Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường ngày một phát triển, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội thuận lợi để hội nhập với nền kinh tế thế giới nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với không ít khó khăn do nền kinh tế thị trường mang lại mà trở ngại lớn nhất có lẽ là sự cạnh tranh gay gắt không những từ các doanh nghiệp trong nước mà còn của cả doanh nghiệp nước ngoài. Để có thể tồn tại và phát triển bền vững, nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải không ngừng cố gắng và nỗ lực để tạo được uy tín và hình ảnh cho sản phẩm, thể hiện qua : chất lượng, mẫu mã sản phẩm, dịch vụ, giá cả sản phẩm,…. Do đó, việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một khâu trọng tâm, giữ vai trò hết sức quan trọng của công tác hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất, không chỉ là căn cứ lập giá trung thực, đúng đắn, kịp thời mà còn là căn cứ phản ánh trình độ tổ chức, trình độ quản lí, việc sử dụng vật tư, lao động, thiết bị,… có hiệu quả hay không. Ngoài ra, nó còn được các nhà quản lí vô cùng quan tâm vì là cơ sở đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và giúp các nhà quản trị đưa ra nhận xét đúng đắn và các phương án thích hợp về quá trình thực hiện mục tiêu tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, lợi nhuận và doanh thu của doanh nghiệp sau mỗi chu kì kinh doanh. Chính vì vậy, việc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là việc làm thực sự cần thiết và có ý nghĩa.
Nhận thức được vai trò quan trọng của kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm từ thực tiễn khi thực tập tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh nên em đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “ Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh ” làm đề tài tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa lí luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
- Vận dụng những kiến thức đã học để tìm hiểu, mô tả và phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh, từ đó bổ sung kiến thức thực tế .
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lí chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh.
3. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh .
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
- Về không gian: đề tài được thực hiện tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh .
- Về thời gian: đề tài được thực hiện từ ngày 02/04/2012 đến ngày 30/06/2012.
- Việc phân tích được lấy từ số liệu của năm
4. Phương pháp và thiết bị nghiên cứu
- Các phương pháp kế toán (phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối).
- Phương pháp thống kê và so sánh.
- Phương pháp chuyên
- Phương pháp điều
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu để kế thừa thành tựu.
5. Kết cấu của khóa luận
Kết cấu của đề tài ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung được thể hiện ở 3 chương như sau :
- Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
- Chương 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh.
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh.
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có đầy đủ các yếu tố: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Sự tham gia của các yếu tố vào quá trình sản xuất ( các yếu tố đầu vào ) hình thành các khoản chi phí tương ứng.
Giá trị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ bao gồm 3 bộ phận C, V, m.
- C : là toàn bộ giá trị tư liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ như : khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu,…Bộ phận này gọi là lao động quá khứ ( lao động vật hóa ).
- V : là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Bộ phận này gọi là lao động sống.
- m : là giá trị lao động sống tạo ra trong quá trình sản xuất các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
- Ở góc độ doanh nghiệp, để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp phải bỏ ra hai bộ phận chi phí là C và V.
Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải chi ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
1.1.2 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
Về bản chất chi phí sản xuất dưới từng góc độ nghiên cứu như sau :
- Đối với các nhà kinh tế học : chi phí sản xuất là các phí tổn phải chịu khi sản xuất sản phẩm trong kì.
- Đối với các nhà quản lí tài chính, thuế, ngân hàng : chi phí sản xuất là các khoản chi liên quan tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp : chi phí sản xuất là khoản phải bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết phục vụ quá trình sản xuất và mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp trong giới hạn đầu tư không đổi.
- Đối với các nhà kế toán : chi phí sản xuất là khoản phải hi sinh hay trừ ra để đạt được mục đích nhất định, nó được xem như một lượng tiền phải trả cho các hoạt động của doanh nghiệp trong việc tạo ra sản phẩm.
Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí.
