Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam – thực trạng và định hướng phát triển này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong năm 2025 vừa qua với việc Ngân hàng Nhà nước liên tục thay đổi mức tỷ giá ngoại tệ cũng như nới lỏng biên độ tỷ giá, đã tạo ra những tác động không nhỏ đến thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại nói riêng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì mọi hành vi mua bán ngoại tệ đều phải thông qua các ngân hàng thương mại, vì vậy nhắc đến thị trường ngoại hối thì không thể không nói tới vai trò của các ngân hàng. Trên thực tế, hoạt động kinh doanh trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam chỉ chiếm khoảng trên 20% tổng doanh số giao dịch của thị trường ngoại hối trong nước. Tỷ lệ giao dịch ngoại hối còn lại chủ yếu diễn ra giữa ngân hàng với khách hàng và trên thị trường phi chính thức. Một vấn đề đặt ra là cơ sở để xác định tỷ giá chính thức giữa VND và Đô la Mỹ hiện nay vẫn đang được Ngân hàng nhà nước dựa trên tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Với doanh số giao dịch ngoại tệ chưa phải là chiếm đa số như vậy có thể nói tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng chưa thật sự phản ánh được toàn bộ thực tế quan hệ cung – cầu về ngoại tệ của thị trường ngoại hối Việt Nam. Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là cần hoàn thiện và phát triển hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Trên cơ sở thực tiễn đó tác giả đã lựa chọn vấn đề “Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam – thực trạng và định hướng phát triển” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ các vấn đề lí luận cơ bản về thị trường ngoại hối và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và xác định phương hướng phát triển cho thị trường phù hợp yêu cầu kinh tế đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế – tài chính quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam. Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam giai đoạn từ khi hình thành năm 2011 đến nay.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp như duy vật biện chứng, mô tả diễn giải, quy nạp vấn đề, phân tích, thống kê, so sánh các số liệu thực tế để rút ra nhận xét đánh giá cuối cùng.

5. Nội dung nghiên cứu

Bố cục khoá luận, ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương:

  • Chương I: Những vấn đề lí luận cơ bản về thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
  • Chương II: Thực trạng hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam hiện nay.
  • Chương III: Định hướng phát triển và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ LIÊN NGÂN HÀNG

1. Tổng quan về thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

1.1. Khái niệm

Thương mại quốc tế đã hình thành và phát triển từ rất lâu trước khi có phương tiện thanh toán là tiền tệ. Khi tiền tệ xuất hiện thì hoạt động buôn bán giữa các nước đã trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Tuy nhiên, khi hoạt động buôn bán vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, việc thanh toán sẽ được tiến hành bằng đồng tiền của một nước mà hai bên đã thỏa thuận. Đồng tiền thanh toán chung này có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai nước tham gia giao dịch ngoại thương. Vì vậy, việc mua bán trao đổi ngoại tệ tất yếu phải diễn ra: người nhập khẩu khi được yêu cầu thanh toán bằng ngoại tệ phải mua ngoại tệ bằng nội tệ để thanh toán cho người xuất khẩu nước ngoài; ngược lại người xuất khẩu sau khi xuất khẩu hàng hóa dịch vụ thu được ngoại tệ thì sẽ đổi ngoại tệ đó ra nội tệ phục vụ nhu cầu chi tiêu trong nước. Hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau được diễn ra trên một thị trường, gọi là thị trường ngoại hối. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thị trường ngoại hối hay còn gọi là FOREX (FX) là bất cứ đâu diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau [1,tr.13]. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Trên thực tế, hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch) nên theo nghĩa hẹp thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính – tín dụng với nhau. Cụ thể hơn, thị trường ngoại hối là nơi thực hiện hoạt động mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế giữa các ngân hàng và các trung tâm giao dịch ngoại hối các nước với nhau thông qua hệ thống giao dịch viễn thông điện tử như điện thoại, fax, SWIFT, telex,…

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (Interbank) là hình thức phát triển cao nhất của thị trường ngoại hối, nơi các ngân hàng trao đổi các loại tiền tệ khác nhau.

Theo Nghị định số 160/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 do Chính phủ ban hành quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối: “Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường cho các giao dịch giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với các tổ chức tín dụng được phép và giữa các tổ chức tín dụng được phép với nhau. Các thành viên tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thực hiện mua bán ngoại tệ theo các phương thức, loại hình nghiệp vụ giao dịch trên cơ sở các thoả thuận, cam kết giữa các bên theo thông lệ quốc tế và phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trong trường hợp tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tập trung do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức, điều hành, các tổ chức tín dụng được phép phải chấp hành quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường này do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.

1.2 Đặc điểm của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng mang những đặc điểm cơ bản là giống với thị trường ngoại hối. Đó là thị trường phi ṭâp trung, các giao dịch diễn ra trong một phạm vi rộng lớn và đựơc thực hịên nhanh chóng thông qua điện thoại, mạng vi tính ,…Ngoài ra, do sự chênh lệch múi giờ giữa các khu ṿưc trên thế giới mà các giao dịch diễn ra suốt 24/24h theo ṃôt chu kì khép kín toàn cầu. Thị trường có tính thanh khoản cao, khối lựơng giao dịch khổng lồ và nhất là luôn luôn tồn ṭai khả năng thu lợi nhuận do giao dịch trên thị trường đựơc thực hiện theo cặp ngoại ṭê và tỷ giá trao đổi luôn lao động.

  • Hình 1.1: Doanh số giao dịch hàng ngày của thị trường ngọai hối toàn cầu giai đọan 2012 – 2025

Qua biểu đồ trên, ta có thể thấy trong vòng 3 năm từ 2021 đến 2024, doanh số giao dịch trung bình hàng ngày trên thị trường FX đã tăng lên gấp đôi. Sở dĩ như ṿây là do sự phát triển của giao dịch điện tử khiến nhà đầu tư dễ dàng thâm nhập thị trường, số lựơng thành viên tham gia thị trường không ngừng tăng lên. Mặc dù nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ nhưng cũng không làm gián đoạn tính thanh khoản của thị trường FOREX và kinh doanh trên FX vẫn là một nguồn thu vững chắc, ổn định của các ngân hàng.

  • Hình 1.2: Doanh số giao dịch của một số cặp tiền tệ chủ yếu trên FX

Như vậy, c̣ăp USD /EUR là c̣ăp tiền tệ đựơc sử dụng nhiều nhất tính đến tháng 4/2025 với 28% trên tổng doanh số giao dịch trên thị trường, tiếp sau là USD/JPY chiếm 18% trên tổng doanh số, và USD/GBP với 11%. Điều này cũng đồng nghĩa với việc hầu hết các giao dịch trên thị trường đều có sự tham gia của đồng Đôla Mỹ (khoảng 86% giao dịch).

