Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam hiện nay này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I: Khái quát chung về lịch sử hình thành và phát triển Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng VN
Lịch sử hình thành Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam. Có thể nói, năm 2008 với Quyết định số 107/QĐ-NH ngày 16/8/2008 do Ngân hàng nhà nước ban hành về “Thành lập trung tâm giao dịch ngoại tệ” là mốc đánh dấu cho sự hình thành một thị trường ngoại hối có tổ chức ở Việt Nam. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, đến ngày 20/9/2011 “Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” được thành lập theo Quyết định số 203/QĐ-NH thay thế cho Trung tâm giao dịch ngoại tệ. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ra đời là bước phát triển cao hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế như một tổng thể.
Như vậy, khi nghiên cứu về hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam, chúng ta có thể chia thành 2 giai đoạn, cụ thể là:
- Trước năm 2011: Giai đoạn cơ sở tạo điều kiện tiền đề để hình thành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.
- Từ năm 2011 đến nay: Giai đoạn hoàn thiện và phát triển Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Vịêt Nam.
1.1 Thời kì trước năm 2011:
Trong thời kì trước năm 1986, nền kinh tế mang tính kế hoạch hóa tập trung bao cấp, Nhà nước can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội, quyết định các chính sách kinh tế vi mô và vĩ mô theo một kế hoạch quy mô tập trung toàn quốc. Sự can thiệp này đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng của quy luật cung cầu trên thị trường, nếu có thì cũng bị bóp méo, sai lệch. Hơn nữa, hệ thống các nước Xã hội Chủ nghĩa lại áp dụng một chiến lược phát triển kinh tế hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ với bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của Nhà nước về ngoại thương và ngoại hối. Do vậy việc áp dụng chế độ tỷ giá cố định do Nhà nước độc quyền xác định, không cần tính đến những yếu tố cung cầu của thị trường. Với cơ sở kinh tế như vậy, Việt Nam cũng như các nước Xã hội Chủ nghĩa khác đều duy trì phương pháp xác định tỉ giá dựa trên cơ sở so sánh sức mua đối nội và sức mua đối ngoại giữa các đồng tiền và sau đó được quyết định bằng những thỏa thuận đa biên trong các Hiệp định thanh toán được kí kết giữa các nước Xã hội Chủ nghĩa với nhau. Sản phẩm của cơ chế xác định tỉ giá này là, các nước Xã hội Chủ nghĩa duy trì chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá, bao gồm tỷ giá mậu dịch (hay tỷ giá chính thức ), tỷ giá phi mậu dịch (bao gồm cả tỷ giá kiều hối) và tỷ giá kết toán nội bộ, đồng thời triệt tiêu môi trường và mọi điều kiện để hình thành và phát triển các thị trường nói chung, trong đó có thị trường ngoại hối. Hậu quả là đồng Việt Nam được định giá quá cao so với các đồng tiền được tự do chuyển đổi, tỷ giá chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thực tế làm cho hoạt động xuất nhập khẩu gặp khó khăn, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Sau năm 1986, đất nước ta bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước. Sự chuyển đổi này đã đem lại những thay đổi lớn lao cho bộ mặt kinh tế đất nước trong đó có thị trường ngoại hối. Tiêu biểu là việc Nhà nước lần lượt ban hành các Nghị định 53/ HĐBT về tách hệ thống ngân hàng thành 2 cấp là Ngân hàng nhà nước và hệ thống ngân hàng chuyên doanh, Nghị định số 161/HĐBT về “Điều lệ quản lí ngoại hối” cho phép Ngân hàng ngoại thương Việt Nam được phép kinh doanh ngoại hối. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam chế độ độc quyền trong kinh doanh ngoại hối được dỡ bỏ, từ nay các Ngân hàng thương mại nói chung muốn kinh doanh ngoại hối có thể làm thủ tục để Ngân hàng nhà nước cấp phép. Tuy nhiên, thời gian này nước ta vẫn duy trì tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước áp đặt nên vẫn còn khoảng cách khá xa so với sức mua thực tế của VND và thị trường ngầm. Tỷ giá mua bán của các Ngân hàng được phép dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước công bố cộng trừ biên độ 5% và chênh lệch giữa tỷ giá mua bán quy định là 0,5%.
Trước tình hình thực tế đó, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ra Quyết định số 107-NH/QĐ, ngày 16/8/2008 ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ, trên cơ sở đó hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ đã được thành lập và đi vào hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Kể từ khi đi vào hoạt động tháng 8 và tháng 11 năm 2008 cho đến khi kết thúc hoạt động vào tháng 12 năm 2011, hai trung tâm này đã có đóng góp đáng kể đối với sự hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối có tổ chức ở Việt Nam.
Trong 3 năm hoạt động, hai trung tâm giao dịch ngoại tệ đã tiến hành 692 phiên giao dịch với tổng doanh số mua bán đạt hơn 650 triệu USD.
- Bảng 2.1: Doanh số giao ḍich của 2 trung tâm giao ḍich ngọai ṭê giai đọan 2008 -2011
Từ bảng trên cho thấy, doanh số hoạt động từ năm 2008 đến năm 2010 là khá lớn, đặc biệt là năm 2010 doanh số giao dịch đạt 367211 tăng 2,7 lần so với doanh số giao dịch năm trước đó. Tuy nhiên sang đến năm 2011, doanh số giao dịch đã giảm nhẹ bởi vì đã có sự tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của các Ngân hàng thương mại lớn.
Hoạt động của 2 trung tâm đã góp phần to lớn trong việc điều hòa cung – cầu ngoại tệ, tạo ra phương thức kinh doanh giao dịch mang tính thị trường, góp phần ổn định tỷ giá, giá cả và kích thích đầu tư, tăng trưởng kinh tế.
Về tỷ giá hối đoái, thay vì sử dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước công bố, tỷ giá USD/VND tại các trung tâm này được hình thành một cách tương đối khách quan. Các bên giao dịch mua bán ngoại tệ theo phương thức đấu giá, Nhà nước chỉ can thiệp để tỷ giá biến động trong một biên độ hợp lí nhằm không gây ra những thay đổi lớn về giá cả. Tỷ giá này phản ánh tương đối chính xác cung – cầu về ngoại tệ và sức mua của VND nên đã được các Ngân hàng thương mại, các tổ chức kinh tế và cả thị trường ngầm chấp nhận một cách tự nguyện. Mặt khác, hoạt động của hai trung tâm đã tạo tập quán, kiến thức kinh doanh ngoại hối cho Ngân hàng nhà nước, các Ngân hàng thương mại và các tổ chức kinh tế, hình thành một đội ngũ cán bộ điều hành thị trường ngoại tệ, tạo điều kiện cho việc thành lập thị trường ngoại hối hoàn chỉnh sau này.
- Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạt động của hai trung tâm này còn nhiều hạn chế tồn tại bao gồm:
Trung tâm chỉ có vai trò lịch sử trong thời gian rất ngắn, tính thiết thực của nó đối với những người tham gia không cao, các phiên họp rời rạc, mua bán qua trung gian (NHNN) phải mất phí, thủ tục rườm rà, phương thức mua bán không thuận lợi như phải có mặt, đăng kí, chờ đợi,… Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Cung – cầu ngoại tệ tại hai trung tâm chưa phản ánh cung cầu ngoại tệ của toàn bộ nền kinh tế do chỉ hoạt động tại 2 thành phố lớn và phương thức giao dịch lại là trực tiếp.
Cơ chế thanh toán không khuyến khích các Ngân hàng thương mại bán ngoại tệ tại Trung tâm. Nếu muốn bán một lượng ngoại tệ lớn, các Ngân hàng thương mại không thể tìm được một người mua toàn bộ mà phải chia nhỏ lượng ngoại tệ đó ra và bán cho nhiều đơn vị kinh tế có nhu cầu mua. Khi đó việc thu hồi tiền VND từ các đơn vị mua là rất phức tạp và mất thời gian, thông thường phải mất từ 2 đến 3 ngày. Để tránh tình trạng này, các Ngân hàng thương mại thường bán ngoại tệ cho Ngân hàng nhà nước bên ngoài phiên giao dịch và thu VND ngay trong ngày, sau đó Ngân hàng nhà nước sẽ bán lại ngoại tệ cho các đơn vị kinh tế trong các phiên giao dịch. Vì thế, Ngân hàng nhà nước trở thành người trung gian trong các quan hệ mua bán làm cho vai trò điều tiết của Ngân hàng nhà nước bị mờ nhạt.
Các trung tâm không giữ được bí mật về số liệu mua vào hay bán ra của Ngân hàng nhà nước nên khi thấy Ngân hàng nhà nước bán ra nhiều thì các Ngân hàng thương mại lại càng mua nhiều hoặc thấy Ngân hàng nhà nước mua vào nhiều thì các Ngân hàng thương mại lại càng bán ra làm cho thị trường mất ổn định và gây khó khăn trong việc thống nhất điều hành tỷ giá theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước.
Hai trung tâm giao dịch ngoại tệ hoạt động tách biệt nhau và đại diện cho từng khu vực riêng nên đôi khi điều hành tỷ giá còn bị chi phối bởi UBND địa phương, vì vậy gây khó khăn trong việc thống nhất điều hành tỷ giá theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước.
Tóm lại, sự ra đời của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong việc hình thành thị trường ngoại hối có tổ chức ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hai trung tâm đã bộc lộ nhiều hạn chế đòi hỏi phải có một mô hình mới linh hoạt hơn thay thế, đáp ứng nhu cầu phát triển thị trường ngoại hối nói riêng và phát triển nền kinh tế đất nước nói chung.
1.2 Thời kì từ 2011 đến nay: Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Tháng 10 năm 2011, trước nhu cầu bức thiết trong quan hệ giao dịch, thanh toán ngoại tệ của nền kinh tế như một tổng thể, nhu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, phù hợp với quá trình phát triển thị trường tài chính toàn cầu; với các điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi như hệ thống Ngân hàng thương mại đã phát triển cao về mặt số lượng cũng như chất lượng, các điều kiện về kĩ thuật trang thiết bị cho phép trình độ giao dịch của các ngân hàng đã nâng cao, đặc biệt là điều kiện nền kinh tế dồi dào, ngày 29/10/2011 Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 203/QĐ-NH thành lập Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Về mục đích tổ chức và hoạt động:
- Nhằm hình thành thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các Ngân hàng thương mại
- Làm cơ sở cho thị trường ngoại hối hoàn chỉnh trong tương
- Thông qua Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, Ngân hàng nhà nước sử dụng Quỹ điều hòa ngoại tệ với tư cách là người mua, bán cuối cùng để can thiệp thị trường một cách có hiệu quả, nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá.
