Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng phát triển Đức Thịnh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
NVL là một trong 3 yếu tố cơ bản, là cơ sở vật chất trong quá trình sản xuất để hình thành thực thể sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí của sản xuất sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng trong giá thành của sản phẩm. Chính vì vậy mà kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp giữ một vị trí quan trọng, nó ghi chép toàn bộ tình hình nguyên vật liệu từ khâu thu mua, nhập kho, xuất dùng, tồn kho, làm tốt công tác kế toán nguyên vật liệu, nó sẽ phản ánh chính xác chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm sản xuất ra, tình hình sử dụng, bảo quản, tồn kho. Tiết kiệm, chi phí nguyên vật liệu là một yếu tố quan trọng để giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nhận thức được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguyên vật liệu và kế toán nguyên vật liệu trong thời gian thực tập tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh, em đã đi sâu tìm hiểu về nguyên vật liệu,kế toán nguyên vật liệu và đã chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình là: “ Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh”.
Khóa luận ngoài lời mở đầu và kết luận được kết cấu thành 3 chương:
- Chương I: Lý luận chung về nguyên vật liệu và tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp.
- Chương II: Tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh.
- Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh.
Khóa luận được viết nhờ có sự giúp đỡ động viên của Ban Giám Đốc, các cô, chú cán bộ phòng tài chính kế toán công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh, các thầy cô giáo trong trường cùng thầy giáo hướng dẫn. Nhưng do thời gian có hạn và trình độ còn nhiều hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của BGĐ, Phòng tài chính kế toán công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh, các thầy cô và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Những vấn đề lý luận về nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm,vị trí, vai trò của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp.
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
Nguyên vật liệu ( NVL) là một trong ba yếu tố cơ bản không thể thiếu trong quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Về mặt hiện vật : Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, không giữ nguyên được hình thái ban đầu mà biến đổi cấu thành nên thực thể sản phẩm mới.
Về mặt giá trị : Giá trị nguyên vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra hoặc vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Do đặc điểm này mà nguyên vật liệu được xếp vào loại tài sản lưu động trong doanh nghiệp.
Ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất: lao động sống, tư liệu lao động và đối tượng lao động, kết hợp với nhau tạo nên giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm mới. Theo Mác: “ Tất cả mọi vật thiên nhiên ở xung quanh ta mà lao động có ích có thể tác động vào để cải tạo ra của cải vật chất cho xã hội đều là đối tượng lao động ”. Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và được thể hiện dưới dạng vật hoá như: sắt, thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, sợi trong doanh nghiệp dệt, vải trong doanh nghiệp may mặc, …Bất kỳ một nguyên vật liệu nào cũng là đối tượng lao động nhưng không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng là nguyên vật liệu mà chỉ trong những điều kiện nhất định, khi lao động của con người có thể tác động vào, biến đổi chúng để phục vụ cho sản xuất hay tái sản xuất sản phẩm mới được gọi là nguyên vật liệu.
Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu tham gia ngay từ giai đoạn đầu của quá trình sản xuất, nguyên vật liệu được dùng toàn bộ và thường là phân bổ một lần (100%) vào giá trị sản phẩm mới. Nói cách khác, giá trị của nguyên vật liệu được dịch chuyển toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mới làm ra. Nguyên vật liệu khi được sử dụng sẽ không giữ nguyên hình thái ban đầu mà nó sẽ bị biến đổi hoàn toàn để cấu tạo nên hình thái vật chất mới của sản phẩm làm ra.
Như vậy, nguyên vật liệu tạo nên giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm mới.
Nó là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất.
1.1.1.2. Vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp. Mặt khác, nó còn là những yếu tố không thể thiếu, là cơ sở vật chất và điều kiện để hình thành nên sản phẩm.
