Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong cơ chế thị trường hội nhập và phát triển như hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và tiếp tục phát triển phải chủ động về hoạt động sản xuất kinh doanh, điều này đã đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi mới. Cho nên vấn đề thông tin đối với mỗi doanh nghiệp không chỉ là thông tin về thị trường, mà hơn hết họ phải biết rõ về bản thân mình, đặc biệt là thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chỉ có như vậy doanh nghiệp mới ra được quyết định chính xác, kịp thời, mới quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất và tìm ra biện pháp hạ giá thành sản phẩm. Thực tế cho thấy để đứng vững, thắng thế trên thị trường, chủ doanh nghiệp phải có những đối sách thích hợp mà một trong những điều kiện tiên quyết đó là quan tâm đặc biệt tới công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Nếu như việc tổ chức, huy động các nguồn vốn kịp thời, việc quản lí, phân phối sử dụng các nguồn vốn hợp lí là tiền đề đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thì việc tập hợp chi phí và tính đúng giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lí chi phí và hạ giá thành sản phẩm, mặt khác còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm.

Công tác kế toán được sử dụng như một công cụ đắc lực với chức năng thông tin kiểm tra và đánh giá. Bởi qua số liệu do kế toán chi phí – giá thành cung cấp, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa ra các phương án thích hợp giữa sản xuất kinh doanh, xác định giá bán sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Vì vậy, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được xác định là khâu trọng tâm của công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất. Việc hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là viêc làm thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty Cổ phần Hàng Kênh đã không ngừng đổi mới hoàn thiện để tồn tại và phát triền trên thị trường. Đặc biệt là công tác kế toán nói chung và kế toán sản xuất tính giá thành nói riêng ngày càng được coi trọng.

Chính vì tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm đối với doanh nghiệp và sự mong muốn được tìm hiểu cách tổ chức cũng như các phương pháp tính giá thành thực tế ở doanh nghiệp nên em chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hệ thống hóa lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất.

Mô tả và phân tích được thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về không gian: đề tài được thực hiện tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.
  • Về thời gian: đề tài được thực hiện từ ngày 31/03/2014 đến ngày 25/06/2014.
  • Việc phân tích được lấy từ số liệu của năm 2013.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Các phương pháp kế toán.
  • Phương pháp thống kê và so sánh.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu để kế thừa thành tựu.
  • Phương pháp phân tích so sánh và cân đối.

5. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương chính:

  • Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất.
  • Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.
  • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Chương 1 Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất

1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, để tiến hành sản xuất kinh doanh cần có đủ các yếu tố cơ bản. Tương ứng với các yếu tố cơ bản đó là các chi phí sản xuất kinh doanh gồm:

  • Chi phí về các loại đối tượng lao động (nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ…)
  • Chi phí về các loại tư liệu lao động (chủ yếu tài sản cố định)
  • Chi phí về lao động (chi phí nhân công)
  • Chi phí về các loại dịch vụ mua ngoài
  • Chi phi khác bằng tiền

Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất, tính đa dạng của nó luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng, phức tạp với các loại hình sản xuất khác nhau, giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau và sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Một điều rõ ràng là không phải mọi chi phí mà doanh nghiệp đã đầu tư đều là chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm và đạt được mục đích là tạo ra được sản phẩm ở dưới mọi dạng thể có thể có được của nó.

Xác định nội dung của chi phí sản xuất để thấy được bản chất của chi phí sản xuất là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quản lí chi phí sản xuất của các doanh nghiệp.

Doanh nghiệp bỏ ra các chi phí nhằm tạo ra những giá trị sử dụng nhất định cho xã hội biểu hiện thành các loại sản phẩm khác nhau. Nguyên tắc hoạt động đầu tiên của các doanh nghiệp này là phải đảm bảo trang trải được các phí tổn đã bỏ ra. Như vậy, khi sản xuất một sản phẩm nào đó thì chi phí đầu tư sản xuất ra nó phải nằm trong giới hạn của sự bù đắp. Nếu vượt quá giới hạn này thì tất yếu doanh nghiệp sẽ bị lỗ vốn (hoặc phá sản).

1.2. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

1.2.1. Bản chất của giá thành sản phẩm

Trong điều kiện kinh tế thị trường, quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm chỉ là một trong những hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và tương ứng với hoạt động này là các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm cung cấp dịch vụ mà kết quả tiêu dùng của chúng là các loại sản phẩm, công nghệ, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành cần phải xác định được giá thành thực tế.

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm cấu thành trong những sản phẩm đã hoàn thành.

Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn, các quyết định, giải pháp quản lí áp dụng trong doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu quản lí chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm vì mục đích tăng thu nhập đạt lợi nhuận tối đa.

Giá thành sản phẩm còn là cơ sở để đánh giá việc thực hiện các định mức, dự toán chi phí, kế hoạch hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp và làm cơ sở để lập dự toán, định mức chi phí sản xuất cho kì sau…

Bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ. Chưa có sự chuyển dịch này thì thì không thể nói đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

1.2.2. Chức năng của giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với công tác quản lí của các doanh nghiệp và của nền kinh tế. Vì vậy, nói đến chức năng của giá thành phải kể đến một số chức năng sau:

  • Chức năng thước đo bù đắp chi phí: Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Nguyên tắc hoạt động đầu tiên của các doanh nghiệp là phải đảm bảo bù đắp hao phí sản xuất bởi hiệu quả kinh tế được biểu hiện ra trước hết ở chỗ doanh nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay không. Những phí tổn này cần được bù đắp đầy đủ, kịp thời để đáp ứng được yêu cầu tái sản xuất. Do vậy, yêu cầu khách quan trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là tìm căn cứ xác định mức bù đắp những gì đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm và thực hiện được giá trị của sản phẩm.

Đủ bù đắp chi phí sản xuất là khởi điểm của hiệu quả và cũng là yếu tố để xác định hiệu quả trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Trên thị trường hiện nay, sản phẩm hàng hóa được thực hiện giá trị thông qua giá cả. Hay nói cách khác, giá cả là biểu hiện mặt giá trị của sản phẩm, chứa đựng trong nó nội dung bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường có thể bù đắp được hao phí để thực hiện quá trình tái sản xuất.

