Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (No&PTNT) Thanh Hóa được thành lập theo Quyết định số 31/NĐ-QĐ ngày 18/5/1988 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Thanh Hóa.

Sau 25 năm hoạt động, chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Thanh Hóa đã có mặt tại 27/27 huyện, thị, thành phố trong toàn tỉnh. Mạng lưới rộng khắp với 74 chi nhánh thậm chí là cả khu công nghiệp, thị trấn cũng có thể sử dụng dịch vụ của Ngân hàng No&PTNT một cách tiện lợi và nhanh chóng.

Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa là chi nhánh cấp 2 trực thuộc Ngân hàng No&PTNT Thanh Hóa, được thành lập theo Quyết định số 160/QĐ-NH ngày 30/07/1994 của Thống Đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam theo mô hình tổ chức của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam và căn cứ vào Quyết định số 314/TCCB-ĐT của Giám Đốc Ngân hàng No&PTNT Thanh Hoá. Chi nhánh số 4 được đi vào hoạt động từ ngày 1/8/1996.

Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa là một bộ phận của Ngân hàng No&PTNT Thanh Hoá thuộc Ngân hàng No&PTNT Việt Nam, hoạt động thống nhất tập trung dưới sự chỉ đạo của Tổng Giám Đốc Ngân hàng No&PTNT Việt Nam mà trực tiếp là Giám Đốc Ngân hàng No&PTNT Thanh Hoá. Chi nhánh số 4 có địa chỉ giao dịch tại số 244 đường Bà Triệu, phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hoá.

Chi nhánh số 4 Ngân hàng No&PTNT Thanh Hoá là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thực hiện kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ Ngân hàng với các đơn vị, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế dưới sự chỉ đạo của Giám Đốc Ngân hàng No&PTNT Thanh Hoá. Qua 17 năm xây dựng và phát triển, Chi nhánh số 4 đã có những bước tiến vững chắc, khẳng định uy tín vị thế và thương hiệu của mình trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Chi nhánh số 4 đã bám sát các chương trình phát triển kinh tế của địa phương ở từng thời kỳ để đầu tư đúng hướng. Mọi hoạt động của chi nhánh số 4 nhằm mục đích góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn thông qua nghiệp vụ kinh doanh tổng hợp tiền tệ tín dụng và dịch vụ Ngân hàng với các đơn vị, cá nhân thuộc thành phần kinh tế. Để đạt được những kết quả trên ngoài sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết nhất trí của tập thể cán bộ nhân viên chi nhánh, Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa đã nhận được sự hỗ trợ có hiệu quả từ các khách hàng, giúp đỡ của Ngân hàng No&PTNT Thanh Hóa mà trên nữa là sự chỉ đạo của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

  • Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:

  • Ban giám đốc:

Ban giám đốc của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa bao gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc, chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình kinh doanh của ngân hàng.

Giám đốc là người đứng đầu chi nhánh, người có quyền hạn và trách nhiệm lớn nhất của chi nhánh. Giám đốc chi nhánh có quyền quyết đinh mọi vấn đề của chi nhánh trong phạm vi quyền hạn của mình. Ngoài ra, Giám đốc chi nhánh còn có quyền uỷ nhiệm cho Phó giám đốc chi nhánh thay mặt mình thực hiện một số công việc dựa trên sự tham mưu của các phòng nghiệp vụ.

Phó Giám Đốc là người tham mưu cho Giám đốc, giúp Giám Đốc thực hiện các nhiệm vụ của Giám Đốc uỷ quyền, điều hành mọi hoạt động của chi nhánh khi Giám đốc đi vắng, báo cáo lại kết quả công việc khi Giám đốc đã có mặt tại chi nhánh và chịu trách nhiệm trước Giám Đốc về các quyết định của mình. Chi nhánh số 4 có 2 Phó Giám đốc là: Phó Giám đốc chỉ đạo dịch vụ và chỉ đạo phòng giao dịch và Phó Giám đốc chỉ đạo công tác kế toán và tín dụng.

  • Phòng Kế toán – Ngân quỹ:

Phòng Kế toán – Ngân quỹ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kế toán theo đúng quy định của pháp luật.

Phòng Kế toán – Ngân quỹ có nhiệm vụ lập báo cáo quản trị của chi nhánh qua từng quý, từng năm so sánh sự biến động giữa các chỉ số thực hiện và chỉ số kế hoạch nhằm cung cấp thông tin giúp Ban điều hành đưa ra quyết định quản lý.

Tham mưu cho Ban điều hành trong việc quản lý các hoạt động Tài chính Kế toán, quản lý vốn và đánh giá sử dụng tiền vốn và tài sản theo đúng Chế độ quản lý tài chính của Nhà nước.

Giám sát và đôn đốc các phòng giao dịch trực thuộc thực hiện kế hoạch chi phí đã được giao, nhằm giảm thiểu chi phí và tối đa doanh thu. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Quản lý kho quỹ chi nhánh hoạt động an toàn, hiệu quả. Xử lý các nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá được nhanh chóng, chính xác, kịp thời.

Hơn nữa Phòng Kế toán – Ngân quỹ còn chịu trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ Ban Giám đốc trong việc quản lý hành chính an toán, hiệu quả, tham gia vào các hoạt động trợ giúp công tác tín dụng, thanh toán ngoại tệ, xử lý các giao dịch và các hoạt động liên quan đến khách hàng như: giải ngân vốn vay, thu nợ, giao dịch nhận tiền gửi, rút tiền.

Phòng Kế toán – Ngân quỹ giúp quản lý tiền mặt bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ, quản lý các loại giấy tờ có giá…

  • Phòng Tín dụng:

Tổ chức Phòng tín dụng thực hiện các chức năng và nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật:

Cho vay chiết khấu các loại giấy tờ có giá trị bằng tiền, cho vay theo chương trình, dự án kinh tế tùy theo tính chất và khả năng nguồn vốn của ngân hàng.

Tổ chức thực hiện thông tin, phòng ngừa và xử lý rủi ro theo quy định. Tổng hợp phân tích thông tin kinh tế, quản lý danh mục khách hàng, phân loại đối tượng khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng.

Lập báo cáo quản trị của chi nhánh qua từng quý, từng năm so sánh sự biến động giữa các chỉ số thực hiện và chỉ số kế hoạch nhằm cung cấp thông tin giúp Ban điều hành đưa ra quyết định quản lý.

Tham mưu cho Ban điều hành trong việc quản lý các hoạt động Tài chính Kế toán, quản lý vốn và đánh giá sử dụng tiền vốn và tài sản theo đúng Chế độ quản lý tài chính của Nhà nước.

Giám sát và đôn đốc các phòng giao dịch trực thuộc thực hiện kế hoạch chi phí đã được giao, nhằm giảm thiểu chi phí và tối đa doanh thu.

Quản lý kho quỹ chi nhánh hoạt động an toàn, hiệu quả. Xử lý các nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá được nhanh chóng, chính xác, kịp thời.

Phòng tín dụng giúp quản lý quỹ tiền mặt tại chi nhánh, làm cân đối quỹ tiền mặt cho nhu cầu của toàn chi nhánh.

Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh, tổng hợp phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm, hàng quý, hàng tháng. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

  • Phòng Hành chính tổng hợp:

Phòng hành chính tổng hợp thực hiện công tác văn thư, hành chính quản trị, tuyên truyền tiếp thị, lễ tân tiếp khách, in ấn tài liệu,…nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở giao dịch văn minh và lịch sự.

  • Phòng Giao dịch:

Phòng Giao dịch là phòng ban trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, gồm có tất cả 5 giao dịch viên, thực hiện các nhiệm vụ như:

Phòng ban chịu trách nhiệm nhận tiền gửi bằng VND, ngoại tệ, vàng đồng thời cho khách hàng vay để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.

Phòng Giao dịch phục vụ các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chuyển tiền nhanh Western Union, thu đổi ngoại tệ, các dịch vụ thẻ quốc tế và thẻ nội địa…

2.1.3. Các hoạt động chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

  • Nhóm sản phẩm huy động vốn

Tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền gửi thanh toán do các DNV&N sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại ngân hàng với mục đích gửi, rút tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán như séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu…

Quy định trả lãi: Lãi được tính trả hàng tháng theo phương pháp tính lãi theo tích số, nếu khách hàng không lĩnh ra, được ngân hàng nhập lãi vào gốc.

Tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên (được tính trong tháng)

Là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời gian nhất định theo kỳ hạn đã được thỏa thuận khi gửi tiền.

  • Quy trình trả lãi: Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Rút vốn trước hạn: Khách hàng được trả lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm rút vốn.

Rút vốn đúng hạn: Khách hàng được trả lãi theo đúng mức lãi suất khi gửi.

Rút vốn sau hạn: Hết kỳ hạn khách hàng chưa rút vốn, ngân hàng nhập lãi vào gốc, chuyển sang kỳ hạn mới tương ứng và áp dụng lãi suất hiện hành cho kỳ hạn mời.

  • Giấy tờ có giá ngắn hạn

Ngân hàng No&PTNT phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn bằng VND, USD gồm: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn và tín phiếu, ngân hàng quy định kỳ hạn của giấy tờ có giá ngắn hạn là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và dưới 12 tháng.

  • Quy định trả lãi:

Thanh toán trước hạn: Khách hàng được trả lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm rút vốn.

Thanh toán đúng hạn: Ngân hàng sẽ thanh toán cho khách hàng cả gốc và lãi theo đúng mức lãi suất khi gửi.

Thanh toán sau hạn: Hết kỳ hạn, khách hàng chưa rút vốn ngân hàng không chuyển kỳ hạn mới mà phải theo dõi riêng. Số ngày quá hạn đó được trả lãi suất không kỳ hạn trên số tiền gốc của giấy tờ có giá ngắn hạn.

Thanh toán lãi theo định kỳ: Trường hợp khách hàng không đến lĩnh lãi đúng kỳ hạn quy định, lãi sẽ được trả vào kỳ tiếp theo (không tính lãi nhập gốc).

  • Nhóm sản phẩm dịch vụ tín dụng

Dịch vụ cho vay trong đó có cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Bảo lãnh bao gồm bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo hành (bảo đảm chất lượng sản phẩm), bảo lãnh thanh toán.

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa ngân hàng với bên thuê, ngân hàng cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển các động sản khác theo yêu cầu bên thuê nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê cà thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận.

  • Nhóm sản phẩm dịch vụ thanh toán

Nhóm sản phẩm dịch vụ thanh toán bao gồm thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế.

Thanh toán trong nước bao gồm dịch vụ tài khoản, dịch vụ trả lương tự động, hoa hồng đại lý, cổ tức, dịch vụ chuyển tiền trong nước. Thanh toán chuyển tiền nhanh trong toàn quốc qua hệ thống chuyển tiền điện tử và thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT. Đối với thanh toán quốc tế gồm có dịch vụ nhờ thu kèm chứng từ, nhờ thu hàng xuất khẩu, nhờ thu hàng nhập khẩu, thư tín dụng, phương thức chuyển tiền.

Chi nhánh số 4 thực hiện kinh doanh mua bán ngoại tệ với khách hàng có nhu cầu, được phép mua bán ngoại tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chủ yếu hình thức mua bán ngoại tệ giao ngay, các hình thức khác như có kỳ hạn, hoán đổi ít phát sinh. Chi nhánh số 4 của ngân hàng No&PTNT Thanh Hóa cung ứng tất cả sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đến mọi tổ chức kinh tế và cá nhân trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ và đời sống.

  • Thực hiện một số dịch vụ ngân hàng khác với chất lượng cao như:

Phát hành thẻ nội địa; thẻ quốc tế VISA, MasterCard; thẻ Lập nghiệp cho học sinh, sinh viên; cung ứng dịch vụ Ngân hàng điện tử gồm Mobile Banking (SMS Banking, VnTopup, ATransfer, VnMart, APayBill), Internet Banking; cung ứng các dịch vụ chứng khoán, bảo hiểm, bán vé máy bay Vietnam Airlines, thu ngân sách nhà nước.

2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa giai đoạn 2022-2024 Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

2.2.1. Tình hình huy động vốn

Huy động vốn là nghiệp vụ truyền thống và là một trong những nghiệp vụ chủ yếu, có vai trò quan trọng tạo nên nguồn vốn của ngân hàng. Nghiệp vụ này có mối quan hệ gắn liền với việc cấp tín dụng, tài trợ vốn của ngân hàng, là cơ sở để mở rộng và tăng trưởng tín dụng. Để tạo nguồn vốn họat động, Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa đã hết sức chú trọng tăng cường nguồn vốn nhất là nguồn vốn huy động từ dân cư.

Với các hình thức huy động đa dạng: huy động tiết kiệm, tiết kiệm dự thưởng, kỳ phiếu, trái phiếu, vay tiền từ các Tổ chức tín dụng, …đã thu hút thêm nhiều khách hàng đến với ngân hàng và nguồn vốn có xu hướng tăng qua các năm.

  • Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa giai đoạn 2022-2024

Bảng 2.1 phản ánh tình hình huy động vốn tại chi nhánh số 4 giai đoạn 2022 – 2024. Năm 2022, nguồn vốn huy động là 148.391 triệu đồng. Năm 2023, con số này là 181.388 triệu đồng, tăng thêm 32.997 triệu đồng, tức là tăng 22,24% so với năm 2022. Sang đến năm 2024, vốn huy động của chi nhánh là 203.369 triệu đồng, tức là tăng 21.981 triệu đồng so với năm 2023. Qua các số liệu trên, có thể nói rằng nguồn vốn huy động tại chi nhánh số 4 Thanh Hóa đang có chiều hướng tăng lên, điều này chứng tỏ ngân hàng đã và đang thu hút được nhiều khách hàng hơn và uy tín của ngân hàng ngày càng tăng lên. Bằng việc cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích như Internet Banking, Mobile Banking, chi nhánh còn tích cực đưa ra những chính sách nhằm thu hút khách hàng mới, giữ chân khách hàng cũ,… chính vì thế, dù có sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trong cùng địa bàn, nguồn vốn của chi nhánh số 4 vẫn tiếp tục tăng lên. Tại Chi nhánh số 4, vốn huy động của ngân hàng được phân theo loại tiền gửi và kỳ hạn gửi.