Chi phí về các loại vật liệu thường chiếm một tỉ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Do đó vật liệu không chỉ quyết định đến mặt số lượng của sản phẩm, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm tạo ra. Nguyên vật liệu có đảm bảo đúng quy cách, chủng loại, kiểu, cỡ đa dạng thì sản phẩm sản xuất mới đạt được yêu cầu và phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội.
Trong quá trình sản xuất NVL bị tiêu hao toàn bộ không giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó chuyển một lần toàn bộ vào giá trị sản phẩm mới tạo ra. Tăng cường quản lý NVL đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nhằm hạ thấp chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Việc quản lý NVL bao gồm các mặt : số lượng cung cấp, chất lượng chủng loại và giá trị. Bởi vậy, công tác kế toán NVL là điều kiện không thể thiếu trong toàn bộ công tác quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước nhằm cung cấp kịp thời đầy đủ và đồng bộ những NVL cần thiết cho sản xuất, kiểm tra được các định mức dự trữ, tiết kiệm NVL trong sản xuất, ngăn ngừa và hạn chế mất mát, hư hỏng, lãng phí trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất. Đặc biệt là cung cấp thông tin cho bộ phận kế toán nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ kế toán quản trị.
1.1.1.3. Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
- Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý vật liệu:
Trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nguyên vật liệu, vì vậy quản lý NVL là nhân tố khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khác nhau nên phạm vi, mức độ và phương pháp quản lý cũng khác nhau. Nền kinh tế ngày càng phát triển thì phương pháp quản lý cũng ngày càng hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của một xã hội hiện đại và tất nhiên, phương pháp hạch toán nguyên vật liệu cũng được hoàn thiện theo.
Hiện nay, cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt của các đơn vị, bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển sản xuất doanh nghiệp cần tìm mọi biện pháp quản lý, sử dụng nguyên vật liệu hợp lý và tiết kiệm, đóng góp một phần đáng kể giúp doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận tối ưu. Để quản lý vật liệu chặt chẽ, doanh nghiệp cần cải tiến và tăng cường công tác quản lý cho phù hợp với thực tế sản xuất nhằm đạt được những mục tiêu, kế hoạch đề ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
- Mục tiêu quản lý nguyên vật liệu:
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận đã trở thành mục đích cuối cùng của sản xuất kinh doanh. Mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lợi nhuận và chi phí cũng được quan tâm. Vì thế các doanh nghiệp đều ra sức tìm biện pháp để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Nếu doanh nghiệp biết sử dụng vật liệu một cách tiết kiệm, hợp lý thì sản phẩm làm ra càng có chất lượng tốt mà giá thành lại hạ tạo ra mối tương quan có lợi cho doanh nghiệp trên thị trường. Việc quản lý NVL càng khoa học, cơ hội đạt hiệu quả kinh tế càng cao. Với vai trò như vậy nên yêu cầu quản lý NVL trong tất cả các khâu càng phải chặt chẽ.
- Phương pháp quản lý nguyên vật liệu:
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển không ngừng về quy mô, chất lượng trên cơ sở thoả mãn vật chất, văn hoá của cộng đồng xã hội.
Theo đó, phương pháp quản lý, cơ chế quản lý và cách thức hạch toán vật liệu cũng hoàn thiện hơn. Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật liệu có hiệu quả càng được coi trọng, làm sao để cùng một khối lượng vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất, giá thành hạ mà vẫn đảm bảo chất lượng. Do vậy, việc quản lý nguyên vật liệu phụ thuộc vào khả năng và sự nhiệt thành của các cán bộ quản lý. Quản lý vật liệu được xem xét trên các khía cạnh sau:
Khâu thu mua: Nguyên vật liệu là tài sản lưu động của doanh nghiệp, nó thường xuyên biến động trên thị trường. Các doanh nghiệp cần phải có kế hoạch sao cho có thể liên tục cung ứng đầy đủ nhằm đáp ứng kịp thời cho sản xuất về khối lượng, quy cách, chủng loại, giá cả phải hợp lý.