Tuy nhiên, chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau. Các khoản chi chỉ được coi là chi phí của kì hạch toán khi chúng là những hao phí về tài sản và lao động liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất trong kì. Ngược lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Chính vì vậy, trong các doanh nghiệp cần phân biệt được khái niệm giữa chi phí và chi tiêu, bởi nó là cơ sở để tính đúng, tính đủ các loại chi phí và phân bổ nó đúng đối tượng và tính đúng giá thành sản phẩm.
1.2 Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Trong sản xuất, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí. Để đánh giá chất lượng kinh doanh của các tổ chức kinh tế, chi phí sản xuất phải được xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh đó là kết quả sản xuất thu được. Quan hệ so sánh đó hình thành nên khái niệm giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải chi ra có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ ( bất kể chi phí đó phát sinh ở kỳ nào, có thể là chi phí phát sinh trong kỳ, phát sinh kỳ trước chuyển sang hoặc phát sinh ở kỳ sau nhưng được trích trước vào kỳ này).
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và các chi phí khác có liên quan đến việc bù đắp giản đơn hay hao phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hóa và tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Về khách quan: Giá thành sản phẩm là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị tư liệu sản xuất và sức lao động kết tinh trong một đơn vị sản phẩm.
Về chủ quan: Trên cơ sở chi phí sản xuất tính ra giá thành sản phẩm trong kì nên giá thành sản phẩm phụ thuộc vào phương pháp hạch toán và các biện pháp đánh giá khác nhau về tư liệu sản xuất và sức lao động.
1.2.2 Chức năng của giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Chỉ tiêu giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong nó : chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị thu được cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Như vậy, bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Chính vì vậy, giá thành sản phẩm có những chức năng sau :
1.2.2.1 Chức năng thước đo bù đắp chi phí
Giá thành sản phẩm biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần được bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất. Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ra trước hết ở khả năng bù đắp lại những gì đã bỏ ra hay không. Đây là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Chức năng lập giá
Giá thành sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá bán của sản phẩm trên thị trường. Định giá sản phẩm bán ra phải làm sao bù đắp được chi phí sản xuất và có lãi nên cần phải hạch toán và tính giá thành một cách đầy đủ, chính xác, hợp lý, loại bỏ các chi phí không hợp lý để tạo chênh lệch với giá thành của sản phẩm đó.
1.2.2.3 Chức năng đòn bẩy kinh tế
Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng cường lợi nhuận, tạo lên tích luỹ để tái sản xuất mở rộng. Phấn đấu hạ thấp giá thành sản phẩm bằng các phương pháp cải tiến tổ chức sản xuất và quản lý, hoàn thiện công nghệ sản xuất, tổ chức lao động khoa học, tiết kiệm là hướng cơ bản để doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt.
1.3 Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm theo những đặc điểm đặc trưng nhất định. Người ta thường sử dụng những tiêu thức sau :
1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành các yếu tố khác nhau mà mỗi yếu tố chỉ bao gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và mục đích, công dụng của chi phí đó như thế nào. Toàn bộ các chi phí được chia thành các yếu tố sau : Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
1.3.1.1 Chi phí nguyên vật liệu
Gồm các chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,… mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì ( loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực ).
1.3.1.2 Chi phí nhân công
Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN mà doanh nghiệp phải trả.
1.3.1.3 Chi phí khấu hao TSCĐ
Gồm toàn bộ số khấu hao TSCĐ phải trích của tất cả các tài sản sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì.
1.3.1.4 Chi phí dịch vụ mua ngoài
Gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã chi trả cho các loại dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại,… phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kì.
1.3.1.5 Chi phí bằng tiền khác
- Là những khoản chi phí khác dùng cho sản xuất, ngoài bốn loại trên.
Cách phân loại này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất. Ngoài ra, nó còn giúp cho việc lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tơ ở Bảng thuyết minh Báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, kế hoạch cung ứng vật liệu, kế hoạch quỹ lương và tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kì sau ; đồng thời cung cấp tài liệu tính toán thu nhập quốc dân.