  • Vốn huy động phân theo loại tiền gửi

Bảng 2.1 có sự chênh lệch rất lớn về loại tiền gửi vào ngân hàng giữa VNĐ và ngoại tệ đã được quy ra VNĐ qua các năm. Lượng tiền gửi vào ngân hàng bằng nội tệ năm 2024 là 181.184 triệu đồng, chiếm tỷ trọng là 89,09% . Trong khi đó, năm 2023 tỷ trọng là 89,53% và năm 2022 tỷ trọng là 88,81%. Năm 2024 số tiền nội tệ gửi vào ngân hàng tăng 18.779 triệu đồng, tương ứng tăng 11,56% so với năm 2023 và năm 2023 tăng tới 23,23% so với năm 2022. Như vậy, lượng tiền gửi VNĐ chiếm giữ một tỉ trọng cao trong nguồn vốn huy động và tăng đều qua các năm từ 2022 đến 2024. Có sự tăng lên như vậy là do ngân hàng chủ yếu cho vay bằng VNĐ nên hạn chế huy động bằng ngoại tệ. Hơn nữa lãi suất huy động ngoại tệ của Chi nhánh luôn thấp hơn một số Ngân hàng thương mại nhỏ khác trong khi lãi suất huy động nội tệ ổn định hơn. Do vậy lượng tiền gửi bằng nội tệ vẫn chiếm ưu thế. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Năm 2023 nguồn vốn từ VNĐ là 162.405 triệu đồng, tăng trưởng 23,23% ứng với 30.616 triệu đồng so với năm 2022, nhưng sang năm 2024 là 181.184 triệu đồng chỉ tăng 11,56% tương ứng 18.779 tỉ đồng so với năm 2023. Năm 2024, thực hiện theo Thông tư 19/2024/TT-NHNN (8/6/2024), Ngân hàng No&PTNT Việt Nam đã áp dụng trần lãi suất huy động 9%/năm đối với tiền gửi nội tệ. Biện pháp hành chính này đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tăng trưởng huy động cuối kì của chi nhánh nên mới tạo ra sự giảm sút nhẹ trong tỷ trọng vốn huy động năm 2024.

Nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ của chi nhánh số 4 cũng có sự tăng trưởng đều qua các năm. Năm 2022 là 16.602 triệu đồng, năm 2023 là 18.983 triệu đồng, tăng 2.381 triệu đồng, tương úng với 14,34%. Sang năm 2024 là 22.185 triệu đồng, chiếm 10,91% trên tổng nguồn vốn huy động, tăng hơn năm 2023 là 3.202 triệu đồng ứng với 16,87%. Nguyên nhân là do năm 2023 và năm 2024 lạm phát tăng cao, khách hàng có xu hướng chuyển sang đầu tư một số loại ngoại tệ có tính an toan cao và ổn định hơn là trữ tiền VNĐ.

Có thể nhận thấy cơ cấu nguồn vốn chuyển dịch theo hướng ngày càng tích cực hơn. Bên cạnh đó, chi nhánh đã mạnh dạn triển khai một loạt các hình thức huy động vốn mới từ đó đã thu hút được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, các doanh nghiệp…mặc dù theo quy định của Hiệp hội Ngân hàng, lãi suất huy động vốn của Ngân hàng No&PTNT luôn thấp hơn mức lãi suất mà các Ngân hàng Thương mại Cổ phần huy động với cùng loại sản phẩm và thời gian gửi nhưng nguồn vốn huy động của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa ngày càng tăng lên qua các năm đồng thời nguồn vốn từ dân cư cũng tăng lên đáng kể.

  • Huy động vốn theo thành phần kinh tế Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế của các Tổ chức kinh tế và DNV&N tăng cao. Năm 2024 là 92.725 triệu đồng, chiếm 45,59% tỷ trọng, năm 2023 là 85.991 triệu đồng, cao hơn năm 2022 là 16.841 triệu đồng, tức là 24,35%. Sở dĩ vốn huy động có sự tăng lên như vậy là vì đối tượng khách hàng chủ yếu của Chi nhánh là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Mà các tổ chức kinh tế là khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn liên tục với số vốn lớn. Do vậy, để tăng thêm thu nhập đồng thời đáp ứng cho nhu cầu sử dụng tiền trong thanh toán của mình, các tổ chức kinh tế thường lựa chọn hình thức gửi tiền có kì hạn dưới 12 tháng, thường là gửi với kì hạn 1 tháng hoặc theo tuần. Hơn nữa, giai đoạn 2022 – 2024, tình hình kinh tế gặp khó khăn, các DNV&N đều hạn chế hoạt động sản xuất kinh doanh khiến khoản tiền dư thừa tại quỹ của doanh nghiệp tăng cao, vì vậy doanh nghiệp sẽ tìm một kênh đầu tư sinh lời cho khoản tiền này trong ngắn hạn bằng cách gửi tiền vào ngân hàng.

Tiền gửi trong dân cư đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng. Trong lúc các doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn thì nguồn tiền trong dân cư lại rất dồi dào. Tiếp cận và huy động được nguồn vốn này, ngân hàng sẽ tạo ra tính ổn định và bền vững trong hoạt động kinh doanh. Trong năm 2024, nguồn vốn huy động từ dân cư là 97.547 triệu đồng, chiếm 47,97 % tỷ trọng, tăng 19.304 triệu đồng so với năm 2023, tương ứng tăng 24,67%. Năm 2023 là 78.243 triệu đồng, cao hơn năm 2022 (60.271 triệu đồng) là 17.972 triệu đồng. Nhận thấy rằng, tại chi nhánh số 4, nguồn vốn huy động từ dân cư là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao nhất tính đến năm 2024. Có sự tăng lên này là do tình hình kinh tế khó khăn, người dân có xu hướng tiêu dùng ít hơn khiến dòng tiền đổ vào ngân hàng tăng lên. Vàng và bất động sản là các kênh đầu tư kiếm lời cao nhưng đến năm 2024 không còn có lợi nhuận cao mà còn mang lại rủi ro lớn, vì vậy mà người dân đã lựa chọn kênh đầu tư an toàn hơn chính là gửi tiền vào ngân hàng. Sự gia tăng này phần nào đã thể hiện sự tin tưởng của các cá nhân vào ngân hàng, đồng thời cho thấy ngân hàng đã làm tốt các hoạt động quảng bá thương hiệu, nâng cao uy tín chất lượng hoạt động làm cho không chỉ các tổ chức kinh tế mà các cá nhân cũng đã biết đến ngân hàng nhiều hơn.

Trái ngược với tình hình tăng lên của nguồn vốn huy động bằng tiền gửi dân cư và tiền gửi các Tổ chức kinh tế, DNV&N, tiền gửi của các Tổ chức tín dụng lại có chiều hướng giảm qua các năm. Năm 2022 là 18.970 triệu đồng, sang năm 2023 là 17.154 triệu đồng, đến năm 2024 con số này giảm xuống chỉ còn 13.097 triệu đồng. So với năm 2023, vốn huy động bằng tiền gửi Tổ chức tín dụng năm 2024 giảm 4.057 triệu đồng, tương ứng giảm 23,65%. Năm 2023 cũng giảm so với năm 2022 là 1.816 triệu đồng tức là giảm 9,57%. Từ những con số trên, có thể thấy tiền gửi huy động từ các Tổ chức tín dụng đang giảm mạnh trong giai đoạn 2022 – 2024. Tiền gửi của các Tổ chức tín dụng là các khoản vốn chi nhánh số 4 Thanh Hóa nhận được từ các ngân hàng trong khu vực. Nguồn vốn huy động này giảm chứng tỏ chi nhánh có nguồn vốn huy động dồi dào từ dân cư và Tổ chức kinh tế, DNV&N nên các nguồn huy động từ việc đi vay trên thị trường liên ngân hàng sẽ giảm.

  • Huy động vốn phân theo kỳ hạn gửi Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Nguồn vốn huy động phân theo kỳ hạn gửi tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa gồm có tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

Năm 2022, tiền gửi không kỳ hạn là 44.097 triệu đồng, chiếm 29,72% tỷ trọng nguồn vốn huy động, năm 2023 là 50.600 triệu đồng, chiếm 27,90% và năm 2024 là 44.656 triệu đồng, chiếm 21,96% tỷ trọng vốn huy động. Nhận thấy năm 2022 và 2023 có sự tăng trưởng đều, nguồn vốn tăng qua các năm. Năm 2023 tăng so với năm 2022 là 6.503 triệu đồng, tương ứng tăng 14,75%. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do Chi nhánh đã tích cực trong việc tìm kiếm các khách hàng mới, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích giao dịch thanh toán chi trả các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ. Ngân hàng rất tích cực trong việc tiếp cận các doanh nghiệp liên kết với ngân hàng để trả lương cho nhân viên qua tài khoản ATM, tiếp thị đến nhiều khách hàng cá nhân mở thẻ thanh toán với chi phí ưu đãi và dịch vụ nhanh chóng. Chính điều này đã giúp cho lượng tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng gia tăng qua từng năm. Tuy nhiên đến năm 2024 nguồn vốn từ tiền gửi không kỳ hạn lại giảm nhẹ. Năm 2024 giảm so với năm 2023 là 5.944 triệu đồng, tức là giảm 11,75%. Sở dĩ tỷ trọng giảm mạnh là do cuộc khủng hoảng nợ công làm tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp khó khăn. Hơn nữa, giá vàng năm 2023 – 2024 tăng cao bất thường khiến người dân và doanh nghiệp rút khoản tiền gửi thanh toán để đem đầu tư kinh doanh vàng.

Cũng giống như tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng đến năm 2024 là 55.946 triệu đồng, giảm so với năm 2023 là 775 triệu đồng và chỉ chiếm 27,51% tỷ trọng nguồn vốn, giảm 1,37%. Lý do là ngày 6/3/2024, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố sẽ giảm trần lãi suất huy động xuống còn 13%/năm và theo kế hoạch sẽ cắt giảm lãi suất 1%/năm mỗi quý nhằm mục đích giảm tỷ lệ lạm phát xuống một con số. Vì vậy những người dân có số vốn ít và không đầu tư tiền trong thời gian ngắn thường gửi tiết kiệm kỳ hạn dài để đảm bảo vẫn được hưởng lãi suất cao. Sự giảm sút này tuy không đáng kể nhưng nó cũng ảnh hưởng và làm chuyển dịch cơ cấu vốn huy động theo thành phần kinh tế của chi nhánh số 4.

Tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên tăng liên tục qua các năm. Năm 2022 là 53.860 triệu đồng, đến năm 2023 đã tăng lên thêm 20.207 triệu đồng tức là tăng 37,52%. Năm 2024, nguồn vốn từ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trở lên đã tăng lên đến 102.767 triệu đồng, tức là tăng thêm 28.700 triệu đồng so với năm 2023. Có sự tăng nhanh chóng như vậy là do đa phần các ngân hàng chỉ huy động được vốn kỳ hạn ngắn, do vậy, ngân hàng cần bổ sung thêm nguồn vốn từ kỳ hạn dài để cho vay, dẫn đến việc chi nhánh số 4 tăng lãi suất cho các kỳ hạn dài để được hưởng lãi suất cao. Đây cũng là thành công của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa vì để duy trì một tỉ lệ nhất định nguồn vốn trung dài hạn là vô cùng cần thiết, nếu tỉ lệ này quá thấp sẽ dẫn tới trình trạng thiếu cân đối trong cơ cấu huy động – cho vay. Nguồn cho vay trung và dài hạn của ngân hàng dồi dào góp phần làm giảm nguy cơ chi nhánh phải sử dụng đến nguồn vốn ngắn hạn có chi phí cao để bù đắp cho khoản vay ngắn hạn của khách hàng.

Nhìn chung, trong tình hình kinh tế biến động, kinh doanh ngân hàng trong giai đoạn năm 2022 – 2024 gặp rất nhiều khó khăn, khủng hoảng. Tuy nhiên, Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa đã có nhưng khắc phục và đảm bảo chi nhánh hoạt động trơn tru, khách hàng đặt niềm tin vào ngân hàng thể hiện ở việc nguồn cung vốn tăng trưởng đều qua các năm và ít biến động. Chi nhánh đã quan tâm đến các khách hàng truyền thống và chủ động tìm kiếm các khách hàng mới. Ngoài ra, chi nhánh đã kết hợp làm tốt công tác huy động vốn với các dịch vụ thanh toán quốc tế, chuyển tiền, dịch vụ thu chi hộ… đã thu hút tăng thêm nhiều khách hàng nhất là DNV&N, từ đó cũng cố và phát triển vị thế của chi nhánh.

2.2.2. Tình hình sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Để đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế, Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa đã cải tiến cơ cấu cho vay theo hướng tích cực, chú trọng tập trung vốn tài trợ cho những ngành nghề then chốt, trọng điểm theo định hướng phát triển kinh tế. Hiện nay, chi nhánh vẫn thực hiện các nghiệp vụ cho vay truyền thống như: cho vay thông thường (từng lần, Hạn mức tín dụng), cho vay theo dự án đầu tư, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng …

Trong những năm qua Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa đã tập trung đầu tư, lựa chọn khách hàng, ưu tiên vốn cho các dự án có hiệu quả của các DNV&N, hộ sản xuất kinh doanh; tiếp tục lấy địa bàn nông nghiệp nông thôn và kinh tế hộ, DNV&N là địa bàn chính để phục vụ và phát triển kinh doanh.

  • Bảng 2.2. Tình hình dư nợ cho vay giai đoạn 2022 – 2024

Qua bảng 2.2, tình hình tổng dư nợ cho vay đến năm 2023 đạt 161.106 triệu đồng, tăng 18.813 triệu đồng, tương ứng với 13,22% so với năm 2022. Năm 2024 đạt 181.680 triệu đồng, tăng 20.574 triệu đồng, tương ứng với 12,77% so với năm 2023. Dư nợ cho vay là khoản vay mà ngân hàng cần phải thu hồi được tại một thời điểm, tức là đến năm 2024, số tiền mà chi nhánh số 4 cho khách hàng vay là 181.680 triệu đồng vẫn chưa được thu hồi. Nguyên nhân là do doanh nghiệp thời gian này được ngân hàng hỗ trợ cho vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trên cơ sở chính sách tăng trưởng an toàn. Tổng dư nợ cho vay trong giai đoạn 2022 – 2024 tăng lên có nghĩa là quy mô tăng trưởng trong cho vay tại chi nhánh tăng lên.