Khâu bảo quản: Việc bảo quản vật liệu tại kho, bãi cần thực hiện theo đúng chế độ quy định cho từng loại vật liệu, phù hợp với tính chất lý hoá của mỗi loại, với quy mô tổ chức của doanh nghiệp, tránh tình trạng thất thoát, lãng phí vật liệu, đảm bảo an toàn là một trong các yêu cầu quản lý đối với vật liệu.
Khâu dự trữ: Đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được bình thường, không dự trữ vật liệu quá nhiều gây ứ đọng vốn và cũng không quá ít làm ngưng trệ, gián đoạn cho quá trình sản xuất.
Khâu sử dụng: Phải tiết kiệm hợp lý trên cơ sở xác định các định mức tiêu hao nguyên vật liệu và dự toán chi phí, sử dụng đúng định mức quy định, đúng quy trình sản xuất, đảm bảo tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trong tổng giá hành.
Như vậy, quản lý nguyên vật liệu là một trong những nội dung quan trọng và cần thiết của công tác quản lý nói chung và quản lý sản xuất, quản lý giá thành sản phẩm nói riêng.
CHƯƠNG II TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN ĐỨC THỊNH Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
2.1.Khái quát về công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ Phần Xấy Dựng Phát Triển Đức Thịnh
- Quá trình hình thành:
- Tên công ty: công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh
- Giám đốc: Nguyễn Văn Lực
- Tên giao dịch: công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh -MST: 5700491296
- Trụ sở chính: Tổ 7-Khu Nam Trung- Phường Nam Khê- T.P Uông Bí-Tỉnh Quảng Ninh
- Điện thoại: 033.850347- 0913539947
- Vốn điều lệ: 5668000000 đồng (năm tỷ sáu trăm sáu mươi tám triệu đồng Việt Nam) được thể hiện do các cổ đông công ty đóng góp vốn dưới đây:
- Ông Nguyễn Văn Chuân có số vốn góp:3668000000( ba tỷ sáu trăm sáu mươi tám triệu đồng) tương ứng với 36680 cổ phần chiếm 64.7% tổng số vốn điều lệ.
- Ông Nguyễn Văn Lực có số vốn góp: 1500000000( một tỷ năm trăm triệu đồng) tương ứng với 15000 cổ phần chiếm 26.5% tổng số vốn điều lệ.
- Ông Nguyễn Trọng Khương có số vốn góp: 500000000( năm trăm triệu đồng)tương ứng với 5000 cổ phần chiếm 8.8% tổng số vốn điều lệ. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
- Mệnh giá cổ phần: 10000 đồng
- Quá trình phát triển:
Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng là một trong yếu tố quan trọng đối với một doanh nghiệp. Nó quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Vì vậy, qua mỗi kỳ hạch toán kế toán doanh nghiệp cần phân tích xem kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình như thế nào để từ đó đưa ra được những phương hướng hoạt động cho kỳ sau.
Toàn bộ tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh được thể hiện qua các chỉ tiêu sau: tổng tài sản, doanh thu, chi phí, lao động tiền lương, lợi nhuận, Thuế nộp ngân sách nhà nước.
- Chỉ tiêu tổng tài sản: là bao gồm toàn bộ tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp
Năm 2011 tổng tài sản là:22.785.841.390 Năm 2010 tổng tài sản là: 10.685.668.290
Qua số liệu trên ta thấy tổng tài sản của doanh nghiệp năm 2011 so với năm 2010 tăng một lượng tuyệt đối là: 12.100.173.100 và tăng tương đối là 113,23%
- Đây là dấu hiệu cho thấy công ty đã không ngừng lớn mạnh
chỉ tiêu doanh thu: là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp thu được từ việc bán sản phẩm và dịch vụ của mình ra thị trường trong một thời gian nhất định. Doanh thu của công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh là số tiền thu được từ việc bàn giao các công trình xây dựng hoàn thành, đây là chỉ tiêu quan trọng trong nhóm chỉ tiêu tài chính.