1.3.2 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, ý nghĩa của các bộ phận chi phí trong giá thành sản phẩm khác nhau thì được xếp riêng theo ba khoản mục sau : Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
1.3.2.1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Bao gồm giá trị NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu,… tiêu hao trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm.
1.3.2.2 Chi phí nhân công trực tiếp
Gồm chi phí về tiền công, tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương : BHXG, BHYT, KPCĐ, BHTN.
1.3.2.3 Chi phí sản xuất chung
Là chi phí phát sinh ở các bộ phận sản xuất có chức năng phục vụ chung cho quá trình sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại căn cứ vào mục đích và công dụng phục vụ tốt cho công tác quản lí chi phí sản xuất, cung cấp số liệu cho kế toán tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành cho kì sau, đồng thời còn giúp cho việc xây dựng kế hoạch tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.
Nhược điểm của phương pháp này là mỗi khoản mục chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích, công dụng mà không phân biệt chi phí đó có nội dung như thế nào.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – BAO BÌ TUẤN THỊNH
2.1 Đặc điểm chung ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Công ty có tên đầy đủ là Công ty TNHH Thương Mại – Bao Bì Tuấn Thịnh, tên tiếng nước ngoài là TUANTHINH TRADING – WRAPPING Limited Company, có địa chỉ trụ sở chính tại số 4/22 Ngõ 185 Đường Tôn Đức Thắng, Phường An Dương, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.
- Vốn điều lệ : 1.500.000.000đ
- Ngành, nghề kinh doanh :
- Kinh doanh kim khí điện máy, ôtô, xe máy công trình, phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị phụ tùng ;
- Kinh doanh, sản xuất, gia công trang thiết bị trường học, sản phẩm giấy, bao bì ;
- Đại lí mua bán, kí gửi, nhận uỷ thác hàng hoá, thiết bị ;
- Buôn bán vật tư, trang thiết bị ngành in, ngành ảnh, tin học.
- Đăng kí kinh doanh : Số 0202001426 do Sở KH và ĐT Hải Phòng cấp ngày 05/09/2003, thay đổi lần thứ 1 ngày 14/09/2007.
- Công ty có tư cách pháp nhân, có con dấu và mã số thuế riêng (MST 0200559130 do Cục thuế thành phố Hải Phòng cấp ngày 06/07/2004), hạch toán kế toán độc lập theo chế độ kế toán Việt Nam.
Công ty được thành lập và hoạt động chưa lâu, tuy nhiên nhờ có đội ngũ lãnh đạo trẻ năng động, sáng tạo và nhạy bén, Công ty TNHH Thương Mại – Bao Bì Tuấn Thịnh đã có những bước tiến rõ rệt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, được thể hiện bằng các kết quả mà Công ty đạt được qua một số chỉ tiêu sau:
Biểu 2.1 : Bảng đánh giá quá trình phát triển của Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh qua một số chỉ tiêu
Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy tất cả các chỉ tiêu cơ bản của Doanh nghiệp năm 2011 so với năm 2010 đều tăng. Cụ thể:
Doanh thu của đơn vị đạt được là tương đối khả quan, có sự phát triển mạnh qua các năm trong đó năm 2011 có sự tăng trưởng so với năm 2010 là 55,02 %, điều này cho thấy hiệu quả kinh doanh của đơn vị là rất tốt đặc biệt trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Kết quả kinh doanh của đơn vị rất tốt, được biểu hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế TNDN thu được qua các năm. Lợi nhuận sau thuế năm 2011 tăng so với năm 2010 là 72,24 %.
Nguồn vốn chủ sở hữu năm 2011 tăng so với năm 2010 là: 45,42 %. Nợ phải trả năm 2011 tăng so với năm 2010 là : 85,43 %.
Lợi nhuận gộp năm 2011 tăng so với năm 2010 là : 82,29 %. Thu nhập bình quân năm 2011 tăng so với năm 2010 là: 29,15%.