Dư nợ cho vay tại chi nhánh số 4 được phản ảnh qua loại tiền vay và kỳ hạn. Cụ thể như sau:

  • Dư nợ cho vay theo loại tiền vay

Dư nợ cho vay bằng nội tệ năm 2022 là 128.308 triệu đồng, năm 2023 là 145.712 triệu đồng, tăng 17.404 triệu đồng so với năm 2022; năm 2024 đạt 165.292 triệu đồng, cao hơn so với năm 2023 là 19.580 triệu đồng, tương ứng với 13,44%. Trong khi đó dư nợ cho vay bằng ngoại tệ năm 2023 chỉ chiếm 10,08% và tăng so với năm 2022 là 1.409 triệu đồng, năm 2024 tăng 994 triệu đồng, mức tăng chỉ bằng 2/3 năm 2023/2022. Với các số liệu trên, có thể dễ dàng nhận thấy tỷ trọng dư nợ cho vay giai đoạn 2022 – 2024 tại chi nhánh số 4 bằng nội tệ là cao hơn nhiều so với dư nợ bằng ngoại tệ. Lý do là chi nhánh có nguồn huy động bằng nội tệ lớn hơn hẳn ngoại tệ nên cho vay bằng nội tệ nhiều hơn. Ngoài ra, Thanh Hóa là một tỉnh lớn nhưng các cá nhân và doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hay có nhu cầu về ngoại tệ không nhiều. Dư nợ cho vay nội tệ cao và tăng nhanh qua các năm có nghĩa là nhu cầu vay vốn của khách hàng lớn, đặc biệt là khách hàng DNV&N và các Tổ chức kinh tế. Tuy nhiên, dư nợ tăng quá cao lại không tốt cho ngân hàng điều này chứng tỏ ngân hàng có những khoản tiền cho vay ra thị trường nhưng chưa được thu hồi làm tăng nguy cơ rủi ro cho vay. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

  • Dư nợ cho vay theo kỳ hạn vay

Cơ cấu dư nợ cho vay giai đoạn 2022 – 2024 cho thấy: Dư nợ cho vay trong ngắn hạn tại chi nhánh cao hơn so với trung hạn và dài hạn. Cụ thể là, năm 2022 dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 80.779 triệu đồng, năm 2023 chiếm 90.847 triệu đồng và dư nợ năm 2024 là 106.018 triệu đồng. Trong năm 2023, dư nợ cho vay tăng 10.068 triệu đồng, tương ứng tăng 12,46% so với năm 2022 và năm 2024 con số này tăng 16,70% so với năm 2023cho thấy nhu cầu vay tiền trong ngắn hạn là rất cao. Cho vay trong ngắn hạn tăng mạnh bởi nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là rất lớn, phát sinh liên tục và phải được đảm bảo đáp ứng để duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả. Hơn nữa, việc kiểm soát các khoản vay ngắn hạn dễ dàng hơn và giúp ngân hàng quay vòng vốn nhanh hơn. Các số liệu trên phản ánh Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa rất chú trọng trong việc cho vay đối với loại hình cho vay ngắn hạn vì dễ dàng kiểm soát được nguồn vốn và thời gian cho vay ngắn nên chi nhánh có thể nhanh chóng thu hồi được nguồn vốn phục vụ cho khách hàng. Năm 2024, cho vay trung hạn là 63.083 triệu đồng, tăng so với năm 2023 là 7.433 triệu đồng. Năm 2023, dư nợ cho vay trung hạn tăng 10.754 triệu đồng tức là tăng 23,95% so với năm 2022. Ngân hàng thường cho vay ngắn hạn và trung hạn đối với các DNV&N, cá nhân có nhu cầu vốn ít và kinh doanh hay sử dụng vốn trong thời gian không quá dài.

Theo bảng 2.2, tình hình dư nợ cho vay trong dài hạn giảm đều qua các năm. Năm 2022 là 16.618 triệu đồng, năm 2023 là 14.609 triệu đồng, đến năm 2024 thì giảm chỉ còn 12.579 triệu đồng. Năm 2023, dư nợ cho vay dài hạn giảm 2.009 triệu đồng, tức giảm 12,09% so với năm 2022. Sang năm 2024, con số này tiếp tục giảm 2.030 triệu đồng, tương ứng giảm 13,9% so với năm 2023. Điều này là dễ hiểu vì trong giai đoạn 2022 2024 kinh tế khủng hoảng, các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức làm ăn khó khăn mà vay dài hạn là các khoản vay có thời gian dài, từ 5 năm trở lên; ngân hàng cũng là một tổ chức kinh doanh và lợi nhuận là một điều kiện tất yếu. Hơn nữa việc cho các khách hàng vay kỳ hạn dài trong giai đoạn kinh tế khó khăn là vô cùng rủi ro, vì vậy ngân hàng phải cân nhắc những khách hàng có uy tín và các dự án, phương án kinh doanh có nguồn thu chắc chắn mới có thể cho vay nên dư nợ cho vay trong dài hạn thường thấp.

2.3. Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa giai đoạn 2022 – 2024

2.3.1. Một số quy định về cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

  • Điều kiện cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Để được vay vốn Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa , khách hàng phải thỏa mãn một số tiêu chí nhất định theo quy định của Pháp luật cũng như các quy định của Ngân hàng No&PTNT đưa ra trên nguyên tắc đảm bảo quyền lợi cho cả khách hàng và ngân hàng.

Theo sổ tay tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam, đối với khách hàng là DNV&N, Ngân hàng No&PTNT xem xét và quyết định cho vay khi DNV&N đủ các điều kiện sau: Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

  • DNV&N phải có đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
  • DNV&N phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
  • DNV&N phải có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết: DNV&N phải có vốn tự có tham gia vào dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống theo quy định. Kinh doanh có hiệu quả: có lãi; trường hợp lỗ thì phải có phương án khả thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Ngoài ra, DNV&N phải có nợ khó đòi, nợ quá hạn trên 6 tháng ở Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa.
  • Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi.
  • Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng No&PTNT Việt Nam và hướng dẫn của Ngân hàng No&PTNT Thanh Hóa.

Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ:

  • Cho vay từng lần:

Cho vay từng lần là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và ngân hàng đều phải làm các thủ tục nhất định (khách hàng lập kế hoạch vay vốn, ngân hàng xét duyệt…) và ký hợp đồng tín dụng. Cho vay từng lần là hình thức cho vay theo món, khi khách hàng có nhu cầu vay cho một mục đích sử dụng vốn cụ thể như thanh toán tiền mua hàng hóa, các chi phí sản xuất kinh doanh khác. Số tiền cho vay được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản đảm bảo, khả năng hoàn trả của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng, giới hạn cho vay của pháp luật và của ngân hàng.

  • Cho vay theo hạn mức tín dụng:

Cho vay theo hạn mức tín dụng là phương pháp cho vay mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng là dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định, được ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Cho vay theo dự án đầu tư: Chi nhánh cho các DNV&N vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.

Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là loại cho vay mà qua đó ngân hàng cho phép khách hàng được sử dụng vượt quá số tiền mà họ đã ký thác ở ngân hàng trên tài khoản vãng lai với một số lượng và thời hạn nhất định.

Ngoài những hình thức cho vay trên, tùy thuộc vào tình hình thực tế và nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng mà ngân hàng có thể áp dụng nhiều hình thức cho vay khác như: Cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay ủy thác, cho vay hợp vốn. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Cho vay trả góp: Khi vay, Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.

Cho vay xây dựng cơ sở hạ tầng: Là hình thức vay mà Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa cam kết hỗ trợ khách hàng DNV&N chi phí để thực hiện các dự án và phương án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Với hình thức này, ngân hàng sẽ cho vay tối đa 70% tổng dự toán chi phí công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, với lãi suất cố định hoặc thả nổi và giải ngân 1 lần hay nhiều lần tùy thuộc vào khoản vay.

  • Thời gian cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ngân hàng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu tư phát triển:

  • Cho vay ngắn hạn: Các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
  • Cho vay trung hạn: Các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
  • Cho vay dài hạn: Các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.

Ngân hàng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của Tổ chức tín dụng để thỏa thuận về thời hạn cho vay.

  • Số vốn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Căn cứ theo quy định của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam, số vốn cho vay mà chi nhánh áp dụng cho khách hàng vay được căn cứ trên những điều kiện dưới đây:

  • Nhu cầu vay vốn của khách hàng: căn cứ vào phương án kinh doanh mà khách hàng gửi đến và đã qua thẩm định.
  • Căn cứ vào khả năng trả nợ, uy tín của khách hàng và của bên bão lãnh.
  • Căn cứ vào quy định hiện hành của chi nhánh về Tài sản đảm bảo, về mức cho vay tối đa trên tổng giá trị Tài sản đảm bảo. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.
  • Căn cứ vào khả năng về nguồn vốn của chi nhánh.
  • Căn cứ vào quy định của chi nhánh về mức cho vay tối đa trên từng sản phẩm cho vay.

Lãi suất tiền vay doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Theo văn bản liên quan đến lãi suất tiền vay được công bố chính thức trên trang web của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam, tùy vào sản phẩm cho vay cụ thể, mức độ rủi ro của khoản vay, quan hệ khách hàng với ngân hàng mà chi nhánh lựa chọn một trong các hình thức lãi suất sau:

  • Lãi suất cố định: lãi suất không thay đổi trong suốt thời hạn của khoản vay.
  • Lãi suất thả nổi có điều chỉnh: lãi suất được điều chỉnh lại theo định kì tháng, quý hoặc năm.
  • Lãi suất thả nổi tự động: lãi suất được tự động tính theo các điều kiện đã thỏa thuận trước với khách hàng.

Lãi suất kết hợp: ngân hàng thỏa thuận với khách hàng vay vốn áp dụng cả hai loại lãi suất trên 1 khoản vay. Ví dụ một khoản vay có thời hạn 5 năm sẽ áp dụng lãi suất cố định trong 2 năm đầu và lãi suất thả nổi có điều chỉnh trong 3 năm còn lại.

  • Các quy định về đảm bảo tiền vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Để đảm bảo hạn chế rủi ro cho vay, ngân hàng khi xem xét quyết định cho vay yêu cầu DNV&N phải có tài sản đảm bảo để cầm cố, thế chấp với ngân hàng cho khoản tiền vay đấy. Tài sản đảm bảo có thể là:

Tiền và các giấy tờ có giá: Bao gồm đồng Việt Nam và ngoại tệ; tín phiếu, trái phiếu Kho bạc Nhà nước, công trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh và chứng chỉ khác; sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc; vàng bạc, kim cương, kim khí quý và đá quý khác.

Bất động sản: Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở và công trình xây dựng; quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.

Động sản: Ô tô, máy móc, dây chuyền sản xuất, nguyên nhiên liệu, thành phẩm hàng hóa, quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng mua bán, cho thuê tài sản hoặc cung cấp dịch vụ,… Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Bảo lãnh của các Tổ chức tín dụng/TCKT: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho khách hàng của các định chế tài chính được chi nhánh số 4 cấp hạn mức giao dịch thường xuyên hoặc bảo lãnh vay vốn của Tổ chức kinh tế thuộc Tập đoàn kinh tế Nhà nước, Tổng công ty Nhà nước, Tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô lớn.

  • Quy trình cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

Nguyên tắc thực hiện:

  • Đảm bảo tính độc lập của từng cá nhân tham gia
  • Phân tách rõ ràng giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay
  • Không cho vay chỉ dựa trên giá trị tài sản đảm bảo và uy tín khách hàng mà phải xem xét đến tính khả thi, hiệu quả của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh.

Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay đối với DNV&N tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

Trình tự thực hiện:

  • Bước 1: DNV&N cung cấp tài liệu đầy đủ cho Cán bộ tín dụng

Tại bước này, DNV&N có nhu cầu vay vốn sẽ đến ngân hàng yêu cầu xin vay và nộp vào ngân hàng hồ sơ xin vay của DNV&N đó.

  • Bước 2: Nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng

Cán bộ tín dụng (CBTD) sẽ tư vấn, thương thảo điều kiện vay vốn với khách hàng bằng cách giải thích cho khách hàng các chính sách cho vay mà ngân hàng đang áp dụng, từ đó tư vấn, hướng dẫn khách hàng lựa chọn loại hình vay phù hợp, thương thảo sơ bộ các điều kiện vay mà ngân hàng có thể đáp ứng (như : lãi suất, kỳ hạn, điều kiện đảm bảo…).

CBTD giải thích, hướng dẫn khách hàng một cách cụ thể cách lập hồ sơ vay vốn phù hợp với pháp luật và quy đinh của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

CBTD trực tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn của DNV&N để đảm bảo hồ sơ pháp lý và hồ sơ khoản vay đã đầy đủ hợp lệ. Đối với khách hàng lần đầu tiên vay vốn ở ngân hàng, cần phải xuất trình các giấy tờ phản ánh tư cách pháp lý của bên vay.

  • Bước 3: Thẩm định cho vay

CBTD là người trực tiếp thực hiện các công việc thẩm định cho vay.

  • Thẩm định khách hàng:
  • Thẩm đinh tư cách pháp lý của khách hàng.

Phân tích năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của khách hàng vay vốn thông qua hồ sơ do khách hàng cung cấp và thông tin từ các nguồn khác.

Phân tích hoạt động kinh doanh và năng lực của khách hàng: phân tích chất lượng quản lý, phương thức quản trị doanh nghiệp trong nội bộ, đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo, phân tích chất lượng tài chính…

  • Phân tích tình hình tài chính của khách hàng trong hiện tại và tương lai.
  • Thẩm đinh dự án, phương án vay vốn của khách hàng
  • Thẩm định cơ sở pháp lý của dự án

Phân tích tài chính của dự án: Tổng mức đầu tư dự án (Vốn cố định, vốn lưu động), nguồn vốn (vốn tự có, vốn vay…) các yếu tố đầu vào, thị trường đầu ra của sản phẩm…

  • Đánh giá về hiệu quả tài chính của dự án, tính toán hiệu quả của dự án dựa trên doanh thu, chi phí của dự án. Các chỉ số tài chính: NPV, IRR.
  • Sau khi thẩm định, Cán bộ tín dụng lập tờ trình báo cáo thẩm định.