- Năm 2011 doanh thu là: 33.204.404.847
- Năm 2010 doanh thu là: 18.377.338.452
Qua số liệu trên ta thấy doanh thu của doanh nghiệp năm 2011 so với năm 2010 tăng một lượng tuyệt đối là 14.827.066.395 và tăng tương đối là 80,68% Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Đây là dấu hiệu cho thấy mức độ tăng trưởng kinh tế của công ty là rất lớn.
Công ty không ngừng phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường kinh doanh, đảm bảo sự phát triển bền vững, đưa doanh thu ngày càng cao.
Việc tăng doanh thu do những nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân chủ quan
Do công ty mở rộng quy mô sản xuất, tổng số lao động tăng, năng suất lao động tăng dẫn đến tăng doanh thu.
- Nguyên nhân khách quan
Do những nhân tố thuộc về chính sách chế độ nhà nước: chính sách gía cả, thuế, chính sách tiền lương, chính sách về đầu tư xây dựng …Đây là nhân tố khách quan mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng đều chịu sự tác động của nó.
- chỉ tiêu lao động:
Trong xây dựng cơ bản thì yếu tố con người là vô cùng quan trọng nó quyết định năng suất lao động, chất lượng sản phẩm do trình độ thành thạo về tay nghề của người lao động, máy móc thiết bị dù có hiện đại đến đâu đi nữa cũng không thể thay thế được sức lao động của con người.
- Năm 2011 tổng quỹ lương là: 11.719.500.000
- Năm 2010 tổng quỹ lương là : 9.675.400.000
Qua số liệu trên ta thấy tổng quỹ lương của công ty năm 2011 tăng lên so với năm 2010 một lượng tuyệt đối là 2.044.100.000, ứng với 21,12%. Điều này chứng tỏ công ty luôn quan tâm đến đời sống của công nhân.
- chỉ tiêu chi phí
Tổng chi phí của doanh nghiệp là tổng các khoản chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
- Năm 2011 tổng chi phí là : 33.060.704.368
- Năm 2010 tổng chi chi phí là: 18.308.983.141
Qua số liệu trên ta thấy tổng chi của công ty năm 2011 so với năm 2010 tăng một lượng tuyệt đối là 14.751.721.227 và tăng tương đối là 80,57%. Cùng với mức tăng của giá trị sản xuất và tổng thu thì tổng chi của công ty tăng đáng kể. Chi phí của công ty cổ phần xây dựng phát triển đức thịnh tăng có thể do những nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Do công ty đã quan tâm nhiều hơn đến đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty
- Nguyên nhân khách quan
Do chính sách của nhà nước về tiền lương và giá cả nguyên vật liệu thay đổi theo chiều hướng tăng làm cho chi phí sản xuất tăng.
Do trong quá trình sản xuất kinh doanh phát sinh thêm nhiều khoản mục chi phí gián tiếp tác động đến sản xuất của công ty.
Do công ty chưa thực hiện triệt để việc tiết kiệm định mức các chi phí.
- chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần thu nhập còn lại sau khi bù đắp các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng nhất.
Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định bằng hiệu số giữa doanh thu và chi phí, lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng của doanh nghiệp. Nhìn vào chỉ tiêu lợi nhuận ta biết được quy mô tổ chức sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, tiến độ phát triển của doanh nghiệp.
- Năm 2011 tổng lợi nhuận là 143.700.479
- Năm 2010 tổng lợi nhuận là 68.355.309
Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp năm 2011 so với năm 2010 tăng một lượng tuyệt đối là 75.345.170, tương ứng là 110,23%. Điếu đó cho thấy công ty làm ăn có hiệu quả, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước.