Để xây dựng giá thành sản phẩm người ta phải căn cứ vào giá thành bình quân của ngành, của địa phương được sản xuất trong những điều kiện trung bình. Khi được sử dụng làm căn cứ lập giá trị thì giá thành phải là những hao phí được xã hội chấp nhận. Giá thành phải loại bỏ những hao phí bất hợp lí, không liên hệ gì đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, việc đưa ra các định mức hao phí trong giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất tích cực khi sử dụng giá thành làm căn cứ để lập giá.

  • Chức năng đòn bẩy kinh tế:

Giá thành sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế, giá thành sản phẩm đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường hiệu quả kinh doanh phù hợp với các nguyên tắc hạch toán kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị trường. Vì vậy, hạ thấp giá thành sản phẩm được cho là biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận, tạo nên tích lũy để tái sản xuất mở rộng.

Tính chất đòn bẩy kinh tế của giá thành đặt ra các yêu cầu cho từng bộ phận sản xuất phải có biện pháp hữu hiệu vừa tiết kiệm chi phí vừa sử dụng chi phí một cách hợp lý nhất đối với từng loại hoạt động, từng khoản chi phí cụ thể.

Khi đánh giá tính chất đòn bẩy của giá thành cần gắn theo từng loại giá thành, từng yếu tố chi phí so với tổng thể của nó.

1.3. Phân loại chi phí sản xuất

1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

Căn cứ theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí, chi phí sản xuất được chia thành:

  • Chi phí nguyên vật liệu
  • Chi phí nhân công
  • Chi phí khấu hao
  • Chi phí dịch vụ mua ngoài
  • Chi phí khác bằng tiền

Với cách phân loại này, doanh nghiệp biết được cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, làm cơ sở cho việc lập dự toán chi phí sản xuất, xây dựng kế hoạch cung ứng, đảm bảo các yếu tố chi phí sản xuất… làm cơ sở cho việc tính toán thu nhập quốc dân…

1.3.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí, chi phí sản xuất được chia thành:

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
  • Chi phí nhân công trực tiếp
  • Chi phí sản xuất chung

Ngoài ba khoản mục nêu trên, doanh nghiệp có thể chi tiết hóa thành nhiều khoản mục cho phù hợp với đặc điểm phát sinh và hình thành chi phí cũng như yêu cầu kiểm tra, phân tích chi phí tại doanh nghiệp.

Với cách phân loại này, doanh nghiệp sẽ xác định được giá thành sản phẩm theo quy định, là căn cứ để phân tích đánh giá tính hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành sản phẩm cũng như tình hình thực hiện các định mức, dự toán chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.

1.3.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Dựa trên việc phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành:

  • Chi phí sản xuất trực tiếp
  • Chi phí sản xuất gián tiếp

Với cách phân loại này, doanh nghiệp có thể xác định được kỹ thuật, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vào các đối tượng một cách hợp lí để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm được nhanh chóng, đảm bảo độ chính xác cao, điều kiện cần thiết cho quản trị doanh nghiệp.

1.3.4. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ dịch vụ

Dựa trên tiêu thức phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành:

  • Chi phí sản xuất cơ bản (những chi phí có mối quan hệ trực tiếp với quy trình công nghệ – kỹ thuật sản xuất sản phẩm)
  • Chi phí sản xuất chung (những chi phí có mối quan hệ gián tiếp với quy trình công nghệ – kỹ thuật sản xuất sản phẩm)
  • Với cách phân loại này, doanh nghiệp xác định được phương pháp tập hợp hoặc phân bổ chi phí sản xuất vào các đối tượng chịu chi phí một cách đơn giản và hợp lí. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng hoạt động, chi phí sản xuất chia thành:

  • Biến phí (chi phí thay đổi): là những chi phí có sự thay đổi tỷ lệ thuận về tổng số khi có sự thay đổi về khối lượng hoạt động.
  • Định phí (chi phí cố định): là những chi phí mà tổng số không thay đổi (ở mức độ tương đối) theo sự thay đổi về khối lượng hoạt động.
  • Chi phí hỗn hợp: là những chi phí mà nội dung của chúng chứa đựng cả yếu tố định phí lẫn biến phí.

Việc phân loại này giúp các nhà quản trị doanh nghiệp dễ dàng thiết kế, xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng hoạt động và lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn, giảm thấp các chi phí không cần thiết vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận theo đúng đường hướng phát triển của doanh nghiệp đặc biệt là với việc ra các quyết định ngắn hạn…

Căn cứ theo thẩm quyền ra quyết định, chi phí sản xuất được chia thành:

  • Chi phí sản xuất kiểm soát được: là những chi phí mà một cấp quản lí nào đó được phân cấp quyền ra quyết định trong việc quản lí và sử dụng chúng.
  • Chi phí sản xuất không kiểm soát được: là những chi phí mà một cấp quản lí không có quyền ra quyết định trong việc quản lí và sử dụng chúng.
  • Cách phân loại này phục vụ cho việc ra các quyết định về chi phí và kiểm soát chi phí của nhà quản trị doanh nghiệp.

Căn cứ vào việc phục vụ cho việc lựa chọn phương án, chi phí sản xuất được chia thành:

  • Chi phí cơ hội: là những chi phí mà khi ta lựa chọn phương án này thay cho phương án khác sẽ làm lợi ích kinh tế của phương án bị mất đi.
  • Chi phí chìm: là những chi phí mà doanh nghiệp luôn phải chịu dù lựa chọn phương án nào đi chăng nữa.
  • Chi phí chênh lệch: là những chi phí không có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác.

Việc phân loại này giúp doanh nghiệp nhanh chóng ra các quyết định ngắn hạn, lựa chọn được phương án tối ưu, tiết kiệm chi phí mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.

Chương 2 Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại công ty cổ phần hàng kênh Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

2.1. Đặc điểm chung ảnh hưởng đến công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Hàng Kênh

  • Tên gọi: CÔNG TY CỔ PHẦN HÀNG KÊNH
  • Tên tiếng anh: HANG KENH CORPORATION
  • Tên giao dịch: HAKO
  • Trụ sở chính: 124 Nguyễn Đức Cảnh – Lê Chân – Hải Phòng Số điện thoại: +84-031-3700509
  • Mã số thuế: 020010 2626
  • Tài khoản: *050.4.000000.148 Ngân hàng VID PUBLIC-Hải Phòng
  • Email: tapishangkenh@hn.vnn.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Hoàng Mạnh Thế. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc.