Sau khi nhận được tờ trình Báo cáo thẩm định cùng toàn bộ hồ sơ vay vốn của phòng tín dụng cung cấp, Giám đốc/phó giám đốc kiểm tra, đánh giá lại thông tin, căn cứ vào quyền hạn được phân công ra quyết định và ghi rõ nội dung sau vào tờ trình thẩm định. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Bước 4: Quyết định cho vay

  • Từ chối cho vay:

CBTD dự báo thông báo trả lời từ chối khách hàng và nêu rõ lý do. Trình trưởng phòng tín dụng hoặc người quyết định cho vay duyệt ký.

Gửi trả lại khách hàng toàn bồ hồ sơ khách hàng cung cấp, đính kèm theo thư, công văn từ chối.

  • Đồng ý cho vay:

CBTD soạn thảo và trình trưởng phòng tín dụng xem xét các văn bản: Hợp đồng tín dụng kèm theo lịch rút vốn, hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc thông báo gửi khách hàng các điều kiện ràng buộc.

CBTD phụ trách trực tiếp cho vay kiểm tra, kiểm soát, ký kiểm soát từng tran của hợp động rồi sau đó trình lên cho người quyết đinh cho vay ký kết.

Sau khi hợp đồng và các văn bản khác được khách hàng ký kết, Cán bộ tín dụng lấy sổ công văn, đóng dấu và gửi cho khách hàng theo quy định của ngân hàng.

  • Bước 5: Quy trình phát tiền vay

CBTD kiểm tra nội dung của giấy nhận nợ/yêu cầu phát tiền vay, kiểm tra các chứng từ kèm theo.

CBTD thực hiện phát tiền vay.

Tùy thuộc vào từng hợp đồng mà khoản tiền cho vay được phát một lần toàn bộ tiền vay hoăc chia thành nhiều đợt, Cán bộ tín dụng cần kiểm tra quy trình phát tiền vay đứng theo hợp đồng đã ký kết.

  • Bước 6: Quy trình kiểm tra sử dụng vốn vay Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

CBTD cần thực hiện kiểm tra sử dụng vốn vay để chắc chắn khoản vay ngân hàng cấp cho khách hàng được sử dụng tốt, tạo ra lợi nhuận và đúng mục đích vay vốn cam kết trong hồ sơ.

CBTD lập biên bản báo cáo kết quả kiểm tra sử dụng vốn vay, đề xuất ý kiến.

  • Bước 7: Quy trình thu hồi nợ vay

Đến hạn trả nợ, Cán bộ tín dụng phối hợp với phòng kế toán, phòng ngân quỹ thực hiện thu nợ.

Khi khách hàng trả đầy đủ số nợ, thực hiện thủ tục hoàn trả toàn bộ hồ sơ tài sản đảm bảo tiền vay cho khách hàng.

Quá ngày đến hạn mà khách hàng không trả nợ hoặc không trả đủ nợ. Cán bộ tín dụng phối hợp với phòng kế toán chuyển nợ quá hạn toàn bộ số dư thuộc hợp đồng.

2.3.2. Tình hình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh số 4 Thanh Hóa

  • Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh số 4 Thanh Hóa

Bảng 2.3. Tình hình doanh số cho vay DNV&N giai đoạn 2022 – 2024

Nhìn vào bảng 2.3 ta có thể thấy tổng doanh số cho vay tại chi nhánh số 4 Thanh Hóa giai đoạn 2022 – 2024 tăng mạnh. Năm 2022, doanh số cho vay là 440.175 triệu đồng, đến năm 2023 là 561.515 triệu đồng. Có nghĩa là năm 2023 doanh số cho vay tăng 121.340 triệu đồng, tức là tăng 27,57%. Sang đến năm 2024, con số này là 705.365 triệu đồng, tăng 25,62% tương ứng tăng 143.850 triệu đồng so với năm 2023. Điều này thể hiện ngân hàng đang làm khá tốt công tác cho vay của mình, đồng thời ngày càng tạo được chỗ đứng trên thị trường, thu hút thêm nhiều khách hàng. Mặt khác số liệu cũng cho thấy hoạt động kinh doanh của các khách hàng vay vốn tại ngân hàng cũng đang phát triển hơn, nhu cầu vay vốn tăng lên. Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn như năm 2023, việc doanh số cho vay của chi nhánh vẫn tăng là do ngân hàng nhận thức được sự quan trọng của các khách hàng trong hoạt động cho vay của mình.

Hoạt động cho vay đối với DNV&N năm 2022 là 102.085 triệu đồng, chiếm đến 1/4 tổng doanh số cho vay; năm 2023, doanh số đó tăng bằng 1/5 lần và bằng 1/3 lần so với tổng doanh số cho vay vào năm 2024. Mặc dù mức cho vay đối với DNV&N chỉ tăng nhẹ qua các năm, năm 2024 tăng hơn so với năm 2023 là 43.486 triệu đồng, tương ứng với 27,98% tuy nhiên, mức tăng này là khá ổn định. Sở dĩ có điều này là do ngân hàng vẫn duy trì và tăng trưởng được mức huy động vốn phục vụ tốt cho việc kinh doanh của ngân hàng. Mặc dù có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động không tốt, nhất là trong mảng xây dựng, tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có nhiều doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có nhu cầu vay vốn ngân hàng. Vì vậy, doanh số cho vay của ngân hàng vẫn tăng trưởng. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Cho vay DNV&N bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Ta có thể thấy rõ sự tăng lên về doanh số cho vay tại chi nhánh số 4 qua giai đoạn 2022 – 2024 về cả tổng doanh số cho vay lẫn cho vay DNV&N trong đó có sự tăng lên nhanh chóng của cho vay ngắn hạn và trung hạn đối với DNV&N.

Biểu đồ 2.1. Tỷ trọng doanh số cho vay theo kỳ hạn đối với DNV&N giai đoạn 2022 – 2024

  • Doanh số cho vay theo kỳ hạn

Theo bảng 2.3 và biểu đồ 2.1, năm 2022, doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNV&N là 49.783 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 48,77%. Sang năm 2023, con số này là 87.189 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 56,10%. Đến năm 2024, cho vay ngắn hạn đối với DNV&N là 110.925 triệu đồng, chiếm 55,77% tỷ trọng doanh số cho vay, tăng 23.736 triệu đồng, tương ứng với 27,22% so với năm 2023. Qua các số liệu trên, ta có thể thấy rằng chi nhánh số 4 rất chú trọng quan tâm đến cho vay ngắn hạn DNV&N vì DNV&N hầu hết xin vay ngắn hạn để đầu tư sản xuất kinh doanh trong kỳ, thời gian quay vòng vốn ngắn, ngân hàng có thể nhanh chóng thu hồi được khoản tiền cho vay để cho khách hàng khác vay. Với hình thức vay ngắn hạn này, ngân hàng chịu ít rủi ro vì thời gian cho vay ngắn, chi nhánh dễ dàng trong việc kiểm soát vốn và có những biện pháp thu hồi vốn khi DN làm ăn không có lãi. Các doanh nghiệp thường có nhu cầu vay vốn nhiều trong ngắn hạn để bổ sung nguồn vốn lưu động đã hao hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc để đáp ứng nhu cầu cung ứng dịch vụ, thanh toán hàng hóa theo hợp đồng, thanh toán tiền nguyên vật liệu, thanh toán tiền lương cho công nhân viên,…Những nhu cầu này phát sinh thường xuyên trong quá trình kinh doanh nên doanh số cho vay đối với nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỉ trọng tương đối cao trong cơ cấu cho vay DNV&N tại chi nhánh số 4.

Tại chi nhánh số 4, doanh số cho vay trung hạn đối với DNV&N cũng tăng do DNV&N muốn chủ động hơn trong việc trả nợ, chia nhỏ món nợ cho vay để trả theo kỳ, tránh áp lực về nợ nần. Tuy nhiên tăng doanh số cho vay cũng đồng nghĩa với gia tăng rủi ro vì thời gian cho vay càng dài thì rủi ro càng cao. Cụ thể như sau: qua biểu đồ 2.1, năm 2023, doanh số cho vay là 48.182 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 31%, tăng 17.557 triệu so với năm 2022 với tỷ lệ là 57.33%. Sang năm 2024, doanh số cho vay tiếp tục tăng và cao hơn năm trước là năm 2023 21.437 triệu đồng, tương ứng với 44,49%và chiếm tỷ trọng 35% trên tổng doanh số cho vay. Có thể thấy trong năm 2024, doanh số cho vay biến động tăng nhưng cơ cấu chênh lệch lại giảm. Điều này cho thấy chi nhánh số 4 đang kiểm soát chặt chẽ hơn đối với khoản vay trung hạn của khách hàng DNV&N. Cụ thể là ngân hàng đã thẩm định khả năng tài chính của khách hàng và khả năng trả nợ của khách hàng một cách chặt chẽ hơn. Mục đích của cho vay trung hạn là cung cấp vốn để doanh nghiệp đầu tư vào những hạng mục mới, đầu tư cho tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động ban đầu. Những khoản vay trung hạn này thường có thời gian trả nợ lâu hơn khoản vay ngắn hạn nên DNV&N có thể dễ dàng và chủ động hơn trong việc trả nợ. Tuy nhiên ưu tiên vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh vẫn là mục tiêu hàng đầu của chi nhánh nói riêng và Ngân hàng No&PTNT nói chung. Vì vậy, với mục tiêu cải thiện mức tăng trưởng cho vay, kết hợp với việc thẩm định một cách chặt chẽ khách hàng trước khi cho vay, dù khoản vay có thời gian tương đối dài (dưới 5 năm) nhưng chi nhánh vẫn có thể giải ngân cho DNV&N để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên các khoản vay dài hạn của DNV&N có xu hướng giảm dần qua giai đoạn 2022 – 2024. Lý do là DN&VN vay dài hạn thường là kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng, giai đoạn 2022 – 2024 thị trường bất động sản đang ứ đọng, trì trệ do ảnh hưởng của kinh tế suy thoái, ngoài ra còn có các DNV&N xin vay để xây dựng nhà xưởng hoặc đầu tư dây chuyền sản xuất nhưng có thời gian hoàn vốn dài hạn. Vay dài hạn thường rất rủi ro, nhất là cho vay dài hạn đối với DNV&N vì tình hình kinh tế giai đoạn 2022 – 2024 đang suy thoái, các DNV&N đứng trước nguy cơ phá sản do thị trường bất động sản đóng băng và hơn nữa là do thời gian vay càng dài thì càng có nhiều rủi ro. Vì vậy, các khoản vay dài hạn của DNV&N qua các năm có sự giảm sút rõ rệt do chi nhánh thực hiện phương pháp né tránh rủi ro, hạn chế cho vay đối với hình thức vay dài hạn của DNV&N. Cụ thể năm 2022 là 21.677 triệu đồng, đến năm 2024 chỉ còn 18.369 triệu đồng, giảm 1.687 triệu đồng so với năm 2023, tương ứng giảm tỷ trọng xuống 8,41%. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

  • Doanh số cho vay theo loại tiền

Doanh số cho vay theo loại tiền tại chi nhánh giai đoạn 2022 – 2024 cũng có xu hướng tăng. Đối với doanh số cho vay bằng tiền nội tệ, năm 2022 là 92.052 triệu đồng, năm 2023 lên đến 140.576 triệu đồng, tăng 48.524 triệu đồng, tức là tăng 52,71% so với năm 2022. Sang đến năm 2024, con số này là 179.970 triệu đồng, tăng 39.394 triệu đồng, tương ứng với 28,02% so với năm 2023. Những con số này phản ánh mức doanh số cho vay tăng qua các năm từ 2022 đến 2024 là khá ổn định. Nguyên nhân là do cho vay bằng nội tệ là phổ biến, có nhiều hình thức vay và phù hợp với các DNV&N ở Việt Nam. Tại Thanh Hóa, các doanh nghiệp xin vay chủ yếu kinh doanh trong khu vực tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh thành lân cận, rất ít doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nên cho vay bằng nội tệ chiếm phần lớn doanh số cho vay cũng là điều dễ hiểu.

Doanh số cho vay bằng ngoại tệ tại chi nhánh là không nhiều, nhất là khi so sánh với cho vay bằng nội tệ. Qua các năm 2022 – 2024, doanh số cho vay bằng ngoại tệ chỉ chiếm xấp xỉ 10% so với nội tệ. cụ thể là năm 2022 là 10.033 triệu đồng, năm 2023 là 14.851 triệu đồng, tăng 4.818 triệu đồng so với năm 2022. Đến năm 2024, so với năm 2023, doanh số cho vay bằng ngoại tệ là 18.943 triệu đồng, tăng 4.092 triệu đồng, tương ứng với 27,55%. Do Tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn này có thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng kinh doanh những ngành nghề mới và có nhiều dự án xây dựng lớn mang tầm quốc gia như cảng biển Nghi Sơn, sân bay Sao Vàng, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa đẩy mạnh kinh doanh xuất nhập khẩu nhiều hơn trước, làm cho doanh số cho vay bằng ngoại tệ trong giai đoạn này cũng tăng lên nhưng chỉ là tăng nhẹ.