2.1.2 Đặc điểm sản phẩm và quy trình công nghệ của Công ty
Đối với doanh nghiệp sản xuất, chất lượng sản phẩm là điều không thể thiếu trong việc giành lợi thế cạnh tranh mà công nghệ chính là yếu tố then chốt quyết định chất lượng sản phẩm. Công nghệ gồm máy móc thiết bị, kĩ năng, kĩ xảo của công nhân cũng như các bí quyết công nghệ trong chế tạo sản phẩm. Công nghệ phải được lựa chon tối ưu sao cho phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp, đảm bảo chi phí thấp nhất.
Nhận thức được điều đó, Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh đã đầu tư dây chuyền máy móc, trang thiết bị lớn và đồng bộ như một số máy móc chuyên dùng (máy cắt giấy, máy dập khuôn, xe nâng hàng…) phục vụ gia công. Ngoài ra, các sản phẩm được sản xuất dưới dây chuyền sản xuất được điều khiển bởi đội ngũ đội ngũ công nhân lành nghề và có kinh nghiệm lâu năm. Các sản phẩm được sản xuất theo quy trình khép kín từ khi còn là nguyên vật liệu cho đến khi trở thành một sản phẩm hoàn thiện, đáp ứng được về chất lượng, mẫu mã của sản phẩm theo yêu cầu của đơn đặt hàng của khách hàng.
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – BAO BÌ TUẤN THỊNH
3.1 Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
3.1.1 Ưu điểm
- Thứ nhất, về tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
Với hình thức tổ chức kế toán tập trung, bộ máy kế toán đã phát huy hiệu qủa của mình trong việc tăng cường quản lí hạch toán. Bên cạnh đó, bộ máy kế toán gọn nhẹ cũng giúp giảm chi phí quản lí. Nhân viên kế toán trình độ tay nghề tương đối vững, có kinh nghiệm, nhiệt tình với công việc đã tạo điều kiện tốt cho công tác hạch toán.
- Thứ hai, về hệ thống sổ kế toán
Công ty hạch toán theo hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ đã đảm bảo việc hạch toán đầy đủ, phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có phân công lao động rõ ràng.
Các loại sổ sách tuân theo qui định của Bộ Tài Chính đã ban hành. Chứng từ kế toán được tổ chức luân chuyển hợp lí với hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo nội bộ được cung cấp kịp thời đã giúp Ban lãnh đạo công ty có đầy đủ thong tin để đưa ra các quyết định đúng đắn.
- Thứ ba, việc thực hiện mục tiêu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Công ty đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí như tìm kiếm các nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào với giá thành hợp lí mà vẫn đảm bảo về mặt chất lượng và số lượng; sử dụng tối đa công suất của máy móc, đầu tư nhiều trang thiết bị sản xuất mới nhằm giảm số lượng sản phẩm hỏng; nâng cao ý thức cũng như tay nghề của người lao động,… Nhờ vậy mà hiệu quả của công tác tiết kiệm chi phí đã tăng lên rõ rệt.
- Thứ tư, về nguyên vật liệu Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Công ty phải mua và bảo quản nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau do đặc thù của sản xuất. Tuy vây, công tác tổ chức thu mua và quản lí khá tốt thể hiện trong việc tìm nhà cung cấp, vận chuyển, bảo quản,… đến việc tính toán định mức sử dụng và xuất kho vật liệu cho các phân xưởng, bộ phận trong doanh nghiệp.
Phần lớn việc thu mua nguyên vật liệu của Công ty được diễn ra sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Việc mua sắm nguyên vật liệu trực tiếp cho các đơn đặt hàng góp phần tránh ứ đọng vốn trong hàng tồn kho của Công ty. Tuy nhiên, Công ty cũng có thể thu mua trước một số loại nguyên vật liệu cơ bản, thường dùng cho các đơn đặt hàng phổ biến khi giá của chúng thấp mà nhà quản lí nghĩ rằng giá sẽ bị tăng lên nếu mua sau này.