Tuy nhiên, bên c̣anh những điểm tương đồng đó, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cũng có nét đặc trưng riêng do xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đó là:

Về mô hình tổ chức của thị trường: Các ngân hàng có thể thỏa thuận với nhau trực tiếp, hoặc thông qua môi giới. Ngày nay, dịch ṿu môi giới điện tử rất phát triển.

Các dịch vụ môi giới điện tử (EBS) và giao dịch Reuters 3.000 Matching là hai đối thủ cạnh tranh trên nền tảng kinh doanh môi giới điện tử và kết nối với hơn 1.000 ngân hàng. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Vì thị trường Interbank không giao dịch qua sở giao dịch và các giao dịch được thực hiện liên tục nên thị trường này được biết đến là thị trường phi tập trung, liên tục, đấu giá mở 2 chiều giao dịch. Các ngân hàng vừa giao dịch cho chính mình nhằm thay đổi trạng thái ngoại hối trong tài sản của mình và kiếm lời, đồng thời các ngân hàng cũng giao dịch cho khách hàng để hưởng phí. Khối lượng giao dịch trên thị trường là rất lớn: doanh số mỗi giao dịch lớn hơn 1 triệu USD.

  • Hình 1.3: Doanh số giao ḍich trên Interbank giai đọan 2020 – 2025

Các giao dịch đều được tiêu chuẩn hóa trên thị trường về khối lựơng và hạn mức giao dị

Ví dụ: Giao dịch kì hạn: lớn hơn 50 triệu USD Giao dịch quyền chọn: 5-10 triệu USD

  • Giao dịch giao ngay: 2-50 triệu USD tùy thuộc đồng tiền giao dịch, thị trường giao dịch và các bên giao dịch
  • Về hạn mức giao dịch (position limit): phụ thuộc vào đối tượng tham gia giao dịch là nhà đầu tư chuyên nghiệp hay mới tham gia hoặc phụ thuộc là nhà kinh doanh giao ngay hay phái sinh

Ví dụ: Nếu là giao dịch giao ngay: đối với 1 đồng tiền cụ thể thì hạn mức là 50 triệu USD; đối với nhiều đồng tiền thì tổng hạn mức lên đến 150 triệu USD.

1.3 Các thành viên tham gia thị trường Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Thành viên tham gia thị trường liên ngân hàng gồm có 2 chủ thể là các ngân hàng trong đó có cả ngân hàng trung ương và các nhà môi giới. Mối liên hệ giữa các thành viên tham gia Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đựơc đặt trong tổng thể là thị trường ngoại hối có thể đựơc minh họa bằng sơ đồ sau:

Như vậy, các ngân hàng thương mại là những thà nh viên tham gia chủ yếu trên Interbank. Tại đây các ngân hàng thực hiện mua, bán ngoại tệ trực tiếp với nhau, không thông qua môi giới và tất cả các ngân hàng tham gia thị trường đều là những nhà tạo lập thị trường (market makers). Điều này có nghĩa là ngân hàng này yết giá mua vào – bán ra cho ngân hàng kia và ngược lại.

Ngoài ra, các Ngân hàng trung ương tham gia thị trường nhằm mục đích tăng nguồn dự trữ ngoại hối của quốc gia, hoàn thiện chính sách vĩ mô của chính phủ về  quản lí ngoại hối, về chính sách tỷ giá, lãi suất; điều tiết quan hệ cung – cầu ngoại hối trên thị trường, đảm bảo ổn định đồng nội tệ và góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ của các tổ chức kinh tế và quốc gia.

Trong khi đó, nhà môi giới là trung gian tiến hành giao dịch cho các ngân hàng có yêu cầu. Các ngân hàng đặt các lệnh giới hạn cho các nhà môi giới, sau đó nhà môi giới sẽ đối chiếu các lệnh đặt mua và đặt bán giữa các ngân hàng đó để tìm ra tỷ giá tốt nhất cho ngân hàng mua và ngân hàng bán. Ưu điểm của phương thức giao dịch qua môi giới là có thể tận dụng được những kiến thức chuyên sâu về thị trường, kinh nghịêm, các mối quan hệ của người môi giới và do họ thu thập hầu hết các lệnh đặt mua, đặt bán ngoại tệ khác nhau nên vịêc mua bán trao đổi ngoại ṭê giữa các ngân hàng đựơc hịêu quả hơn và tỷ giá liên ngân hàng phản ánh đúng nhu cầu ngoại tệ của các ngân hàng tại thời điểm giao dịch. Tuy nhiên, khi giao dịch qua môi giới, các ngân hàng phải trả một khoản phí (brokerage fee) làm cho chênh lệch tỷ giá mua bán hẹp lại.

1.4 Các giao dịch cơ bản trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Do là ṃôt bộ phận cấu thành nên thị trường ngoại hối nên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cũng thực hịên đầy đủ các giao dịch kinh doanh cơ bản, đó là giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi, giao dịch quyền chọn và giao dịch tương lai. Trong đó, giao dịch giao ngay được coi là nghiệp vụ cơ sở, các giao dịch còn lại kì hạn, hoán đổi, tương lai, quyền chọn là nghiệp vụ phái sinh. Ngoài ra, một số giao dịch như giao ngay, kì hạn, hoán đổi chỉ được thực hiện trên thị trường phi tập trung ( OTC – over the counter) còn giao dịch tương lai bắt buộc phải được tiến hành thông qua sở giao dịch. Riêng giao dịch quyền chọn có thể được giao dịch vừa qua sở giao dịch vừa trên thị trường OTC.

1.4.1 Giao dịch giao ngay (spot transaction): Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Giao dịch giao ngay là giao dịch mà hai bên mua bán một lượng ngoại tệ theo một tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng hai ngày tiếp theo.

Về bản chất thì trong giao dịch giao ngay, việc thanh toán và giao ngoại tệ xảy ra đồng thời. Thực tế, thời gian giao dịch ngoại hối và thanh toán hay ngày giá trị thường là 2 ngày kể từ ngày kí hợp đồng (T+2).

Tỷ giá giao ngay (Spot rate – Rs) còn được gọi là tỷ giá cơ sở hay tỷ giá gốc. Rs được xác định dựa trên cung – cầu trên thị trường ngoại hối theo từng thời điểm giao dịch và không nhất thiết là tỷ giá niêm yết hàng ngày của Ngân hàng thương mại.

  • Đặc điểm của giao dịch giao ngay

Giao dịch giao ngay được thực hiện trên thị trường phi tập trung. Các thành viên tham gia thị trường bao gồm các Ngân hàng thương mại, công ty tài chính lớn, những nhà môi giới và Ngân hàng trung ương trong đó Ngân hàng thương mại đóng vai trò chủ chốt.

Thị trường giao ngay được biết đến là thị trường rất sôi động, giao dịch với khối lượng tiền cực lớn và với tốc độ giao dịch cực nhanh nhằm tận dụng những cơ hội chênh lệch tỷ giá dù là cực nhỏ. Giao dịch giao ngay đựơc sử dụng rất phổ biến trên thị trường.