Công ty cổ phần Hàng Kênh có lịch sử phát triển lâu dài, trải qua hơn 80 năm phát triển với các mốc quan trọng sau đây:

  • Năm 1929: Tiền thân của Công ty Cổ phần Hàng Kênh ngày nay là Nhà máy thảm len Tapis Hàng Kênh ra đời.
  • Năm 1961: Xí nghiệp thảm len Hàng Kênh được thành lập.
  • Năm 1992: Công ty Thảm Hàng Kênh được thành lập lại theo Quyết định số 1466/QĐ-TCCQ của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
  • Ngày 12/12/2005: Công ty Thảm Hàng Kênh chuyển thành Công ty cổ phần Hàng Kênh theo quyết định số 2865/QĐ-UBND thành phố Hải Phòng.
  • Hình thức sở hữu vốn: Công ty Cổ phần Hàng Kênh là công ty cổ phần hóa, chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Ngành, nghề kinh doanh: Sản xuất và kinh doanh: các loại thảm, hàng dệt may, giầy dép… Kinh doanh, chế biến lương thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, than mỏ. Kinh doanh máy móc thiết bị, phụ tùng, vật tư nguyên liệu và phụ liệu phục vụ sản xuất thảm… Xây dựng các công trình hạ tầng… Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

  • Biểu 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm gần đây

Căn cứ vào biểu 2.1 ta thấy doanh thu tăng, lợi nhuận trước thuế tăng, thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước và thu nhập bình quân đầu người năm sau đều tăng so với năm trước. Điều đó chứng tỏ rằng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng hiệu quả và cần tiếp tục phát huy hơn nữa trong tương lai.

2.1.2. Đặc điểm sản phẩm, tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

  • Đặc điểm sản phẩm sản xuất tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Công ty Cổ phần Hàng Kênh tham gia sản xuất với 4 mặt hàng chính: giầy, giấy, thảm, xây dựng. Với mỗi mặt hàng, chủng loại cũng rất đa dạng:

Mặt hàng thảm: Có thảm dệt máy và thảm dệt thủ công cao cấp bao gồm: thảm trải sàn, thảm trang trí. Đặc biệt, thảm tẩy bóng được tạo ra bởi công nghệ duy nhất có tại Việt Nam. Mặt hàng thảm len có nguyên liệu là sợi lông cừu 100% nhập từ nước ngoài, mẫu mã đa dạng, thiết kế tinh xảo đáp ứng mọi yêu cầu đặt hàng. Bên cạnh thảm dệt tay còn có những loại thảm được nhập từ các nước: Indonexia, Malaysia, Bỉ, Đài Loan, Mỹ, Hà Lan…và hàng sản xuất trong nước.

  • Mặt hàng giầy: Có hai mặt hàng chính là giầy thể thao và giầy vải. Đây là hai mặt hàng được ưa chuộng, chủ yếu xuất ra thị trường nước ngoài.
  • Mặt hàng giấy đế: Cuối năm 2004, xí nghiệp giấy đế được đưa vào hoạt động, chuyên sản xuất mặt hàng giấy vàng mã xuất khẩu cho thị trường Đài Loan.
  • Xí nghiệp xây dựng: được đưa vào hoạt động từ đầu năm 2008 cho đến nay, bước đầu cho kết quả tốt.

Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Dựa trên những bản vẽ, mẫu mã hay ý tưởng sơ khai của khách hàng, đội ngũ họa sĩ, kĩ sư của công ty có thể thiết kế, triển khai thành sản phẩm hoàn chỉnh.

  • Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất thảm tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh Xí nghiệp thảm.

2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh

Là một doanh nghiệp có quy mô lớn cả về cơ sở vật chất kĩ thuật, kho bãi, nhà cửa, công nhân viên, Công ty Cổ phần Hàng Kênh áp dụng mô hình quản lý trực tuyến – chức năng. Quy chế quản lý này giúp thống nhất mệnh lệnh, tránh sự rối loạn, gắn trách nhiệm với một người cụ thể, cung cấp và truyền đạt thông tin rõ ràng, có hiệu quả trong tổ chức, đạt kết quả cao trong các công việc. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

  • Các phòng ban trong công ty gồm có:

Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tổ chức, sắp xếp bộ máy nhân sự, quản lý và thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách của người lao động và các cổ đông, xây dựng và tham mưu về các tiêu chuẩn lương, thưởng, bảo hiểm, điều hành bộ máy nhân sự.

Phòng thống kê – kế toán: có nhiệm vụ hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh trong kì, thống kê, lưu trữ, cung cấp các số liệu, thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ tình hình sản xuất kinh doanh sử dụng vốn của công ty trong mọi thời điểm cho Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị và các bộ phận có liên quan nhằm phục vụ công tác quản lý, điều hành. Thông qua đó giúp ban quản trị đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn, hợp lý.

Phòng kinh doanh – xuất nhập khẩu: Công việc của phòng là tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, giữ vững và hoàn chỉnh, phát triển thị trường cả về chiều rộng và chiều sâu. Xây dựng các chương trình nghiên cứu, thăm dò thị trường, khuyếch trương quảng cáo nhằm tìm thị trường mới. Từ đó đưa ra các quyết định về sản xuất, cung ứng, giá cả….

Ban quản lý công trình: Ban quản lý có trách nhiệm liên hệ, tìm kiếm đối tác, dự án trong lĩnh vưc xây dựng, đồng thời lập kế hoạch, kiểm tra kiểm soát quá trình thi công đến khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao cho khách hàng.

Phòng bảo vệ: Phòng bảo vệ phụ trách bảo vệ mọi tài sản thuộc phạm vi quản lý của công ty, kiểm soát số lượng người ra vào đề phòng kẻ gian đột nhập, kiểm tra hàng hoá – vật tư xuất ra mua vào có đầy đủ giấy tờ theo quy định hay không, đảm bảo an ninh trật tự trong toàn công ty.

Tại Xí nghiệp thảm, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí được thể hiện như sau:

  • Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh Xí nghiệp Thảm Hàng Kênh

2.1.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và chính sách kế toán áp dụng tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh

2.1.4.1. Đặc điểm bộ máy kế toán áp dụng tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh

Công tác kế toán của công ty cổ phần Hàng Kênh được tập trung tại phòng Thống kê – Kế toán, được tổ chức theo hình thức tập trung. Phòng gồm có 7 thành viên, đứng đầu là trưởng phòng, tiếp theo là phó phòng kiêm kế toán tổng hợp, 4 kế toán viên và thủ quỹ.