- Thứ năm, về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Công ty xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các đơn đặt hàng được sản xuất. Đây là điều hợp lí, xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty là sản xuất theo đơn đặt hàng với qui trình công nghệ khép kín, sản xuất liên tục.
Chi phí sản xuất trực tiếp được tập hợp cho các đơn hàng còn chi phí sản xuất chung sẽ được phân bổ theo tiêu thức lựa chọn.
Giá thành sản phẩm được tính cho từng đơn đặt hàng, phương pháp tính giá thành là phương pháp đơn đặt hàng đã giúp cho việc tính giá thành đơn giản, đầy đủ và đúng đắn hơn. Kỳ tính giá thành vào cuối tháng là hợp lí, phục vụ tốt công tác báo cáo.
3.1.2 Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên, những tồn tại tại Công ty có thể thấy trong việc hạch toán là :
- Thứ nhất, về các khoản thiệt hại và thu hồi trong sản xuất
Sản phẩm hỏng là một tất yếu không thể tránh khỏi trong quá trình sản xuất nhưng doanh nghiệp không hạch toán riêng khoản này gây ảnh hưởng tới chi phí – giá thành.
Ngừng sản xuất là điều có thể xảy ra trong thực tế, gây thiệt hại đến hoạt động sản xuất kinh doanh, làm phát sinh chi phí nhưng kế toán lại không hạch toán cụ thể thiệt hại về ngừng sản xuất.
Bên cạnh đó, phế liệu thu hồi sau quá trình sản xuất sản phẩm cũng không được đề cập đến và không được hạch toán.
- Thứ hai, phương pháp tính giá NVL xuất kho
Công ty tổ chức thu mua nguyên vật liệu trực tiếp cho các đơn đặt hàng song khi tính giá nguyên vật liệu xuất kho lại sử dụng phương pháp bình quân gia quyền cả kì là không thích hợp, không phản ánh chính xác giá trị vật liệu sử dụng cho sản xuất sản phẩm của các đơn đặt hàng.
- Thứ ba, về chế độ kế toán Công ty đang áp dụng
Công ty đang áp dụng chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ- BTC ngày 14/09/2006, chế độ này khi được các doanh nghiệp sản xuất áp dụng thì phát sinh nhiều bất cập trong việc sử dụng tài khoản tập hợp chi phí sản xuất, dễ gây nhầm lẫn trong công tác hạch toán.
- Thứ tư, về việc tổ chức quản lí và xử lí số liệu
Tại Công ty, việc hạch toán kế toán vẫn được làm thủ công, chưa sử dụng phần mềm kế toán nên công việc kế toán vẫn cồng kềnh, tốn thời gian.
3.2 Tính tất yếu phải hoàn thiện tổ chức công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một công việc cần thiết và quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp. Nó giúp cho bộ máy quản lí và các thành viên trong doanh nghiệp nắm được tình hình thực hiện kế hoạch chi phí giá thành, cung cấp những tài liệu xác thực để chỉ đạo sản xuất kinh doanh, phân tích đánh giá tình hình sản xuất. Thông qua đó, khai thác và huy động mọi khả năng tiềm tang nhằm mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm.
Hạch toán chính xác chi phí sản xuất còn là cơ sở tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm. Chỉ tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm rất nhạy cảm đối với những nhà quản lí và những người quan tâm khác bởi lẽ nhìn vào đó người ta có thể biết được lợi nhuận năm này, tháng này, quý này là bao nhiêu trên một đơn vị sản phẩm. Mặt khác, chỉ tiêu tổng giá thành còn thể hiện giá vốn mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi tiêu thụ sản phẩm, từ đó xác định lợi nhuận gộp thu được khi tiêu thụ sản phẩm đó.