Đây là nghịêp ṿu có tính thanh khoản rất cao và đựơc thể hịên ở chỗ luôn có số tiền cần thiết (the right amount is available ), tại địa điểm cần có (at the right location), tại thời điểm có nhu cầu (at the right time ), bằng đồng tiền cần có (the right currency), với giá cả hợp lý (at the right price).

  • Hình 1.4. Doanh số của giao ḍich giao ngay trên tḥi trường ngọai hối toàn cầu giai đoạn 2017-2025

Doanh thu từ các giao dịch truyền thống chiếm hơn 90% doanh thu của thị trường ngoại hối năm 2025, trong đó giao dịch giao ngay chiếm  38% trên tổng số giao dịch truyền thống (tăng 7% so với năm 2017), giao dịch kỳ hạn là 12% (tăng 1%), giao dịch hoán đổi là 45% (giảm 9% so với năm 2017). Các giao dịch quyền chọn và hoán đổi trên OTC chỉ chiếm 6% tổng doanh thu thị trường. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Ứng dụng của giao dịch giao ngay:

  • Giao dịch giao ngay là giao dịch thực, phục vụ nhu cầu mua bán ngoại tệ thực tế
  • Chiếm tỷ trọng giao dịch chủ yếu trên thị trường ngoại hối hàng ngày
  • Giao dịch giao ngay còn phục vụ mục đích đầu cơ, găm giữ ngoại tệ

1.4.2 Giao dịch kỳ hạn (Forward transaction):

Giao dịch kì hạn là những giao dịch được thỏa thuận vào ngày hôm nay nhưng việc thực hiện nó xảy ra trong tương lai.

Theo Điều 2, QĐ 1452/2020/QĐ-NHNN: “Giao dịch kỳ hạn là giao dịch mà 2 bên sẽ cam kết mua, bán với nhau 1 lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai”

  • Ngày giao dịch kì hạn (Forward value date – FDV) FDV = (T+2) + x
  • Trong đó : x là thời hạn của hợp đồng kì hạn

Tỷ giá kỳ hạn đựơc xác định trên cơ sở tỷ giá giao ngay và các mức lãi suất của 2 đồng tiền. Trong thực tế, lãi suất của mỗi đồng tiền và mỗi tỷ giá được yết  2 chiều như sau:

  • Đối với lãi suất bao gồm: lãi suất huy động và lãi suất cho vay
  • Đối với tỷ giá giao ngay bao gồm: tỷ giá giao ngay mua vào và tỷ giá giao bán ra
  • Đối với tỷ giá kỳ hạn bao gồm: tỷ giá kỳ hạn mua vào và tỷ giá kỳ hạn bán ra Phương pháp niêm yết tỷ giá kì hạn: có 2 cách
  • Niêm yết tỷ giá kì hạn theo kiểu Outright : là kiểu niêm yết đầy đủ, không cần phải tính toán gì thêm
  • Niêm yêt tỷ giá kì hạn theo kiểu Swap: là kiểu niêm yết tỷ giá theo điểm kì hạn

Ví dụ về niêm yết tỷ giá kì hạn (AUD/USD) Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Giống như giao dịch giao ngay, giao dịch kì hạn cũng được diễn ra trên thị trường phi tập trung. Các thành viên tham gia thị trường bao gồm các ngân hàng và các nhà môi giới liên kết với nhau bằng điện thoại, vi tính, telex và hệ thống SWIFT.

Hiện nay, giao dịch kì hạn cũng đang rất phát triển bên cạnh giao dịch giao ngay bởi nó rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với các công ty khi tham gia xuất nhập khẩu, vay nợ nước ngoài hay thực hiện đầu tư quốc tế. Thị trường này còn là nơi hoạt động tích cực của các nhà đầu cơ kiếm lời nên càng khiến thị trường hoạt động hiệu quả hơn.

  • Hình 1.5: Doanh số giao ḍich kỳ hạn tại một số thị trường lớn giai đọan 2010- 2025

Doanh số giao dịch giao ngay và kỳ hạn trên thị trường FX thực tế đã tăng 10% trong vòng 6 tháng đầu năm 2024 trước khi giảm ṃanh vào tháng 11/2024 và trong năm 2025. Nếu như trong ṃôt thời gian dài trước đây, ṣư tăng trưởng doanh số của giao dịch giao ngay và kỳ hạn gần như trùng khớp với ṣư tăng trưởng của cán cân thương ṃai quốc gia thì nguyên nhân của sự suy giảm gần đây của 2 giao dịch này cũng không phải ngoại ḷê.

1.4.3 Giao dịch hoán đổi (Swap transaction)

Giao dịch hoán đổi ngoại hối là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau. Như vậy, một hợp đồng hoán đổi bao gồm hai vế là “vế mua vào” và “vế bán ra” được kí kết ngày hôm nay nhưng có ngày giá trị khác nhau [5,tr.201].

Từ khái nịêm, ta thấy hợp đồng hoán đổi có đặc điểm sau:

  • Ḥơp đồng mua vào và bán ra ṃôt đồng tiền nhất định đựơc ký kết đồng thời ṭai ngày hôm nay
  • Số lựơng mua vào và bán ra đồng tiền này bằng nhau trong cả hai vế mua và bán của hợp đồng hoán đổi.
  • Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và ngày giá trị của hợp đồng bán ra là khác nhau

Như ṿây, các giao dịch hoán đổi không tạo ra trạng thái ngoại hối ròng, tức trạng thái ngoại tệ USD luông bằng 0 nên tránh đựơc rủi ro tỷ giá, nhưng do trong giao dịch hoán đổi tạo ra độ lệch về mặt thời gian đối với các luồng tiền cho nên các bên tham gia hợp đồng tránh đựơc rủi ro tỷ giá nhưng phải đối ṃăt với rủi ro lãi suất.

Ḥơp đồng hoán đổi gồm 2 loại: Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

  • Loại 1: gồm 1 giao dịch giao ngay và ṃôt giao dịch kỳ hạn (Spot – Forward Swap) đựơc sử dụng phổ biến
  • Loại 2: gồm 2 giao dịch đều là kỳ hạn được ký kết đồng thời tại hiện tại nhưng ngày giá trị khác nhau (Forward – Forward Swap) ít được sử dụng trong thực tế

Tỷ giá hoán đổi phản ánh điểm kỳ hạn, tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng hoán đổi 2 đồng tiền nhất định thông qua giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn. Như ṿây, xét về bản chất thì tỷ giá hoán đổi chính là điểm kỳ hạn, do đó tỷ giá hoán đổi = tỷ giá kỳ hạn – tỷ giá giao ngay. Trên thị trường Interbank, tỷ giá hoán đổi được yết theo điểm kỳ hạn, ví dụ “190 – 180”. Điều này có nghĩa là ngân hàng yết giá sẵn sàng mua kỳ hạn ṭai mức tỷ giá giao ngay trừ đi 190 điểm và sẵn sàng bán kỳ hạn ṭai mức tỷ giá giao ngay trừ đi 180 điểm.