Bộ máy kế toán của công ty được thể hiện qua sơ đồ 2.3.

  • Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Chức năng, nhiệm vụ của từng nhân viên trong phòng kế toán:

  • Trưởng phòng kế toán: phụ trách chung mọi hoạt động của phòng kế toán, tổ chức bộ máy kế toán phù hợp với hoạt động của công ty, theo dõi giám sát công việc của các kế toán viên và quản lý tài chính tại các phân xưởng sản xuất. Đồng thời giải thích các sổ sách kế toán, các báo cáo tài chính và tham mưu cho các nhà quản lý về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.
  • Kế toán tổng hợp kiêm phó phòng: có nhiệm vụ tập hợp thông tin từ các nhân viên kế toán phần hành để lên bảng cân đối kế toán và lập báo cáo cuối kỳ.
  • Kế toán tiền mặt kiêm giá thành: có nhiệm vụ theo dõi các khoản phát sinh liên quan đến tiền mặt và tập hợp toàn bộ các chi phí để tính giá thành sản phẩm. Đồng thời theo dõi tình hình giá thành thực tế với giá thành kế hoạch, xem xét giá thành của một số mặt hàng mới, định kì lập báo cáo chi phí giá thành cho các khoản mục yếu tố.
  • Kế toán TGNH và TSCĐ: theo dõi các nghiệp vụ liên quan tới TGNH (chi tiết từng ngân hàng) và theo dõi các nghiệp vụ liên quan tới TSCĐ toàn công ty.
  • Kế toán tiền lương và vật tư: có trách nhiệm tính lương, thưởng, các khoản trích theo lương theo đúng chế độ chính sách cho công nhân trong từng xí nghiệp, bộ phận và theo dõi các nghiệp vụ liên quan tới việc xuất – nhập, tính giá vật tư đồng thời phải thường xuyên đối chiếu với thủ kho.
  • Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh: quản lý việc tiêu thụ sản phẩm, xác định chi phí bán hàng và thực hiện xác định kết quả kinh doanh của công ty.
  • Thủ quỹ: quản lý thu – chi tiền mặt của công ty và phải thường xuyên đối chiếu với kế toán tiền mặt để đảm bảo sự chính xác, minh bạch.

2.1.4.2. Các chính sách kế toán áp dụng tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh

  • Chế độ kế toán áp dụng: Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
  • Niên độ kế toán: công ty chọn niên độ kế toán trùng với năm tài chính bắt đầu từ 01/01 dương lịch và kết thúc vào ngày 31/12 của năm.
  • Kỳ kế toán của công ty theo tháng.
  • Hình thức kế toán: Nhật kí – Chứng từ
  • Đơn vị tiền tệ được doanh nghiệp lựa chọn hạch toán là VNĐ.
  • Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: kê khai thường xuyên
  • Phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho: bình quân gia quyền cả kì
  • Phương pháp khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng.
  • Phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ.

Sơ đồ 2.4: Trình tự ghi sổ kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm theo hình thức kế toán Nhật kí – chứng từ tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh

2.2. Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

2.2.1. Đặc điểm và cách phân loại chi phí sản xuất

Do đặc điểm của sản phẩm cũng như quá trình sản xuất mà chi phí sản xuất của công ty bao gồm nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên để thuận tiện cho việc xác định giá thành sản phẩm cũng như việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất ở Công ty Cổ phần Hàng Kênh Xí nghiệp thảm được phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí bao gồm:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính (len, sợi), nguyên vật liệu phụ (thuốc nhuộm, hóa chất…), nhiên liệu động lực (xăng, dầu diezel…).

Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, các khoản trích theo lương, các khoản phụ cấp trợ cấp phải trả (ăn trưa, trợ cấp độc hại…)… của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.

Chi phí sản xuất chung: chi phí khấu hao tài sản cố định, công cụ dụng cụ, chi phí bằng tiền khác liên quan đến hoạt động sản xuất…

2.2.2. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

  • Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất

Công ty Cổ phần Hàng Kênh là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, có quy mô lớn cả về cơ sở vật chất kĩ thuật, kho bãi, nhà xưởng, mặt bằng, công nhân viên. Chính vì vậy, Công ty Cổ phần Hàng Kênh đã xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất theo từng xí nghiệp.

  • Đối tượng tính giá thành sản phẩm

Việc xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác kế toán tính giá thành sản phẩm. Các chi phí sản xuất thực tế phát sinh được tập hợp theo từng xí nghiệp nêu trên là cơ sở để xác định giá thành sản phẩm. Căn cứ vào đặc điểm sản phẩm sản xuất và yêu cầu quản lí, Công ty Cổ phần Hàng Kênh đã xác định đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm hoàn chỉnh.

  • Tại xí nghiệp giầy: giầy dép (chủ yếu là giầy thể thao và giầy vải)
  • Tại xí nghiệp thảm: thảm
  • Tại xí nghiệp giấy: giấy vàng mã

2.2.3. Kỳ tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm

  • Kỳ tính giá thành

Công ty xác định kỳ tính giá thành theo tháng. Vào cuối tháng, kế toán tiến hành tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

  • Phương pháp tính giá thành sản phẩm

Với việc xác định định đối tượng tập hợp chi phí là từng xí nghiệp và đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm theo xí nghiệp đó thì phương pháp tính giá thành được công ty áp dụng là phương pháp đơn đặt hàng.

2.2.4. Nội dung, trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Để mô tả cho dòng chạy số liệu kế toán, bài viết tập trung chủ yếu vào việc thu thập, mô tả số liệu về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của thảm tự doanh tẩy tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

2.2.4.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Các nguyên vật liệu mà xí nghiệp sử dụng để sản xuất thảm là:

  • Nguyên vật liệu chính như: sợi, len (len Tây đức, len thường, len thường tẩy, len Tân Tây lan), tơ.
  • Nguyên vật liệu phụ như: hóa chất (bột nhẹ CaCO3, xà phòng trung tính, nến, axit Foocmics, Albegal set, Irganol PS, Mityl BC, H2SO4, H2O2…) và các loại thuốc nhuộm (Isolan orange SKL 01, Isolan bordeaux 200%, Isolan green Isolan blue 2S – GL01, Isolan yellow, …)
  • Nhiên liệu chủ yếu là than, xăng.