Với những ý nghĩa như vậy, hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm nghiên cứu trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
3.3 Yêu cầu và phương hướng hoàn thiện tổ chức công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
3.3.1 Yêu cầu
Hạch toán chính xác chi phí sản xuất có nghĩa doanh nghiệp ghi nhận đầy đủ các chi phí phải chi ra để thu được những khoản lợi nhuận trong tương lai. Nếu khoản hao phí này được hạch toán chính xác thì mới làm cơ sở cho việc tính đúng khoản lợi mà doanh nghiệp thu được. Để làm được điều này, trong kế toán tuân thủ nguyên tắc : “ Chỉ ghi nhận các khoản thu nhập chác chắn xảy ra nhưng được phép ghi nhận tất cả các khoản chi phí có thể phát sinh ”.
Hạch toán chính xác chi phí sản xuất đồng nghĩa với việc tuân thủ các qui định của Nhà nước liên quan đến hạch toán chi phí sản xuất như phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho, phương pháp khấu hao TSCĐ, hệ thống sổ sách kế toán,
3.3.2 Phương hướng Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Thứ nhất, phải xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp và tiêu thức phân bổ thích hợp
Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thì chi phí được tập hợp đầy đủ, chính xác, không bị chồng chéo, bỏ sót.
Lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất phù hợp thì giúp việc tập hợp chi phí được khách quan, khoa học, dễ hiểu, dễ làm.
Lựa chọn phương pháp phân bổ thích hợp với đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm về tổ chức, đặc điểm về quản lí của Công ty sẽ giúp cho việc phân bổ chi phí cho các đối tượng được khách quan, đúng với chức năng, vị trí của đối tượng ấy.
Thứ hai, phải xác định đúng đối tượng tính giá thành và lựa chọn phương pháp tính giá thích hợp
Như chúng ta đã biết, giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh việc sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm cũng như các giải pháp mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích chi phí bỏ ra ít nhất nhưng kết quả sản xuất kinh doanh thu được nhiều nhất. Giá thành sản phẩm là cơ sở để tính toán và xác định kết quả kinh doanh của doan h nghiệp. Do vậy, cần xác định đúng đối tượng và phương pháp tính giá thành.
Thứ ba, xây dựng qui tắc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp. Những qui tắc đó qui định trình tự công việc sao cho việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được tiến hành thuận lợi, phù hợp với yêu cầu quản lí của doanh nghiệp.
Thứ tư, phân loại chi phí sản xuất, xác định các loại giá thành phù hợp với yêu cầu công tác tổ chức quản lí và hạch toán.
3.4 Nội dung và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một phần không thể thiếu trong quá trình thực hiện công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp. Tính đúng, tính đủ chi phí là một yêu cầu quan trọng. Việc tính đúng, tính đủ chi phí còn giúp cho việc cung cấp kịp thời, chính xác thông tin phục vụ cho các nhà quản lí. Do đó, công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng cần được hoàn thiện để làm cơ sở đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty.
Với những hiểu biết còn hạn chế của bản thân, em xin đưa ra một số kiến nghị sau đây nhằm hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh.
- Kiến nghị 1 : Về kì lập chứng từ ghi sổ
Công ty đang sử dụng kì lập chứng từ ghi sổ là định kì hàng tháng. Theo em, điều này chưa hoàn toàn phù hợp vì có một số nghiệp vụ như : thu, chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng xảy ra thường xuyên, một ngày có thể phát sinh nhiều lần nên những định khoản liên quan đến tiền mặt và tiền gửi cần được lập chứng từ ghi sổ theo ngày. Còn lại các nghiệp vụ ít xảy ra và thường xảy ra vào cuối tháng như : trích khấu hao TSCĐ, tính lương và trích các khoản trích theo lương vẫn lập chứng từ ghi sổ theo định kì cuối hàng tháng.