Qua đây, ta có thể nhận thấy rằng, cho vay trong trung và dài hạn chiếm tỷ trọng không cao vì để vay vốn trong kỳ hạn dài DNV&N phải có phương án khả thi đảm bảo sinh lời, tài sản đảm bảo chắc chắn và có uy tín với ngân hàng. Tuy nhiên, phần lớn các DNV&N chủ yếu tập trung vào vay ngắn hạn vì các doanh nghiệp này thường có quy mô nhỏ, thông tin thường không minh bạch và thường không có đủ tài sản đảm bảo để vay vốn trong trung và dài hạn. Qua bảng 2.3, tình hình hoạt động cho vay của chi nhánh vẫn phát triển, kể cả trong cho vay trung hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong bối cảnh kinh tế trong nước vẫn còn rất nhiều khó khăn, từ phía doanh nghiệp cũng như từ phía chi nhánh, tuy nhiên hoạt động cho vay vẫn có những sự vượt khó đáng ghi nhận. Sở dĩ có được kết quả như vậy, do chi nhánh cũng đã có những mối quan hệ với doanh nghiệp từ nhiều năm, nắm rõ được tình hình hoạt động của những DNV&N lâu năm, nắm bắt được những khó khăn của doanh nghiệp trong giai đoạn này, cho vay đúng hợp lý đúng thời điểm, đúng khoản vay, đúng doanh nghiệp. Chi nhánh một mặt giảm bớt các khoản vay trong dài hạn, các khoản vay trong trung hạn cũng được xem xét mở rộng hơn, duy trì và có chọn lọc các món vay trong ngắn hạn, và bước đầu cũng đã cho thấy những kết quả đáng khích lệ.

Doanh số thu nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:

  • Bảng 2.4. Doanh số thu nợ đối với DNV&N giai đoạn 2022 2024
  • Biểu đồ 2.2. Tỷ trọng doanh số thu nợ DNV&N giai đoạn 2022 – 2024

Ta thấy, tổng doanh số thu nợ tại chi nhánh năm 2024 là 528.982 triệu đồng, năm 2023 con số này là 393.122 triệu đồng, tăng 135.860 triệu đồng so với năm 2023 (tương ứng tăng 34,56% so với năm 2023). Trong những năm vừa qua, công tác thu nợ tại chi nhánh được các cán bộ tín dụng thực hiện theo quy trình, quy định của cấp trên, đảm bảo tốt nhất cho các khoản vay của khách hàng được trả lãi, trả gốc đầy đủ, đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Các khách hàng của ngân hàng cũng có thái độ hợp tác trong việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của mình, tránh để nợ quá hạn, nợ xấu. Tuy vậy, vẫn có những khoản vay ngân hàng chưa làm tốt công tác này. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Năm 2022, doanh số thu nợ đối với DNV&N là 87.711 triệu đồng, năm 2023, doanh số thu nợ đối với DNV&N đạt mức 136.731 triệu đồng, tăng 49.022 triệu đồng, tương ứng tăng 55,89% so với năm 2022 trước đó. Năm 2024, con số này là 106.999 triệu đồng, giảm 29.732 triệu đồng, tương ứng giảm 21,74%. Tỷ trọng doanh số thu nợ đối với DNV&N năm 2024 là 20,23% tương ứng giảm 14,55% so với tỷ trọng doanh số thu nợ năm 2023. Trong khi doanh số thu nợ của toàn chi nhánh tăng lên thì doanh số thu nợ đối với DNV&N lại giảm đi tương đối nhiều. Có thể thấy, vấn đề ở đây không hẳn nằm ở việc đôn đốc, thu hồi nợ của cán bộ tín dụng mà nằm ở phía các doanh nghiệp. Khi mà hoạt động sản xuất khó khăn, việc kinh doanh không mang lại hiệu quả, các dự án đầu tư bị bỏ dở, tất yếu dẫn đến khả năng trả nợ cho ngân hàng bị giảm sút. Doanh số thu nợ đối với DNV&N giảm sút có ảnh hưởng lớn đến tình hình hoạt động của ngân hàng, phần nào làm giảm khả năng thanh khoản, tăng chi phí cho các khoản phòng trừ rủi ro cho vay. Chi nhánh số 4 nên có các biện pháp dự đoán rủi ro hợp lý, giảm tác động xấu này đến hệ thống ngân hàng và sâu hơn là nền kinh tế.

Dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:

  • Bảng 2.5. Dư nợ cho vay DNV&N giai đoạn 2022 – 2024

Qua bảng 2.5 có thể thấy, trong năm 2023 và 2024, tình hình kinh tế có nhiều biến động, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, nhiều DNV&N hoạt động trong lĩnh vực xây dựng còn lâm vào cảnh phá sản.

  • Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng dư nợ cho vay DNV&N giai đoạn 2022 – 2024

Cùng theo xu hướng tăng của tổng dư nợ, qua biểu đồ 2.3 có thể nhận thấy dư nợ DNV&N năm 2023 có số dư nợ đạt mức 49.088 triệu đồng chiếm tỷ trọng 30,47% trong dư nợ cho vay DNV&N, tăng 13.128 triệu đồng (36,51%) so với năm 2022, năm 2024 là 60.243 triệu đồng chiếm tỷ trọng 33,16%, tăng 11.155 triệu đồng so với năm 2023. Dư nợ cho vay năm 2024 phần lớn là dư nợ trong năm 2023 chuyển sang và nhiều khoản trong đó là những khoản nợ quá hạn, nợ xấu do các DNV&N làm ăn thua lỗ, dẫn đến chậm trả các khoản nợ với chi nhánh.

Từ năm 2024, khó khăn trong nền kinh tế từng bước được khắc phục, nền kinh tế cũng dần đi vào ổn định, tuy nhiên dư nợ của DNV&N vẫn có xu hướng tăng. Chi nhánh cần quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu vay vốn của DNV&N, linh động hơn trong việc đưa ra loại hình cho vay, lãi suất và mức vay cho từng doanh nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với chi nhánh, những cũng thấy rõ được tình hình hoạt động kinh doanh của họ, hỗ trợ kịp thời giúp doanh nghiệp thoát khỏi giai đoạn khó khăn, cũng là cách ngân hàng tránh đi những thiệt hại trong cho vay.

  • Cơ cấu dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu. Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của Ngân hàng đối với doanh nghiệp.

  • Bảng 2.6. Cơ cấu dư nợ cho vay đối với DNV&N giai đoạn 2022-2024

Số liệu bảng 2.7 cho thấy: Dư nợ cho vay đối với DNV&N giai đoạn 2022 – 2024 ngày càng tăng cao. Cụ thể là năm 2023 tăng 13.128 triệu đồng, tương ứng với 36,51% so với năm 2022. Sang năm 2024, số tiền đó là 60.243 triệu đồng, tăng thêm 11.155 triệu đồng, tương ứng với 22,72%. Sự gia tăng này là do doanh số cho vay DNV&N tăng cao (năm 2022 là 102.085 triệu đồng, sang năm 2024 con số này lên tới 198.913 triệu đồng). Nhận thấy sự tăng trưởng không có chênh lệch quá lớn và không quá cao qua các năm thể hiện một sự ổn định, chưa có dấu hiệu của sự tăng trưởng nóng và sự vượt quá khả năng về vốn cũng như hoạt động kiểm soát rủi ro của ngân hàng.

  • Dư nợ theo TPKT

Theo thành phần kinh tế, dư nợ cho vay DNV&N được chia làm 3 khu vực:

  • Đối với khu vực kinh tế Nhà nước

Thực tế, khu vực kinh tế Nhà nước là khu vực kinh tế thiếu minh bạch, quản lý kém cỏi, tham nhũng, đóng góp cho nền kinh tế lại rất hạn chế và đang trên đà đi xuống nhưng lại được hưởng nhiều ưu đãi về phương diện tiếp cận vốn, thị trường, nguồn lực, lao động. Trong nền kinh tế đang gặp khủng hoảng như ở Việt Nam hiện có hơn 1.300 doanh nghiệp Nhà nước, chiếm 45% đầu tư, thu hút 60% nguồn tín dụng của các ngân hàng thương mại và sử dụng đến 70% viện trợ phát triển ODA, nhưng lại chỉ đóng góp khoảng 30% tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Tình trạng yếu kém trên được bắt nguồn từ sự trì trệ trong cơ chế hoạt động, thiếu hụt nhân sự có năng lực, yếu kém về năng lực quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp, gian dối trong việc làm sổ sách kế toán, đầu tư không có kế hoạch. Chính việc hoạt động kém hiệu quả của khu vực Nhà nước trong thời gian qua đã gây mất niềm tin nghiêm trọng của ngân hàng, khiến khu vực kinh tế này không phải là đối tượng khách hàng mà ngân hàng hướng tới. Do vậy dư nợ cho vay DNV&N đối với khu vực Nhà nước của Chi nhánh số 4 ngày càng giảm dần. Năm 2022, tỷ trọng dư nợ cho vay khu vực Nhà nước là 11.028 triệu đồng, đến năm 2023 giảm xuống còn 10.577 triệu đồng, đến năm 2024 mới có sự khởi sắc tăng lên 12.056 triệu đồng, tuy nhiên mức tăng này là không đáng kể. Có thể nói năm 2024 là một năm khởi sắc đối với Thành phố Thanh Hóa vì Chủ tích UBND Tỉnh Thanh Hóa mới là ông Trịnh Văn Chiến đã có những hành động tích cực trong việc chống tham nhũng, loại bỏ tiêu cực, cải tạo bộ máy quan liêu tại khu vực Kinh tế nhà nước, đưa về cho Tỉnh Thanh Hóa những dự án mang tầm vóc lớn mang lại lợi nhuận cao đã phần nào giúp cho hoạt động của các khu vực kinh tế trở nên tích cực hơn, trong đó có khu vực Nhà nước. Đây là lý do vì sao dư nợ cho vay đối với DNV&N khu vực Nhà nước năm 2024 cao hơn năm 2023 là 1.479 triệu đồng, tương ứng với 13,98%.

  • Đối với khu vực kinh tế tư nhân: Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Theo Nghị định 56/2021/NĐ-CP của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNV&N, số lượng doanh nghiệp mới thành lập tăng nhanh, trong đó chủ yếu là Doanh nghiệp tư nhân. Số doanh nghiệp thiết lập quan hệ với ngân hàng để nhận được tài trợ vốn phục vụ cho việc bước đầu mở rộng hoạt động kinh doanh là nguyên nhân làm cho dư nợ cho vay DNV&N khu vực tư nhân tăng. Điều này được thể hiện rõ trong bảng 2.6 có thể thấy, tình hình dư nợ cho vay đối với khu vực tư nhân luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và duy trì tỉ lệ này ổn định trong giai đoạn 2022 – 2024. Cụ thể năm 2022, dư nợ cho vay đối với DNV&N tại khu vực tư nhân là 24.132 triệu đồng. Năm 2023, con số này tiếp tục tăng là 37.310 triệu đồng, tức là tăng thêm 13.178 triệu đồng, tương ứng với 56,61% so với năm 2022. Sang năm 2024, dư nợ cho vay DNV&N khu vực kinh tế tư nhân là 47.461 triệu đồng, tăng 10.151 triệu đồng, tức là tăng 27,21% so với năm 2023. Khu vực kinh tế tư nhân đã cho thấy sự tăng trưởng cả về chất và lượng mà rõ nhất là ở lĩnh vực xuất khẩu, đầu tư và thu hút nguồn nhân lực. Với đặc trưng là các DNV&N là quy mô nhỏ và rất nhỏ, các doanh nghiệp trong khu vực này có khả năng thích nghi với tình hình thị trường một cách nhanh chóng.

Khu vực kinh tế tư nhân sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất. Ngoài ra, các DNV&N trong khu vực này cũng thực hiện tương đối tốt các nghĩa vụ với Nhà nước, tạo dựng được uy tín với ngân hàng nên dư nợ của Chi nhánh đối với khu vực này luôn duy trì ở mức cao. Số lượng các DNV&N trong khu vực kinh tế tư nhân có dư nợ tại Chi nhánh tăng dần qua các năm, chứng tỏ đây chính là khu vực kinh tế luôn nhận được sự ưu tiên của ngân hàng trong việc cho vay. Các DNV&N tại Thanh Hóa năm 2024, nhất là trong ngành xây dựng gặp rất nhiều thuận lợi vì có sự đẩy mạnh mở rộng và phát triển cũng như sáp nhập một số huyện lên thành phố. Cùng với những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trên khắp tỉnh đã tạo điều kiện cho khối Kinh tế Tư nhân có điều kiện phát triển. Vì vậy dư nợ Khu vực này cũng tăng cao đáng kể trong năm 2024.

Đối với khu vực FDI: Dư nợ cho vay khu vực FDI (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) giai đoạn 2022 – 2024 tại Chi nhánh số 4 vẫn đang còn hạn chế. Năm 2022, số dư nợ cho vay là 800 triệu đồng, đến năm 2023 tăng lên 1.201 tức là tăng 401 triệu đồng so với năm 2022, tương ứng với 50,31%. Tuy nhiên đến năm 2024, con số này lại giảm xuống còn 475 triệu đồng so với năm 2023. Sở dĩ có điều này vì Thanh Hóa vẫn là một Tỉnh đang phát triển, có rất ít cơ hội để nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể được đầu tư tại địa phương.

Năm 2024 do những bất ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát tăng cao, khó tiếp cận lãi suất ngân hàng là những nguyên nhân làm cho môi trường đầu tư Việt Nam nói chung và Tỉnh Thanh Hóa nói riêng kém hấp dẫn. Bên cạnh đó còn nhiều vấn đề khác như: công tác thẩm tra, cấp phép các dự án FDI còn nhiều bất cập, vấn đề thiếu lao động chất lượng cao, chế độ báo cáo, cập nhật thông tin về tình hình đầu tư nước ngoài còn chậm chạp… làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Do những hạn chế kể trên, dù luôn đưa ra mục tiêu thu hút FDI năm sau cao hơn năm trước, nhưng đây là năm thứ 4 dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam giảm liên tục và là năm thứ 3 mục tiêu thu hút vốn FDI đăng ký không đạt được như kỳ vọng. Từ những nhìn nhận khách quan và đánh giá thực tế ở trên, ngân hàng thường ngại cho vay nhóm doanh nghiệp này và thường đưa ra các điều kiện khắt khe khi cho vay vì khó đảm bảo khoản vay dù cho có tài sản thế chấp. Do vậy hầu hết các dự án lớn của khu vực FDI đều được đưa lên hội sở theo dõi, quản lý và quyết định. Chi nhánh số 4 đã giảm tỷ trọng dư nợ khu vực FDI vào năm 2024. Nếu năm 2023, dư nợ FDI chỉ còn là 726 triệu đồng, giảm 475 triệu đồng so với năm trước đó.