Chứng từ sử dụng

  • Phiếu lĩnh vật tư
  • Phiếu xuất kho
  • Bảng tổng hợp vật tư xuất dùng.
  • Bảng phân bổ vật tư xuất dùng…

Tài khoản sử dụng

  • TK 621_Chi phí NVLTT được chi tiết cho từng Xí nghiệp
  • TK 621.1_Chi phí NVLTT Xí nghiệp thảm
  • TK 152.1_Nguyên vật liệu chính
  • TK 152.2_Nguyên vật liệu phụ
  • TK 152.3_Nhiên liệu

Sổ sách sử dụng

  • Sổ chi tiết TK 1
  • Sổ cái TK 1
  • Bảng kê số 4
  • Nhật kí chứng từ số 7

Nội dung hạch toán chi phí NVLTT tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Căn cứ vào số lượng đơn đặt hàng và kế hoạch sản xuất, phòng điều hành sản xuất tại xí nghiệp sẽ tính toán số lượng, loại NVL cần thiết, lập bản đề nghị mua NVL và trình giám đốc phê duyệt. Sau khi được sự đồng ý của giám đốc, phó giám đốc xí nghiệp sẽ trực tiếp liên lạc tới nhà cung cấp. Công ty chủ yếu mua vật liệu của những nhà cung cấp quen thuộc, có thương hiệu, giá khá ổn định, đảm bảo về chất lượng, số lượng và thời gian.

Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại công ty cổ phần hàng kênh

3.1. Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Qua quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh, em nhận thấy đây là một đơn vị kinh doanh sản xuất rất nhạy bén trong cơ chế thị trường. Từ hội đồng quản trị, giám đốc đến tất cả các phòng ban luôn biết phát huy những ưu điểm vốn có, để tạo ra môi trường lao động kinh doanh tốt, đủ sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Công ty đã và đang tìm cho mình những bước đi đầy triển vọng và có những tín hiệu khởi sắc đáng mừng. Sau hơn 80 năm thành lập và phát triển công ty đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường bằng các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành phù hợp, đủ sức cạnh tranh. Sự nhạy bén, linh hoạt trong công tác quản lí kinh tế, quản lí lao động đã giúp công ty từng bước hòa nhập với nhịp điệu phát triển kinh tế của đất nước, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của mình đối với người lao động cũng như với nhà nước, chủ động trong sản xuất kinh doanh, tìm kiếm mở rộng thị trường, liên tục đổi mới, tái mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên toàn công ty. Đặc biệt, từ khi nhà nước ta áp dụng chính sách mở cửa, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới.

Bên cạnh việc tổ chức bộ máy quản lí gọn nhẹ, hợp lí hóa sản xuất, công ty không ngừng quan tâm chú trọng đến việc tìm các phương án đổi mới trong công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Hạch toán đúng từ khâu sản xuất và hạch toán chính xác giá thành sản phẩm tạo điều kiện cung cấp các thông tin cần thiết cho Ban giám đốc công ty ra các quyết định đúng đắn, góp phần mang lại thắng lợi cho đơn vị trong điều kiện cạnh tranh thị trường. Vấn đề tiết kiệm ngày càng được đề cao, nhất là tiết kiệm chi phí sản xuất. Đó là mục tiêu phấn đấu, là một nhiệm vụ chủ yếu của công ty. Vì vậy để đáp ứng yêu cầu quản lí nói chung và công tác quản lí chi phí nói riêng, nhất là trong điều kiện đổi mới hiện nay, đòi hỏi công ty phải tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, phản ánh theo đúng giá thực tế tại mỗi thời điểm phát sinh chi phí, hạch toán và phân bổ chi phí theo đúng địa điểm phát sinh, đúng các đối tượng chịu chi phí, đối tượng tính giá thành, vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp vào từng đối tượng tính giá.

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, công ty đã có những chuyển biến cơ bản trong việc hạch toán chi phí sản xuất từ khâu xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành đến kế toán tổng hợp chi phí, kế toán chi phí giá thành, thực hiện ghi chép phản ánh một cách kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và hạch toán phân bổ chi phí sản xuất chung.

Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh, được tìm hiểu về công tác hạch toán kế toán nói chung và công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng, em đã thấy được những ưu nhược điểm của công ty như sau:

3.1.1. Ưu điểm Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Công ty Cổ phần Hàng Kênh là một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường có sự quản lí vĩ mô của Nhà nước, song không vì thế mà công ty bị gò bó trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, sự thích ứng linh hoạt với những thay đổi của nền kinh tế thị trường đã giúp công ty đi đúng trên con đường phát triển và hòa chung với sự cạnh tranh của nền kinh tế mở. Cụ thể:

Về tổ chức bộ máy quản lí: Bộ máy quản lí của công ty được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng có mối quan hệ chỉ đạo từ trên xuống giúp cho Ban lãnh đạo công ty thuận tiện cho việc quản lí điều hành.

  • Về tổ chức bộ máy kế toán:

Bộ máy kế toán tại Công ty với những nhân viên nhiệt tình, tiếp cận kịp thời với chế độ kế toán mới và vận dụng một cách linh hoạt vào tình hình của Công ty. Thêm vào đó, bộ máy kế toán phối hợp khá ăn khớp nhịp nhàng giữa các phần hành kế toán. Các thành viên trong phòng có cơ hội phát huy năng lực trình độ chuyên môn. Bộ máy kế toán linh hoạt có sự liên kết tạo điều kiện cho các kế toán viên học hỏi thêm kinh nghiệm, giao lưu với nhau giúp nâng cao năng suất lao động.

Công ty sử dụng mạng nội bộ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lí cũng như công tác kế toán. Nhân viên trong công ty có thể chia sẻ các tài liệu cần thiết trên máy tính giúp cho công việc của mỗi người trở lên nhịp nhàng hơn.

Về hệ thống sổ sách: Hình thức sổ được sử dụng hiện nay ở Công ty là hình thức Nhật kí – chứng từ. Hình thức này giúp giảm nhẹ khối lượng công việc ghi sổ kế toán do việc ghi quan hệ đối ứng tài khoản ngay trên tờ sổ và kết hợp kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết trên cùng một trang sổ. Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu được tiến hành thường xuyên trên trang sổ nên cung cấp số liệu kịp thời cho việc lập báo cáo tài chính cũng như việc lập báo cáo quản trị theo yêu cầu của nhà lãnh đạo cấp cao.