Về thủ tục gia nhập Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng:
- NHTM phải làm đơn gia nhập Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng gửi Ngân hàng nhà nước. Trong đơn phải ghi rõ số điện thoại, Fax, Telex, những người được ủy quyền giao dịch; giấy phép kinh doanh ngoại tệ, số tài khoản ngoại tệ tại SGD Ngân hàng nhà nước.
- Nếu được chấp nhận, Ngân hàng thương mại sẽ được cấp Giấy chứng nhận thành viên, mã số (CODE) giao dịch cho từng thành viên. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Về tổ chức điều hành:
- NHNN là một thành viên, đồng thời là người tổ chức, giám sát và điều hành Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
- Chủ tịch Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một lãnh đạo Ngân hàng nhà nước (Phó thống đốc). Chủ tịch là người lãnh đạo mọi hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Giám đốc sở giao dịch Ngân hàng nhà nước là người điều hành trực tiếp và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch các vấn đề sau:
- Tổ chức thực hiện Quy chế và Nội quy giao dịch trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
- Trên cơ sở tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước công bố, quy định tỷ giá mua bán của Ngân hàng nhà nước với các thành viên.
- Tổng hợp và báo cáo Thống đốc về tình hình hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
- Tập hợp Ý kiến của các thành viên, dự thảo trình Thống đốc những nội dung cần bổ sung sửa đổi về Quy chế tổ chức và hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
So với hoạt động của 2 trung tâm giao dịch ngoại ṭê trước kia, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng có những ưu điểm vựơt tṛôi hơn. Đó là:
Sau thời gian hoạt động từ tháng 10/2011, trước những thay đổi về tổ chức và hoạt động ngân hàng nói chung, đặc biệt khi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng được ban hành vào tháng 12/2013, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ở trình độ cao hơn, chặt chẽ hơn, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ra Quyết định số 101/2015/QĐ-NHNN 13, ngày 26/3/2015 về Quy chế tổ chức và hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thay thế cho Quyết định số 203/QĐ-NH13, ngày 29/9/2011. So với quy chế cũ, quy chế mới có nhiều thay đổi theo hướng cụ thể hơn, mở rộng điều kiện để trở thành thành viên, đồng tiền giao dịch, các nghiệp vụ và phương thức giao dịch,… Trước đây, chỉ có các Ngân hàng thương mại được phép tham gia Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì nay tất cả các tổ chức có giấy phép kinh doanh ngoại tệ đều có thể trở thành thành viên của thị trường. Tất cả các ngoại tệ đều đã được phép giao dịch trên thị trường thay vì chỉ có 6 loại ngoại tệ. Nghiệp vụ hoán đổi đã được phép áp dụng trong giao dịch bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống giao ngay và kì hạn. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Tuy nhiên, trước NĐ101/2015 của Ngân hàng nhà nước thì ngày 17/8/2014, Chính phủ đã ra Nghị định số 63/2014/NĐ-CP về quản lí ngoại hối, thay thế NĐ 161/HĐBT ban hành năm 2005. Có thể nói, Nghị định quản lí ngoại hối đã đưa ra một khung pháp lí hoàn chỉnh đối với việc quản lí và sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch thanh toán quốc tế, hướng đến mục tiêu “trên lãnh thổ Việt Nam chỉ dùng tiền Việt Nam” mà cụ thể là phân định rõ người cư trú và không cư trú, giao dịch vãng lai và giao dịch vốn, quy định cách xác định tỷ giá,…Đây cũng chính là tiền đề của Pháp lệnh ngoại hối năm 2021 sau này. Trải qua gần 10 năm thực hiện, NĐ 163/2014/NĐ-CP tỏ ra nhiều bất cập, không bắt kịp tiến trình hội nhập, Quốc hội đã chính thức ban hành Pháp lệnh số 28/2021PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2021 về hoạt động ngoại hối, có hiệu lực thi hành ngày 1/6/2022. Như vậy, kể từ đây thị trường ngoại hối nói chung và Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam nói riêng đã có một văn bản pháp lí quy định khá đầy đủ, mang tính thống nhất trong việc quản lí hoạt động kinh doanh ngoại hối. Bất kể thành viên là các ngân hàng khi tham gia thị trường thì đều có quyền lợi, trách nhiệm bình đẳng trong việc tuân thủ quy định của Nhà nước.
Tuy nhiên, Pháp lệnh Ngoại hối 2021 cũng chưa thực sự đã hoàn thiện mà vẫn còn nhiều điểm chưa thật hợp lí như một mặt Pháp lệnh cho phép người gửi ngoại tệ được rút bằng ngoại tệ, mặt khác cũng chính pháp lệnh “Nghiêm cấm triệt để các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo bằng ngoại tệ giữa các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam; hạn chế đến chấm dứt việc các tổ chức được bán hàng, cung cấp dịch vụ thu ngoại tệ tại Việt Nam” hay pháp lệnh quy định hạn chế sử dụng ngoại hối ngoại trừ những giao dịch của một số chủ thể nhất định như ngân hàng, công ty tài chính có giấy phép hoạt động ngoại hối (theo điều 22) nhưng trên thực tế, nhiều cá nhân, tổ chức sử dụng ngoại tệ như một công cụ thanh toán với nhau và việc khống chế các giao dịch được phép trên thị trường,…Trong quá trình thực hiện, Ngân hàng nhà nước đã có những điều chỉnh kịp thời, linh hoạt trong công tác chỉ đạo để thị trường hoạt động hiệu quả hơn. Đặc biệt là những điều chỉnh về tỷ giá liên ngân hàng, nới lỏng hay thu hẹp biên độ tỷ giá năm 2025 và những tháng đầu năm 2026 và dự thảo thông tư về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối hướng dẫn Nghị định 160/2022/NĐ-CP và thay thế Quyết định số 1452/2020/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái. Thực tế cũng đã chứng minh những phát triển vượt bậc của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập với thị trường tài chính toàn cầu cũng như những nỗ lực của Nhà nước trong việc hoàn thiện hành lang pháp lí cho hoạt động của thị trường.
Tóm lại, từ sau năm 2011 đến nay khi Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đi vào hoạt động thị trường ngoại hối Việt Nam đã có nhiều nét khởi sắc và dần hoàn thiện, từng bước thống nhất thị trường ngoại tệ chính thức và thị trường tự do. Thông qua tình hình hoạt động thực tế, Ngân hàng nhà nước đã và đang từng bước thực hiện tự do hóa cơ chế quản lí ngoại hối, lãi suất và tỷ giá hối đoái nhằm đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nói riêng và thị trường ngoại hối nói chung.
II: Thực trạng phát triển Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
2.1 Diễn biến thị trường
Sau khi được thành lập năm 2011, hoạt động Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ diễn biến tỷ giá cũng như các mốc cải cách tỷ giá của Ngân hàng nhà nước qua từng thời kì. Tháng 2/2015, với sự ra đời của Quyết định 64/QĐ- Ngân hàng nhà nước 7 cơ chế tỷ giá của Việt Nam có bước cải cách triệt để hơn. Nếu như trước đó, cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam là cơ chế can thiệp trực tiếp bằng cách ấn định tỷ giá chính thức với biên độ giao dịch lên đến ±10% nhưng bắt đầu từ tháng 2/2015, Ngân hàng nhà nước đã bãi bỏ việc công bố tỷ giá chính thức và thay vào đó là việc công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại được phép xác định tỷ giá mua và tỷ giá bán đối với USD không được vượt quá 0,1% so với tỷ giá bình quân giao dịch liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước công bố hàng ngày. Xét về mặt lí thuyết, đây là bước cải cách có tính chất chuyển từ cơ chế tỷ giá được xác định một cách chủ quan theo ý chí chủ quan của Ngân hàng nhà nước sang ṃôt cơ chế tỷ giá đựơc xác định trên cơ sở cung cầu thị trường.
- Bảng 2.2 : Doanh số giao dịch trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2012 – 2015
Như ṿây, doanh số giao dịch đã liên tục tăng trong 3 năm đầu từ khi thành ḷâp Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cho thấy triển vọng phát triển rất lớn của thị trường trong tương lai. Tuy nhiên, đến cuối năm 2014 đầu năm 2015, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á mà thị trường rơi vào tình tṛang khan hiếm ngoại ṭê. Doanh số giao dịch trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cũng giảm sút so với trước (giảm 7%). Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Cuối năm 2015, nền kinh tế các nước châu Á dần hồi phục, Vịêt Nam là nước ít chịu tác động nhất trong cuộc khủng hoảng nên đã nhanh chóng lấy ḷai đà phát triển. Cùng với một số chính sách của chính phủ như khuyến khích xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài chuyển từ cơ chế “tỷ giá chính thức” sang cơ chế “tỷ giá giao dịch bình quân trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” đã làm cho hoạt động kinh doanh ngoại ṭê của các Ngân hàng thương mại sôi nổi trở lại. So với năm 2012, doanh số giao dịch của năm 2016 ước tính tăng 2,34 lần. Từ năm 2012 đến năm 2016, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 27%.
Từ năm 2015 đến nay, tỷ giá giao ngay được tính toán theo cơ chế tỷ giá giao dịch bình quân trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và luôn có sự điều chỉnh theo hướng nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá. Đến năm 2022, biên độ này đựơc quy định ḷai ở mức 0,25% cao hơn mức 0,2% áp dụng từ năm 2015. Điều này chứng tỏ cơ chế của Nhà nước đã có những thay đổi có ḷơi cho ṣư phát triển của thị trường. Từ năm 2020 đến năm 2022, hoạt động kinh doanh ngoại ṭê ngày càng sôi động. Chỉ tính riêng doanh thu kinh doanh ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại ṭai Hà Ṇôi năm 2022 đã đạt 78 tỷ USD, tăng gần 15% so với năm 2021.
Đến đầu năm 2023, Ngân hàng nhà nước Vịêt Nam đã có quyết định số 2554/QĐ-NHNN ngày 02/01/2023 thay thế QĐ số 679/2019/QĐ-NHNN ngày 01/07/2019 về vịêc nới ṛông biên độ tỷ giá. Theo đó, biên độ tỷ giá là ±0,25%.