- Kiến nghị 2 : Về chế độ kế toán Công ty đang áp dụng
Công ty nên áp dụng chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ- BTC ngày 20/06/2006 thay cho chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 để giảm thiểu nhầm lẫn trong việc hạch toán các tài khoản tập hợp chi phí sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
- Kiến nghị 3 : Về phương pháp tính giá nguyên vật liệu
Công ty nên áp dụng phương pháp tính giá nguyên vật liệu theo phương pháp bình quân gia quyền liên hoàn thay cho phương pháp bình quân gia quyền cả kì như Công ty đang áp dụng để phản ánh chính xác hơn giá trị vật liệu sử dụng cho sản xuất sản phẩm của các đơn đặt hàng.
- Kiến nghị 4 : Về việc hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất
Thiệt hại trong sản xuất là điều khó tránh khỏi trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những thiệt hại này có thể do nguyên nhân khách quan hay chủ quan, gây ra những tổn thất bất ngờ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Các thiệt hại này cần phải được hạch toán riêng để đảm bảo giá thành sản phẩm của Công ty là chính xác, nhất là với những công ty có đặc điểm sản xuất là sản xuất theo đơn đặt hàng nên nếu giá thành tăng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất kinh doanh do hợp đồng đã kí kết thì khó có thể thay đổi được.
Do có nhiều loại thiệt hại trong sản xuất với các nguyên nhân khác nhau nên cũng phải có các biện pháp khắc phục thích hợp. Sau đây là các phương án giải quyết cho từng trường hợp cụ thể :
- Với thiệt hại về sản phẩm hỏng
Sản phẩm hỏng là những sản phẩm không thỏa mãn các tiêu chuẩn về chất lượng, đặc điểm kĩ thuật sản xuất ( màu sắc, kích cỡ,..). Sản phẩm có thể sửa chữa được hoặc không sửa chữa được và đều gây ra một khoản thiệt hại là làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh.
Theo em, Công ty nên hạch toán khoản thiệt hại này bằng việc tìm ra đúng nguyên nhân sản phẩm hỏng để có biện pháp xử lí đúng đắn. Nếu hỏng do lỗi của người lao động thì yêu cầu bồi thường để nâng cao ý thức trách nhiệm trong quá trình sản xuất. Nếu hỏng do lỗi kĩ thuật thì cần có biện pháp xử lí để hạn chế thấp nhất thiệt hại.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
Đề tài đã hệ thống hóa được lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Đề tài đã mô tả và phân tích thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của đơn hàng mã DDH1214 tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh theo chế độ kế toán ban hành tại Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ tài chính và các văn bản sửa đổi, bổ sung. Những đặc trưng riêng và tồn tại trong công tác kế toán của Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh được thể hiện ở những mặt sau:
- Công ty không hạch toán các khoản thiệt hại và thu hồi trong sản xuất làm ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm..
- Công ty chưa ứng dụng công nghệ thông tin như việc sử dụng phần mềm kế toán nên công việc kế toán chưa thực sự hiệu quả.
Đề tài đã đưa ra một số kiến nghị nhăm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại – Bao bì Tuấn Thịnh. Cụ thể như sau.
- Kiến nghị Công ty ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán.
- Kiến nghị Công ty thay đổi phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho từ phương pháp bình quân gia quyền cả kì thành bình quân liên hoàn để giá xuất kho của nguyên vật liệu được tính chính xác hơn.
- Kiến nghị Công ty nên áp dụng chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/06/2006 để tránh nhầm lẫn trong việc hạch toán.
- Kiến nghị Công ty hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất mà cụ thể là hạch toán thiệt hại sản phẩm hỏng sửa chữa được và không sửa chữa được để giá thành sản phẩm được tính toán chính xác hơn.
- Kiến nghị Công ty nên thay đổi kì lập chứng từ ghi sổ của một số tài khoản thường xuyên phát sinh như TK 111,112,,.., từ việc lập định kì cuối tháng sang lập theo ngày để dễ theo dõi và quản lí hơn. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng


Pingback: Khóa luận: Phân tích Bảng cân đối kế toán tại công ty Tân Thế