Về hệ thống chứng từ: Nhìn chung, hệ thống chứng từ tại công ty được tổ chức đầy đủ và hợp lí căn cứ trên các quy định của chế độ chứng từ kế toán theo quyết định 15/2006/QĐ – BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 do Bộ Tài Chính ban hành và đặc điểm kinh doanh của công ty. Công ty không những sử dụng đúng nội dung hạch toán các tài khoản mà còn chi tiết các tài khoản thành các tiểu khoản giúp công ty hạch toán phản ánh đến từng đối tượng đảm bảo thông tin chính xác, cập nhật nhanh chóng phục vụ đắc lực cho các quyết định quản lí. Đồng thời kế toán công ty cũng đã xây dựng được trình tự luân chuyển chứng từ một cách hợp lí, đảm bảo nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời và không ảnh hưởng đến các bộ phận khác. Nhờ thế, công tác kế toán nói chung được thực hiện minh bạch, rõ ràng, có căn cứ vững chắc và công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sản xuất nói riêng tại công ty được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng đầy đủ thông tin cần thiết cho Ban giám đốc.

Về phương pháp hạch toán: Phương pháp hạch toán hàng tồn kho tại công ty là phương pháp kê khai thường xuyên, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lí, giúp Ban giám đốc thường xuyên nắm được tình hình biến động hàng tồn kho và ra quyết định một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời.

Về tổ chức quản lí lao động: Công ty luôn khuyến khích động viên với người lao động bằng chế độ thưởng phạt.

Những ưu điểm về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nêu trên đã có tác dụng tích cực đến việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.

3.1.2. Hạn chế Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng công ty cũng không tránh khỏi những khó khăn, tồn tại nhất định, nhất là trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cụ thể:

Về việc sử dụng sổ sách kế toán theo chế độ: Công ty hiện chỉ sử dụng sổ chi phí sản xuất kinh doanh cho tài khoản 621.1 mà chưa sử dụng sổ chi phí sản xuất kinh doanh cho các tài khoản 622.1 và tài khoản 627.1. Hai sổ này được coi là cơ sở quan trọng để tập hợp chi phí sản xuất chính xác, đầy đủ.

Về việc áp dụng căn cứ mức lương để tính các khoản bảo hiểm cho người lao động: Hiện tại công ty áp dụng mức lương tối thiểu vùng để làm căn cứ trích tất cả các khoản bảo hiểm cho người lao động. Cách tính này không đảm bảo tính đúng, đủ chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm đồng thời làm giảm quyền lợi cho người lao động.

Về việc áp dụng cách tính lương sản phẩm: Hiện công ty chỉ áp dụng cách tính lương thời gian cho người lao động. Cách tính này không phù hợp với công ty sản xuất sản phẩm đồng thời làm giảm sự công bằng trong việc tính lương cho người lao động.

Về công tác phân tích chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm: Hiện tại, công tác phân tích chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm tại Công ty chưa được tiến hành. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp thông tin cần thiết giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn liên quan đến chi phí – giá thành.

Tất cả những nhược điểm trên cần được công ty nhanh chóng giải quyết và khắc phục để trong những kỳ sản xuất tiếp theo chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty được nâng cao hơn nữa.

3.2. Tính tất yếu phải hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Nhà nước ta đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia đầy đủ vào thị trường, đây chính là cơ hội song cũng là thách thức không nhỏ để doanh nghiệp tự khẳng định mình trong việc tìm chỗ đứng vững chắc của mình trên thị trường. Muốn vậy mỗi doanh nghiệp phải luôn chủ động tìm cho mình phương thức hoạt động có hiệu quả đáp ứng kịp thời sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Để thực hiện được chiến lược này, vấn đề đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp quan tâm đặc biệt coi trọng là nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.

Nhận thức được vấn đề trên, công ty cần phải sử dụng hợp lí các nguồn lực đầu vào, khắc phục tình trạng thất thoát lãng phí trong quá trình tập hợp chi phí. Vì thế kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kế toán toàn công ty. Bởi lẽ những thông tin cung cấp từ bộ phận này nhằm mục đích tính toán chi phí đúng đắn, đầy đủ để từ đó tính được giá thành một cách chính xác, linh hoạt. Do đó tính tất yếu đối với công ty là phải hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn thế giới để có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Trong khi đó, thực trạng công tác kế toán nói chung và công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh còn tồn tại nhiều nhược điểm. Vì vậy, việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty mang tầm quan trọng và là tính tất yếu.

3.3. Yêu cầu và phương hướng hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất –giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp là đem lại lợi nhuận tối đa với chi phí thấp nhất. Cho nên người ta không thể hoàn thiện một phương án nào đó với bất kì giá nào mà không tính đến tính khả thi và hiệu quả của nó. Vì vậy việc hoàn thiện các nội dung của tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh cũng phải quán triệt yêu cầu này. Yêu cầu đặt ra trong công tác hạch toán kế toán tại công ty là kịp thời áp dụng các chuẩn mực kế toán mới nhất, các thông tư hướng dẫn… phù hợp với đặc điểm của đơn vị mình. Hạch toán đầy đủ, chính xác theo chuẩn mực không chỉ thể hiện tính nghiêm túc chấp hành luật pháp mà còn có một vai trò quan trọng trong công tác quản lý chi phí cũng như quản lý doanh nghiệp. Việc hoàn thiện tổ chức kế toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty nói riêng cần dựa trên những cơ sở sau:

Thứ nhất, đảm bảo sự phù hợp giữa đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý của doanh nghiệp với chế độ kế toán nói chung. Bởi mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng, do đó vận dụng chế độ kế toán một cách linh hoạt, hợp lý trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động và quy mô của mình sẽ giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng.

Thứ hai, đảm bảo sự tuân thủ thống nhất, chặt chẽ giữa những quy định trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, trong chế độ kế toán do Bộ tài chính ban hành với chế độ kế toán đặc thù ngành sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, đảm bảo sự tiết kiệm và hiệu quả trong việc tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp. Muốn vậy, phải tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý, tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của kế toán đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.

Thứ tư, đảm bảo thực hiện tốt các chức năng thông tin cho nhà quản lý vì mục tiêu của việc hoàn thiện công tác kế toán là cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn.