- Bảng 2.3: Tốc đ̣ô tăng doanh số giao ḍich ngọai ṭê của các Ngân hàng thương mại Vịêt Nam trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, giai đọan 2020 – 2025
Trong bối cảnh cung cầu ngoại ṭê trên thị trường diễn biến phức ṭap, có những thời điểm biến động đột biến, Ngân hàng nhà nước ḳip thời bám sát diễn biến thị trường, thường xuyên theo dõi, c̣âp nhật thông tin và đánh giá các dòng vốn vào, ra để có chính sách điều hành tỷ giá thích hợp. Cụ thể theo Báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước năm 2024, Ngân hàng nhà nước đã 3 lần mở ṛông biên độ tỷ giá giao dịch giữa đồng Vịêt Nam và đô la Mỹ, đưa biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên ±1%, ±2% và ±3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Ṃăc dù gặp nhiều khó khăn nhưng hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng năm 2024 tiếp ṭuc sôi động với quy mô và doanh số giao dịch tăng cao. Doanh số giao dịch giữa các ngân hàng tăng 25% so với năm 2023. Trong đó, doanh số giao dịch giao ngay tăng 26%, các giao dịch kì hạn, hoán đổi tăng 13%. Các ngân hàng đã tiếp cận và sử dụng nhiều hơn các nghịêp ṿu giao dịch để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối.
Cả năm 2024, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng có 79 thành viên tham gia, tăng 14 thành viên so với năm 2023. Các ngân hàng thành viên tham gia một cách tích cực đã góp phần làm tăng thêm ṣư sôi nổi của thị trường.
NHNN đã thực hịên mua bán ngoại ṭê ṃôt cách kịp thời như một người mua bán cuối cùng trên thị trường để ổn định tỷ giá, đáp ứng nhu cầu ngoại ṭê để nhập khẩu các ṃăt hàng thiết yếu và nhu cầu chuyển đổi ngoại ṭê của các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh giao dịch mua, bán ngoại tệ giao ngay, Ngân hàng nhà nước cũng đã thực hịên các giao dịch mua và bán lại ngoại tệ với một số ngân hàng để hỗ trợ cân đối nguồn VND cho các Ngân hàng thương mại.
Đầu năm 2025 vừa qua, nhiều doanh nghịêp xuất khẩu không chịu bán lại USD cho ngân hàng, trong khi các doanh nghịêp nhập khẩu ḷai có nhu cầu mua rất ṃanh, cung cầu mất cân đối đã khiến thị trường ngoại hối nhiều lúc rơi vào cảnh “đóng băng”. Các ngân hàng thương mại không có nguồn USD nên không thể bán cho doanh nghiệp. Để có USD thanh toán, doanh nghiệp phải mua ngoài thị trường tự do với tỷ giá cao hơn nhiều so với giá các ngân hàng công bố. Hơn nữ a trong thời điểm đó , tâm lý găm giữ ngoại ṭê (USD) tăng ṃanh khiến người dân đổ xô đi mua dự trữ chờ giá lên. Các yếu tố đó đã khiến thị trường ngoại hối càng ngày càng trở nên căng thẳng hơn. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Để đối ṃăt với tình tṛang khan hiếm ngoại ṭê, Ngân hàng nhà nước đã có những bịên pháp can thịêp ṃanh lên tỷ giá hối đoái. Tháng 9/2025, tỷ giá liên ngân hàng tăng từ mức 16.976VND/USD lên 17.004VND/USD. Tỷ giá liên ngân hàng tăng lên đã tạo cơ hội cho giá mua – bán USD tại Ngân hàng thương mại tiến gần hơn với giá USD trên thị trường tự do. Ṃăc dù tỷ giá liên ngân hàng tăng liên tiếp nhưng ṭai nhiều Ngân hàng thương mại, tỷ giá mua – bán vẫn niêm yết ở mức ḳich trần. Với biên độ ± 5% so với tỷ giá liên ngân hàng, tại Vietcombank, Eximbank, ACB, tỷ giá mua vào – bán ra USD vẫn niêm yết ở mức trần 17.954VND/USD.
Ngày 10/2/2026, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Vịêt Nam ban hành Thông tư số 03/2026/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế ṭai Tổ chức tín dụng và quyết định điều chỉnh tỷ giá bì nh quân liên ngân hàng. Theo đó, kể từ ngày 11-2-2026, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) tại tổ chức tín dụng tối đa là 1%/năm. Đối với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bằng đô la Mỹ phát sinh trước thời điểm thông tư có hiệu lực thi hành, thì được tiếp tục thực hiện cho đến hết thời hạn đã thoả thuận. Việc quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD là 1%/năm đã tạo sự chênh lệch lớn so với lãi suất tiền gửi VND (hiện phổ biến là 10,49%/năm) khiến việc nắm giữ USD không còn hấp dẫn. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh tỷ giá cũng thỏa mãn kỳ vọng của người dân và kéo tỷ giá trên thị trường chính thức theo sát thị trường tự do, nhờ đó nguồn ngoại tệ chảy vào ngân hàng chắc chắn sẽ tăng lên. Thực tế, tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ngày 23/2 do Ngân hàng nhà nước công bố ở mức 18.544 đồng/USD. Còn tỷ giá giao dịch tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương (Vietcombank) chi nhánh Hà Nội ở mức mua vào, bán ra 18.800 đồng/USD, 19.100 đồng/USD; trên thị trường tự do ở mức mua vào 19.420 đồng/USD, bán ra 19.470 đồng/USD.
NHNN cũng quy định tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng cho ngày 11/2/2026 là 18.544VND/USD. Như ṿây, so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng ngày 10/2 tăng thêm 603 VND/USD (tương ứng tăng 3,36%). Tỷ giá ngoại tệ liên ngân hàng là mức tham chiếu để các Ngân hàng thương mại ấn định giá kinh doanh của m̀inh bằng cách cộng hoặc trừ thêm biên độ. Với biên độ biến động tỷ giá là ± 3%, ngân hàng có thể mua – bán USD với giá trần là 19.100 VND/USD. Đây cũng là lần thứ hai trong vòng gần 3 tháng đầu năm 2026, trong khi lần thay đổi thứ nhất vào ngày 26/11/2025, tỷ lệ phá giá là 5,44%, đồng thời Ngân hàng nhà nước thu hẹp biên độ giao động của tỷ giá từ 5% xuống 3%. Như ṿây, Ngân hàng nhà nước đã liên ṭuc tăng tỷ giá liên ngân hàng, tổng c̣ông hai lần tăng gần 9%. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào.
2.2 Tḥưc trạng triển khai các giao dịch ngoại hối cơ bản trên thị trường Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Trên thế giới hịên nay đã triển khai 5 loại nghiệp vụ giao dịch ngoại hối cơ bản trong khi Vịêt Nam mới chỉ tiến hành triển khai 4 loại đó là: giao ngay, kì hạn, hoán đổi và quyền chọn.
- Giao dịch giao ngay
Trên thực tế, giao dịch giao ngay đươc tiến hành ngay khi Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vừa bắt đầu đi vào hoạt động và đến nay vẫn luôn chứng tỏ vai trò quan tṛong của nó trên cả thị trường bán lẻ và Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Doanh số giao ngay luôn chiếm ṃôt tỷ ḷê lớn trong tổng doanh số giao dịch của thị trường.
- Bảng 2.4: Doanh số giao dịch giao ngay giai đọan 2012-2016
Qua bảng trên có thể thấy giao dịch giao ngay luôn chiếm ṃôt tỷ tṛong lớn trong tổng số giao dịch trên thị trường ngoại hối, trong đó giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng là chủ yếu (chiếm trên 70%), giao dịch giữa các ngân hàng với nhau chỉ đạt 26,6%. Trên thị trường các ngân hàng thực hịên giao dịch giao ngay chủ yếu để phục ṿu khách hàng của mình là các công ty xuất nhập khẩu chứ chưa thực hiện tốt nghiệp vụ kinh doanh cho chính m̀inh để kiếm lời và bảo đảm an toàn tṛang thái ngoại hối.
Quyết định 679/2018/QĐ-NHNN ngày 1/7/2018, quy định tỷ giá giao ngay VND/USD đựơc công bố vào ngày làm vịêc đầu tiên của ngân hàng và đựơc xác định dự a trên tỷ giá bình quân liên ngân hàng với biên độ dao động 1%. Tỷ giá các đồng tiền còn lại với VND xác định bằng phương pháp tính tỷ giá chéo.
Như ṿây, trong những năm gần đây, doanh số giao dịch giao ngay vẫn liên ṭuc tăng trưởng, cụ thể là trong vòng 5 năm từ 2020-2025 doanh số đã tăng gấp 4 lần. Tuy nhiên, tỷ lệ giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vẫn còn rất hạn chế và so với doanh số giao tr̀inh trung bình hàng ngày của giao dịch giao ngay quốc tế thì rõ ràng thị trường giao ngay ở Vịêt Nam là rất nhỏ.
- Giao dịch kỳ hạn Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Trái ngược với sự sôi động của giao dịch giao ngay, ṃăc dù trong quy chế tổ chức và hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ban hành năm 2011, giao dịch kì hạn đã đựơc coi như là ṃôt nghịêp ṿu của thị trường nhưng trong những năm đầu mới thành ḷâp giao dịch giao ngay vẫn chiếm 100% tổng doanh số giao dịch của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Giao dịch kì hạn chính thức đựơc đưa vào hoạt động ở Vịêt Nam từ đầu năm 2015 với cơ sở pháp lí là Quyết định 17/2014-QĐ/NHNN về ban hành quy chế giao dịch hối đoái. Thành viên chủ yếu tham gia thị trường này là các doanh nghiệp có nguồn thu hoặc có nhu cầu ngoại tệ hợp pháp có mong muốn bảo hiểm rủi ro tỷ giá, lãi suất và các Tổ chức tín dụng đựơc phép kinh doanh ngoại ṭê thực hịên giao dịch với ṃuc đích phục ṿu nhu cầu của khách hàng, bảo hiểm rủi ro tỷ giá và kinh doanh sinh lời. Trong năm 2015, Ngân hàng nhà nước tiếp tục ra Quyết định số 65/2015 QĐ-NHNN về vịêc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại ṭê k̀i hạn, hoán đổi của các Tổ chức tín dụng được phép hoạt động giao dịch kì hạn, hoán đổi. Sau đó, Ngân hàng nhà nước liên tiếp ra các Quyết định 289/2016 sửa đổi QĐ 65, QĐ 1198, QĐ 679 về ṃôt số quy định liên quan đến giao dịch ngoại ṭê của các Tổ chức tín dụng đựơc phép kinh doanh ngoại ṭê. Theo quy định này, kì hạn giao dịch đối với giao dịch kì hạn và hoán đổi tối thiểu là 7 ngày và tối đa 180 ngày. Tỷ giá kì hạn tối đa không vượt quá mức trần của tỷ giá giao ngay tại thời điểm kí hợp đồng cộng với tỷ lệ phần trăm cho phép được quy định c̣u thể.