- chỉ tiêu thuế nộp ngân sách nhà nước: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Năm 2011 số phải nộp ngân sách nhà nước là 45.230.000 Năm 2010 số phải nộp ngân sách nhà nước là 29.701.547
Qua số liệu trên ta thấy số phải nộp ngân sách nhà nước năm 2011 so với năm 2010 tăng một lượng tuyệt đối là 15.528.453, ứng với 52,28%. Khoản nộp ngân sách nhà nước của công ty đã phần nào góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
- Lĩnh vực hoạt động:
Công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh hoạt động với các ngành nghề kinh doanh sau:
- Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
- Xây dựng các công trình giao thông ( đường xá, cầu cống, và các công trình phụ trợ phục vụ giao thông)
- Xây dựng các công trình thủy lợi, cơ sở hạ tầng và san lấp mặt bằng.
2.1.2. Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh luôn quan tâm đến việc kiện toàn bộ máy quản lý sao cho phù hợp với năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty.
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng, từ Giám đốc công ty đến các phòng, phân xưởng, đội. Qua đó chức năng quản lý được chuyên môn hoá, tận dụng được năng lực của các cán bộ chuyên viên đầu ngành trong từng lĩnh vực. Các quyết định của bộ phận chức năng chỉ có ý nghĩa về mặt hành chính đối với các bộ phận trực tuyến khi đã thông qua người lãnh đạo cao nhất hay được người lãnh đạo cao nhất uỷ quyền. Các tổ đội,phân xưởng bố trí thực hiện nhiệm vụ xây dựng từ trên đưa xuống đảm bảo chất lượng được giao.
- Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Giám đốc: điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và chịu mọi trách nhiệm với công ty.
Phó giám đốc kỹ thuật: là người giúp cho giám đốc trong việc chỉ đạo điều hành sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động khác của công ty. Khi giám đốc đi vắng có ủy quyền cho phó giám đốc chịu trách nhiệm trước toàn công ty.
Phòng tổ chức hành chính:Thực hiện công việc quản lý nhân sự như tuyển dụng lao động, giải quyết chính sách, chế độ cho người lao độn phòng kỹ thuật: Căn cứ vào kế hoạch cấp trên giao, lập hồ sơ thiết kế trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ cho phòng kế hoạch lập hồ sơ dự toán công trình đã được duyệt. Đối với công trình đấu thầu ngoài căn cứ thiết kế kĩ thuật của bên A, tổ chức kiểm tra hồ sơ và các chỉ tiêu kế hoạch để vạch ra phương án thi công tối ưu nhất vừa đảm bảo thiết kế, đồng thời đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong thi công. Giám sát thi công và nghiệm thu các công trình về mặt kĩ thuật; Thanh quyết toán về khối lượng và lập hồ sơ hoàn công. Công tác đăng kiểm, bảo dưỡng và sửa chữa định kì cho các thiết bị, máy móc đảm bảo quá trình vận hành.
Phòng kế hoạch: Trên cơ sở kế hoạch sản xuất do cấp trên giao, căn cứ vào yêu cầu vật tư của các công trình, tổng hợp yêu cầu vật tư của các đội, cân đối để cung cấp kịp thời cho các công trình thuộc xí nghiệp quản lý, phục vụ thi công, thu mua và cung cấp các loại vật tư cho các công trình. Lập kế hoạch và báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh theo các kì báo cáo (tháng, quý, năm), lập dự án đầu tư thiết bị và soạn thảo các hợp đồng kinh tế của công ty, đảm bảo đúng luật pháp và hiệu quả kinh tế.
Phòng tài chính kế toán: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tài chính,theo dõi toàn bộ thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức ghi chép những nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý vốn và sử dụng vốn, lập và gửi báo cáo tài chính cho các cơ quan chức năng, tổ chức bảo quản lưu trữ chứng từ.