Ứng dụng của giao dịch hoán đổi

  • Kéo dài hay rút ngắn trạng thái tiền tệ;
  • Ứng dụng Swap trong đầu tư quốc tế: các nhà đầu tư thường lo ngại vấn đề rủi ro ngoại hối đối với tài sản đầu tư bằng ngoại tệ. Bằng nghịêp ṿu hoán đổi không những phòng tránh đựơc rủi ro tỷ giá mà nó còn có thể mang ḷai mức lãi suất cao hơn cho các nhà đầu tư.
  • Kinh doanh chênh ḷêch lãi suất có bảo hiểm: áp dụng khi các nhà kinh doanh tiền ṭê khi phát hịên thấy ṣư không nhất quán giữa tỷ giá Swap với tỷ giá giao ngay và lãi suất hiện hành trên thị trường.

Trên thực tế, giao dịch hoán đổi đựơc thực hịên trên thị trường OTC và   hiện nay giao dịch này cũng rất phát triển nhờ những ưu điểm của nó so với giao dịch giao ngay và kỳ hạn. Sau gần 20 năm kể từ khi giao dịch hoán đổi đựơc ghi nhận đầu tiên là giao dịch giữa Ngân hàng thế giới (World Bank) và công ty máy tính hàng đầu thế giới IBM vào tháng 8/2008 (Theo Thời báo ngân hàng số 9/2019,trang 59), giao dịch Swap đã chiếm một vị trí quan trọng trong số những giao dịch trên thị trường ngoại hối nói chung và Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nói riêng. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

  • Hình 1.6: Doanh số của giao ḍich hoán đổi trên tḥi trường FX giai đọan 2021-2025

Doanh số của giao dịch hoán đổi và quyền chọn đã giảm 17% trong vòng 6 tháng tính đến tháng 11 năm 2024, và hơn 10% nếu tính đến tháng 4 năm 2025. Ṣư suy giảm này là do hoạt động đầu tư quốc tế giảm mạnh kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2023.

1.4.4 Giao dịch quyền chọn (option transaction):

Giao dịch quyền chọn tiền tệ là giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước [7,tr.289].

Như vậy, trong hợp đồng quyền chọn, người mua lỗ tối đa là phí quyền chọn trả cho người bán vì dù có thực hiện quyền chọn hay không họ vẫn phải trả phí nhưng lợi nhuận họ thu được là không giới hạn nếu tỷ giá biến động như dự đoán. Ngược lại, đối với người bán hợp đồng quyền chọn thì rủi ro là không giới hạn vì họ phải luôn sẵn sàng thực hiện quyền chọn khi người mua yêu cầu nhưng đổi lại lợi nhuận thu được phụ thuộc vào phí quyền chọn.

Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn; thời gian từ khi ký hợp đồng quyền chọn đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn. Mức giá xác định áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện (exercise price hay strike price).

Trong giao dịch quyền chọn tiền tệ, tỷ giá áp dụng là tỷ giá quyền chọn. Tỷ giá này không chỉ phụ thuộc vào yếu tố cung, cầu mà còn phụ thuộc vào phí quyền chọn.

Kì hạn của hợp đồng quyền chọn thường là từ 1 đến 12 tháng. Kì hạn càng dài thì phí mua quyền chọn càng cao. Việc thực hiện quyền chọn phải được thực hiện trước 4 giờ chiều ngày cuối cùng của kì hạn. Việc thanh toán và giao ngoại tệ được thực hiện vào 2 ngày sau.

Có 2 loại quyền chọn là quyền chọn mua và quyền chọn bán:

  • Quyền chọn mua (Call option) Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Quyền chọn mua trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, được mua ngoại tệ vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định.

  • Đối với quyền chọn mua, có thể có người bán hoặc người mua quyền chọn. Vì thế sẽ có 2 loại hợp đồng là:

Mua quyền chọn mua (Long option Call): người mua có quyền (không phải nghĩa vụ) mua ngoại tệ với tỷ giá cố định tại một thời điểm xác định trong tương lai.

Bán quyền chọn mua (Short option Call): bán hợp đồng quyền chọn được mua ngoại tệ với tỷ giá cố định tại một thời điểm xác định trong tương lai tức là người bán hợp đồng phải luôn sẵn sàng bán ngoại tệ tại mức tỷ giá thỏa thuận nếu người mua yêu cầu.

  • Quyền chọn bán (Put option)

Quyền chọn bán trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, được bán ngoại tệ vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định.

  • Đối với quyền chọn bán, có thể có người bán hoặc người mua quyền chọn. Vì thế sẽ có 2 loại hợp đồng là:

Mua quyền chọn bán ( Long option Put): người mua quyền chọn có quyền( không phải nghĩa vụ) bán ngoại tệ tại một tỷ giá cố định thỏa thuận tại một thời điểm xác định trong tương lai.

Bán quyền chọn bán ( Short option Put): người bán nhận được một khoản phí hợp đồng quyền chọn và phải luôn sẵn sàng mua ngoại tệ tại mức tỷ giá quyền chọn đã thỏa thuận khi người mua thực hiện quyền chọn bán của mình.

  • Có hai kiểu hợp đồng quyền chọn là quyền chọn kiểu châu Âu chỉ cho phép người mua thực hiện hợp đồng khi đáo hạn và quyền chọn kiểu Mỹ cho phép người mua thực hiện quyền chọn vào bất cứ lúc nào trước khi hợp đồng hết hạn.
  • Tổ chức giao dịch quyền chọn trên thị trường: Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.
  • Quyền chọn tiền tệ được thực hiện giao dịch tại sàn giao dịch và trên thị trường
  • Các hợp đồng quyền chọn lớn nhất được giao dịch tại NewYork và London. Khối lượng giao dịch trung bình/1 hợp đồng là 15 – 25 triệu USD.
  • Giao dịch quyền chọn trên sở giao dịch tương tự như hợp đồng tương lai: hợp đồng quyền chọn thực hiện trên sở giao dịch là hợp đồng được chuẩn hóa về loại quyền chọn, giá thực hiện, ngày đáo hạn,…
  • Khách hàng trên sở giao dịch là bất cứ cá nhân nào tiến hành kí hợp đồng thông qua môi giới.
  • Thực hiện quyền chọn trực tiếp trên sở giao dịch là các nhà môi giới và thành viên của trung tâm thanh toán bù trừ.

Lợi ích của giao dịch quyền chọn:

Cũng giống như các giao dịch phái sinh khác, giao dịch quyền chọn là một phương tiện phòng ngừa rủi ro tỷ giá hữu hiệu khi kinh doanh trên thị trường ngoại hối. Ngoài ra, hợp đồng quyền chọn còn là một công cụ đầu cơ với chi phí tương đối thấp và rủi ro hạn chế. Chi phí trong hợp đồng quyền chọn là phí quyền chọn và trong trường hợp tỷ giá biến động bất lợi thì người mua có thể từ bỏ việc thực hiện quyền chọn.