Với các văn bản pháp lí trên thị trường kì hạn dần đi vào hoạt động nhưng thực tế sau 5 năm ṿân hành doanh số của cả giao dịch kì hạn và hoán đổi mới chỉ bằng 4 – 6% doanh số mua bán ngoại ṭê giao ngay. Các giao dịch chủ yếu tập trung vào các kì hạn ngắn (7 – 60 ngày), cơ cấu giao dịch bất hợp lý, các Tổ chức tín dụng bán kì hạn ngoại tệ là chủ yếu, doanh số bán thường bằng 3 – 6 doanh số mua, đối tựơng giao dịch ṭâp trung vào các ngân hàng nước ngoài. QĐ 648/2020 bổ sung QĐ 679 đổi mới về thời hạng giao dịch và cách thức quản lý tỷ giá. Thời hạn giao dịch cũ bị xóa bỏ mà thực hịên theo thông ḷê quốc tế, thời hạn giao dịch đồng Vịêt Nam với ngoại ṭê đựơc mở ṛông lên mức 3 – 365 ngày và không còn bị giới hạn c̣u thể từng khoảng kì hạn nhỏ. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Về quản lý tỷ giá, tỷ giá kì hạn được các Tổ chức tín dụng và doanh nghiệp tự do xác định và thỏa thuận trong phạm vi mức tỷ giá kì hạn được tính theo thông lệ quốc tế, trên cơ sở chênh ḷêch giữa hai mức lãi suất hịên hành của hai đồng tiền giao dịch là VND và USD.
Mức tỷ giá kì hạn của các ngoại ṭê khác không phải USD và các ngoại ṭê với nhau do tổng giám đốc các Tổ chức tín dụng trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng theo thông ḷê quốc tế.
- Bảng 2.5: Tỷ trọng giao ḍich k̀i ḥan trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Vịêt Nam giai đọan 2015-2025
Từ bảng trên ta thấy tỷ tṛong giao dịch Forward còn chiếm tỷ tṛong rất nhỏ so với giao dịch giao ngay. Hơn nữa, ở đây còn có sự mất cân đối giữa mua vào và bán ra trong bản thân giao dịch kì hạn. Trong khi mua k̀i hạn chỉ chiếm khoảng 23% thì bán kì hạn ngoại tệ chiếm tới gần 77%. Điều này chứng tỏ ngoài ṃuc đích phòng ngừa rủi ro tỷ giá, các đơn vị kinh tế tham gia hợp đồng kì hạn chủ yếu nhằm có được ngoại tệ trong tương lai để thanh toán cho nước ngoài.
Ṃăt khác, trên thực tế, tỷ trọng Ngân hàng thương mại bán kì hạn lớn hơn rất nhiều so với tỷ trọng mua kì hạn, do đó có thể thấy rằng thị trường ngoại hối Vịêt Nam luôn ở tình tṛang khan hiếm ngoại ṭê, buộc các đơn ṿi phải tìm cách mua kì hạn ngoại ṭê phòng bất trắc khan hiếm ngoại tệ trên thị trường giao ngay. Giai đoạn 2020-2023, giao dịch mua kỳ hạn chỉ chiếm 26% trong khi giao dịch bán kỳ hạn chiếm 74%. Thị trường giao dịch kỳ hạn chưa phát triển do tỷ tṛong doanh số giao dịch kỳ hạn ṭai các Ngân hàng thương mại ít thay đổi, dao động ở 6-8% doanh số giao dịch ngoại hối. Tăng trưởng bình quân của giao dịch kỳ hạn là 14%, ṃôt con số rất khiêm tốn so với thế giới (56,05%).
- Giao dịch hoán đổi Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Đối với giao dịch hoán đổi, năm 2013, Ngân hàng nhà nước ban hà nh Quyết định 430/2013 về thực hịên giao dịch hoán đổi giữa Ngân hàng nhà nước với Ngân hàng thương mại. Trong quy chế hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cũng xác định Swap là ṃôt nghịêp ṿu của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Tuy nhiên đến tháng 7/2017 giao dịch hoán đổi mới đựơc đưa vào triển khai trong hệ thống ngân hàng. Theo QĐ số 1033/QĐ-NHNN ngày 15/8/2017 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước áp dụng từ 16/08/2017 về tỷ lệ hoán đổi ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước với các Ngân hàng thương mại như sau:
Như ṿây, so với QĐ 894 thì QĐ 1033 đã có những thay đổi đáng kể về tỷ ḷê hoán đổi ngoại ṭê. Theo đó, mức gia tăng tỷ giá hoán đổi ngày càng bị thu hẹp để sát với tỷ giá thị trường hơn nhưng vẫn còn ở mức cao gây bất lợi trong giao dịch khi tính điểm Swap.
- Bảng 2.6: Mức gia tăng tỷ giá Swap ṭai Vịêt Nam
Năm 2020, Ngân hàng nhà nước ra quyết định 648/2020/QĐ-NHNN thay đổi ṃôt số nội dung như mở ṛông thời gian giao dịch và xóa bỏ mức trần tỷ giá và tỷ ḷê gia tăng, các bên tự do thỏa thuận. Tuy nhiên giao dịch chỉ đựơc áp dụng giữa Ngân hàng nhà nước với các Ngân hàng thương mại chứ chưa cho phép giao dịch với các Tổ chức tín dụng khác. Vì ṿây, giao dịch Swap vẫn còn hạn chế, doanh số giao dịch chiếm tỷ tṛong nhỏ trong tổng giao dịch ngoại ṭê của Ngân hàng thương mại.
- Bảng 2.7: Doanh số giao ḍich Swap của Ngân hàng Nông nghịêp và phát triển nông thôn giai đoạn 2022-quý 1/2026
Ngân hàng Nông nghịêp và phát triển nông thôn là ngân hàng lớn nhất Vịêt Nam hịên nay mà doanh số giao dịch Swap năm 2023 cũng chỉ đạt 1213,5 trịêu USD, giảm 28,5% so với năm 2022 là do cuối năm 2022 đầu năm 2023, các Ngân hàng thương mại lại thiếu ngoại tệ để kinh doanh và thừa VND khiến giao dịch hoán đổi ngoại tệ với Ngân hàng nhà nước cũng giảm sút. Năm 2024, doanh số giao dịch bắt đầu tăng trở ḷai và có xu hướng tăng dần đều trong các năm tiếp theo. Sở dĩ như ṿây là do vịêc Ngân hàng nhà nước đã cho phép giao dịch hoán đổi ngoại ṭê giữa các Tổ chức tín dụng với nhau. Hịên nay, các Ngân hàng thương mại được phép cung cấp dịch vụ hoán đổi khi có nhu cầu nhưng phải có đề nghị bằng văn bản đến Ngân hàng nhà nước trong đó nêu rõ tình hình thiếu hụt VND và số lựơng cần thiết; cam kết những vấn đề khác liên quan trong giao dịch. Khi chấp nhận, Ngân hàng nhà nước thỏa thuận mua USD của các Ngân hàng thương mại Vịêt Nam bằng giao dịch giao ngay theo tỷ giá spot của Ngân hàng nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng swap tại ngày xác định giao dịch swap qua hệ thống Reuter đồng thời bán ḷai lựơng USD đã mua của Ngân hàng thương mại khi đáo hạn. Ṃăc dù ṿây, doanh số giao dịch hoán đổi vẫn chỉ chiếm 5-10% tổng doanh số giao dịch ngoại ṭê của các Ngân hàng thương mại. Tỷ trọng giao dịch swap không đều, doanh số giao dịch nhỏ, ṭâp quán kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Vịêt Nam nhất là thiếu kiến thức về nghịêp ṿu hoán đổi là khó khăn rất lớn đối với vịêc phát triển nghịêp ṿu này hội nhập với thị trường quốc tế.
- Giao dịch quyền chọn Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Với giao dịch quyền chọn, ṃăc dù trên thế giới đã xuất hịên từ những năm 70 nhưng đến đầu năm 2019 Vịêt Nam mới chỉ đựơc áp dụng thí điểm. Theo quy định, các ngân hàng đựơc phép kinh doanh ngoại hối phải có vốn ṭư có tối thiểu 200 tỷ VND, kinh doanh ngoại ṭê có lãi trong năm gần nhất, doanh số mua bán ngoại ṭê /VND năm 2018 đạt tối thiểu 1 tỷ USD, có đề án chi tiết và quy định của ngân hàng về quy trình nghiệp vụ quyền chọn trong đó có các bịên pháp phò ng ngừa rủi ro tỷ giá.
Tháng 12/2019, Ngân hàng Eximbank là ngân hàng đầu tiên thí điểm thực hịên nghịêp ṿu này. Thời gian thí điểm là 6 tháng. Quy tr̀inh giao dịch chỉ đựơc dùng ngoại ṭê ṭư do chuyển đổi như USD, EUR, JPY,… không đựơc sử dụng VND. Giới hạn số dư cao nhất là 500000 USD hoặc ngoại ṭê khác có giá tṛi tương đương và chỉ đựơc thực hịên với các doanh nghiệp đóng tại Việt Nam. Trong thời hạn hịêu ḷưc của hợp đồng, doanh nghịêp phải xuất trình cho ngân hàng chứng từ theo quy định quản lý ngoại hối hiện hành. Thời hạn giao dịch từ 7 ngày tối đa 3 tháng. Trong thời hạn hịêu ḷưc của hợp đồng doanh nghịêp có quyền yêu cầu thực hịên quyền ḷưa chọn theo giá tṛi đã thỏa thuận.