Chi nhánh số 4 Thanh Hóa cần hạn chế việc tăng trưởng dư nợ cho vay đối với các DNNN có dự án lớn hiệu quả thấp; từ chối cho vay các dự án không hiệu quả kinh tế; chuyển hướng đầu tư sang cho vay các DNV&N để hạn chế dư nợ đến mức thấp nhất, đảm bảo ngân hàng hoạt động hiệu quả, tránh rủi ro cho vay.

  • Dư nợ theo phương thức cho vay Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Tổng dư nợ tại chi nhánh số 4 đến năm 2024 là 60.243 triệu đồng, tăng 13.128 triệu đồng so với năm 2023, chiếm 36,51%. Nguồn vốn cho vay của chi nhánh đã đáp ứng được một phần nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển cho các DNV&N, tăng cường nguồn lực cho phát triển kinh tế. Trong tổng dư nợ cho vay thì dư nợ cho vay từng lần qua các năm liên tục tăng, nếu năm 2022 chỉ là 13.501 triệu đồng với tỷ trọng 37,54% trên dư nợ cho vay DNV&N thì đến năm 2023 con số này đạt 18.751 triệu đồng, chiếm 38,20% tỷ trọng và tăng 5.250 triệu đồng, tương ứng với 38,89% so với năm 2022. Sang đến năm 2024, nợ cho vay này từng lần đối với DNV&N là 21.235 triệu đồng, tức là tăng 2.484 triệu đồng so với năm liền trước nó. Con số này là rất khả quan. Sở dĩ có sự tăng lên như vậy là do DNV&N luôn có nhu cầu lớn trong việc bổ sung vốn lưu động, mua sắm nguyên vật liệu để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ ngắn hạn. Mà tính chất của khoản vay từng lần là dễ kiểm soát, hồ so vay mượn đơn giản, ít rủi ro vì thời gian vay tương đối ngắn. Vì vậy dư nợ cho vay từng lần đối với DNV&N tăng cao là điều dễ hiểu. Tỷ trọng qua giai đoạn 2022 – 2023 tăng nhẹ từ 37,54% lên 38,20%, nhưng đến năm 2024 lại giảm còn 35,25% tỷ trọng.

Dư nợ cho vay theo hạn mức tín dụng đối với DNV&N tăng mạnh và rõ rệt trong giai đoạn 2022 – 2024. Ta có thể thấy trong dư nợ cho vay DNV&N, cho vay theo hạn mức tín dụng đang dần chiếm ưu thế so với cho vay từng lần cả về tỷ trọng và mức tăng về giá trị tiền vay giữa các năm. Qua bảng 2.7 năm 2022, dư nợ cho vay theo hạn mức tín dụng là 11.567 triệu đồng, năm 2023 là 17.041 triệu đồng tăng 5.474 triệu đồng, tương đương 47,32% so với năm 2022. Đến năm 2024, con số này đã lên tới 22.966 triệu đồng, tăng lên thêm 11.399 triệu đồng trong vòng 2 năm và tăng 5.925 triệu đồng tương ứng với 34,77% so với năm 2023. Hơn nữa tỷ trọng qua các năm cũng tăng ổn định. Năm 2024, tỷ trọng dư nợ cho vay theo hạn mức tín dụng đã chiếm 38,12% dư nợ cho vay theo hạn mức tín dụng đối với DNV&N, năm 2023 là 34,72% và năm 2022 là 32,17%. Điều đó chứng tỏ rằng Chi nhánh số 4 đã tạo điều kiện cho các DNV&N có nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định với thủ tục đơn giản hơn khi mỗi lần vay vốn giúp cho các DNV&N nhận được vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh nhằm tăng thu lợi nhuận. Từ đó gây dựng lòng tin, tạo ra mối quan hệ gắn bó DNV&N với chi nhánh trong quan hệ vay vốn. Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng là rất hợp lí, mang lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng sẽ tránh được việc phải làm hồ sơ thủ tục vay vốn nhiều lần, doanh nghiệp sẽ linh động và chủ động hơn trong việc sử dụng vốn vay cũng như cân đối nguồn trả nợ hợp lí. Về phía ngân hàng sẽ không phải quản lý quá nhiều hồ sơ, tạo dựng được uy tín và mối quan hệ lâu dài đối với khách hàng.

Dư nợ cho vay theo dự án đầu tư có mức tăng khá ổn định qua các năm. Tại chi nhánh số 4 năm 2024, con số này là 16.042 triệu đồng, chiếm 26,63% tỷ trọng dư nợ cho vay DNV&N và tăng 2.746 triệu đồng, tương ứng với 20,65% so với năm 2023. Tương tự, năm 2023 cũng tăng so với năm 2022 là 2.404 triệu đồng, với tỷ trọng 27,08%. Cho vay theo dự án đầu tư thường là những khoản vay trong trung và dài hạn. Tại chi nhánh, mức tăng dư nợ đối với hình thức này là có nhưng không nhiều. Lý do là chi nhánh đã thực hiện thắt chặt việc thẩm định cho vay để giảm thiểu rủi ro cho vay trong khi thời hạn cho vay dài đã là rất rủi ro. Hơn nữa, năm 2024, nhiều DNV&N làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản hoặc bị tước giấy phép kinh doanh, nhất là DNV&N hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Vì vậy dư nợ cho vay theo hình thức này tăng không nhiều. Tuy nhiên, còn phải kể đến các dự án lớn Thanh Hóa đang khởi công xây dựng đã tạo nhiều công ăn việc làm cho DNV&N. Đây chính là lý do vì sao, với hình thức cho vay trong kỳ hạn dài như cho vay theo dự án đầu tư mà dư nợ vẫn tăng.

  • Dư nợ theo ngành kinh tế Trong lĩnh vực nông nghiệp Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Nông nghiệp là ngành nghề kinh tế mà Ngân hàng No&PTNT Việt Nam ưu tiên hàng đầu. Là một chi nhánh nhỏ của ngân hàng này, chi nhánh số 4 cũng không phải là ngoại lệ. Nhiệm vụ chính của chi nhánh là phục vụ cho nông nghiệp và cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong lĩnh vực này ngân hàng chủ yếu đầu tư vốn cho các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH mua máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất ở vùng nông thôn. Tuy nhiên trong giai đoạn 2022-2024, nhìn vào bảng 2.6 ta có thể nhận thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua dư nợ cho vay tại chi nhánh. Dư nợ cho vay ngành Nông nghiệp có dấu hiệu giảm sút qua các năm. Cụ thể là năm 2022, dư nợ cho vay ngành nông nghiệp là 6.005 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 16,70% trên tổng dư nợ cho vay DNV&N. Đến năm 2023, con số này là 6.185 triệu đồng, chỉ tăng 180 triệu đồng so với năm 2022. Nhưng sang năm 2024, dư nợ của DNV&N trong nông nghiệp chỉ còn 6.085 triệu đồng, tức là giảm 100 triệu đồng. Tỷ trọng giảm qua các năm chứng tỏ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ngày càng giảm, tuy nhiên mức độ giảm tương đối chậm. Điều này chứng tỏ Thanh Hóa đổi mới, giảm dần khu nông nghiệp và tăng thêm các khu công nghiệp, dịch vụ.

  • Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

Theo bảng 2.6, năm 2023, dư nợ cho vay trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 15.675 triệu đồng, tức là tăng so với năm 2022 là 5.236 triệu đồng và chiếm 31,93% tỷ trọng trên tổng dư nợ cho vay DNV&N. Đến năm 2024 dư nợ cho vay trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đạt 21.085 triệu đồng tăng 5.410 triệu đồng so với năm 2023, ứng với 34,51%. Chủ yếu DNV&N vay ngân hàng để đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, đổi mới thiết bị dây chuyển công nghệ trong chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm, hải sản, sản phẩm của ngành trồng trọt; vật liệu xây dựng như thép, gạch, cát, đá, xi măng…cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.

Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa đã hỗ trợ vốn cho các DNV&N sản xuất gạch ngói, đồ gốm, hàng thủ công mỹ nghệ, đan lát, thảm, chiếu cói… đây là những mặt hàng đang có lợi thế so sánh để xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài.

Trong lĩnh vực xây dựng, chi nhánh đầu tư cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, khu chế xuất chiếm tỷ trọng lớn. Ngoài ra,chi nhánh còn hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn để đầu tư vào những dự án quy hoạch khu dân cư, do đó đối tượng xây dựng nhà ở để bán, cho thuê và cho vay xây dựng giao thông nông thôn cũng tăng mạnh. Nguyên nhân là do Thanh Hóa đang đổi thay mạnh mẽ qua các năm, nhất là trong hai năm 2023 và 2024, với sự lãnh đạo của các cấp các nghành địa phương, hướng Thanh Hóa đi theo một con đường mới đó là công nghiệp, xây dựng, thương nghiệp, dịch vụ. Hưởng ứng sự lãnh đạo đấy, các DNV&N cũng dần dần chuyển đổi từ nông nghiệp sang các ngành nghề khác cho chất lượng và hiệu quả cao hơn.

Thanh Hóa đang dần đổi mới và việc ưu tiên cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng là bước đi đúng đắn. Nhận thức được điều này, chi nhánh số 4 dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng No&PTNT các cấp cao đã tạo điều kiện để DNV&N có thể vay vốn tại ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

  • Trong lĩnh vực thương nghiệp – dịch vụ

Thực hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nhà nước, đầu tư cho lĩnh vực thương nghiệp – dịch vụ của chi nhánh tăng nhẹ. So với Nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ tại chi nhánh số 4 Thanh Hóa là tương đối thấp trong giai đoạn 2022 – 2024. Cụ thể như sau, năm 2022, dư nợ về thương nghiệp và dịch vụ đối với DNV&N là 14.864 triệu đồng, năm 2023 là 20.926 triệu đồng, tăng 5.962 triệu đồng so với năm 2022. Tính đến năm 2024, dư nợ cho vay ngành thương nghiệp – dịch vụ đạt 26.507 triệu đồng tăng 5.581 triệu đồng so với đầu năm, tương ứng với 26,67% trong tổng dư nợ cho vay DNV&N. Do Thanh Hóa chưa mở rộng, khuếch trương được lĩnh vực dịch vụ, chưa làm tốt được khâu thu hút khách du lịch đến với các điểm du lịch tại Thanh Hóa, sang năm 2023 đến năm 2024, nhờ có công tác quản lý chặt chẽ tại các điểm du lịch, xử phạt nghiêm đối với những thành phần làm dịch vụ chặt chém khách du lịch, làm sạch môi trường du lịch mà khách đến Thanh Hóa ngày một tăng. Nhờ thế mà các DNV&N hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ cũng mở rộng được sản xuất, vay vốn ngân hàng nhiều hơn.

2.4. Thực trạng hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa

2.4.1. Chỉ tiêu định tính

  • Phân tích 6C đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy tắc 6C bao gồm : Character, Capacity, Cashflow, Collateral, Conditions, Control.

Character (Tư cách người vay): Ở bước này, chi nhánh số 4 mà cụ thể là Cán bộ tín dụng cần phải xem xét các vấn đề: Khách hàng DNV&N xin vay có quan hệ như thế nào với chi nhánh, uy tín với chi nhánh tốt hay xấu, mục đích của khoản vay của DNV&N, phân tích dự báo về hoạt động kinh doanh của DNV&N, phân loại tín dụng, mức độ đảm bảo của khoản vay.

Capacity (Năng lực hoạt động): Cán bộ tín dụng cần phải xem xét năng lưc hành vi dân sự của DNV&N, các hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay vốn.

Cashflow (Thu nhập): Cán bộ tín dụng cần yêu cầu khách hàng doanh nghiệp nộp vào ngân hàng báo cáo thu nhập, tình hình phân chia cổ tức, doanh thu bán hàng, tính thanh khoản của tài sản lưu động, vòng quay nợ phải thu, vòng quay nợ phải trả, vòng quay hàng tồn kho, cơ cấu nguồn vốn, tình trạng vay nợ của DNV&N, các tỷ lệ về khả năng trả lãi… Ngoài ra còn phải lưu ý đến chất lượng quản lý doanh nghiệp, những thay đổi gần đây trong phương pháp hạch toán…

Collateral (Đảm bảo tiền vay): Cán bộ tín dụng cần phải xem xét khách hàng DNV&N có các tài sản gì, giá trị tài sản đảm bảo, tình hình bị cầm cố, thế chấp của tài sản đảm bảo, … Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Conditions (Các điều kiện vay): Chi nhánh cần xem xét DNV&N xin vay có vị thế cạnh tranh như thế nào trên thị trường, tình hình cạnh tranh của sản phẩm của khách hàng vay, ảnh hưởng của lạm phát đối với bảng cân đối kế toán, tương lai của ngành mà DNV&N hoạt động, các yếu tố chính trị, pháp luật, xã hội, kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và ngành nghề của doanh nghiệp.

Control (Kiểm soát): Ngân hàng cần xem xét đến các luật, các quy định, quy chế hiện hành liên quan đến khoản cho vay mà ngân hàng đang xem xét, mức độ phù hợp của khoản vay đối với quy chế, quy định của Ngân hàng. Ngoài ra còn cần phải xem xét đến ý kiến của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật về môi trường của ngành, sản phẩm của DNV&N, các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khoản vay…

  • Bảng điểm xếp hạng của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đối với DNV&N, Ngân hàng No&PTNT Việt Nam, các chỉ tiêu tài chính được thiết lập cho 5 ngành nghề kinh tế đặc trưng là ngành sản xuất, ngành xây dựng, ngành kinh doanh bất động sản, ngành thương mại và ngành dịch vụ. Dưới đây là bảng xếp hạng DNV&N của ngân hàng để quyết định cho vay:

  • Bảng 2.7. Mức điểm xếp hạng của DNV&N

2.4.2. Các chỉ tiêu định lượng

Phân loại quản trị rủi ro đối với cho vay gồm có quản trị rủi ro danh mục và quản trị rủi ro giao dịch. Tuy nhiên, trong các chỉ tiêu định lượng sắp được đề cập đến dưới đây cho thấy hoạt động cho vay tại chi nhánh số 4 chỉ tập trung chủ yếu vào quản trị rủi ro giao dịch.

  • Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bảng 2.8. Tình hình nợ quá hạn cho vay đối với DNV&N giai đoạn 2022 – 2024

Nợ quá hạn của DNV&N giai đoạn 2022 – 2024 ngày càng tăng, cụ thể như sau: năm 2022, nợ quá hạn DNV&N tại chi nhánh là 625 triệu đồng, sang năm 2023 là 1.242 triệu đồng, tăng 617 triệu đồng so với năm 2022, đến năm 2024, con số này không có dấu hiệu giảm sút mà tiếp tục tăng lên đến 1.692 triệu đồng, tức là tăng thêm so với năm 2023 là 450 triệu đồng. Từ những con số trên, có thể thấy mức tăng đối với nợ quá hạn DNV&N tại chi nhánh số 4 là đáng quan ngại. Nợ quá hạn bao gồm nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5, mức tăng trong giai đoạn 2022 – 2024 chứng tỏ ngân hàng đang dần mất kiểm soát trong cho vay và khả năng thu hồi nợ. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2022 là 1,74% có nghĩa là trong năm 2022, cứ 100 đồng cho vay thì có 1,74 đồng là nợ quá hạn. Năm 2023 và năm 2024, tỷ lệ này có chiều hướng tăng lên đáng kể, thể hiện như sau: tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNV&N năm 2023 là 2,53%, tăng so với năm 2022 là 0,79% nhưng không dừng ở đó, năm 2024, tỷ lệ này tăng lên đến 2,81%, tăng 0,28% so với năm 2023. Điều này chứng tỏ hiệu quả cho vay đối với DNV&N tại chi nhánh đang ngày càng giảm sút, khiến cho vào năm 2024, với 100 đồng ngân hàng cho vay, có đến 2,81 đồng là nợ quá hạn. Đây là dấu hiệu đáng lo ngại đối với chi nhánh ngân hàng. Nguyên nhân là do năm 2023 và năm 2024 tình hình kinh tế bất ổn, lạm phát tăng cao, DNV&N gặp rất nhiều khó khăn trong kinh doanh gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán chính vì vậy ngân hàng phải đối mặt với các khoản vay quá hạn do các DNV&N đi vay nhưng chưa có khả năng chi trả đúng hạn với ngân hàng. Ngân hàng đang gặp khó khăn trong vấn đề thu hồi nợ vay của khách hàng DNV&N, không có khả năng đảm bảo được tỷ lệ nợ quá hạn ở mức bình ổn. Đối với một chi nhánh cấp 2, tỷ lệ nợ quá hạn như vậy là vô cùng lớn, đây là một khó khăn và yếu kém cũng như hạn chế của chi nhánh số 4 trong việc kiểm soát cho vay. Với con số xấp xỉ 3% đối với tỷ lệ nợ quá hạn chứng tỏ chi nhánh số 4 kiểm soát cho vay lỏng lẻo, dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn lên quá cao. Để khắc phục tình trạng này, chi nhánh số 4 cần phải thắt chặt hơn nữa trong khâu kiểm soát nợ quá hạn bằng cách quản lý chặt chẽ bước kiểm định cho vay, xem xét kỹ các phương án kinh doanh, nguồn trả nợ, tài sản đảm bảo, không lơ là trong việc theo dõi tình hình hoạt động và trả nợ của khách hàng để hạn chế đến mức tối đa nợ quá hạn tại ngân hàng. Trong tình hình bất ổn như hiện nay, chi nhánh số 4 cần tăng cường kiểm soát nợ trước, trong và sau cho vay để nợ quá hạn tại ngân hàng không tiếp tục tăng mà ngày càng giảm sút.

Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ tại chi nhánh số 4 trong giai đoạn 2022 – 2024 không bình ổn mà có xu hướng biến động, ngày càng tăng qua các năm . Cụ thể là vào năm 2022, Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là 0,44%, sang năm 2023 tỷ lệ này là 0,77%, cao hơn so với năm 2022 là 0,33% . Có sự tăng lên như vậy là do số lượng khách hàng gặp vấn đề về tài chính tăng cao nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng, đã khiến nợ quá hạn tăng theo. Mà tăng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là nguy cơ gây nên bất lợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Qua năm 2024 thì con số này lại tăng lên đến 0,93%, tức là tăng thêm 0,16% so với năm 2023. Nhìn chung, đến năm 2024, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ đang ngày càng có xu hương tăng nhanh. Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn chưa vượt quá 1% tức là vẫn đang ở mức ổn định cho phép. Dù vậy, chi nhánh số 4 cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay từ bước thẩm định đến sau cho vay như đã nói ở trên để cải thiện tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ tại chi nhánh, có vậy ngân hàng mới hoạt động hiệu quả, sinh lời cao.

  • Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Nợ xấu dùng để chỉ các khoản nợ mà ngân hàng cho khách hàng mà cụ thể ở đây là DNV&N vay đang đối diện với rủi ro cao trong việc thu hồi nợ gốc và lãi vay do DNV&N gặp khó khăn trong khả năng chi trả. Nợ xấu bao gồm các nhóm nợ 3,4 và 5.

Dưới đây là bảng tình hình nợ xấu trong cho vay đối với DNV&N giai đoạn 2022–2024:

  • Bảng 2.9. Tình hình nợ xấu cho vay đối với DNV&N giai đoạn 2022 – 2024

Qua bảng 2.9, ta có thể nhận ra tình hình nợ xấu tại chi nhánh số 4 trong giai đoạn 2022 – 2024 đang tăng nhanh. Cụ thể như sau: năm 2022 là 2.419 triệu đồng, đến năm 2023 đã là 3.705 triệu đồng, tăng 1.286 triệu đồng so với năm 2022, sang năm 2024 con số nay tăng vọt lên 5.087 triệu đồng, tăng hơn năm 2023 là 1.382 triệu đồng. Sở dĩ có sự tăng nhanh đột biến như vậy là bởi trong giai đoạn 2023 – 2024, kinh tế cả nước gặp nhiều khó khăn, Thanh Hóa cũng vậy, khách hàng vay làm ăn thua lỗ, không có khả năng xoay vòng vốn dẫn đến vỡ nợ, phá sản, thị trường bất động sản đóng băng,…dẫn đến nợ xấu tăng cao. Hơn nữa chi nhánh lại không kiểm soát tốt được các khoản vay ngay từ khâu kiểm định cho vay dẫn đến cho vay ra nhiều nhưng thu hồi được nợ đúng hạn kém, điều này sẽ khiến cho chi nhánh gặp khó khăn trong việc xoay vòng vốn, nợ xấu càng lớn thì ngân hàng càng phải trích lập nhiều dự phòng để bù đắp, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu DNV&N năm 2022 là 1,74%, sang năm 2023 là 2,07%, tăng 0,33%, đến năm 2024, con số này giảm xuống còn 2,03%, tương ứng giảm 0,04% so với năm 2023. Có nghĩa là vào năm 2024, cứ 100 đồng chi nhánh số 4 cho vay thì có 2,03 đồng nợ xấu, trong khi năm 2022, tỷ lệ này chỉ là 1,74% tương ứng với 1,74 đồng nợ xấu trong 100 đồng ngân hàng cho vay. Như đã đề cập ở trên, nợ xấu là nợ nhóm 3 đến nhóm 5 và phải trích lập dự phòng rủi ro tương ứng với từng nhóm nợ. Tỷ lệ nợ xấu đối với DNV&N giảm xuống chứng tỏ hiệu quả công tác quản lý nợ xấu tại chi nhánh đang dần được cải thiện. Như đã biết, nợ xấu nếu không được xử lý tốt có thể thành nợ mất trắng, điều này làm ảnh hưởng tiêu cực đến ngân hàng. Nguyên nhân là do các khoản nợ xấu tồn đọng qua các năm khó thu hồi, ngoài ra còn do DNV&N gặp khó khăn chi trả trong thời kỳ kinh tế khó khăn. Trong giai đoạn 2022 – 2024, chi nhánh đã kiểm soát tỷ lệ nợ xấu, mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn tăng nhưng tỷ lệ nợ xấu lại có chiều hướng giảm chứng tỏ chi nhánh đã thành công trong việc kiểm soát nợ xấu. Ngân hàng đã tìm ra những biện pháp để hạn chế nợ xấu tăng cao và thu hồi lại được gốc và lãi các khoản vay bằng cách ra hạn nợ, miễn lãi đối với các DNV&N có uy tín và thân thiết với ngân hàng nếu có thể…Đây là một tín hiệu đáng mừng đối với chi nhánh số 4.

Tỷ lệ nợ xấu DNV&N trên tổng nợ xấu tại chi nhánh biến động tăng giảm qua các năm. Năm 2022 là 25,84%, tức là cứ 100 đồng trong tổng nợ xấu thì có 25,84 đồng là nợ xấu của khách hàng DNV&N. Năm 2023, tỷ lệ này là 27,42%, tăng hơn so với năm 2022 là 1,58%. Sang năm 2024, tỷ lệ này giảm xuống còn 24,02%, tức là giảm 3.4% so với năm 2023. Như vậy trong năm 2024, cứ 100 đồng nợ xấu tại chi nhánh thì có 24,02 đồng là nợ xấu của DNV&N. Nói chung, tỷ lệ nợ xấu DNV&N trên tổng nợ xấu tăng trong năm 2023 nhưng giảm mạnh trong năm 2024. Theo xu thế giảm của tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ xấu giảm là điều dễ hiểu. Thực tế ngân hàng mở rộng, ưu tiên cho vay đối với DNV&N nhưng tình hình kinh tế suy thoái, doanh nghiệp làm ăn khó khăn dẫn đến đi vay nhưng không có khả năng chi trả do làm ăn không có lãi. Đây là thực trạng chung tại các ngân hàng và chi nhánh số 4 cũng không phải là một ngoại lệ. Tại Tỉnh Thanh Hóa, với các dự án lớn đang được đầu tư và xây dựng từ năm 2024 là nguyên nhân chính làm cho tỷ số nợ xấu DNV&N trên tổng nợ xấu tăng. Tuy nhiên, do kiểm soát nợ xấu tại chi nhánh khá tốt nên phần nào cải thiện được tình hình và tín hiệu đáng mừng là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ đang ngày càng giảm. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Tỷ lệ nợ xấu DNV&N trên tổng dư nợ phản ánh cứ 100 đồng dư nợ cho vay thì trong đó có bao nhiêu đồng nợ xấu của DNV&N. Nhìn vào bảng 2.9 ta có thể thấy nợ xấu DNV&N có tăng lên vào năm 2023 và có xu hướng tiếp tục tăng vào năm 2024. Vào năm 2023, chất lượng cho vay giảm sút, 100 đồng nợ cho vay thì có 0,44 đồng là nợ xấu của DNV&N, tăng thêm 0,19 đồng so với năm 2022. Sang năm 2024, so với năm 2023 tỷ lệ tăng lên 0,67% tương ứng mức tăng nhẹ là 0,04 đồng so với năm 2023. Các số liệu trên cho thấy tình hình nợ xấu DNV&N trên tổng dư nợ đang tăng dần và có xu hướng chậm lại vào năm 2024. Các khoản nợ xấu thường là các khoản nợ mất trắng của các DNV&N làm ăn thua lỗ, phá sản vì vậy việc thu hồi nợ này là rất khó khăn. Ngân hàng No&PTNT Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa vẫn cần phải có những phân tích và tiên liệu chính xác hơn nữa về tình hình kinh tế để đưa ra các phương án điều chỉnh việc cho vay, quản lý nợ xấu… như vậy mới làm giảm tối đa các nguy cơ nợ xấu tăng cao. Năm 2024, tỷ lệ này đã có sự nhẹ là do chi nhánh đã dần khắc phục được tình trạng này do nền kinh tế của Tỉnh đang đi lên tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho các DNV&N có thể kinh doanh và kiếm lời trả nợ chi Chi nhánh số 4.

Hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp vừa và nhỏ:

  • Bảng 2.10. Hệ số Dư nợ cho vay/Tổng vốn huy động trong cho vay đối với DNV&N trong năm 2022-2024

Qua bảng 2.10, hệ số Dư nợ/Tổng vốn huy động trong cho vay đối với DNV&N tại chi nhánh số 4 năm 2022 là 24,24%, năm 2023 là 27,06% , tăng 2,82% so với năm 2022 và năm 2024 là 29,62%, tăng 2,56% so với năm 2023. Tỷ lệ này cũng cho biết, trong 100 đồng vốn huy động được thì ngân hàng cho vay đối với DNV&N 27,06 đồng năm 2023 và 29,62 đồng năm 2024. Hệ số dư nợ trên tổng vốn huy động cho vay trong giai đoạn 2022 – 2024 không phải là cao cũng không quá thấp, so với nguồn vốn huy động 181.388 triệu đồng năm 2023 và gần 203.369 triệu đồng năm 2024 thì khả năng thanh khoản của ngân hàng đối với các khoản cho vay của doanh nghiệp không được đảm bảo chắc chắn. Điều này cũng chỉ ra rằng ngân hàng chưa tận dụng hết nguồn vốn, tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn đang tăng dần, công tác cho vay đối với DNV&N tại chi nhánh đang được chú trọng hơn, dư nợ cho vay tăng lên nhanh chóng (tăng 60.243 triệu đồng vào năm 2024) song vẫn đang còn khiêm tốn so với lượng tăng của nguồn vốn huy động là 203.369 triệu đồng.