1.4.5 Giao dịch tương lai (future transaction)

Giao dịch ngoại hối tương lai là giao dịch theo đó hai bên cam kết sẽ mua hoặc bán với nhau một lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm ấn định trong tương lai.

Về bản chất là một giao dịch kì hạn được thực hiện tại sở giao dịch và đối tượng giao dịch là các hợp đồng ngoại tệ đã được tiêu chuẩn hóa về loại, số lượng ngoại tệ và thời gian thanh toán.

Đặc điểm của giao dịch tương lai:

  • Các điều kiện trong hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hóa

Ví dụ : Hợp đồng ngoại hối tương lai được giao dịch tại sàn Chicago với đặc điểm + CAD, CHF, AUD, GBP, JPY, ….được niêm yết trực tiếp với USD Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

  • Số lượng tiền tệ của 1 hợp đồng : 100000 CAD/ 1 hợp đồng, 62500GBP/USD
  • Thời hạn thanh toán của hợp đồng: thứ 4 của tuần thứ 3 các tháng 3,6,9,12

Tổ chức thị trường:

  • Nhà môi giới là người giao dịch trực tiếp với khách hàng
  • Sở giao dịch có một trung tâm thanh toán bù trừ (clearing house)

Ví dụ : Ngày 1/12 một khách hàng có nhu cầu mua 100000 EUR kí một hợp đồng tương lai sau 3 tháng : F = 1,4550. Một khách hàng khác kí bán 100000 EUR, F = 1,4550 Khi đó, clearing house sẽ tập trung tất cả các giao dịch của broker, khớp lệnh hai người mua và bán để trở về trạng thái cân bằng thị trường.

So với giao dịch kỳ hạn, giao dịch tương lai có một số điểm khác biệt:

Ứng dụng của hợp đồng tương lai:

  • Là một công c̣u để các ngân hàng, các doanh nghiệp, nhà đầu tư bảo hiểm rủi ro tỷ giá
  • Đầu cơ ngoại tệ: với nhà bảo hiểm rủi ro thì mục đích giảm thiểu rủi ro biến tỷ giá; với nhà kinh doanh chênh lệch tỷ giá sẽ thu được lợi nhuận nhưng tránh được rủi ro nhờ kinh doanh chênh lệch giữa tỷ giá future và tỷ giá giao ngay; với nhà đầu cơ hưởng lợi nhuận từ biến động tỷ giá.
  • Kinh doanh điểm tỷ giá (spreading): thu lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá
  • Mở trạng thái (open position): thu lợi nhuận từ mua vào – bán ra hợp đồng

1.5. Vai trò của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đối với phát triển thị trường ngoại hối và nền kinh tế đất nước Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Vai trò của thị trường liên ngân hàng trên FX hiện nay được thể hiện bằng biểu đồ sau đây:

  • Hình 1.7: Tỳ trọng của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trên thị trường ngoại hối

Như vậy, 99% các giao dịch trên thị trường ngoại hối có sự tham gia của các ngân hàng. Các ngân hàng vừa tham gia thị trường vừa là trung gian cho khách hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cung cấp tính thanh khoản cho thị trường ngoại hối với ṃang lưới ngân hàng giao dịch ṛông khắp, gần như không bị giới hạn về không gian thời gian do tr̀inh độ khoa học kỹ thuật hiện đại mà thông tin được truyền đi nhanh chóng, kịp thời. Đây là thị trường nền tảng cơ sở cho ṣư tồn ṭai và phát triển của thị trường ngoại hối. Thông qua Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, Ngân hàng trung ương có thể can thịêp lên thị trường ngoại hối bằng các công c̣u như lãi suất chiết khấu , dự trữ bắt buộc ,…và nhờ đó đã giúp Nhà nước thực hiện chính sách ngoại hối quốc gia.

Tỷ giá giao dịch hình thành trên thị trường Interbank có tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi thanh toán bằng ngoại tệ và do đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của ṃôt quốc gia. Ṃăt khác, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn giúp luân chuyển dòng vốn đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác cũng như các giao lưu giữa các quốc gia nên sẽ cải thiện đáng kể quỹ dự trữ ngoại hối của quốc gia đó.

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, lãi từ kinh doanh ngoại hối vẫn là nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng trên thế giới và thông qua các nghiệp vụ phái sinh như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn,… mà các ngân hàng giảm thiểu được rủi ro hoạt động, do đó đã góp phần ngăn chặn sự đổ vỡ hàng loạt của hệ thống ngân hàng. Mặt khác, chính việc duy trì ổn định, hiệu quả hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng mà các quốc gia mới có thể kiềm chế lạm phát, bình ổn tỷ giá, tăng cường và củng cố quỹ dự trữ ngoại hối,…

Tóm lại, cũng chính bởi tính chất kinh doanh đặc thù của ngành ngân hàng mà có thể nói Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng sẽ phản ánh một cách chân thực và chính xác nhất trình độ phát triển của thị trường tài chính cũng như bản thân hệ thống ngân hàng của một quốc gia. Sự ra đời của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một tất yếu khách quan, vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường ngoại hối là cần có một thị trường để nâng đỡ hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng, vừa có tác dụng thực hiện chính sách an ninh tiền tệ quốc gia, kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế.

II: Kinh nghịêm phát triển Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ṭai ṃôt số nước trên thế giới Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

1. Kinh nghiệm của Mỹ

  • Mỹ là một quốc gia có thị trường ngoại hối phát triển hàng đầu thế giới hiện nay

Hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giao dịch của thị trường ngoại hối, không chỉ trên lãnh thổ quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế do hệ thống chi nhánh của các ngân hàng Mỹ có mặt ở hầu hết các nước trên toàn cầu. Hình thành và phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Mỹ đã có những bước tiến vựơt bậc và có đựơc ṿi thế như ngày nay. Có thể tóm tắt ṃôt số nét chính về lịch sử hình thành và đặc điểm phát triển của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Mỹ như sau:

Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng năm 1907 xảy ra đã thôi thúc quốc hội Mỹ phải thành lập ngay một Ủy ban tiền tệ quốc gia, đồng thời đã đưa ra những đề nghị thiết lập một thể chế có thể giúp ngăn ngừa và chống đỡ được những rủi ro trong lĩnh vực tài chính. Sau các cuộc thảo luận kỹ lưỡng, Quốc hội Mỹ đã thông qua Hiệp ước Dự trữ liên bang nhằm “tạo cơ sở cho sự ra đời của các ngân hàng dự trữ liên bang, cung cấp các phương tiện đủ khả năng để tái chiết khấu các chứng từ thương mại, thiết lập một cơ chế giám sát ngân hàng có hiệu quả hơn ở Mỹ, và vì nhiều mục đích khác nữa”.