- Bảng 2.8: Tình hình thực hiện giao dịch quyền chọn tại Eximbank giai đọan 2019-2023
Từ sau khi áp dụng thí điểm nghịêp ṿu quyền chọn, số lựơng hợp đồng cũng như trị giá hợp đồng liên tục tăng qua các năm. Chỉ sau 5 năm thực hịên, trị giá giao dịch năm 2023 đã tăng gấp 3,5 lần so với năm 2019 và số lượng hợp đồng cũng tăng gần gấp đôi.
Tháng 8/2021, Ngân hàng nhà nước cho phép 2 ngân hàng nữa đựơc phép sử dụng nghịêp ṿu quyền chọn là Vietcombank và VIBank. Tháng 12/2021, có thêm ACB, BIDV, Techcombank và Ngân hàng cổ phần quân đội.
Cùng với việc cho phép thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, Ngân hàng nhà nước cũng dần dần từng bước hoàn thịên hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại hối sử dụng hợp đồng quyền chọn. Cụ thể là năm 2020, Ngân hàng nhà nước đã ban hành QĐ 1452 về giao dịch hối đoái của các Tổ chức tín dụng trong đó lần đầu tiên cho phép các cá nhân được thực hiện giao dịch kì hạn và quyền chọn với các ngân hàng. Khi tham gia, các cá nhân tổ chức không cần nói rõ sử dụng ngoại tệ này để mua hay hoán đổi ngoại tệ khác ngoại tệ khác để làm gì. Tại Quyết định này, giao dịch quyền chọn chỉ bao gồm giao dịch giữa các ngoại tệ (không liên quan đến Đồng Việt Nam). Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Tuy nhiên, ngày 23/3/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành văn bản yêu cầu các ngân hàng thương mại dừng thực hiện thí điểm nghiệp vụ option (quyền chọn) tiền đồng kể từ. Theo văn bản vừa ban hành, hiện Ngân hàng nhà nước đã dự thảo thông tư về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối hướng dẫn Nghị định 160/2022/NĐ-CP và thay thế Quyết định số 1452/2020/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái.
Do đó, Ngân hàng nhà nước yêu cầu các Ngân hàng thương mại đã được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ chấm dứt việc thực hiện nghiệp vụ này kể từ ngày 23/3/2025. Các hợp đồng quyền chọn giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ đã ký trước ngày 23/3/2025 vẫn được thực hiện như đã ký kết.
Thông qua việc thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, Ngân hàng nhà nước đã tiến hành tổng hợp tình hình và có những đánh giá cả mặt được, mặt chưa được, những thuận lợi và vướng mắc, khó khăn, từ đó nghiên cứu, xây dựng và ban hành quy chế áp dụng đối với nghiệp vụ này để các ngân hàng thương mại triển khai, thực hiện.
Ưu điểm của hợp đồng quyền chọn là cung cấp cho các ngân hàng, các doanh nghịêp nhiều công cụ tài chính, nhiều sự lựa chọn hơn để phòng ngừa rủi ro tài chính doanh nghiệp thông qua việc hạn chế tác động bất lợi rủi ro tỷ giá. Dưới góc độ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giữa hai loại hợp đồng kỳ hạn (Forward) và hợp đồng quyền lựa chọn (Option) có những điểm giống nhau. Vì chúng đều cho phép người tham gia xác định được một tỷ giá tối đa (nếu mua) hoặc tối thiểu (nếu bán) trong tương lai, chủ động tính toán được chi phí, tính toán được hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, hai loại hợp đồng này có sự khác biệt nhau về căn bản. Trong hợp đồng Forward, khi đến hạn hợp đồng, các bên tham gia phải thực hiện hợp đồng. Các bên tham gia không có bất kỳ sự lựa chọn nào khác dù biết rằng điều đó là không có lợi cho mình. Ngược lại, trong hợp đồng Option, các bên tham gia không nhất định phải thực hiện hợp đồng. Bên mua quyền chọn sau khi trả phí mua quyền có quyền có sự lựa chọn khác nếu họ tính toán thấy việc thực hiện quyền chọn không có lợi cho mình. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Nhựơc điểm của hợp đồng quyền chọn là mối quan tâm của Doanh nghịêp – người mua quyền và ngân hàng – người bán quyền là mối quan tâm, kỳ vọng ngược chiều nên chỉ khi nào tỷ giá biến động với biên độ dao động lớn thì việc thực hiện giao dịch quyền lựa chọn mới kỳ vọng mang lại hiệu quả. Vì phí giao dịch của ngân hàng luôn biến động khoảng trên dưới 1% giá trị thực hiện, mà như trên đã đề cập, sự biến động giảm giá của VND so với USD từ đầu năm đến tháng 3 năm 2019 chỉ có 0,33% thì rõ ràng việc doanh nghiệp mua quyền chọn lựa chưa trở thành một nhu cầu bức thiết, chưa kể tỷ giá USD/VND chỉ có tăng (VND mất giá) chứ không giảm mấy, chỉ có vài đợt giảm nhưng rất nhẹ. Chỉ có các đồng ngoại tệ như USD, EUR, GBP, JPY, . . . mới có biên độ giao động lớn.
Ngoài ra, trong giai đoạn thí điểm, ngân hàng Nhà nước chỉ mới cho phép EXB thực hiện hợp đồng Option giữa ngoại tệ với ngoại tệ, chưa cho phép giao dịch VND với ngoại tệ cũng là một hạn chế không cần thiết. Với qui định Ngân hàng Nhà nước chỉ cho giao dịch quyền lựa chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ, nên các doanh nghịêp muốn thực hiện nghiệp vụ giao dịch hối đoái này giữa VND với ngoại tệ phải đi đường vòng thông qua một ngoại tệ tự do chuyển đổi khác bằng cách dùng VND mua ngoại tệ (như EUR hoặc JPY) rồi mới dùng ngoại tệ này tiến hành giao dịch hợp đồng Option với đồng tiền mà mình cần mua. Việc làm này gây cho doanh nghịêp nhiều khó khăn vì phải thông qua dự đoán sự biến động của hai đồng tiền, điều này chỉ thích hợp nhiều khi doanh nghịêp có ý định kinh doanh chênh lệch tỷ giá.
Về mặt pháp lý, hiện chỉ có văn bản của Ngân hàng Nhà nước cho phép EXB thực hiện thí điểm hợp đồng quyền lựa chọn. Các cơ quan khác như Bộ thương mại, Bộ tài chính (Tổng cục thuế) chưa có những văn bản làm rõ, xác nhận nghiệp vụ này như một hoạt động kinh doanh tài chính của doanh nghịêp. Việc này có thể gây khó khăn khi doanh nghịêp ghi nhận chi phí, nhất là trong trường hợp không thực hiện quyền lựa chọn. Việc không có các văn bản của các cơ quan khác điều chỉnh nghiệp vụ này còn gây cản ngại tâm lý cho các doanh nghiệp nhà nước, chứ vấn đề không nằm ở kiến thức, sự hiểu biết về nghiệp vụ giao dịch hối đoái này.
2.3 Ảnh hưởng chính sách quản lý ngoại hối và điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng nhà nước lên hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Có thể nói, chính sách quản lí ngoại hối của Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cũng như xu hướng phát triển Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của một quốc gia. Nếu Nhà nước kết hợp và vận dụng linh hoạt, đúng lúc, đúng cách các công cụ quản lí ngoại tệ của các ngân hàng với các công cụ khác của thị trường tài chính – tiền tệ thì chắc chắn sẽ thu được hiệu quả lâu dài, bền vững. Một số công cụ mà Nhà nước hay sử dụng khi điều chỉnh tỷ giá và chính sách quản lí ngoại hối quốc gia là công cụ lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, quy định tỷ lệ dự trữ ngoại tệ bắt buộc, tỷ lệ kết hối,…
Ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2014, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng mới đi vào hoạt động, doanh số giao dịch rất thấp, số lượng giao dịch bị hạn chế thì nguyên nhân xuất phát không chỉ từ phía các ngân hàng Việt Nam là quy mô nhỏ, trình độ phát triển chưa cao mà còn do chính sách quản lí ngoại hối của Nhà nước còn mang nặng tính áp đặt, mệnh lệnh, cách quy định tỷ giá ngoại tệ không phản ánh thực chất quan hệ cung – cầu thị trường.
Tuy nhiên, khi hành lang pháp lí cho hoạt động kinh doanh ngoại hối dần được hoàn thiện và cụ thể hóa bằng các Nghị định và sau khi có sự ra đời của Pháp lệnh ngoại hối Việt Nam năm 2021 thì chính sách quản lí ngoại hối của Việt Nam đã nhất quán hơn, các Ngân hàng thương mại chịu sự giám sát của Ngân hàng nhà nước trong kinh doanh ngoại tệ. Bên cạnh đó, cùng với những lần điều chỉnh tỷ giá và biên độ thì kèm theo đó là việc tăng, giảm lãi suất hay sử dụng nghiệp vụ mua, bán trái phiếu chính phủ để hạn chế những tác động ngược chiều và kết quả là tỷ giá trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng từng bước phản ánh cung – cầu thực tế, thu hẹp khoảng cách tỷ giá với thị trường tự do, các ngân hàng có thể sử dụng nhiều công cụ để phòng ngừa rủi ro hơn, lợi nhuận của các ngân hàng từ kinh doanh ngoại tệ liên tục tăng trưởng,… Nhà nước cũng đã xác định chú trọng phát triển thị trường ngoại hối và nhất là Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để có thể theo kịp các nước thế giới nên công tác quản lí quỹ dự trữ ngoại hối, chính sách tỷ giá, lãi suất luôn được Ngân hàng nhà nước cập nhật thông tin thường xuyên để đưa ra những điều chỉnh kịp thời. Điều này được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và khan hiếm ngoại tệ của Việt Nam năm 2025 vừa qua. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Nửa cuối năm 2025 đã chứng kiến sự căng thẳng và diễn biến tăng giá kỷ lục của đồng USD, tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu có phần hưởng lợi từ tỷ giá tăng thì đa số các doanh nghiệp khác, đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu, cùng với các tổ chức, cá nhân…đều chịu áp lực từ sự tăng giá của đồng USD. Bên c̣anh đó là tình tṛang khan hiếm ngoại ṭê ḷai càng đẩy giá USD lên cao. Trước tình hình đó, Ngân hàng nhà nước đã đưa ra ṃôt loạt chính sách nhằm bình ổn thị trường, trong đó có các quy định về dự trữ ngoại ṭê bắt buộc của các Tổ chức tín dụng đựơc phép kinh doanh ngoại ṭê, chính sách kết hối,…Những chính sách này đã tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Theo quy định 1081/QĐ-NHNN ban hành năm 2017, Giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ dương và tổng trạng thái ngoại tệ âm cuối ngày của Tổ chức tín dụng không được vượt quá 30% vốn tự có của Tổ chức tín dụng tại thời điểm đó. Quy định này đã hạn chế được tình trạng các Tổ chức tín dụng giữ ngoại tệ, bán ra thị trường khi tỷ giá USD /VND cao và nhất là trong thời điểm khan hiếm ngoại ṭê như hịên nay.