3.4. Nội dung và giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh, được sự chỉ đạo tận tình của các anh, chị trong phòng Thống kê – kế toán của công ty, em đã có điều kiện tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng công tác tổ chức hạch toán kế toán của công ty. Dưới góc độ là một sinh viên thực tập với sự nhiệt tình nghiên cứu, em xin đưa ra một số ý kiến về phương hướng hoàn thiện những tồn tại trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty như sau:

  • Kiến nghị 1: về việc sử dụng hệ thống sổ sách. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Hiện tại công ty mới chỉ sử dụng sổ chi phí sản xuất kinh doanh tài khoản 621.1_Chi phí NVLTT Xí nghiệp thảm. Để phục vụ cho công tác quản lí hiệu quả đồng thời đảm bảo công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được nhanh chóng và chính xác hơn công ty nên sử dụng sổ chi phí sản xuất kinh doanh của các tài khoản 622.1 và tài khoản 627.1.

Kiến nghị 2: Về mức lương đóng các khoản bảo hiểm của người lao động. Công ty Cổ phần Hàng Kênh là đơn vị tính trên thang bảng lương. Nếu lương tối thiểu vùng cao hơn mức lương cơ bản thì sẽ lấy lương tối thiểu vùng làm căn cứ trích các khoản BHXH, ngược lại nếu lương tối thiểu vùng thấp hơn mức lương cơ bản thì sẽ lấy mức lương cơ bản làm căn cứ trích các khoản BHXH.

Để đảm bảo tính đúng, đủ chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người lao động, Công ty nên xem xét áp dụng mức lương cơ bản làm căn cứ trích các khoản theo lương cho người lao động.

Cách tính lương phải trả công nhân phân xưởng dệt Ngô Thị Hằng: Lương cơ bản = 1.050.000 x 2,45 = 2.572.500 > 2.514.500 (Lương tối thiểu vùng) Trích các khoản trừ vào lương:

  • BHXH: 2.572.500 x 7% = 180.075
  • BHYT: 2.572.500 x 1,5% = 38.588
  • BHTN: 2.572.500 x 1% = 25.725
  • Lương thời gian = 25 x 140.000 = 3.500.000
  • Trợ cấp độc hại = (số m2 thảm hoàn thành x đơn giá độc hại) / 5 = 10,325 x 95.000 / 5 = 196.175
  • Vậy, lương công nhân thực lĩnh: 3.500.000 + 196.175 – 180.075 – 38.588 – 25.725 = 3.451.787

Kiến nghị 3: về việc áp dụng cách tính lương sản phẩm.

Hiện tại công ty chỉ áp dụng cách tính lương thời gian cho người lao động. Cách tính này không phù hợp với công ty sản xuất sản phẩm đồng thời làm giảm tính công bằng trong việc tính lương cho người lao động. Vì năng suất lao động ngày mỗi người là khác nhau nên nếu tính lương theo thời gian sẽ tạo ra sự trì trệ trong công tác sản xuất sản phẩm. Do vậy, trong kì tới, Công ty nên xem xét việc kết hợp tính lương theo thời gian và tính lương theo sản phẩm cho người lao động để đảm bảo được tính công bằng trong cách tính lương cũng như nâng cao tinh thần và trách nhiệm của người lao động.

Cuối tháng, căn cứ vào phiếu xác nhận hoàn thành của từng bộ phận, kế toán tính ra lương phải trả cho công nhân sản xuất sản phẩm. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

  • Lương sản phẩm = Số m2 thảm hoàn thành x Đơn giá lương sản phẩm

Cách tính lương phải trả công nhân phân xưởng dệt Ngô Thị Hằng, tổ 1 sản xuất thảm tự doanh tẩy.Trong tháng 1, Tổ 1 gồm 5 người dệt được 10,325 m2 thảm tự doanh tẩy. Vậy, trung bình công nhân Ngô Thị Hằng trong tháng dệt được 2,065 m2 thảm.

Lương sản phẩm: 2,065 x 1.492.736 = 3.082.500

  • Kiến nghị 4: về công tác phân tích chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm.

Hiện tại, công tác phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh chưa được tiến hành. Để tăng cường công tác quản lí chi phí sản xuất để từ đó đưa ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm, Công ty nên thực hiện công tác phân tích chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm.

Phân tích chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh – Xí nghiệp thảm Hàng Kênh.

  • Biểu 3.4: Bảng phân tích chi phí sản xuất theo khoản mục

Căn cứ vào bảng trên ta thấy:

Chi phí thực tế sản xuất sản phẩm là 1.665.493.774. Như vậy, chi phí thực tế đã tăng so với dự toán là 14.939.403.

Việc so sánh trực tiếp giản đơn như trên chưa cho phép ta đánh giá được công ty tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất. Để đánh giá cụ thể ta sẽ đi sâu xem xét từng khoản mục chi phí:

Đối với khoản mục chi phí NVLTT: chi phí thực tế đã tăng so với dự toán là 501.445 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 0,47%. Khoản mục này tăng do công ty đã gộp toàn bộ chi phí nhiên liệu vào chi phí NVLTT (Khoản mục này phải được phân bổ một phần vào chi phí sản xuất chung).

Trong kỳ tới, để tiết kiệm được chi phí nguyên vật liệu, công ty phải luôn nghiên cứu sự biến động của thị trường, chọn những nhà cung cấp có uy tín, giá cả hợp lí, tiết kiệm chi phí thu mua… Từ đó có thể giảm được thấp nhất khoản chi phí nguyên vật liệu trong giá thành mà không làm chất lượng sản phẩm thay đổi.

Đối với khoản chi phí NCTT: chi phí nhân công thực tế giảm so với dự toán là 414.700 tương ứng với tỷ lệ giảm là 1,95%. Công ty đã tiết kiệm được chi phí NCTT chủ yếu do công ty sử dụng nhiều máy móc hơn nên số lao động cần ít hơn. Kỳ tới, để tiết kiệm khoản chi phí nhân công, công ty nên tiếp tục đưa máy móc vào sử dụng và không ngừng hoàn thiện cách thức tổ chức quản lý lao động nhằm tăng năng suất lao động.

Đối với khoản chi phí SXC: chi phí thực tế tăng so với dự toán là 29.852.658 tương ứng với tỷ lệ tăng 1,48% chủ yếu do đầu tháng, công ty quyết định thay mới công cụ dụng cụ dùng cho công nhân phân xưởng dệt (chủ yếu là dao, kéo).