Ngày 23/12/1913, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) ra đời đánh dấu ṃôt bước phát triển mới cho thị trường ngoại hối Mỹ nói chung và Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nói riêng. FED gồm 12 ngân hàng dự trữ liên bang và một số chi nhánh khác. FED thực hịên các hoạt động can thịêp lên thị trường ngoại hối với tư cách là cơ quan quản lý tiền ṭê quốc gia nhưng thực tế FED cũng thực hịên ṃôt số giao dịch không mang tính chất phục ṿu cho các cơ quan chính phủ. Các Ngân hàng thương mại đã có một thị trường chính thức để giao dịch với nhau và không chịu sự can thiệp của nhà nước. Đây cũng là tiền đề để hình thành hàng loạt sàn giao dịch ngoại hối trên toàn nước Mỹ sau này. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Trong 15 năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ 2, Cục dự trữ liên bang Mỹ FED đã không can thịêp tṛưc tiếp lên thị trường ngoại hối. Nhưng dưới chế độ Bretton Woods, Mỹ có nghĩa vụ đảm bảo đổi USD ra vàng với giá $35/ounce cho tất cả các Ngân hàng thương mại thuộc thành viên IMF và có trách nhiệm can thiệp lên thị trường để đảm bảo tỷ giá của đồng nội ṭê so với USD chỉ dao động trong biên độ cho phép ±1%.

Đầu những năm 60, FED can thịêp tṛưc tiếp lên thị trường ngoại hối (bán vàng ra và mua USD vào ) nhằm giảm áp ḷưc chuyển đổi USD ra vàng và bình ổn thị trường. Tuy nhiên, sang đến năm 1973 khi hệ thống Bretton Woods hoàn toàn ṣup đổ thì thế giới đã chuyển sang áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi. Mỹ cũng đã duy trì chế độ tỷ giá thả nổi tự do từ năm 1978 cho đến nay. Với chế độ này, tỷ giá của USD được hình thành tự do trên thị trường ngoại hối, chính phủ Mỹ chỉ can thiệp trong những trường hợp thật cần thiết.

Chính điều này đã khiến cho TTNTL NH Mỹ có điều kịên phát triển ṭư do hơn và mở ra cơ hội kinh doanh ngoại ṭê đối với các Ngân hàng thương mại và nhà đầu tư.

Giai đoạn 1978-1981, nước Mỹ chịu tỷ ḷê lạm phát cao và cán cân thanh toán xấu đi nghiêm trọng do giá dầu tăng ṃanh khiến chính phủ Mỹ phải tung ra gói hỗ tṛơ ngoại ṭê tương đương 30 tỷ USD, đồng thời thi hành chính sách tiền ṭê thắt chặt nhằm ngăn chặn ḷam phát có thể xảy ra.

Giai đoạn 1981-1985: chính phủ Mỹ duy trì cơ chế không can thiệp, giá USD tăng mạnh trong một môi trường kinh tế tăng trưởng và chính sách tiền tệ thắt chặt với mức lãi suất USD cao hơn ṃăt bằng quốc tế. Tuy nhiên, liên tiếp những năm sau đó từ cuối năm 1985 đến 2006, Chính phủ Mỹ đã can thiệp mạnh mẽ lên thị trường nhằm bình ổn giá USD, không để USD lên giá hay giảm giá quá mức thực hịên cam kết với nhóm nước công nghịêp phát triển của châu Âu khi đó.

Trong những năm 2007, ṣư can thịêp diễn ra theo cả hai chiều mua vào và bán ra. Năm 2008 và 2009, chính phủ Mỹ đã mua vào 2695 trịêu USD và bán ra 750 trịêu USD. Từ năm 2010 đến năm 2012, áp lực lên ṣư giảm giá USD là rất lớn, chỉ trong vòng 18 ngày giao dịch, chính phủ đã mua vào 14 tỷ USD. Đến cuối năm 2014, chính phủ Mỹ mới ḷai can thịêp lên thị trường bán USD và mua JPY để nâng giá đồng Yên. Tất cả các hoạt động này đều đựơc chính phủ Mỹ công khai định kỳ hàng quý [3, tr.126 – 131].

  • Về đặc điểm phát triển của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Mỹ:

TTNTLNH Mỹ ra đời từ rất sớm và đã đạt đựơc tr̀inh độ phát triển rất cao. Tỷ giá giao dịch trên thị trường đựơc hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu ngoại ṭê. Hịên nay, tại Mỹ hầu hết các ngân hàng đều là những thành viên quan trọng hoạt động trên thị trường ngoại hối. Nhưng giữa các ngân hà ng này có ṣư khác nhau đáng kể về quy mô, phạm vi và mục đích hoạt động. Ṃôt số ngân hàng là những nhà ṭao ḷâp thị trường (market maker), số còn ḷai đơn thuần chỉ chấp nhận giá. Doanh số giao dịch ṭâp trung chủ yếu vào ṃôt số ít ngân hàng thuộc những thành viên tham gia tích c̣ưc trên thị trường. Cụ thể chỉ tính riêng 10 ngân hàng hàng đầu đã chiếm tới 51% tổng doanh số kinh doanh ở Mỹ. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

TTNTLNH Mỹ có ṃang lưới chi nhánh ṛông lớn trong và ngoài nước. Chính nhờ các nguồn thu từ các chi nhánh ở nước ngoài mà các Ngân hàng thương mại Mỹ lại càng có điều kiện đầu tư cho hoạt động kinh doanh ngoại hối ở trong nước. Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại Mỹ còn làm đại lý cho nhau trên khắp cả nước và thường xuyên giao dịch với nhau tìm kiếm khách hàng nhằm đảm bảo cân bằng trạng thái ngoại hối và phòng ngừa rủi ro hối đoái mang tính chất dây chuyền.

Các ngân hàng đều có phòng kinh doanh ngoại hối riêng, đựơc lắp đặt trang thiết bị và công nghệ chuyên dụng và đắt tiền; đội ngũ là những nhà kinh doanh chuyên nghịêp có thể lên tới hàng trăm người. Mỗi ngân hàng là nhà ṭao ḷâp thị trường đều sử dụng công nghệ đồng bộ và hiện đại, có thể nắm bắt diễn biến thị trường một cách nhanh chóng. Các giao dịch có thể được tiến hành trực tiếp giữa các ngân hàng với nhau hoặc thông qua môi giới. Người môi giới là trung gian giữa các ngân hàng, đưa ra giá mua vào và bán ra tốt nhất cho thị trường.

Các nghịêp ṿu giao dịch phái sinh trên thị trường cũng rất phát triển. Ví dụ như giao dịch quyền chọn đựơc ra đời đầu tiên ṭai sàn giao dịch Chicago Mỹ. Đồng Đôla Mỹ vẫn là đồng tiền giao dịch chiếm tỷ tṛong lớn nhất trong số các đồng tiền tham gia vào thị trường ngoại hối hịên nay.