Các đội xây dựng, xưởng sản xuất mộc dân dụng:Tổ chức thực hiện lắp đặt và giám sát thi công tại các dự án Công ty,phối hợp với Phòng Kinh doanh để nắm bắt thêm những thông tin liên quan đến khách hàng, nhà cung cấp.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN ĐỨC THỊNH
3.1. Đánh giá về sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, tổ chức công tác kế toán và kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh
3.1.1.Những ưu điểm: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Công tác sản xuất kinh doanh: Công ty đã xây dựng được kế hoạch sản xuất một cách chặt chẽ, có hiệu quả, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước.
- Lợi nhuận năm 2010: 68.355.309
- Lợi nhuận năm 2011:143.700.479
- Người lao động có công ăn việc làm ổn định, đời sống được đảm bảo.
Mô hình bộ máy quản lý: Được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng đơn giản, gọn nhẹ, phân định rõ chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, phân xưởng đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất, phát huy được tính chủ động sáng tạo của các đơn vị, không qua cấp trung gian, phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức quản lý: Cán bộ quản lý được đào tạo bài bản, nhiệt tình, có kiến thức
Bộ máy kế toán: Công ty đã tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung,mô hình gọn nhẹ thích ứng nhanh với những thay đổi và phù hợp với quy mô của công ty. Đội ngũ nhân viên kế toán nhiệt tình, yêu nghề, được phân công công việc phù hợp với chuyên môn, được tham gia lớp học tiếp cận với những thay đổi về chế độ tài chính do nhà nước ban hành và vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo vào thực tiễn công ty.
5) Tài khoản KT sử dụng:
Công ty đã vận dụng hệ thống tài khoản ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Sổ kế toán: Công ty đã áp dụng ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung.
Hình thức nhật ký chung đơn giản, dễ ghi chép, chi tiết, dễ xem, dễ kiểm tra, dễ hiểu phù hợp với yêu cầu quản lý cũng như đặc điểm kinh doanh của công ty.
Tổ chức quản lý kế toán nguyên vật liệu: Được tổ chức theo đúng quy định của nhà nước từ khâu mua vào, xuất ra, tính giá nguyên vật liệu.
3.1.2. Nhược điểm: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
1) Công ty chưa hạch toán chi tiết nguyên vật liệu:
Ảnh hưởng:
- Công ty không nắm được tình hình sử dụng từng loại nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất.
- Không nắm được nhu cầu sản xuất cần những loại nguyên vật liệu nào.
2) Công ty không theo dõi nguyên vật liệu đã mua đang đi đường Ảnh hưởng:
- Công ty không nắm được tình hình nguyên vật liệu đã mua đang đi trên đường
- Doanh nghiệp không thể đưa ra được kế hoạch sử dụng và kế hoạch mua nguyên vật liệu tiếp nữa hay thôi.
3) Công ty chưa hạch toán chính xác nguyên vật liệu giao tận chân công trình
Ảnh hưởng:
- Luân chuyển chứng từ chậm bỏ sót chứng từ chất lượng công trình giảm,giá thành công trình tăng.
- Nguyên vật liệu mua xuất thẳng đến chân công trình không được quản lý chặt chẽ, giá trị NVL mua và nhận không khớp nhau làm ảnh hưởng công tác kế toán, giá thành công trình.
- Công ty sử dụng mẫu sổ chưa đúng theo quy định Công ty sửa sổ theo ý của công ty
Ảnh hưởng:
- Sai chế độ chính sách.
- Không thấy được mối quan hệ giữa các cột với nhau -Ảnh hưởng đến các sổ khác.
5) Công ty không theo dõi từng khoản mục chi phí
Ảnh hưởng:
- không nắm bắt được giá trị từng khoản chi phí trong tổng giá thành công trình.
6) Công ty chưa có cách bảo quản nguyên vật liệu: đặc biệt là những nguyên vật liệu cồng kềnh để ngoài trời.
Ảnh hưởng:
- Chất lượng nguyên vật liệu
- Ô nhiễm môi trường
- Chiếm nhiều vị trí
- Công ty chưa áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý, Công tác kế toán.