Tỷ lệ nợ mất trắng doanh nghiệp vừa và nhỏ: Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

  • Bảng 2.11. Tỷ lệ nợ mất trắng trong cho vay đối với DNV&N trong giai đoạn 2022-2024

So với năm 2023 tỷ lệ nợ mất trắng trong cho vay đối với DNV&N năm 2024 là 0,44%, giảm 0,07%. Tỷ lệ này cho ta biết trong 100 đồng dư nợ của DNV&N có tới 0,44 đồng là nợ mất trắng năm 2022 và 0,51 đồng nợ mất trắng năm 2023 và 0,52 đồng năm 2024. Tỷ lệ nợ mất trắng phản ảnh tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng, tỷ lệ này càng lớn thì rủi ro càng cao. Số liệu bảng 2.13 cho thấy tỷ lệ nợ mất trắng trong cho vay DNV&N năm 2023 có dấu hiệu giảm xuống, đồng nghĩa với việc chi nhánh số 4 đã có những nỗ lực nhất định làm hạn chế và thu hồi được nợ mất trắng vào năm 2023. Nguyên nhân của các khoản nợ mất trắng này phần lớn là do các khoản nợ của DNV&N hoạt động trong ngành xây dựng với những dự án xây dựng và bất động sản tồn đọng nên DNV&N không thể kiếm được nguồn trả nợ cho ngân hàng, thậm chí một số các DNV&N này đã phá sản. Ngoài ra còn do chi nhánh số 4 buông lỏng trong quản lý nợ cho vay khiến khả năng thu hồi nợ kém, làm tốn nhiều chi phí để dự phòng đối với các món nợ hoàn toàn không thể thu hồi được này. Tăng dự phòng đồng nghĩa với phải tăng trích lập mà tiền vào ngân hàng được đem đi kinh doanh, gửi ngân hàng nhà nước và trích lập dự phòng, mức trích lập càng nhiều thì ngân hàng càng thiếu vốn kinh doanh. Điều này là hoàn toàn không tốt đối với ngân hàng. Tỷ lệ nợ mất trắng đối với cho vay DNV&N tăng cao làm tăng rủi ro cho vay của khách hàng. Các con số có chiều hướng giảm chứng tỏ chi nhánh số 4 đã có các biện pháp tích cực để thu hồi được những khoản nợ này hoặc đã xử lý xong các khoản nợ mất trắng.

  • Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo Quyết định 493/2017/QĐ-NHNN, dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện được đầy đủ theo cao kết. Đây là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng và khả năng quản lý nợ của ngân hàng. Tình hình trích lập và sử dụng dự phòng trong cho vay các DNV&N được thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 2.12. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro đối với DNV&N giai đoạn 2022-2024

Bảng 2.12 cho thấy, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro đối với DNV&N tại chi nhánh năm 2022 là 0,86%, sang đến năm 2023 là 0,87%, tăng 0,01%. Đến năm 2024 con số này giảm xuống còn 0,81%, tương ứng giảm 0,06% so với năm 2023. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro đối với DNV&N tăng trong năm 2023 là do chi nhánh số 4 đã đưa ra các chính sách tín dụng thoáng, kém chặt chẽ trong khâu kiểm định cho vay mà nguyên nhân sâu xa là do trình độ của Cán bộ tín dụng và vẫn đề đạo đức nghề nghiệp của Cán bộ tín dụng tại chi nhánh. Mặt khác, nợ quá hạn tăng cao nên ngân hàng cần phải trích lập dự phòng nhiều hơn để bù đắp. Năm 2023, chi nhánh đã sử dụng một phần trong quỹ dự phòng để bù đắp các khoản nợ quá hạn, nợ xấu và chuyển số dự phòng còn lại là 427 triệu đồng sang năm 2024 và cũng đã tiến hành trích lập thêm, khoản trích lập dự phòng trong năm 2024 là 488 triệu đồng. Một mặt chi nhánh đã có biện pháp gia tăng tỷ lệ trích lập dự phòng đối với DNV&N trong năm 2023, tuy nhiên chi nhánh chỉ mới giải quyết được phần nào tác động tiêu cực khi hàng loạt các DNV&N trong giai đoạn 2023-2024 đứng trước giai đoạn khó khăn, thậm chí phá sản, giải thể dẫn đến mất hoàn toàn khả năng trả nợ. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay DNV&N đến năm 2024 có dấu hiệu giảm (giảm 0,06% so với năm 2023) chứng tỏ, trong năm 2024, chi nhánh số 4 đã nỗ lực trong việc kiểm soát các khoản nợ quá hạn, nợ xấu, xử lý tốt nợ mất trắng. Đây là dấu hiệu tốt vì trích lập dự phòng rủi ro cho vay càng nhiều chứng tỏ ngân hàng đang hoạt động kém hiệu quả, cần phải trích tiền tại chi nhánh để bù đắp.

  • Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chỉ tiêu khả năng bù đắp rủi ro cho vay là một nhân tố giúp xem xét cũng như đánh giá chất lượng cho vay tại chi nhánh số 4. Chỉ tiêu này cho biết khả năng bù đắp cho những khoản nợ đã được xử lý rủi ro của ngân hàng. Một khi các khoản nợ đã được xử lý, điều này đồng nghĩa với việc đã xảy ra tình trạng thất thoát. Như vậy có thể nói rằng hệ số khả năng bù đắp rủi ro phản ánh ngân hàng liệu có đủ khả năng để bù đắp cho con số dư nợ đã mất đi bởi giá trị dự phòng tổn thất tín dụng hay không.

  • Bảng 2.13. Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro cho vay DNV&N giai đoạn 2022 – 2024 Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Bảng số liệu 2.13 trên cho thấy, năm 2022, chi nhánh không có khoản nợ xấu cần xử lý nên giá trị dự phòng tổn thất chưa cần thiết để tài trợ, nhưng sang đến năm 2023, số dư nợ đã xử lý là 110 triệu đồng, giá trị dự phòng tổn thất tín dụng được trích là 427 triệu đồng nên hệ số khả năng bù đắp rủi ro là 3,88 lần. Điều này cho biết rằng khi 1 đồng cho vay bị thất thoát thì có 3,88 đồng dự trữ để bù đắp 1 đồng thất thoát đó. Nguyên nhân là giai đoạn 2022 – 2024 tình hình kinh tế nước ta đầy biến động, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nhất là các DNV&N hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản. Sang đến năm 2024 thì tỷ lệ bù đắp rủi ro tín dụng giảm xuống 3,67%. Tuy nhiên đối với một chi nhánh cấp 2 thì tỷ lệ này như vậy là tương đối lớn, điều này không phải là tốt. Tỷ lệ bù đắp rủi ro giảm do năm 2024, Thanh Hóa có các dự án xây dựng mang tầm quốc gia như nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, sân bay Sao Vàng, cảng Nghi Sơn cũng giúp tạo cơ hội kinh doanh cho các DNV&n trong điều kiện kinh tế biến động này. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước đã có những chính sách kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, nợ quá hạn; Chính Phủ cũng đưa ra những gói cho vay đối với DNV&N. Tuy nhiên trên thực tế,các gói hỗ trợ của Chính Phủ mà ngân hàng chính là chủ thể đứng ra cho vay thì rất khó tiếp cận vì không phải DNV&N nào cũng có thể đủ điều kiện vay do vốn ít, tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn…hơn nữa lãi suất vay lại quá cao cũng là một trở ngại đối với các DNV&N. Vì thế tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro cho vay DNV&N năm 2024 có giảm nhưng không nhiều. Chi nhánh cũng cần lưu ý đến chỉ tiêu này thường xuyên vì chỉ tiêu này phản ảnh tính ổn định về vốn, chất lượng cũng như sự an toàn tín dụng của bản thân chi nhánh.

2.5. Đánh giá chung họat động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

2.5.1. Kết quả

Chi nhánh đã nhận thấy tầm quan trọng của các khách hàng DNV&N đối với nền kinh tế nói chung, họat động kinh doanh của chi nhánh nói riêng. Vì vậy, đã tập trung tiếp cận đầu tư vốn, cung cấp dịch vụ cho các DNV&N ngày một nhiều hơn, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng rất lớn hàng năm.

Chuyển biến cơ bản về nhận thức đối với khách hàng DNV&N từ quan điểm đầu tư đến việc cân đối nguồn vốn: Trước năm 2022 chỉ tập trung cho vay các hộ sản xuất và hộ nông dân chưa thực hiện cho vay các DN ngoài quốc doanh nhưng sau hơn 3 năm họat động đến 30/06/2025 dư nợ cho vay DNV&N đã đạt 69.840 triệu chiếm 35,5% tổng dư nợ.

Chi nhánh thường xuyên cải tiến thủ tục vay vốn ngày một đơn giản, giúp cho các DNV&N tiếp cận vốn được thuận tiện, nhiều DNV&N đã sản xuất tốt từ nguồn vốn vay ngân hàng, trong những năm qua đã có nhiều DNV&N từ nguồn vốn vay đó đã phát triển mở rộng được quy mô của mình.

Khép kín trong đầu tư vốn cho các DNV&N từ khâu thu mua, chế biến đến xuất khẩu, đây là giải pháp đầu tư vốn rất quan trọng giúp cho NHNo và DNV&N chủ động trong đầu tư kiểm soát, tăng tính hiệu quả của họat động đầu tư. Tính đến 30/06/2025 đã có nhiều doanh nghiệp vay vốn xuất nhập khẩu với số dư nợ trên 9.000 triệu đồng.

Chính sách cho vay của chi nhánh phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn, phù hợp với các quy định của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam. Chính sách cho vay của chi nhánh cũng đóng góp tích cực vào sự lớn mạnh của các DNV&N có quan hệ tín dụng với chi nhánh.

Hệ thống xếp hạng khách hàng và chấm điểm tín dụng tại chi nhánh dần dần hoàn thiện và được chi nhánh sử dụng khá hiệu quả. Hầu hết các doanh nghiệp đều được chấm điểm để đánh giá tình trạng hoạt động cũng như mức độ rủi ro, giúp ngân hàng có những cái nhìn đúng đắn hơn về doanh nghiệp, hỗ trợ đắc lực cho ngân hàng trong công tác cho vay cũng như quản trị rủi ro trong cho vay.

Gây dựng lòng tin, tạo mối quan hệ gắn bó giữa DNV&N với NHNo trong quan hệ vay vốn và cung cấp dịch vụ. Hầu hết các DNV&N mở quan hệ vay vốn với NHNo đều gắn bó lâu dài trong quá trình họat động kinh doanh. Đến nay, chi nhánh có dư nợ hơn 5.000 triệu đồng là những khách hàng mà NHNo cho vay từ khi còn là khách hàng cá nhân, hộ đăng ký kinh doanh, nay đã phát triển thành các doanh nghiệp có quy mô vừa.

Đội ngũ cán bộ tín dụng trẻ trung, năng động, sáng tạo cũng là một thế mạnh của chi nhánh. Với khă năng nhanh nhạy trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc, các cán bộ tín dụng tại chi nhánh khai thác khá tốt các nguồn thông tin từ Trung tâm tín dụng (CIC), Trung tâm phòng ngừa và xử lý rủi ro và từ các nguồn khác để làm tư liệu phục vụ cho việc đánh giá, phân tích khách hàng.

Phát triển dịch vụ, mở rộng đầu tư cho các DNV&N đồng nghĩa với việc mở rộng họat động dịch vụ. Khách hàng DNV&N không chỉ là vay vốn đơn thuần mà cùng với vay vốn là các họat động thanh tóan trong nước, thanh toán quốc tế, chi trả tiền lương, thẻ, tư vấn…Đây là hướng đi rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược họat động đối với các DNV&N của chi nhánh.

2.5.2. Những mặt còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

Bên cạnh các Cán bộ tín dụng có tinh thần trách nhiệm thì chi nhánh vẫn còn các Cán bộ tín dụng thiếu đạo đức nghề nghiệp, cấu kết với doanh nghiệp để xin vay vốn nhằm mục đích trục lợi gây ảnh hưởng xấu và tổn thất cho ngân hàng. Vì vậy Cán bộ tín dụng cần có tinh thần làm việc tập trung, sát sao với hoạt động của các doanh nghiệp đó. Cán bộ tín dụng phải thường xuyên phối hợp với ban lãnh đạo trực tiếp đến cơ sở hoạt động của các doanh nghiệp để kiểm tra tình hình sử dụng vốn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi nhận thấy bất kỳ dấu hiệu cho thấy sự bất thường nào trong việc kinh doanh hay sử dụng vốn của doanh nghiệp, cán bộ tín dụng báo cáo ngay với ban lãnh đạo để có hướng giải quyết.

Chi nhánh còn chưa tiếp cận sâu sắc, nắm bắt kỹ càng, e ngại rủi ro, phân tích họat động của DNV&N nên chưa có giải pháp cụ thể và hiệu quả về mở rộng quan hệ với khách hàng DNV&N.

Bên cạnh những khách hàng tốt, thiện chí cung cấp thông tin và trả nợ vay, còn có những khách hàng sau khi cho vay rất khó khăn trong việc cung cấp hồ sơ hoặc cung cấp hồ sơ không đúng hạn cho ngân hàng. Chi nhánh cũng chưa nhận biết được đầy đủ các rủi ro tín dụng có thể xảy ra.

Hạn chế trong một số sản phẩm cho vay, dịch vụ truyền thống, các sản phẩm mới như bao thanh toán, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng chưa triển khai áp dụng đối với các DNV&N mà chỉ mới áp dụng cho cá nhân với mức dư nợ rất thấp.

Chất lượng thông tin từ các doanh nghiệp chưa cao. Việc phân tích phương án/dự án đầu tư, khả năng tài chính của các doanh nghiệp phần nhiều vẫn dựa trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp hàng năm, có những báo cáo chưa qua kiểm toán đã gửi tới ngân hàng, có những báo cáo đã qua kiểm toán nhưng mức độ chính xác của nó thì cán bộ khó có thể kiểm chứng được.

Chính sách khách hàng chưa rõ, chưa sát, trong quy định về xếp lọai khách hàng nếu áp dụng cho các DNV&N theo các tiêu chí này không phù hợp bên cạnh đó các quy định về cho vay, lãi suất… đều chưa có quy định cụ thể theo từng phân khúc thị trường mà chỉ có quy định duy nhất được áp dụng cho mọi đối tượng khách hàng.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 giới thiệu sơ nét về Ngân hàng No&PTNT chi nhánh số 4 Thanh Hóa, giới thiệu các sản phẩm tín dụng chủ yếu mà Ngân hàng No&PTNT đã cung cấp cho các DNV&N các sản phẩm huy động vốn, cho vay trong đồng thời phân tích kết quả họat động kinh doanh giai đoạn 2022 – 2024 của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng cho vay và quản trị rủi ro trong cho vay đối với DNV&N tại Ngân hàng No&PTNT chi nhánh số 4 Thanh Hóa, Chương 2 của nêu lên những kết quả đạt được trong việc cho vay đối với các DNV&N giai đọan 2022 – 2024, phân tích các nguyên nhân làm nợ xấu cho vay DNV&N tăng cao. Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank

  1. Pingback: Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537