, Đức và một số nước Tây Âu. Trong xã hội mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt. dẫn đến cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải có lý luận tiên phong chỉ đuờng, chủ nghĩa Mác đã ra đời “ tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” đã khẳng định quy luật tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản để nhường bước cho một xã hội mới, đồng thời chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc đã hoàn thành căn bản việc phân chia thế giới, nô dịch các dân tộc thuộc địa, thế giới chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại, phản ánh xu thế biến động đầy kịch tính của xã hội loài người, đa số các quốc gia Phương Đông các nước lạc hậu ở Châu Phi, Châu Mỹ Latinh đã bị xâm chiếm làm thuộc địa chỉ một số ít nước là đế quốc Anh, Pháp, Bồ Đào Nha , Tây Ban Nha, Hà Lan, Mỹ .. nô dịch và bóc lột đa số nhân loại những mâu thuẫn lớn trong thời kỳ này ngày càng gay gắt: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở các nước đế quốc ; mâu thuẫn giữa các dân tộc với bè lũ thực dân; mâu thuẫn giữa quảng đại quần chúng lao động chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, trước hết là với triều đình phong kiến ở các nước thuộc địa ở phương đông; mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa với giai cấp tư sản bản xứ và với tư sản thực dân ; mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau vv… những mâu thuẫn đó tích tụ lại tạo thành thời kì bão táp cách mạng và chiến tranh ở những năm đầu thế kỉ 20.
XEM THÊM ➤ Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về Độc lập dân tộc
Mở đầu thời kì bão táp là cách mạng tháng 10 Nga vĩ đại năm 1917, trước đó phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa diễn ra liên tục và mạnh mẽ, nhất là ở các nước thuộc địa phương Đông nơi tồn tại hàng nghìn năm của chế độ phong kiến. Tuy nhiên các phong trào đó đều thất bại vì người lãnh đạo phần lớn là giai cấp địa chủ phong kiến, số ít là lãnh tụ nông dân và sau đó thuộc giai cấp tư sản dân tộc; vì mục tiêu phong trào chỉ hướng vào mục tiêu dân tộc, ít nhắm vào mục tiêu dân chủ và không nhằm mục tiêu giải phong triệt để nhân dân lao động; do dường lối không đúng lên không thu hút được sức mạnh của cả dân tộc. Cách mạng tháng mười Nga thành công vì cuộc cách mạng này do giai cấp vô sản lãnh đạo, đứng đầu đảng cộng sản bôn-sê-vích nga
1.2 Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh:
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ các yếu tố như sau:
Từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam . chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh kiên cường bất khuất, tự lực, tự cường. Ở những thời điểm nước mất nhà tan thì trăm họ đều đứng lên, cố kết một lòng giành lại bằng được quyền độc lập tự do. Chính tinh thần yêu nước thương dân, truyền thống văn hoá nhân ái, ý chí tự lực tự cường được khơi dậy trrong hoàn cảnh thực dân Pháp đã đặt ách thống trị lên nhân dân ta, đã thúc đấy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước . đó cũng chính là tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động của người trong suốt cả cuộc đời mình; là cơ sở để người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, vì vậy có thể nói chủ nghĩa yêu nước là một trong những tư tưởng cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.( Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức )
Tư tưởng Hồ chí Minh có nguồn gốc từ sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây. Trước khi đến với chủ nghĩa Mác –Lênin, Người đã nhiều năm theo học Nho giáo, tinh thong “tứ thư” ngũ kinh” , người đã chuyển qua học chữ quốc ngữ và bắt đầu tiếp xúc với văn hoá phương tây với tư tưởng tự do bình đẳng bác ái” , người đã tiếp xức với nhiều nhà tri thức , nhà chính trị nổi tiếng của Pháp và thế giới, từ đó tiếp thu những tư tưởng dân chủ của thế kỷ ánh sáng và nền “văn hoá phục hưng”, của cuộc cách mạng tư sản Pháp, cách mạng tư sản Mỹ, nhất là Pháp, những tư tưởng nhân ái trong nền văn học Pháp, Nga, Anh..
Người tiếp thu nho giáo, những trên cơ sở chọn lọc lấy tinh hoa loại bỏ những yếu tố thủ cựu tiêu cực của nho giáo, người tiếp thu triết lý của nhà phật, của Lão giáo, Những kiến thức phong phú ấy đã làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp được truyền thống và hiện đại, tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây, cũng như làm cho Người vừa giản dị vừa sâu sắc, vừa dân dã vừa bác học, rất Việt Nam và rất nhân loại.
2. Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
Chủ tịch hồ chí minh có những tư tưởng triết học phong phú sâu sắc và độc đáo, được thể hiện trong nhiều bài viết của Người, những tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng dù ở góc độ nào chúng ta cũng thấy tư tưởng đó vừa mang sắc thái thâm tuý của triết học phương Đông, lại vừa có tính khúc triết, duy lý, hiện đại của triết học phương Tây. Thí dụ về tư tưởng “ không có gì quý hơn độc lập tự do”của chủ tịch Hồ Chí Minh , người Việt Nam nhận thấy ở đó trình độ khái quát cao của tư tưởng “ một dân tộc độc lập và một quốc gia có chủ quyền” của tư tưởng truyền thống Việt Nam: những người cộng sản nhìn thấy ở đó hiện thân của triết học Mác- Lênin. Trong hàng loạt những tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về con người chúng ta thấy hiện lên rất rõ những giá trị nhân văn đặc sắc của dân tộc Việt Nam cũng như những tư tưởng triết học sâu sắc của Khổng Tử, Lão Tử, Mặc Tử, phật giáo , thiên chúa giáo, triết học khai sang pháp và đặc biệt là tư tưởng nhân đạo cao cả của triết học Mác – Lênin. Ở tư tưởng “dĩ bát biến, ứng vạn biến”của chủ tịch Hồ ChíMinh, có cả phép biến dịch của triết học phương Đông lại có cả phép biện chứng duy vật của triết học Mácxít.. có thể nói nhiều giá trị triết học của nhân loại trong lịch sử đã được chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết, kế thừa và vận dụng sáng tạo, và nhờ đó mà nâng chúng lên ở trình độ mới, chẳng những ngang tầm thời đại mà còn hướng tới tương lai.
Cách đây hơn 70 năm nhà thơ Xô Viết Oxip Manđenxotam đã viết “ từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải văn hoá của Châu Âu, mà có lẽ là nền văn hoá trong tươg lai.. nhiều nhà hoạt động nổi tiếng trong phong trào cộng sản thế giới , nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, xã hội, văn học, triết học,.. đều đánh giá chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lý luận vĩ đại, mà tên tuổi sẽ mãi mãi gắn bó với những hành động cao cả nhất và những ước mơ cao quý nhất của nhân loại và chân lý của lịch sử vv….
Ở Việt Nam tuy không có hệ thống triết học, nhưng ông cha ta đã có những khái quát triết lý, mang tính triết học, được thể hiện trong tư tưởng văn hoá dân gian, thơ văn lý trần, trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng, văn hoá nhà Trần, Chu Văn An , Nguyễn Trãi, , Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Phan Bội Châu,…xuất phát từ nhu cầu đoàn kết dân tộc, thơ văn lý Trần rất chú ý đề cao tinh thần khoan dung, hoà mục: “ nhật, nguyệt tịnh minh, các hữu sở chiếu”( Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức )
( mặt trời và mặt trăng đều chiếu sáng, mỗi cái có cách chiếu riêng. Ý nói: mặt trời chiếu ban ngày, mặt trăng chiếu ban đêm, cả hai đều cần thiết cho cuộc sống của con người, không nên đề cao cái này mà phủ nhận cái kia)
Nguyễn Trãi viết: “ phúc chu, thuỷ tín dân do thuỷ” (lật thuyền mới biết sức dân như nước- Quan hải)
Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận thức rằng:
Cổ lai, quốc dĩ dân di bản
Đắc quốc ưng tri tại dắc dân – (cảm hứng)
( xưa nay nước lấy dân làm gốc
Được nước nên biết là do được lòng dân)
Còn Phan Bội Châu lại chú ý nhiều đến phạm trù “ thời” trong triết học phương Đông (thời cơ, thời vận, thời thế). Ông viết : phàm mọi việc trong thiên hạ đều không đương nỗi chữ thời. Thời chưa đến mà vội là làm trái trời, thời đã đến mà không làm là khinh trời”. Phải theo thời nhưng không được ỷ lại chờ thời mà phải biết chủ động tạo nên thời thế, và ông kêu gọi:” sinh thời thế phải xoay nên thời thế”. Nói cách khác, Phan Bội Châu khẳng định phải biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Chịu ảnh hưởng của quan niệm này Hồ Chí Minh viết:
Lạc nước hai xe đành bỏ phíGặp thời, một tốt cũng thành công
Hồ Chí Minh đã từ những khái quát giàu tính triết lý này của cha ông rồi sử dụng thế giới quan và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để tổng kết, rút ra phương pháp luận triết học của mình để chỉ đạo việc hoạch định đường lối chiến lược, sách lược, đưa tới thắng lợi cho cách mạng việt nam.