Tóm lại, để đảm bảo công tác phân tích đạt hiệu quả, công ty nên hạch toán các yếu tố chi phí theo đúng khoản mục. Như vậy, sẽ có những kết luận chính xác hơn đồng thời đưa ra được các chính sách quản lý phù hợp.

  • Phân tích giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh Xí nghiệp thảm Hàng Kênh.

Phân tích chung giá thành của toàn bộ sản phẩm:

  • Biểu 3.5: Trích báo cáo tình hình sản xuất và tiêu thụ của công ty
  • Biểu 3.6: Bảng phân tích giá thành của toàn bộ sản phẩm

Căn cứ vào biểu 2.36 ta thấy công ty đã không thực hiện được kế hoạch giá thành của toàn bộ sản phẩm. Bội chi so với kế hoạch 7.157.368 đồng, tương ứng với tỉ lệ 0,39% đó là một biểu hiện không tốt. Xem xét chi tiết từng loại sản phẩm, ta thấy công ty đã bội chi giá thành thực tế so với kế hoạch ở 2 loại sản phẩm là: thảm tây đức có mức tăng giá thành là 12.104.478 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 1,48%; thảm tự doanh tẩy có mức tăng giá thành là 3.794.350 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 1,75%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc bội chi giá thành ở 2 sản phẩm này là do việc tăng đơn giá nguyên vật liệu có định mức cao trong mỗi sản phẩm. Do vậy, trong kỳ tới, công ty cần tìm hiểu nghiên cứu chuyên sâu hơn về sự biến động của thị trường NVL, tìm nhà cung cấp uy tín với giá cả hợp lí… để đảm bảo việc thực hiện kế hoạch giá thành của toàn bộ sản phẩm.

Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm chủ yếu:

Có 4 loại sản phẩm chủ yếu. Đó là thảm tây đức, thảm tự doanh tẩy, thảm tự doanh mộc và thảm mặt ghế mộc.

  • Biểu 3.7: Bảng phân tích tình hình hạ giá thành của các sản phẩm chủ yếu. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Căn cứ vào biểu 2.37 ta thấy:  = 7.961.521 đồng > 0; = 0,36%> 0 chứng tỏ công ty không thực hiện được kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm chủ yếu, trong đó duy nhất có thảm tự doanh mộc vượt kế hoạch hạ giá thành (vì có  = -8.611.031 đồng < 0;  = -1,14% < 0), còn 3 loại thảm tây đức, tự doanh tẩy và mặt ghế mộc đều không hoàn thành kế hoạch hạ giá thành.

Nguyên nhân chủ yếu do đơn giá NVL sản xuất ra 3 loại sản phẩm này tăng so với kế hoạch đề ra. Kì tới, để kế hoạch hạ giá thành sản phẩm đạt hiệu quả, công ty cần nghiên cứu kĩ hơn về sự biến động của thị trường giá cả NVL. Mặt khác, công ty cũng nên tìm những nhà cung cấp có uy tín với giá cả hợp lí, tiết kiệm chi phí thu mua… Từ đó đảm bảo việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm chủ yếu đạt hiệu quả.

3.5. Điều kiện để thực hiện các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh.

3.5.1. Về phía Nhà nước

Áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trên thị trường cùng với khả năng còn yếu của doanh nghiệp trong nước đặt ra cho Nhà nước một vấn đề cấp bách cần phải giải quyết. Đó là làm thế nào để thực hiện tốt các cam kết hội nhập đồng thời khai thác các địa điểm mạnh trong nước phát triển.

Vì mục tiêu chung Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cũng như tạo môi trường kinh doanh công bằng và lành mạnh cho các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật Việt Nam. Ban hành những chính sách phù hợp, kịp thời với sự biến động của nền kinh tế kèm theo những ưu đãi cho các doanh nghiệp, cá nhân có đóng góp to lớn trong sự phát triển của đất nước. Luôn luôn khuyến khích các doanh nghiệp không ngừng cải cách, đổi mới và phát triển toàn diện hơn.

3.5.2. Về phía Doanh nghiệp.

Đứng trước những thay đổi của nền kinh tế đất nước và chính sách kinh tế mở cửa, doanh nghiệp nên tìm ra các biện pháp sao cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, cập nhật các chuẩn mực, quy định, thông tư và hướng dẫn mới về kế toán, áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào công tác kế toán của công ty.

Doanh nghiệp phải thường xuyên tổ chức và cử nhân viên kế toán của công ty mình tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ để có thể theo kịp được những thay đổi trong chế độ kế toán nói chung và khuyến khích họ tự học tập, nghiên cứu để hoàn thiện và áp dụng các chính sách mới đó vào doanh nghiệp một cách phù hợp đem lại hiệu quả cao nhất cho công ty, đồng thời bảo đảm đúng nguyên tắc và chế độ kế toán.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hạch toán đúng, đủ chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm là những nhân tố tiên quyết giúp doanh nghiệp tồn tại trong cơ chế thị trường. Việc tổ chức hạch toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất đầy đủ chính xác là cơ sở tính giá thành chính xác, điều đó sẽ cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin tin cậy để phân tích đánh giá và đưa ra những quyết định đúng đắn phù hợp nhằm phấn đấu giảm chi phí tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Sau một thời gian nghiên cứu nghiêm túc, khoá luận “Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh” đã đề cập giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

  • Về lý luận: Đã đưa ra hệ thống những lý luận cơ bản về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành cũng như tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
  • Về thực tiễn: Khoá luận phản ánh một cách khách quan, đầy đủ công tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty Cổ phần Hàng Kênh và được minh chứng rõ nét bằng số liệu của năm 2013.

Đối chiếu lý luận cơ bản với tình hình thực tiễn, khoá luận đã đưa ra 5 kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và phân tích chi phí – giá thành tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh. Các đề xuất đều xuất phát từ thực tiễn của doanh nghiệp nên có cơ sở và mang tính khả thi.

Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn, trình độ lý luận cũng như thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên những vấn đề nghiên cứu trong khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh.

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.s Nguyễn Đức Kiên, cùng các cô, các chị trong phòng Thống kê – kế toán tại Công ty Cổ phần Hàng Kênh đã giúp em hoàn thành bài khóa luận này.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán

One thought on “Khóa luận: Kế toán phân tích chi phí giá thành tại Cty Hàng Kênh

  1. Pingback: Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền và khoản phải thu Cty Logistics

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537