Ṃăc dù Ngân hàng nhà nước đã xóa bỏ quy định kết hối ngoại ṭê vào tháng 4 năm 2019 nhưng đứng trước tình tṛang căng thẳng cung cầu ngoại ṭê trong năm vừa qua, có nhiều ý kiến cho rằng nên áp dụng ḷai bịên pháp này. Theo điều 44, Pháp lệnh ngoại hối Việt Nam 2021, nếu cần thiết để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, Chính phủ được áp dụng các quy định về nghĩa ṿu bán ngoại ṭê của người cư trú là tổ chức. Do ṿây, nếu tái kết hối cũng không đi ngựơc ḷai với cam kết của IMF và WTO. Tuy nhiên, nếu áp dụng bịên pháp kết hối thì cơ quan điều hành chính sách tiền tệ quốc gia phải tính toán tỷ lệ kết hối là bao nhiêu và trong thời gian bao lâu. Dù sao đây cũng là biện pháp hành chính chỉ có tác dụng trong ngắn hạn. Trên thực tế, ngày 30/12/2025, với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành thông tư hướng dẫn việc các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng. Việc bán lại được thực hiện khá nhanh sau đó và tạo một nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó.
Ngày 18/1/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Quyết định số 74/QĐ-NHNN điều chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 02/2026 và thay thế điều 2 Quyết định số 379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ áp dụng cho các Tổ chức tín dụng kể từ tháng 2/2026 giảm mạnh so với mức quy định trước đây. Cụ thể, theo quy định mới, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng ngoại tệ áp dụng cho các ngân hàng thương mại nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Agribank), ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 4% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc; giảm mạnh so với mức 7% áp dụng từ 1/1/2025. Đối với Agribank, quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc (trước đó là 6%). Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng ngoại tệ áp dụng cho các ngân hàng thương mại nhà nước (không bao gồm Agribank), ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính là 2% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc (trước đó là 3%). Đối với Agribank, quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc (thay cho mức 2% hiện hành). Như vậy, cùng với việc các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ, việc Ngân hàng Nhà nước giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc nói trên sẽ tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại có thêm nguồn vốn ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các Tổ chức tín dụng ở thời điểm này sẽ giúp các Tổ chức tín dụng tăng khả năng huy động vốn và thanh toán cũng như giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và hộ sản xuất có thêm nguồn cung từ nguồn vốn vay ngân hàng nhằm thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh phát triển.
Ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Thông tư số 03/2026/TT-NHNN, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Đây được xem là một “cú hích” mạnh khi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng USD, khi lãi suất trước đó được hưởng có từ 4% – 4,5%/năm. Quy định này được bình luận là đặt các tổ chức đó phải tính toán lợi ích và xem xét bán lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi cao hơn. Khớp với chính sách này, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềm năng này. Chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Lãi suất vay VND tăng cao đầu năm 2026, lên từ 15% – 17%, thậm chí 18%/năm…, trong khi lãi suất vay USD chỉ khoảng 6% – 9%/năm. Chênh lệch này khiến một bộ phận doanh nghiệp chọn “đường vòng” vay USD rồi bán lại lấy vốn VND, tăng cung ngoại tệ cho thị trường. Ngoài chênh lệch lãi suất lớn, lựa chọn này được hỗ trợ bởi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ ổn định, hoặc rủi ro biến động không quá lớn trong kỳ vay vốn. Thực tế, tỷ giá USD/VND gần như cố định kể từ tháng 2 đến nay. Thêm vào đó, ngày 15/12/2025, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2025/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt là các đối tượng xuất khẩu. Tác động này được dẫn chứng ở tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng đột biến tới 14,07% trong quý 1/2026, trong khi cùng kỳ năm ngoái giảm 2,24%. Những tác động chính trên tạo sự cộng hưởng từ loạt chính sách điều hành với diễn biến thực tế thị trường. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
2.4 Tác động của biến động tỷ giá trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đối với nền kinh tế trong thời gian vừa qua
Việc Ngân hàng nhà nước liên tục nới rộng tỷ giá VND/USD có những tác động đa chiều đến các chủ thể kinh tế và các biến số kinh tế vĩ mô.
Thực tế lạm phát của Việt Nam trong 3 năm 2023-2025 là trên 40%, trong khi lạm phát của Mỹ, cùng thời kỳ, chỉ khoảng trên dưới 20%. Nhưng cùng thời gian đó, tỷ giá chính thức USD/VND dường như thay đổi không đáng kể, khiến VND bị định giá cao ngay trong tương quan tỷ giá với USD. Vì vậy, sự điều chỉnh tỷ giá vừa qua là cần thiết, bất chấp động thái này có vẻ như ngược lại với xu hướng mất giá chung của USD trên thị trường thế giới. Linh hoạt tỷ giá, ngày càng trở thành phương châm hành xử phổ biến trong chính sách tỷ giá của hơn 3/4 số nước trên thế giới hiện nay.
- Hình 2.2: Biến đ̣ông tỷ giá VND/USD từ tháng 1/2024 đến tháng 1/2026
2.4.1 Về hoạt động xuất nhập khẩu
Trước khi Ngân hàng nhà nước nới rộng tỷ giá, có nhiều quan điểm cho rằng đồng Việt Nam hiện đang được định giá cao hơn so với đồng USD sẽ làm cho hàng hoá của Việt Nam kém cạnh tranh hơn với hàng nhập khẩu, một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng nhập siêu.
Về mặt lý thuyết, việc phá giá đồng nội tệ sẽ giúp cho hàng hoá nước đó có sức cạnh tranh tốt hơn hàng của nước ngoài, điều này sẽ hỗ trợ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu bằng việc sử dụng hàng nội địa có giá thấp hơn. Mặc dù vậy, đối với lợi thế có được từ sự can thiệp của Nhà nước này cần hết sức lưu ý đến Luật chống bán phá giá tại các nước sở tại.
Thời gian gần đây, các vụ kiện chống bán phá giá hàng Việt Nam trên một số thị trường xuất khẩu chủ yếu đang rộ lên và việc điều chỉnh tỷ giá (chỉ nâng mà không giảm) liên tục sẽ có khả năng tạo “cớ” cho các đối thủ cạnh tranh vận động hành lang cho các vụ kiện, nhất là trong bối cảnh các quốc gia đang có xu hướng bảo vệ kinh tế và việc làm nội địa bằng các chính sách bảo hộ phi thuế quan khác nhau. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
- Hình 2.3: Biến đ̣ông kim ngạch xuất nḥâp khẩu và nhâp siêu từ tháng 1/2024 đến tháng 2/2026
Có thể thấy trong vòng 2 năm trở lại đây, cán cân xuất nhập khẩu Việt Nam luôn trong tình trạng nhập siêu mặc dù Ngân hàng nhà nước đã liên tục điều chỉnh tăng tỷ giá ngoại tệ liên ngân hàng và biên độ giao động tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Trong tháng 1-2/2026 tình hình nhập siêu đã khả quan hơn so với cùng kỳ năm 2025 nhưng từ giờ đến cuối năm 2026 cũng khó kỳ vọng tình hình có thể được cải thiện hơn. Vậy nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ đâu. Nhiều chuyên gia kinh tế đã nhận định thâm hụt cán cân thương mại thâm hụt là do có sự bất cập mang tính chất cơ cấu dẫn đến sự mất cân đối thương mại của Việt nam, làm hạn chế khả năng gia tăng xuất khẩu nhanh hơn so với nhập khẩu. Theo tính toán tỷ lệ nhập khẩu trong xuất khẩu còn rất cao, chiếm khoảng 2/3 giá xuất xưởng. Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức cao dẫn tới thực tế là nếu muốn tăng xuất khẩu thì nhất thiết phải tăng nhập khẩu. Nguyên nhân là do đầu tư quá ít vào các lĩnh vực hỗ trợ phát triển các ngành phụ trợ hoặc dây truyền sản xuất trong nước.Thực tế cho thấy Việt nam chỉ là nơi thực hiện lắp ráp cho các tập đoàn đa quốc gia, chưa trở thành cơ sở sản xuất với giá trị gia tăng cao. Ngoài ra còn do chính sách giảm thuế nhập khẩu thực hiện theo các cam kết trong thỏa thuận thương mại khu vực và quốc tế, do khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế làm thu hẹp nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt nam…
2.4.2 Về các khoản nợ nước ngoài
Thời điểm thay đổi tỷ giá, có khá nhiều quan điểm lo ngại về vấn đề các khoản nợ nước ngoài tính bằng đồng ngoại tệ, việc thay đổi tỷ giá sẽ làm gia tăng gánh nặng đối với các khoản nợ này. Tuy nhiên, có một quan điểm hết sức thú vị khi cho rằng việc thay đổi này không làm gia tăng áp lực đối với các khoản nợ nước ngoài của chính phủ vì việc tăng tỷ giá kích thích xuất khẩu, từ đó làm gia tăng nguồn ngọai hối thu về để thanh toán nợ. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Quan điểm này về mặt vĩ mô, đối với các khoản nợ của Chính phủ thì đúng, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thì chưa hoàn toàn đúng. Đặc biệt ở các doanh nghiệp vay ngoại tệ để xây dựng nhà máy, triển khai dự án, nhưng sản phẩm của dự án lại được tiêu thụ chủ yếu trong nước, được định giá bằng đồng Việt Nam.
Việc nới lỏng tỷ giá vừa qua cũng đã khiến cho các doanh nghiệp có các khoản vay bằng ngoại tệ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí có nhiều doanh nghiệp lợi nhuận làm ra cả năm không đủ bù đắp khoản chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ của mình, mà đôi khi, vấn đề này còn phụ thuộc vào chế độ hạch toán kế toán. Tiêu biểu cho trường hợp này là Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại trong năm 2024-2025: Công ty đã phải trích lập quỹ dự phòng do trượt tỷ giá giữa đồng Yên (Nhật Bản) với Đồng Việt Nam với giá trị vượt 30% so với lợi nhuận sản xuất kinh doanh cả năm 2024.