  • Thành tựu đạt được của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Mỹ

Kể từ khi thành ḷâp, doanh số giao dịch của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Mỹ đã liên ṭuc tăng trưởng. Doanh số giao dịch của sàn giao dịch NewYork đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau sàn giao dịch London. Đồng USD là đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dịch, chiếm 41,5% trong tổng số các đồng tiền tham gia thị trường ngoại hối quốc tế. Trong năm 2025, doanh số của các giao dịch sử dụng USD chiếm tới 86% tổng doanh số thị trường ngoạ i hối.

Hình 1.8: Tỷ giá trên FX của một số cặp tiền tệ chủ yếu

  • Bài học kinh nghiệm của Mỹ Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Các Ngân hàng thương mại Mỹ có nhiều kinh nghiệm về sử dụng linh hoạt các công cụ kinh doanh ngoại hối, là nước đi đầu trong việc sử dụng các công cụ tài chính hiện đại như giao dịch quyền chọn, tương lai. Vịêc sử dụng các công c̣u tài chính hịên đại này đã ṭao ra ṣư linh hoạt cho các Ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của m̀inh và cho khách hàng. Ngoài ra đối tượng được các Ngân hàng thương mại Mỹ kinh doanh trên thị trường ngoại hối rất đa dạng và phong phú, bên c̣anh ngoại ṭê là ṃăt hàng truyền thống thì các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cũng rất phổ biến đặc biệt là trái phiếu và cổ phiếu cho người nước ngoài.

Bài học về quản lý ngoại hối của N HTW: Vịêc điều hành và can thịêp của Chính phủ lên thị trường là rất hạn chế và nếu có thì sẽ được công khai, minh bạch. Điều này làm tăng tính tự chủ của các Ngân hàng thương mại, tỷ giá hình thành khách quan dựa theo quy luật cung – cầu của thị trường.

2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Quá trình hình thành và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của Trung Quốc gắn liền với ṣư phát triển của thị trường ngoại hối Trung Quốc và có thể chia ra 2 giai đoạn.

Giai đọan trước năm 1979: Trong giai đoạn này Trung quốc thực hiện quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chính phủ thống nhất và tập trung quản lý các hoạt động ngoại hối. Trung quốc thực hiện chế độ tỷ giá cố định, ngân hàng nhân dân Trung quốc là cơ quan duy nhất công bố tỷ giá mua bán ngoại tệ của cả nền kinh tế. Cũng giống như nhiều quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc thực hịên chế độ tỷ giá cố định – đa tỷ giá. Các loại tỷ giá được ấn định khác nhau tùy theo quan hệ kinh tế đối ngoại và thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên có tính chất nội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa xoay quanh giá trị đồng Rúp và được ấn định có giá trị ngang bằng đồng USD. Các yếu tố thị trường như quan hệ cung -cầu, các nhân tố tác động tới tỷ giá với thị trường ngoại hối, thị trường tài sản chỉ tồn tại có tính chất hình thức hoặc tồn tại không có tác dụng đòn bẩy việc tăng trưởng kinh tế. Ḥâu quả là nền kinh tế Trung Quốc rơi vào thời kỳ suy thoái và khủng hoảng trong những năm 70-80.

Giai đọan sau năm 1979 đến nay: Năm 1979, Trung quốc tiến hành cải cách kinh tế. Nhiều chính sách kinh tế mới được ban hành nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, Trung quốc chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng, các ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là Hoa kiều đầu tư vào trong nước để xuất khẩu thu ngoại tệ. Chính phủ Trung Quốc bảo lãnh việc cân đối ngoại tệ cho các dự án xuất khẩu thu ngoại tệ. Để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế, chế độ tỷ giá cũng có thay đổi, bên cạnh tỷ giá chính thức do ngân hàng nhân dân Trung quốc công bố, sử dụng để hạch toán, tính thuế xuất nhập khẩu, Trung quốc cho phép một loại tỷ giá thứ hai được tồn tại, sử dụng để mua bán, giao dịch trên thị trường ngoại tệ. Năm 2008, Trung quốc chuyển từ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, duy trì hai loại tỷ giá. Do tỷ giá thị trường biến động mạnh đã tạo ra khoảng cách giữa hai loại tỷ giá. Đến năm 2010, thị trường giao dịch hối đoái giữa các doanh nghiệp phát triển, làm cho chênh lệch giữa hai loại tỷ giá càng gia tăng. Trong thời gian này các doanh nghiệp được phép giữ lại một phần ngoại tệ để sử dụng. Kết quả là ngoại tệ tập trung vào nhà nước ít hơn so với khu vực dân cư nắm giữ, Trung quốc gặp khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ.

Để khắc phục các khó khăn do thị trường tự phát gây nên, để thực hiện kế hoạch mở cửa kinh tế đối ngoại, đồng thời tạo điều kiện cải thiện cán cân thương mại, Trung quốc đã đưa tỷ giá chính thức lên ngang bằng với tỷ giá thị trường. Việc điều chỉnh thống nhất hai loại tỷ giá được thực hiện từ ngày 01/01/2011. Trung quốc đã cho đồng nhân dân tệ phá giá tới 35%, tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ mức 5,7 NDT/USD lên 8,7 NDT/USD. Kèm theo đó là các quy định xóa bỏ chế độ tự giữ ngoại hối, các doanh nghiệp thực hiện chế độ kết hối ngoại tệ 100%, các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ thanh toán hàng nhập khẩu được mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép. Riêng các giao dịch phi thương mại không được phép mua ngoại tệ của các ngân hàng. Trung quốc cho phép thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng với trung tâm chính tại Thượng Hải và một số chi nhánh tại các thành phố lớn để thực hiện các giao dịch giao ngay trên thị trường. Từ năm 2011 đến nay Trung quốc đã thực hiện chuyển đổi tỷ giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tuy nhiên trên thực tế Trung quốc vẫn thực hiện cơ chế tỷ giá cố định gắn với đồng USD. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Trong những năm 2012 -2013, Trung Quốc đã vươn lên đứng đầu các nước đang phát triển về mức độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp, tạo khả năng giảm sốc cho nền kinh tế trước khủng hoảng tài chính – tiền ṭê khu ṿưc. Đồng CNY được duy trì ổn định, với tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu cao nhất so với các nước trong khu ṿưc và trên thế giới. Ngày 1/12/2012 đồng CNY Trung Quốc đã chính thức đựơc Quỹ tiền ṭê quốc tế (IMF) công nhận là đồng tiền chuyển đổi ṭư do và các tài khoản vãng lai. Nhận thức đựơc cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á, cuối năm 2014 Trung Quốc đã đưa ra các tiêu chuẩn kế toán quốc tế cho các ngân hàng, mặc dù hệ thống này chưa được áp dụng rộng rãi. Một phần trong chương trình cải cách hệ thống ngân hàng là cải cách lãi suất nhằm đưa các mức lãi suất về sát với cung cầu thị trường để tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng tài sản của các ngân hàng. Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBOC) đã tự do hoá lãi suất thị trường liên ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại đã được phép điều chỉnh lãi suất cho vay trên dưới 10% và trên 30% đối với các khoản vay cho các công ty nhỏ. Tháng 9/2016, PBOC lên kế hoạch 3 năm để tự do hoá lãi suất. Các hạn chế đối với việc cho vay bằng ngoại tệ đã được loại bỏ ngay lập tức và tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ đã tăng lên. Theo kế hoạch bước tiếp theo là tự do hoá lãi suất cho vay bằng bản tệ. Sự nới lỏng các hạn chế về lãi suất tiền gửi bằng bản tệ là bước cuối cùng.

Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc có 5 năm để chuyển đổi và Chính phủ Trung Quốc đã cam kết cho phép các ngân hàng nước ngoài được phép thực hiện tất cả các hình thức giao dịch ngoại hối với khách hàng nước ngoài ngay khi gia nhập; trong vòng 1 năm sau khi gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài sẽ được phép thực hiện tất cả các hình thức giao dịch ngoại hối với khách hàng Trung Quốc tại các thành phố được chỉ định, danh sách những thành phố này được Chính phủ Trung Quốc mở rộng thêm 4 thành phố mỗi năm và còn nhiều ưu đãi khác đối với ngân hàng nước ngoài. Việc tự do hoá đã giúp các liên doanh nước ngoài cân bằng các khoản đầu tư bằng ngoại tệ của họ. Hoạt động trao đổi ngoại hối do chính quyền trung ương thực hiện chiếm 20% tổng ngoại hối ở Trung Quốc. Các liên doanh hay các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài được phép giữ lại toàn bộ khoản thu nhập bằng ngoại hối của họ trong các tài khoản ngoại hối ở BOC hay ở các ngân hàng được uỷ quyền nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài.

Năm 2019, Trung Quốc mới chỉ cho phép 2 loại nghiệp vụ là giao ngay và kỳ hạn. Nghịêp ṿu kỳ hạn của Trung Quốc mới chỉ ở giai đoạn thử nghịêm, chỉ có một số ngân hàng được phép cung cấp dịch vụ này. Đến năm 2021, các sản phẩm trên thị trường ngày càng phong phú, các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro và công cụ tài chính phái sinh như: “forward” và “swap” cũng đã được phát triển, các giao dịch mua bán qua quầy (OTC) đã được thực hiện trong các hoạt động thị trường liên ngân hàng. Trung Quốc đã giảm dần việc kiểm soát tập trung, loại bỏ bớt các qui định không cần thiết trong việc quản lý ngoại hối, bao gồm việc nới lỏng việc kiểm soát phần ngoại tệ được giữ lại và ngoại tệ trong các tài khoản vốn của các doanh nghiệp, linh hoạt hoá trong việc sử dụng ngoại tệ trên các tài khoản của cá nhân và doanh nghiệp. PBOC đã cho phép các Ngân hàng thương mại được chủ động về cơ cấu theo trạng thái “trường”, “đoản” của từng loại ngoại tệ trong tổng số ngoại tệ mà các ngân hàng này đang nắm giữ. Thông qua các cải cách về qui chế ngoại hối này, thị trường ngoại hối Trung Quốc đang tiến dần tới chỗ phản ánh đúng quan hệ cung cầu về ngoại tệ. Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

  • Thành tựu của Trung Quốc:

Những thay đổi của chính sách tỷ giá bắt đầu từ năm 2011 lại đây đã góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Trung quốc. Trước năm 2011, Trung quốc luôn bị thâm hụt thương mại, cán cân vãng lai thiếu ổn định. Từ năm 2019 lại đây, cán cân thương mại Trung quốc luôn duy trì mức tăng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, đến năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt lên đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Đức. Đến cuối năm 2025, Trung quốc đã thay thế Đức trở thành nền kinh tế xuất khẩu hàng đầu thế giới sau Mỹ. Trung quốc vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP cao trong nhiều năm liên tục, tính đến cuối năm 2024 đã vươn lên vị trí thứ ba thế giới sau Mỹ và Nhật, năm 2025 vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP trên 8%. Dự trữ ngoại hối của Trung quốc đứng đầu thế giới. Tân Hoa xã dẫn nguồn tin Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) ngày 12/4 cho hay, tính đến cuối tháng 3/2026, dự trữ ngoại tệ của nước này đã đạt mức kỷ lục mới, 2.447,1 tỷ USD, tăng 25,25% so với mức 1.953,7 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Ḍư trữ ngoại hối cao là lá chắn cho an ninh tiền ṭê quốc gia và tăng uy tín của đồng CNY trên thị trường quốc tế.

  • Hình 1.9: Một số chỉ tiêu kinh tế của Trung Quốc giai đoạn từ 2016-2025

Như ṿây, qua thực tiễn phát triển của thị trường ngoại hối Trung Quốc, ta rút ra đựơc bài học kinh nghịêm quý báu cho Vịêt Nam. Đó là:

  • Bài học về duy trì tỷ giá hối đoái tối ưu với nền kinh tế: Trung Quốc đã biết tìm thời điểm phá giá, giảm giá đồng tiền cho thích hợp và duy trì được tỷ giá tối ưu cũng như sử dụng các biện pháp khác để giảm tác động ngược chiều .
  • Bài học về phối hợp giữa chính sách tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ: Trung Quốc sử dụng lãi suất như ṃôt công c̣u mềm dẻo để hỗ tṛơ chính sách tỷ giá. Có thể nói chính sách tiền ṭê và chính sách tỷ giá có mối liên hệ chặt chẽ, tác động hỗ tṛơ lẫn nhau và sẽ phát huy hịêu quả khi sử dụng đúng lúc và đúng cách.
  • Bài học về quản lý quỹ dự trữ ngoại hối: Trung Quốc sử dụng tiết kịêm quỹ dự trữ ngoại hối, dự trữ ngoại hối chỉ đựơc sử dụng để can thịêp lên thị trường khi cần thiết và thông qua các kênh đầu tư đáng tin c̣ây.
  • Bài học về quản lý ngoại tệ chặt, giảm đôla hóa nền kinh tế: Cùng với các chính sách tỷ giá, lãi suất và quy định về tỷ lệ DTBB ngoại tệ, Trung Quốc đã giảm tình trạng Đôla hóa.
  • Bài học về chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước: Trung Quốc đã cải cách hệ thống Ngân hàng thương mại trong l̃inh ṿưc kinh doanh ngoại hối để hội nhập với kinh tế quốc tế nhưng vẫn xem xét và áp dụng chính sách sao cho phù hợp với điều kịên kinh tế của đất nước.

Kết luận chương 1: Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam.

Chương 1 đã khái quát cơ sở lý luận về thị trường ngoại hối nói chung và thị trường ngoại ṭê liên ngân hàng nói riêng. Thông qua đó, chúng ta có cái nhìn tổng quan về thị trường ngoại hối quốc tế cũng như học hỏi được kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển hơn để có thể áp dụng vào thị trường Việt Nam một cách hiệu quả.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

One thought on “Khóa luận: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537