Ảnh hưởng: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
- Không đảm bảo độ chính xác trong công tác tính toán
- Thời gian hoàn thành chậm
- Lưu trữ gặp khó khăn
3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại
- Nguyên nhân khách quan:
Do hoạt động sản xuất của công ty đều diễn ra ngoài trời nên chịu ảnh hưỏng lớn của thơì tiết gây kho khăn trong công tác sản xuất cũng như quản lý nguyên vật liệu
- Nguyên nhân chủ quan:
Do điều kiện tài chính còn hạn chế công ty chưa ưu tiên đầu tư cho đổi mới trong quản lý nói chung và hạch toán kế toán nói riêng, ví dụ như việc mua một phần mềm kế toán ứng dụng có hiệu quả đối với điệu kiện công ty là khá tốn kém
Do cán bộ công nhân viên đã quen với cách làm việc lâu nay lên khó có thể
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và ứng dụng ngày càng sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống cũng như trong hạch toán kế toán, do đó doanh nghiệp cũng phải đổi mới theo để công tác kế toán của công ty được nhanh chóng và chính xác nếu không sẽ bị lạc hậu.Ngày nay phần mềm kế toán là một công cụ đắc lực giúp giảm bớt khối lượng công việc của kế toán và mang lại sự chính xác cao
Do điều kiện để học tập lên cao của án bộ nhân viên còn bị hạn chế.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
Trong sản xuất kinh doanh, NVL chiếm 1 tỷ trọng lớn, đặc biệt là trong XDCB. Việc sử dụng bảo quản, tiết kiệm hay không tiết kiệm đề làm giá thành tăng hoặc giảm. Việc hạch toán kế toán NVL cũng góp phần đáng kể vào việc quản lý. Sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp xây dựng. Khóa luận “ Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh”. Phần nào đã nói lên vai trò của hạch toán kế toán nguyên vật liệu và sự cần thiết phải hoàn thiện hạch toán kế toán nguyên vật liệu của công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh nói riêng và trong các doanh nghiệp XDCB nói chung.
- Khóa luận đề cập:
Về lý luận: Đã nêu được những vấn đề cơ bản then chốt của nguyên vật liệu và kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp XDCB nói riêng.
Về thực tiễn: Đã phản ánh khách quan khách quan trung thực về tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh với những số liệu, chứng từ, bảng biểu của năm 2011 minh chứng.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn khóa luận đã đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện hạch toán kế toán nguyên vật liệu ở công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh nói riêng và đối với các doanh nghiệp XDCB nói chung.
- Các kiến nghị chủ yếu tập trung vào:
- Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
- Theo dõi NVL đã mua đang đi đường
- Hạch toán nguyên vật liệu giao tận chân công trình + Mẫu sổ công ty sử dụng
- Theo dõi chi tiết từng khoản mục chi phí +Bảo quản nguyên vật liệu
- Áp dụng KHKT vào trong công tác quản lý, công tác kế toán.
NVL trong xây dựng cơ bản rất đa dạng , phong phú, muôn hình, muôn vẻ song thời gian thì có hạn, trình độ năng lực còn quá khiêm tốn nên không tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết. Em mong nhận được ý kiến của BGĐ, phòng TC- KT và các phòng ban liên quan của công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh, của các thầy cô trong khoa, trong trường.
Đề tài được hoàn thiện nhờ sự giúp đỡ của công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh, của các thầy cô giáo trong trường, của thầy giáo hướng dẫn. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn BGĐ, phòng TC-KT, các phòng ban có liên quan của công ty Cổ Phần Xây Dựng Phát Triển Đức Thịnh, các thầy, cô giáo trong trường cùng thầy giáo hướng dẫn. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Báo cáo kết quả kinh doanh tại công ty Tư Vấn


Pingback: Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Cty Hoàng
Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xây dựng