2.4.3 Về tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do
Nhìn vào khoảng thời gian qua, dường như chính sách tỷ giá của Ngân hàng nhà nước chỉ nhằm rút ngắn khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do, thu hút lượng ngọai hối về ngân hàng để phục vụ mục tiêu điều hành của Chính phủ.
Quý I/2025, tình hình thị trường ngoại hối tương đối ổn định nhưng đến quý II/2025, căng thẳng trên thị trường đã xuất hiện do nhiều doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ, không chịu bán lại cho ngân hàng. Trước tình hình này, Ngân hàng nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp: quyết định mở rộng biên độ tỷ giá từ +/-3% lên +/-5%, áp dụng từ ngày 24/03/2025 nhằm giảm bớt sự chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức; kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại hối của các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định quản lý ngoại hối về thực hiện niêm yết và giao dịch,… Những biện pháp đúng đắn và phù hợp trên của Ngân hàng nhà nước đã giúp thị trường ngoại hối trong Quý III/2025 diễn biến tương đối ổn định. Tuy nhiên, đến quý IV/2025, tình hình mất cân đối cung – cầu ngoại tệ lại xuất hiện trở lại vào tháng 11/2025. Nguyên nhân của hiện tượng này là do ảnh hưởng của thông tin về mức thâm hụt cán cân thương mại ngày càng tăng và dự trữ ngoại hối suy giảm, mà đặc biệt là dưới tác động của cơn sốt giá vàng. Giá vàng trong nước tăng cao đã khiến cầu ngoại tệ tăng đột biến do giới đầu cơ đẩy mạnh hoạt động thu mua USD để mua vàng.
- Hình 2.4: Diễn biến tỷ giá VND/USD của Ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do 3 tháng cuối năm 2025 Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Trước tình hình giá USD tự do tăng mạnh dưới ảnh hưởng của cơn sốt giá vàng, Ngân hàng nhà nước đã lập tức công bố cho nhập khẩu vàng nhằm giảm sức ép lên cung vàng; qua đó, hạ bớt sức nóng của đồng USD trên thị trường tự do. Thêm vào đó, Ngân hàng nhà nước quyết định can thiệp trực tiếp và mạnh tay vào tỷ giá khi điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,44% từ mức 17.034 VND ngày 25/11/2025 lên 17.961 VND/ 1 USD áp dụng cho ngày 26/11/2025; thu hẹp biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND từ mức ±5% xuống mức ±3% và tăng lãi suất cơ bản tiền đồng lên 8%. Ngân hàng nhà nước cũng cam kết hỗ trợ bán ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng (TCTD) có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở xuống. Bên cạnh các quyết định trên của Ngân hàng nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 2578/TTg-KTTH yêu cầu 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước bán ngay số ngoại tệ dưới dạng tiền gửi và các nguồn thu vãng lai cho các Tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối để góp phần giảm áp lực đè nặng lên nguồn cung ngoại tệ. Tuy nhiên, đến đầu năm 2026, Ngân hàng nhà nước lại tiếp tục điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tăng 3,36% từ 17.961 lên 18.544 VND/ 1USD, theo thông tư số 03/2026/TT-NHNN. Mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế (trừ Tổ chức tín dụng) tại Tổ chức tín dụng cũng được Ngân hàng nhà nước điều chỉnh xuống còn 1%/năm. Bên cạnh đó, Ngân hàng nhà nước ra quyết định số 74/QĐ-NHNN điều chỉnh giảm mạnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% kể từ kỳ dự trữ bắt buộc tháng 2/2026. Sau khi các quyết định trên được Ngân hàng nhà nước ban hành, diễn biến tỷ giá đã có nhiều tín hiệu đáng mừng khi tỷ giá trên thị trường chính thức duy trì xu hướng ổn định và tỷ giá tự do đang tiến gần sát với tỷ giá chính thức, thậm chí đã có những thời điểm trong tháng 4/2026, tỷ giá trên thị trường tự do đã thấp hơn cả tỷ giá Ngân hàng thương mại. Hiện chênh lệch tỷ giá mua và bán USD trên hai thị trường lần lượt là 30 VND và 10 VND/ 1 USD.
- Hình 2.5: Diễn biến tỷ giá VND/USD của Ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do 4 tháng đầu năm 2026
Trong thời gian tới, việc tỷ giá niêm yết biến động mạnh với tần suất cao, không có tín hiệu cho trước để “đuổi theo” tỷ giá tự do cũng sẽ là một trong những hệ quả xấu của chính sách. Mặt khác, quyết định hành chính này cũng đẩy mạnh kỳ vọng của người cầm tiền USD vào những biến động trong tương lai của tỷ giá.
Những thay đổi chính sách tỷ giá vừa qua, có thể đem lại những tác dụng tức thời nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, nhưng sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường bằng quyết định hành chính sẽ để lại cho xã hội tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ. Những người làm chính sách cần phải có xem xét toàn diện hơn khi triển khai những quyết định thay đổi tỷ giá bất ngờ, không thể ra quyết định chỉ phục vụ giải quyết tình huống mà quên đi những tác động có tính dài hạn hơn.
2.5 Đánh giá chung về hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng VN Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
2.5.1 Những thành ṭưu đạt đựơc:
Kể từ khi đựơc thành ḷâp năm 2011, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Vịêt Nam bước đầu đã hình thành ṃôt thị trường kinh doanh ngoại hối có tổ chức, giữ vai trò quan tṛong trong vịêc cân bằng, ổn định thị trường ngoại tệ quốc gia. Nhìn lại quá trình hơn 15 năm xây dựng và phát triển, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Vịêt Nam đã đạt đựơc những thành ṭưu đáng kể, trong đó phải kể đến một số mặt sau:
Chính sách quản lý ngoại hối đã được hoàn thiện căn bản phù hợp với hướng phát triển kinh tế thị trường mở. Những chính sách quản lý đã đựơc c̣u thể hóa bằng ṃôt loạt văn bản quy phạm pháp luật cùng với những thông tư hướng dẫn thi hành như Pháp ḷênh ngoại hối 2021, QĐ 1452/NHNN quy định về hoạt động kinh doanh ngoại hối của các Tổ chức tín dụng đựơc phép ,…Điều này phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nhất là trong giai đoạn Vịêt Nam đang trong ḷô trình thực hịên cam kết khi gia nhậ p WTO về lĩnh ṿưc tài chính ngân hàng.
- Những nhân tố thị trường ngày càng trở nên quyết định hơn trong vịêc xác định tỷ giá hối đoái. Thực tế cho thấy tỷ giá hối đoái của Vịêt Nam bước đầu đã hình thành dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường và cách xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá đựơc chú tṛong.
- Bước đầu đã đưa ṃôt số các giao dịch kinh doanh ngoại hối vào cuộc sống như giao dịch giao ngay, kì hạn và hoán đổi.
- Các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường là công c̣u hữu hịêu giúp các ngân hàng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
- Doanh số giao dịch đã liên ṭuc tăng trong những năm gần đây và thông qua Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì chính phủ và Ngân hàng nhà nước đã sử dụng linh hoạt các công cụ điều tiết và bình ổn thị trường.
- Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, Ngân hàng nhà nước đã có những bịên pháp điều chỉnh ḳip thời nhằm ổn định thị trường và giải quyết tình tṛang khan hiếm ngoại ṭê hịên Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân:
Bên c̣anh nhữ ng thành ṭưu đã đạt đựơc, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của Vịêt Nam hịên nay còn nhiều bất c̣âp, hạn chế cần khắc phục đó là:
Thiếu ṣư can thịêp ṃôt cách hịêu quả của Ngân hàng nhà nước. Thực tế cho thấy tình tṛang thiếu cung ngoại ṭê thường xuyên xảy ra chứng tỏ cơ chế tỷ giá vẫn còn nhiều bất c̣âp, chưa điều tiết đựơc thị trường.
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn rất sơ khai về mặt nghiệp vụ, giao dịch ngoại hối chủ yếu là giao dịch giao ngay, số lượng giao dịch thấp trong khi trên thế giới các giao dịch k̀i hạn và hoán đổi đã phát triển tương đương với giao dịch giao ngay. Hơn nữa, tỷ trọng giao dịch trên Interbank là quá thấp, trái ngược với hoạt động của thị trường liên ngân hàng ở các quốc gia khác trên thế giới gây cản trở đối với thị trường ngoại hối Vịêt Nam trong tiến tr̀inh hội nhập quốc tế.
Chính sách quản lí và điều tiết thị trường của Ngân hàng nhà nước còn mang nặng tính áp đặt, chỉ đạo chứ chưa căn cứ vào điều kiện thực tế của các ngân hàng nên những biện pháp điều chỉnh đưa ra chưa thực sự hiệu quả và kịp thời.
Thị trường tiền tệ cũng như thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động kém sôi động, cho nên tỷ giá và lãi suất được hình thành trên thị trường này không phản ánh đúng thực chất cung cầu ngoại tệ. Vai trò của ngân hàng nhà nước điều hành thị trường ngoại hối, là cầu nối giữa cung cầu ngoại tệ, tạo ra tính thanh khoản cao nhất cho hệ thống ngân hàng trong các năm qua còn mờ nhạt.
Phương thức giao dịch trên thị trường còn rất sơ khai. Chỉ một số ít ngân hàng hịên nay đã thực hịên giao dịch mua bán ngoại ṭê qua hệ thống Reuter, còn lại phần lớn giao dịch thủ công qua công văn,…
Ngoài ra, các ngân hàng còn thiếu đội ngũ cán bộ có đủ năng lực cũng như các phòng ban chuyên về hoạt động kinh doanh ngoại hối để phân tích đánh giá xu hướng của thị trường Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
- Nguyên nhân của những ṃăt ḥan chế tồn ṭai trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Vịêt Nam đó là:
Thứ nhất: nguyên nhân xuất phát ngay ở cấp độ vĩ mô là do cơ cấu của Ngân hàng nhà nước chưa có ṃôt ṿu có chức năng quản lý Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Điều này dẫn đến thực tế là số lịêu thống kê về Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Vịêt Nam còn chưa c̣âp nhật, cơ sở dữ lịêu không chính xác và không có căn cứ nguồn dữ lịêu chính thống.