Đặc điểm lớn trong tư duy của người Việt Nam là tư duy thực tiễn, luôn luôn xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của dân tộc để giải quyết những vấn đề cấp bách đang đặt ra trong đời sống thực tiễn của đất nước. Vì vậy người Việt xưa ít bàn đến những vấn đề về vũ trụ quan . Trong lĩnh vực triết học bình diện được người Việt quan tâm nhiều nhất là nhân sinh quan và đạo đức quan; ngay trong đạo đưc quan, giữa mặt triết học đạo đức và mặt chuẩn mực đạo đức thì người Việt Nam vẫn quan tâm hơn nhiều đến phần chuẩn mực đạo đức, phần hành đạo, nhằm đòi hỏi những ứng xử kịp thời của con người trước mỗi biến cố xã hội và xung đột đạo đức.
Đặc điểm này để lại dấu ấn sâu sắc trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh: dị ứng với mọi giáo điều, không sa vào các cuộc tranh luận lý thuyết thuần tuý, thiên về hành động thực tiễn của con người, mà hành động lại rất cần đến vai trò của phương pháp luận, của đạo đức – bởi đạo đức xưa nay vẫn được coi là triết học của thực tiễn.
Thứ hai tư tưởng Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng nhất định của tinh hoa triết học phương Đông như nho giáo, phật giáo, lão giáo và phương Tây chủ yếu là triết học Mác –Lênin. Các yếu tố biện chứng trong triết học phương Đông được Hồ Chí Minh học tập người đã viết.( Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức )
Sự vật vần xoay vần đã định sẵn
Hết mưa là nắng lên thôi…
Hết khổ là vui vốn lẽ đời
Ngoài ra tư tưởng “ thiên nhân hợp nhất “, tam tài thống nhất cũng đuợc Hồ Chí Minh nhắc tới khi bàn về mối quan hệ thiên thời địa lợi nhân hoà. Triết học phương Đông cũng đưa ra thuyết ngũ hành (5 nhân tố)nhưng không coi yếu tố nào là nguyên bản, mà có sự chuyển hoá theo quan hệ, ở quan hệ này là thuỷ, ở quan hệ khác là thổ, v.v.. triết học phương Tây coi trọng nguyên tử luận, triết học phương Đông coi trọng quan hệ luận , quan hệ con người với tự nhiên : nhấn mạnh hài hoà, cộng sinh; quan hệ con người với con người: nhấn mạnh đạo đức , phép ứng xử, chủ trương “ dĩ dức trị quốc”. Ta hiểu vì sao triết học phương Đông chú ý bàn nhiều hơn đén nhân sinh quan, đạo đức quan so với triết học phương Tây. Đó cũng là mặt chủ đạo trong tưu tưởng triết học Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với nhiều nhà triết học khai sáng pháp thế kỉ XVIII qua đó Người chịu ảnh hưởng từ các tư tưởng chính trị tiến bộ của họ về quyền con người và quyền công dân, tư tưởng dân chủ, khẩu hiệu tự do bình đẳng bắc ái .vv.
Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và hệ thống triết học Mác – Lênin đã đem lại cho Hồ Chí Minh phương pháp luận đề nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ phức tạp trong cách mạng Việt Nam : dân tộc và giai cấp, dân tộc và thời đại, vật chất và tinh thần, khách quan và chủ quan, vv..
Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh “ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”. Lý luận chỉ được coi là đúng đắn khi nó phù hợp với thực tiễn, giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Như vậy tư tưởng triết học Hồ Chí minh bắt nguồn từ những tiền đề tư tưởng triết lý của dân tộc, của phương Đông và được thăng hoa lên dưới ánh sáng của triết học Mác -Lênin, rất Mácxit mà vẫn mang bản sắc riêng của Hồ Chí Minh
2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh gồm có 3 nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất về thế giới quan: thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan duy vật khoa học, được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
Thế giới quan đó giúp cho Nười nhận thức, đánh giá đúng tình hình để đề ra chiến lược sách lược cho cách mạng Việt Nam từng giai đoạn.
Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng đinh vai trò quyết định của sức sản suất, của cơ sở kinh tế đối với sự chuyển biến từ chế độ này sang chế độ khác.
Sự phát triển cả xã hội xét cho đến cùng là do nhân tố vật chất quyết định. Con người muốn tồn tại trước hết phải có ăn có mặc, ở, đi lại… do đó đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần, trong đó sức sản xuất là yếu tố năng động nhất
Triết học ở phương Đông cũng nói nhiều về sự biến dịch, chuyển hoá của âm dương, tuần hoàn,.. nhưng vẫn dừng lại ở suy nghiệm trừu tượng mà chưa lý giải được yếu tố vật chất nào là nguyên nhân và điều kiện tạo ra sự biến đổi đó. Năm 1950 trong một bài giảng tại lớp huấn luyện trung ương Hồ Chí Minh đã nói lịch sử của xã hội là lịch sự của sự phát triển trong cách sinh sản tức phương thức sản xuất .. sự thay đổi luôn luôn bắt đầu từ sự phát triển của sức sản xuất thay đổi, sức sinh sản thay đổi, quan hệ sinh sản tức quan hệ sản xuất giữa người với người cũng do đó mà thay đổi. Sức sinh sản như thế nào thì quan hệ sinh sản phải như thế ấy.
Như vậy Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò quyết định của sức sản xuất vật chất đối với sự phát triển của xã hội, đối với sự chuyển biến từ một chế độ này sang chế độ khác Sau năm 1954, khi miền bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ : “đặc điểm to nhất của ta trong thời kì quá độ là từ nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Đó là cách diễn đạt sự lựa chọn ccủa nước ta về con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, một sự lựa chọ vừa mang tính tất yêu về chính trị, vừa có khả năng thực hiện.
Tuy nhiên theo Người, đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa thì việc giành được chính quyền mới chỉ bắt đầu, chúng ta phải biết sử dụng chính quyền cách mạng và sức mạnh làm chủ nhân dân, tận dụng điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng cơ sở kinh tế của chế độ mới, thúc đẩy sự chính muồi tất yếu của kinh tế.
Vì vậy Người chỉ rõ : nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất để nang cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của nhân dân. Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất. Sản xuất là mặt trận chính của chúng ta hiện nay… Tất cả chúng ta, ở bất kỳ cấp nào, nghành nào đều cũng phải góp sức làm cho sản xuất phát triển.( Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức )
- Đó là Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung
- Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập.
- Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”.
- Thứ ba là Tư tưởng về con người, bộ phận cơ bản của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
3. Tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh
Độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
Độc lập – tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc
“Không có gì quý hơn độc lập tự do” là điểm xuất phát và là nội dung lớn nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ 1919, trong “Bản yêu sách tám điểm” gửi đến Hội nghị Véc-xây, Hồ Chí Minh cũng chính là người Việt Nam đầu tiên đã thống nhất hai nội dung Độc lập dân tộc và Tự do của nhân dân trong lịch sử Việt Nam.
XEM THÊM ➤ Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Người đã khẳng định: Cách mạng ở thuộc địa không chỉ trông chờ vào kết quả của cách mạng vô sản ở chính quốc mà phải tiến hành song song với cách mạng ở chính quốc, hơn nữa nó cần phải chủ động, sáng tạo và có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Bằng thắng lợi của mình nó có thể đóng góp vào sự nghiệp giải phóng anh em vô sản ở phương Tây. Đây không chỉ là một luận điểm sáng tạo mà còn là sự phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ “Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” đến các lời kêu gọi sau đó, nhất là các lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là chân lý sáng ngời thời đại do Người vạch ra mãi soi sáng cho cách mạng Việt Nam và cách mạng nhân loại.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi, bao trùm và xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nếu trong “Bản yêu sách tám điểm” gửi đến Hội nghị Véc-xây là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với tự do của nhân dân, thì trong “Đường Kách mệnh” và trong “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng” là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với CNXH. Thì từ “Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” đến các “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” sau này, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được bổ sung thêm quyết tâm cao nhất của dân tộc nhằm giữ vững mục tiêu cao cả Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là chủ nghĩa Mác-Lênin đã Việt Nam hóa bởi Hồ Chí Minh.
Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Người là tổng hợp những quan điểm chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo lớn về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Đây là một đóng góp về lý luận vào kho tàng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vào lý luận cách mạng xã hội nói chung và cách mạng xã hội chủ nghĩa nói riêng trong thời đại ngày nay. ( Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức )
4. Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của đạo đức cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa – cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, toàn diện nhất, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu; phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Một trong những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên trí thức yêu nước đầu tiên của Việt Nam từ những năm 1920 là bài giảng về “tư cách của một người cách mạng”. Đến khi viết Di chúc, Người vẫn dành một phần trang trọng để bàn về vấn đề đạo đức, yêu cầu mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, Đảng phải quan tâm chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình.
KẾT LUẬN CHUNG
Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức là sản phẩm của sự tổng hòa và phát triển biện chứng tư tưởng văn hóa truyền thống của dân tộc, tinh hoa tư tưởng văn hóa của phương Đông và phương Tây với chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng, cùng với thực tiễn của dân tộc và thời đại qua sự tiếp biến và phát triển của Hồ Chí Minh- một con người có tư duy sáng tạo, có phương pháp biện chứng, có nhân cách, phẩm chất cách mạng cao đẹp tạo nên. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Việt Nam hiện đại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy học tập tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tư duy lý luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ cách mạng trọng đại của Đảng, của Nhà nước ta trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, mình đã chia sẻ cho các bạn toàn bộ bài mẫu Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, chính trị, đạo đức. Các bạn có thể tham khảo các bài tiểu luận khác của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Thư mục Tiểu luận

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com


Pingback: Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, 9 điểm
Pingback: Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về Độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội
Pingback: BÀI MẪU: Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
Pingback: Tiểu luận Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
Pingback: Tiểu luận Vận dụng lý luận tăng lợi nhuận phân tích thực tế