Thứ hai: hoạt động mua bán ngoại tệ ở Việt Nam hiện nay chủ yếu theo khuynh hướng “ṭư cung ṭư cấp” là chính, nghĩa là ngoại tệ mua được từ khách hàng trước hết đựơc dùng để bán ḷai cho khách hàng của m̀inh, số dư mới đem bán ḷai trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; trong trường hợp khan hiếm ngoại ṭê các Ngân hàng thương mại có thể thực hịên chính sách “Dự trữ ngoại tệ”. Điều này làm kìm hãm tốc độ luân chuyển vốn, gây thịêt hại cho nền kinh tế. Ngoài ra, do yếu tố tâm lý mà khi nói đến thị trường ngoại ṭê nói chung người ta thường nghĩ ngay đến thị trường mua bán ngoại ṭê đựơc phép giữa ngân hàng và khách hàng là các công ty xuất nhập khẩu hoặc là thị trường chợ đen.
Thứ ba: Hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ chưa đầy đủ và còn nhiều điểm chưa hợp lý. Các văn bản quy phạm và thông tư hướng dẫn về hoạt động kinh doanh ngoại hối còn thiếu và chưa quy định c̣u thể, có nhiều điểm không tương đồng với thông ḷê quốc tế. Vịêc áp dụng các giao dịch quyền chọn, tương lai ở trên thế giới đã rất phát triển nhưng hiện tại Việt Nam vẫn chưa cho phép thực hiện, điều nà y làm cản trở đối với các ngân hàng trong vịêc tiếp c̣ân thị trường ngoại hối quốc tế.
Thứ tư: cơ chế tỷ giá trong những năm qua của Ngân hàng nhà nước mang nặng tính chỉ đạo nên không thể là công c̣u điều chỉ nh cung cầu, trong khi đó mức độ can thịêp không đáng kể và thời điểm can thịêp thường diễn ra chậm. Ṃăt khác, việc điều hành quản lý dự trữ trực tiếp được giao cho Sở Giao dịch trong khi đơn vị tham mưu chiến lược là Vụ Quản lý ngoại hối không tiếp xúc trực tiếp và liên tục với thị trường quốc tế nên các chính sách còn chậm so với biến động trên thị trường tài chính tiền tệ trong khu vực, sự biến động của thị trường trong khủng hoảng; kế hoạch chuyển đổi cơ cấu đồng tiền còn bị động.
Thứ năm: thị trường ngoại tệ tiền mặt ở Việt Nam phát triển khá mạnh. Thị trường ngầm tiền mặt ngoại tệ phục vụ cho bộ phận nhập khẩu lậu qua đường biên giới cộng với nhu cầu thích sử dụng ngoại tệ tiền mặt của dân chúng nên thị trường này càng sôi động. Tỷ giá ở thị trường này luôn cao hơn ngân hàng. Ngoài ra, chênh lệch giữa giá mua và bán ngoại tệ ở các ngân hàng ở Việt Nam luôn ở mức cao vì các nguyên nhân như chi phí cho xuất khẩu ngoại tệ tiền mặt khá cao. Chi phí quản lý tiền mặt ngoại tệ cao, tiền mặt tồn kho không được trả lãi như tài khoản tiền gửi trong khi đó ngân hàng phải trả lãi huy động. Doanh số mua rất nhỏ và chi phí cho giấy tờ, cho nhân viên thu đổi cao. Đồng thời rủi ro giao dịch tiền mặt ngoại tệ cao (ngoại tệ giả, séc giả). Thị trường tiền mặt ngoại tệ qua ngân hàng không có tính cạnh tranh, bị chi phối nhiều bởi hoạt động của thị trường ngầm
Thứ sáu: Các Ngân hàng thương mại hiện nay vẫn chưa thay đổi tập quán kinh doanh truyền thống và chưa chú tṛong đến vịêc trang bị cơ sở ṿât chất hịên đại cũng như đào ṭao cán bộ ,…. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Thứ bảy: Công tác phân tích thị trường để thực hiện kinh doanh ngoại hối trên thị trường quốc tế chủ yếu còn ở giai đoạn tập dượt. Đáng lo ngại là chất lượng báo cáo lập và phân tích dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thấp, chậm và độ tin cậy số liệu không cao.
Ngoài ra, chúng ta không thể không nhắc tới những diễn biến tỷ giá phức tạp trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trong thời gian vừa qua gây ảnh hưởng rất nhiều đến ṃoi ṃăt của đời sống kinh tế-xã hội. Qua phân tích, đánh giá một cách toàn diện, có thể thấy r ằng những diễn biến gần đây trên thị trường ngoại hối trong nước có một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Yếu tố tâm lý: doanh nghiệp và người dân đều nhận thức sâu sắc rằng năm 2025 nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục phải đương đầu với những khó khăn, thách thức của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu. Xuất khẩu, đầu tư nước ngoài cả trực tiếp lẫn gián tiếp, kiều hối, du lịch, khả năng vay vốn nước ngoài… hay nói một cách khác các nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế đều giảm sút và thậm chí một số lĩnh vực còn giảm sút rất mạnh. Từ suy nghĩ đó đã tạo ra tâm lý lo ngại sự mất giá mạnh của VND dẫn đến găm giữ ngoại tệ. Các doanh nghiệp xuất khẩu hay các doanh nghiệp có nguồn thu bằng ngoại tệ thì găm giữ trên tài khoản hoặc chỉ bán nhỏ giọt cho thị trường. Các doanh nghiệp nhập khẩu thì vội vã bằng mọi cách và bằng mọi giá đi mua ngoại tệ. Một bộ phận người dân cũng chuyển từ tiền gửi nội tệ sang tiền gửi ngoại tệ. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng nhà nước số dư tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế tăng liên tục trong suốt 4 tháng đầu năm 2025. Tiền gửi ngoại tệ của cả nền kinh tế tăng 3,35%. Đây là hiện tượng không bình thường. Hàng năm, số dư tiền gửi của tổ chức kinh tế lên xuống khá mạnh theo chu kỳ xuất, nhập khẩu, tạo ra sự lưu thông của nguồn ngoại tệ nhằm tự điều tiết cung – cầu ngoại tệ trên thị trường. Bốn tháng đầu năm 2025 số ngoại tệ này hầu như đóng băng.
Bên cạnh đó, hoạt động đầu cơ trên thị trường chợ đen cũng thừa cơ trỗi dậy. Nắm được tâm lý của doanh nghiệp và người dân, giới đầu cơ chủ động đưa ra các tin đồn thất thiệt, thậm chí còn tự tạo ra các đợt sóng trên thị trường ngoại tệ để mua bán kiếm lời với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Yếu tố khách quan: Từ cuối năm 2024 đến nay, Chính phủ đã đưa ra các gói gồm nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm hạn chế đến mức tối đa các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu, duy trì tăng trưởng hợp lý, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; trong đó có nhóm giải pháp hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn ngân hàng bằng VND cho cả ba kỳ hạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Những chỉ số kinh tế vĩ mô của quý I và 4 tháng đầu năm 2025, cũng như tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng đều qua các tháng là minh chứng cho sự đúng đắn và kịp thời của các giải pháp nêu trên, được dư luận xã hội đánh giá rất tích cực.
Tuy nhiên, cũng có một thực tế là khi ta tiến hành hỗ trợ lãi suất vay VND 4% đã đưa mặt bằng lãi suất vay VND thực tế của các doanh nghiệp và dân cư xuống 5% – 6% (trong một số trường hợp còn thấp hơn). Mặt bằng lãi suất này cũng bằng mặt bằng lãi suất cho vay ngoại tệ hiện hành của hệ thống Ngân hàng thương mại. Điều này vô hình chung đã khuyến khích các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tiến hành vay vốn bằng VND để mua ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại thay vì vay vốn bằng ngoại tệ (hiệu quả kinh tế như nhau lại không bị rủi ro về biến động tỷ giá). Thậm chí nhiều doanh nghiệp đang có số dư vay vốn ngân hàng bằng ngoại tệ cũng tìm mọi cách vay VND mua ngoại tệ để trả nợ trước hạn vốn vay ngoại tệ cho ngân hàng. Số liệu thống kê cho thấy 4 tháng đầu năm 2025 tăng trưởng tín dụng nói chung của cả nền kinh tế là 11,6%, trong khi đó tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ lại giảm 2,5%. Thực tế này đã làm tăng đột biến nhu cầu mua ngoại tệ trong nền kinh tế thay vì nhu cầu đó được giải quyết hài hòa qua các kỳ hạn khác nhau trong cả năm, thậm chí cho cả các năm tiếp theo. Như đã nói ở trên, tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống NH vẫn tiếp tục tăng lên, trong khi tín dụng bằng ngoại tệ lại giảm, dẫn đến tình trạng hệ thống ngân hàng “thừa” ngoại tệ để cho vay nhưng lại thiếu ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, cũng còn phải kể đến một hiện tượng rất phổ biến là hiện nay nhiều doanh nghiệp và người dân có nguồn thu ngoại tệ, thay vì trước đây để phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong nước của mình họ bán ngoại tệ cho hệ thống Ngân hàng thương mại lấy VND, thì nay dùng ngoại tệ để thế chấp vay VND. Theo tính toán gửi ngoại tệ tại ngân hàng để lấy lãi suất 2% đến 3%, vay VND sau hỗ trợ phải trả từ 5% đến 6%, như vậy thực tế phải trả lãi vốn vay ngân hàng ở mức 2% – 3%. Do vậy, theo tính toán của họ đi vay ngân hàng không những không phải trả lãi mà còn được hưởng lãi.
- Kết luận chương 2
Như ṿây, từ khi thành ḷâp đến nay, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam đã từng bước hoàn thịên và ngày càng phát huy vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế, phù hợp với xu thế ṭư do hóa thương ṃai quốc tế. Tuy nhiên, trình độ phát triển của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam hịên nay còn có ṣư cách bịêt khá xa với thị trường thế giới về nhiều ṃăt: quy mô, doanh số thị trường, nghịêp ṿu giao dịch cơ bản ,… đặt ra thách thức không nhỏ cho các ngân hàng thương ṃai trong tiến tr̀inh hội nhập với thế giới. Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện thị trường ngoại tệ liên ngân hàng


Pingback: Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam