Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – hiện trạng và kiến nghị này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

Lời nói đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nếu như trước đây, nguồn thu chủ yếu của các Ngân hàng thương mại là từ hoạt động tín dụng, thì ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, các nguồn thu từ những dịch vụ hiện đại đã trở thành những nguồn thu quan trọng đối với mỗi ngân hàng, trong đó có hoạt động Kinh doanh ngoại hối. Tại Việt Nam, hoạt động Kinh doanh ngoại hối vẫn còn rất mới mẻ nhưng đã kịp đóng góp vào thu nhập của các ngân hàng, đồng thời góp phần bổ trợ cho các dịch vụ khác, giúp đa dạng hoá nghiệp vụ kinh doanh.

Trong những năm vừa qua, hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, song cũng còn nhiều mặt hạn chế. Để hoạt động này ngày càng phát triển hơn thì việc hoàn thiện nó trên cơ sở đánh giá chính xác hiện trạng là việc làm hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế này, cùng với những kiến thức được tích luỹ tại trường, kiến thức qua nghiên cứu tài liệu và kiến thức thực tế trong thời gian thực tập tại Ngân hàng, em đã chọn đề tài: —Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – hiện trạng và kiến nghị”.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài là hiểu được những lý luận chung về hoạt động Kinh doanh ngoại hối, từ đó thấy được thực trạng hoạt động này tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam đã phát triển được đến đâu và đang còn hạn chế gì. Trên cơ sở đó, tìm ra các giải pháp và đề xuất những kiến nghị để hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng ngày càng hoàn thiện và phát triển.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lí thuyết cơ bản nhất về hoạt động Kinh doanh ngoại hối như: thị trường ngoại hối, tỉ giá, rủi ro, mô hình tổ chức Kinh doanh ngoại hối, vai trò của hoạt động Kinh doanh ngoại hối đối với các ngân hàng thương mại, và đặc biệt đi sâu phân tích các nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối để trên cơ sở này sẽ phân tích thực trạng hoạt động này tại Ngân hàng Techcombank.

4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân loại, thống kê, so sánh và tổng hợp, kết hợp với các bảng, biểu để minh hoạ và phân tích.

5. Kết cấu của đề tài Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Ngoài lời nói đầu, mục lục, danh mục thuật ngữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, khóa luận có kết cấu gồm ba chương như sau:

  • Chương 1: Các vấn đề cơ bản về Kinh doanh ngoại hối
  • Chương 2: Hiện trạng hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)
  • Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam.

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Cô giáo, Thạc sĩ Phạm Thị Song Hạnh đã tận tình hướng dẫn và góp ý kiến cho em, cùng các cán bộ Trung tâm Treasury Hội sở Ngân hàng Tehcombank, đặc biệt là các anh chị phòng Dealing Room FX, đã giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian thực tập tại đây, để em có thể hoàn thành khóa luận này.

Dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, nhưng với kiến thức lí luận cũng như thực tiễn còn nhiều hạn chế, đề tài nghiên cứu lại là vấn đề mới mẻ và phức tạp, nên em biết khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý tận tình của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn.

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI

I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

Hoạt động kinh doanh trong bất cứ lĩnh vực nào đều đòi hỏi nhà kinh doanh phải tìm hiểu kỹ lưỡng về thị trường của lĩnh vực đó, và Kinh doanh ngoại hối cũng không nằm ngoài đòi hỏi trên. Các đối tượng tham gia Kinh doanh ngoại hối luôn luôn phải theo dõi diễn biễn và phân tích tình hình thị trường để đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn nhất.

1. Khái niệm thị trường ngoại hối

Hiểu một cách khái quát nhất, Thị trường ngoại hối được định nghĩa như là bất cứ ở đâu diễn ra việc mua bán các đồng tiền khác nhau.

Trong thực tế, do các hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu là giữa các ngân hàng nên theo nghĩa hẹp, Thị trường ngoại hối còn được định nghĩa là nơi mua bán các đồng tiền khác nhau giữa các ngân hàng, tức thị trường liên ngân hàng (Interbank).

Như vậy, theo các cách hiểu phổ biến nêu trên, đối tượng mua bán trên Thị trường ngoại hối chỉ bao gồm các đồng tiền khác nhau, hay các ngoại tệ, mà không bao gồm các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ hay vàng tiêu chuẩn quốc tế – những phương tiện tiền tệ vốn vẫn được coi là ngoại hối đối với một quốc gia. Điều này là vì trong thực tế, đối với các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ muốn được giao dịch phải được bán (chiết khấu) để đổi lấy ngoại tệ sau đó mới tiến hành mua bán trên thị trường, còn đối với vàng tiêu chuẩn quốc tế thì ít được giao dịch do vai trò tiền tệ ngày càng giảm đi của nó trên thị trường tài chính thế giới.

2. Đặc trưng của thị trường ngoại hối Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

  • TTNH có những đặc điểm sau:

TTNH không có giới hạn về không gian. Cứ ở đâu có xảy ra việc mua bán các đồng tiền thì ở đó có Thị trường ngoại hối. Các phương tiện thông tin hiện đại như điện thoại, telex, fax, SWIFT, hệ thống giao dịch điện tử (electronic dealing system), … đã giúp những nhà giao dịch ngoại hối duy trì liên lạc một cách hiệu quả mà không cần đến địa điểm cụ thể nào.

TTNH hầu như không có giới hạn về thời gian. Sự chênh lệch về múi giờ khiến cho thị trường này luôn hoạt động 24/24 giờ ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Vì thế mà nó còn có tên là —Thị trường không ngủ‖.

Trung tâm của Thị trường ngoại hối là Thị trường liên ngân hàng (Interbank) với các thành viên chủ yếu là Ngân hàng thương mại, nhà môi giới và Ngân hàng Trung ương.

TTNH thế giới mang tính chuẩn cao, tuy các tỉ giá được yết trên nhiều thị trường khác nhau nhưng có chênh lệch không đáng kể do quá trình niêm yết tỉ giá đã được quốc tế hoá.

TTNH rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội,… của các quốc gia, đặc biệt là chính sách tiền tệ của các nước kinh tế phát triển.

Hiện nay trên thế giới có năm Thị trường ngoại hối lớn là: London, New York, Tokyo, Singapore và Frankfurt. Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch ngoại hối là USD.

Ngày nay, do tỉ giá thường xuyên biến động nên việc phòng chống rủi ro cũng như tìm kiếm cơ hội đầu cơ trên Thị trường ngoại hối diễn ra khá sôi động làm tăng nhu cầu giao dịch mua bán ngoại tệ. Thêm vào đó, xu thế tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế diễn ra mạnh mẽ đã buộc các nước phải nới lỏng quy chế quản lý ngoại hối làm tăng doanh số giao dịch trên thị trường. Đặc biệt, những thành tựu trong lĩnh vực thông tin đã làm giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ thanh toán. Tất cả những yếu tố này đã có tác dụng thúc đẩy Thị trường ngoại hối phát triển . Bên cạnh tăng nhanh doanh số giao dịch, Thị trường ngoại hối quốc tế còn phát triển mạnh cả về chiều sâu, thể hiện ở sự hình thành nhiều nghiệp vụ mới phức tạp hơn, tinh vi hơn và cũng chứa đựng nhiều rủi ro hơn.

3. Các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối

Dựa vào chức năng, có thể phân chia các thành viên thị trường thành: Nhà tạo giá sơ cấp, Nhà kinh doanh tạo giá thứ cấp, Nhà chấp nhận giá, Nhà cung cấp dịch vụ tư vấn, Nhà môi giới, Nhà đầu cơ, và Người can thiệp thị trường.

3.1 Nhà tạo giá sơ cấp Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Là những nhà kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường, còn được gọi là nhà tạo lập thị trường, nhà bán buôn. Nhà tạo giá sơ cấp này có thể sẵn sàng tạo giá hai chiều cho nhà tạo giá sơ cấp kia trên cơ sở yết giá hai chiều (tức là yết cả giá mua và giá bán), và sẵn sàng mua vào và bán ra với số lượng hợp lý theo giá đã được yết. Những nhà tạo giá trên thị trường sơ cấp bao gồm:

  • Các ngân hàng chính
  • Các nhà kinh doanh đầu tư lớn
  • Một số công ty lớn

3.2 Nhà kinh doanh tạo giá thứ cấp

Là những nhà kinh doanh trên cơ sở yết giá hai chiều, nhưng không phải trên cơ sở tạo giá hai chiều lẫn cho nhau. Nghĩa là, những nhà tạo giá thứ cấp cũng đưa ra tỉ giá mua và tỉ giá bán cho các khách hàng, nhưng khách hàng không phải là người tạo giá ngược trở lại cho nhà tạo giá thứ cấp. Trên cơ sở tỉ giá được tạo ra trên thị trường sơ cấp, những nhà tạo giá thứ cấp tạo tỉ giá mua vào và bán ra phục vụ cho nhóm khách hàng của mình với một tỉ lệ chênh lệch rộng hơn. Do đó, họ còn được gọi là những nhà bán lẻ.

Khi có nhu cầu ngoại hối bổ sung hoặc khi có dư thừa ngoại hối tạm thời, những nhà tạo giá trên thị trường thứ cấp tiến hành giao dịch với những nhà tạo thị trường sơ cấp. Như vậy, một Ngân hàng thương mại có thể đồng thời là nhà tạo giá trên cả hai thị trường sơ cấp và thứ cấp.

3.3. Nhà chấp nhận giá

Những người này đơn thuần chỉ là những người chấp nhận giá của các nhà tạo giá, và tiến hành giao dịch mua bán ngoại hối. Họ không yết giá cũng không tạo giá trên thị trường. Những nhà chấp nhận giá bao gồm: các công ty, Chính phủ, các ngân hàng (với vai trò là khách hàng), các cá nhân và các tầng lớp xã hội khác.

3.4 Nhà cung cấp dịch vụ tư vấn Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Là những tổ chức hoạt động nhằm mục đích tư vấn cho khách hàng về việc mua đồng tiền nào, bán đồng tiền nào và vào thời điểm nào – những yếu tố quyết định sự thành bại trong Kinh doanh ngoại hối; hoặc tư vấn về chiến lược kinh doanh hoặc phương thức tiếp cận v.v… Trên cơ sở cung cấp dịch vụ tư vấn, các tổ chức này sẽ thu một khoản phí.

Các hình thức cung cấp dịch vụ tư vấn rất đa dạng: cung cấp các thông tin cập nhật, thường xuyên trên mạng (như Reuters, Bloomberg, Telerate, Knight-Ridder…); gửi các thông tin tổng hợp hàng ngày đến khách hàng bằng các bản fax hay telex; gửi tới khách hàng các bản tin định kì bao gồm các thông tin tổng hợp của thị trường và những phân tích thị trường cũng như các nhận xét và các lời khuyên; hoặc chỉ gửi các thông tin đến khách hàng với những lời khuyên chắc chắn rằng nên mua hay nên bán đồng tiền nào…

Hầu hết các ngân hàng lớn và các nhà kinh doanh chính cũng cung cấp các dịch vụ tư vấn ngoại hối cho khách hàng của mình và chủ yếu là miễn phí.

3.5 Nhà môi giới

Ngoài phương thức liên lạc trực tiếp (điện thoại, telex, mạng Internet…), các nhà tạo lập thị trường còn giao dịch với nhau thông qua nhà môi giới ngoại hối. Giao dịch thông qua nhà môi giới cho phép nhà kinh doanh yết giá trên thị trường mà không phải xưng tên mình. Quá trình yết giá trên thị trường, đưa người có nhu cầu mua và người có nhu cầu bán lại với nhau, nhà môi giới được hưởng một khoản hoa hồng. Những nhà môi giới chính thường có mạng lưới cung cấp dịch vụ toàn cầu với thời lượng 24/24h mỗi ngày.

3.6 Nhà đầu cơ

Những nhà đầu cơ trên Thị trường ngoại hối bao gồm nhiều đối tượng khác nhau: có thể là các công ty, cá nhân, Chính phủ, hay các nhà tạo giá thị trường. Họ sẽ được cho là đang thực hiện hành động đầu cơ khi tạo ra một trạng thái ngoại hối mà không có biện pháp bảo hiểm ngay lập tức. Thực ra, việc phân biệt một cách rành rọt giữa các quyết định đầu cơ và quyết định kinh doanh thông thường là rất khó, tuy nhiên sự rủi ro và mạo hiểm là một đặc trưng gắn liền với Thị trường ngoại hối, nên yếu tố đầu cơ là cần thiết và là động lực tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả.

3.7 Người can thiệp thị trường

NHTW là người can thiệp ngoại hối và lãi suất trong Thị trường ngoại hối nhằm hướng thị trường đi theo chiều có lợi cho nền kình tế. Ngân hàng Trung Ương có thể tác động đến ngoại tệ và lãi suất một cách trực tiếp (qua các ngân hàng) hoặc gián tiếp (qua các nhà môi giới, qua thị trường giao dịch tương lai, qua các Ngân hàng Trung Ương khác).

Có thể nói, trên Thị trường ngoại hối, mỗi thành viên có một vai trò khác nhau, nhưng họ có mối quan hệ lẫn nhau. Sự tham gia đầy đủ của tất cả các thành viên này sẽ giúp cho thị trường hoạt động một cách sôi động, trôi chảy và hiệu quả.

II. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

1. Khái niệm Kinh doanh ngoại hối

KDNH là việc mua bán các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch về tỉ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau.

Như đã nêu ở phần trước, đối tượng mua bán trên Thị trường ngoại hối chỉ bao gồm các đồng tiền khác nhau, hay các ngoại tệ, mà không tính đến vàng hay các loại giấy tờ có giá khác. Nghĩa là: Thị trường ngoại hối được hiểu theo nghĩa hẹp là thị trường ngoại tệ, Kinh doanh ngoại hối được hiểu theo nghĩa hẹp là Kinh doanh ngoại hối. Trong khoá luận này, người viết cũng hiểu và sử dụng hai thuật ngữ trên theo nghĩa hẹp như vậy.

2. Đặc trưng cơ bản của hoạt động Kinh doanh ngoại hối

  • Thứ nhất, hoạt động Kinh doanh ngoại hối là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.

Một trong những đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động Kinh doanh ngoại hối nói riêng là chứa đựng rất nhiều rủi ro. Các rủi ro đó có thể khái quát thành các loại sau:

Rủi ro thanh khoản: Đây là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không có đủ vốn để thực hiện các cam kết thanh toán của mình trong trường hợp khoản huy động vốn đến hạn trả nợ hoặc khi khách hàng có yêu cầu thanh toán.

Rủi ro hoạt động: Đây là rủi ro gây ra bởi các yếu tố phi tài chính, nó bao gồm rủi ro hệ thống, rủi ro gây ra bởi yếu tố con người (ví dụ như vô tình hay cố ý viết sai xác nhận, thanh toán nhầm, hạch toán thiếu…).

Rủi ro tín dụng: Là rủi ro xảy ra khi khách hàng không thực hiện các cam kết thanh toán của mình trong ngày hiệu lực hoặc khách hàng huỷ hợp đồng đã ký.

Rủi ro thị trường: Đây là rủi ro chính, thường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động Kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Loại rủi ro này xảy ra khi ngân hàng đang giữ một trạng thái ngoại tệ hay một trạng thái luồng tiền nào đó mà tỉ giá và lãi suất lại có những biến động không thuận chiều. Cụ thể như sau:

  • Rủi ro về tỉ giá: Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Nó sẽ xuất hiện khi ngân hàng có trạng thái của một ngoại tệ nào đó thừa hoặc thiếu. Khi ngoại tệ này lên giá thì trạng thái ngoại tệ thừa sẽ có lợi, còn trạng thái ngoại tệ thiếu sẽ bị lỗ và ngược lại. Trong quá trình mua bán hàng ngày, trạng thái ngoại tệ này luôn biến động nên ngân hàng luôn có khả năng gặp rủi ro do sự biến động của tỉ giá.

  • Rủi ro về lãi suất:

So với rủi ro về tỉ giá, rủi ro về lãi suất ít có ý nghĩa hơn nhưng với khối lượng kinh doanh lớn thì cũng tạo ra những thiệt hại đáng kể. Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường thay đổi, làm phát sinh lãi hoặc lỗ đối với hoạt động Kinh doanh ngoại hối.

Để phòng ngừa rủi ro thị trường, các Ngân hàng thương mại thường sử dụng các công cụ thị trường phái sinh như các hợp đồng kì hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn để làm cân bằng trạng thái luồng tiền và cố định các mức tỉ giá và lãi suất giao dịch.

Thứ hai, Kinh doanh ngoại hối là một hoạt động phức tạp, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường hiện đại. Hoạt động này đòi hỏi phải có đầy đủ cơ sở vật chất, các thiết bị hiện đại, các phương tiện thông tin liên lạc tân tiến mới mong đạt được hiệu quả kinh doanh cao.

Thứ ba, Kinh doanh ngoại hối là hoạt động đòi hỏi nhà kinh doanh phải có đủ chuyên môn về nhiều lĩnh vực, phải có những kĩ năng nhất định, phải có trình độ quản lý và khả năng nắm bắt thị trường một cách linh hoạt. Nhà kinh doanh phải có trí tuệ cao cùng với những nỗ lực thường xuyên để xác định những gì xảy ra trên thị trường và tỉ giá sẽ biến động theo hướng nào.

3. Vai trò của Kinh doanh ngoại hối đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Cũng giống như thương mại quốc tế, du lịch quốc tế, đầu tư quốc tế, quan hệ tín dụng quốc tế và các quan hệ tài chính quốc tế khác đều làm phát sinh nhu cầu mua bán các đồng tiền khác nhau trên thị trường. Chính vì thế, quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu càng diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại càng gay gắt thì vai trò của Thị trường ngoại hối càng trở nên quan trọng.

Thứ nhất, nó đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Lợi nhuận là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu đối với mỗi ngân hàng. Kinh doanh ngoại hối thông qua việc mua bán để hưởng chênh lệch tỉ giá hay thông qua đầu cơ trên cơ sở dự báo sự biến động của tỉ giá có thể đem lại những khoản lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng. Đó là chưa kể tới những khoản thu phí khi ngân hàng thực hiện dịch vụ cho khách hàng.

Thứ hai, nó làm tăng quy mô của ngân hàng thông qua việc thúc đẩy nhanh hoạt động thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu, từ đó thu hút thêm nhiều khách hàng đến với ngân hàng. Theo như định nghĩa Kinh doanh ngoại hối không chỉ nhằm mục đích kiếm lời mà còn phải đảm bảo nhu cầu ngoại tệ của khách hàng. Rõ ràng, một ngân hàng luôn luôn khan hiếm nguồn ngoại tệ thì chắc chắn sẽ không thể thu hút khách hàng là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đến mở thư tín dụng để nhập hàng, hay được các ngân hàng nước ngoài chọn làm ngân hàng thông báo, ngân hàng chiết khấu trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Trong khi, các hoạt động này có thể cung cấp cho ngân hàng những nguồn thu nhập ổn định và đáng kể. Ngoài ra, việc đáp ứng nhu cầu mua ngoại tệ để thực hiện chuyển tiền của phần lớn cá nhân học tập, công tác hay du lịch ở nước ngoài không chỉ làm tăng nguồn thu cho ngân hàng mà còn làm tăng số lượng khách hàng, từ đó mà làm tăng quy mô, uy tín cũng như danh tiếng của ngân hàng

Thứ ba, nó giúp ngân hàng phòng chống rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh. Thực hiện Kinh doanh ngoại hối là một cách thức đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng nhằm phân tán rủi ro. Hơn nữa, ngân hàng cũng có những cách thức xử lý linh động hơn trước những biến động của giá trị đồng nội tệ. Mặt khác, đa dạng hoá nghiệp vụ là một cách ngân hàng có thể phục vụ khách hàng của mình một cách tốt nhất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

4. Mô hình tổ chức Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại

Nhìn chung hoạt động Kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng thương mại tập trung vào 4 chức năng chính như sau:

  • Thứ nhất: Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các hợp đồng ngoại thương.
  • Thứ hai: Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính mình nhằm mục đích thực hiên đầu tư nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.
  • Thứ ba: Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính mình nhằm mục đích cân bằng trạng thái ngoại tệ, hoặc phòng ngừa rủi ro tỉ giá.
  • Thứ tư: Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích kinh doanh chênh lệch tỉ giá và lãi suất hoặc đầu cơ kiếm lời khi tỉ giá thay đổi.

Để thực hiện tốt các chức năng nêu trên, thì mỗi Ngân hàng thương mại cần thiết phải tổ chức một phòng Kinh doanh ngoại hối với quy mô thích hợp và có đủ thẩm quyền để thực hiện giao dịch tức thời. Thông thường nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối sẽ liên quan đến 3 bộ phận chính sau:

  • Bộ phận kinh doanh trực tiếp (Front Office – FO)

Bộ phận này bao gồm những nhà kinh doanh là những người ra các quyết định mua/bán một đồng tiền nào đó. Thông thường trong bộ phận này có hai nhóm nhân viên kinh doanh chính: các nhà kinh doanh phụ trách khách hàng, gọi là các dealer. Các dealer này sẽ kinh doanh trực tiếp với khách hàng của ngân hàng mình và họ cũng yết giá cho khách hàng khi cần thiết. Ngoài việc yết giá cho khách hàng, các dealer còn chịu trách nhiệm về marketing, nghĩa là đôi khi họ sẽ hỗ trợ khách hàng những thông tin cần thiết về một đồng tiền cụ thể nào đó, về khả năng đồng tiền đó sẽ tăng hay mất giá và họ cũng sẽ chịu trách nhiệm tư vấn trong giao dịch mua, bán tiền tệ cho khách hàng của mình . Ngoài các dealer trong bộ phận kinh doanh còn có các trader là những nhà Kinh doanh ngoại hối chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi vị thế hối đoái của ngân hàng, ngoài ra họ cũng chịu trách nhiệm về kinh doanh đầu cơ. Trong những ngân hàng lớn thì mỗi đồng tiền sẽ có một trader chuyên nghiệp phụ trách.

  • Bộ phận kế toán điều vốn (Back Office – BO)

Bộ phận kế toán điều vốn chịu trách nhiệm về việc thanh toán cho ngân hàng đối tác trong mỗi giao dịch đã được thực hiện tại bộ phận kinh doanh. Họ cũng chịu trách nhiệm theo dõi hạn mức tín dụng, hạch toán các bút toán cần thiết.

  • Bộ phận trung gian (Middle Office – MO)

Trong một cấu trúc kinh doanh hiện đại thì nghiệp vụ mua/bán tiền tệ ngoại trừ hai bộ phận trên còn có thêm một bộ phận gọi là bộ phận trung gian chịu trách nhiệm theo dõi hạn mức tín dụng, hạn mức giao dịch, theo dõi lỗ/lãi trong kinh doanh. Họ cũng chịu trách nhiệm phối hợp với hai bộ phận kiểm tra nội bộ và kiểm toán để theo dõi và quản lý rủi ro trong Kinh doanh ngoại hối.

III. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

1. Tỉ giá hối đoái

1.1. Khái niệm

Giá cả luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh trên thị trường. Trên Thị trường ngoại hối cũng vậy, các nhà Kinh doanh ngoại hối luôn theo dõi sát sao diễn biễn giá cả của các đồng tiền hay tỉ giá. Vậy tỉ giá là gì?

  • Tỉ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác.
  • Ví dụ: 1USD = 127,62 JPY. Trong ví dụ này, giá cả của USD được biểu thị thông qua JPY và 1USD có giá là 127,62JPY.

1.2. Các cách yết tỉ giá

Xét trên giác độ quốc gia, có hai cách để yết tỉ giá.

  • Yết tỉ giá trực tiếp (Direct quotation/ Price Quotation):

Đây là phương pháp yết giá ngoại tệ mà xét từ góc độ quốc gia thì ngoại tệ với vai trò là hàng hoá (Commodity Currency) là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường là bằng 1. Nội tệ với vai trò là tiền tệ (Term Curency) là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên Thị trường ngoại hối.

  • Yết tỉ giá gián tiếp (Indirect Quotation/ Volume Quotation):

Đây là phương pháp yết giá ngoại tệ mà xét từ giác độ quốc gia thì nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường là bằng 1. Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên Thị trường ngoại hối

Ví dụ: Yết tỉ giá USD: Trong ví dụ ta quy ước đồng tiền đứng trước là đồng tiền định giá, còn đồng tiền đứng sau là đồng tiền yết giá. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

  • Theo phương pháp yết tỉ giá trực tiếp ta có: E (VND/USD) = 15000, ta hiểu là 1USD = 15000VND
  • Theo phương pháp yết tỉ giá gián tiếp ta có: E (USD/VND) = 1/15000, ta hiểu là 1VND = 1/15000USD.

Trong thực tế, phần lớn các quốc gia sử dụng phương pháp yết tỉ giá trực tiếp.

Hai cách yết tỉ giá trên là đứng từ giác độ quốc gia, trong tỉ giá bao giờ cũng có nội tệ. Trong thực tế Kinh doanh ngoại hối, nội tệ không nhất thiết lúc nào cũng có mặt trong tỉ giá. Ví dụ: ở Việt Nam, tỉ giá JPY/USD sẽ không thuộc phương pháp yết tỉ giá trực tiếp hay phương pháp yết tỉ giá gián tiếp bởi vì cả hai đồng tiền đều là ngoại tệ đối với Việt Nam.

Do đó, để đơn giản và thống nhất trong cách gọi người ta quy ước phương pháp yết tỉ giá thành kiểu Châu Âu và kiểu Mỹ, như sau: Trong phương pháp yết tỉ giá kiểu Châu Âu: Đồng USD đóng vai trò là đồng tiền yết giá; còn trong phương pháp yết tỉ giá kiểu Mỹ đồng USD đóng vai trò là đồng tiền định giá.

Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn nhất và được coi như đầu tầu kinh tế cho phần còn lại của thế giới cho nên đồng USD có một vị trí gần như chủ yếu trong hoạt động thương mại, đầu tư và quan hệ tín dụng. Do đó tỉ giá của các đồng tiền quốc gia được hình thành với USD theo quy luật cung cầu trên Thị trường ngoại hối và có tỉ giá gốc tại quốc gia phát hành đồng tiền này. Còn tỉ giá của đồng tiền quốc gia được hình thành với đồng tiền quốc gia khác không phải là USD không được hình thành trên cơ sở cung cầu trực tiếp, mà được suy ra từ tỉ giá giữa chúng với USD, hay nói một cách khác ta phải tính tỉ giá chéo.

Ví dụ: Muốn biết tỉ giá VND/JPY là bao nhiêu ta phải căn cứ vào tỉ giá VND/USD tại Việt Nam và tỉ giá JPY/USD tại Nhật Bản.

1.3. Yết tỉ giá trên thị trường liên ngân hàng

Theo tập quán kinh doanh trên thị trường Interbank, các ngân hàng thường yết tỉ giá hai chiều. Đối với mỗi tỉ giá được yết, có hai đối tác cùng tham gia, đó là ngân hàng yết giá và ngân hàng hỏi giá. Trong đó:

  • Ngân hàng yết giá là ngân hàng thực hiện niêm yết tỉ giá mua vào và bán ra. Với tỉ giá do chính mình yết, ngân hàng yết giá phải luôn sẵn sàng mua vào hay bán ra vô điều kiện khi có đối tác muốn giao dịch
  • Ngân hàng hỏi giá là ngân hàng liên hệ với ngân hàng yết giá để hỏi giá. Với giá được yết, nếu chấp nhận ngân hàng hỏi giá sẽ tiến hàng giao dịch, ngược lại thì giao dịch không xảy ra.

Như vậy, tỉ giá mua là tỉ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua đồng tiền yết giá còn tỉ giá bán là tỉ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá. Với cách yết giá hai chiều, thì tỉ giá đứng trước gọi là tỉ giá mua và tỉ giá đứng sau gọi là tỉ giá bán. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Chênh lệch giữa tỉ giá mua vào và bán ra gọi là spread, đó là thu nhập của nhà Kinh doanh ngoại hối. Như vậy, để có được thu nhập từ hoạt động mua bán ngoại hối, ngân hàng yết tỉ giá sao cho tỉ giá mua vào là thấp hơn tỉ giá bán ra. Spread có thể được tính theo điểm tỉ giá hoặc theo tỉ lệ phần trăm như sau:

Rõ ràng, nếu ngân hàng vừa mua, vừa bán số lượng như nhau thì ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận mà không phải bỏ một đồng vốn nào. Nếu ngân hàng mở rộng spread thì lợi nhuận sẽ càng lớn hơn. Nhưng do cạnh tranh, các ngân hàng thường có xu hướng thu hẹp spread để hấp dẫn khách hàng và từ đó tăng nhanh doanh số giao dịch. Hành vi này của ngân hàng được gọi là chiến lược tạo thị trường. Lợi ích bổ sung của chiến lược tạo thị trường là ngân hàng đạt được tiếng tăm tốt hơn trong kinh doanh và điều này cũng rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

1.4. Kinh doanh chênh lệch hoặc đầu cơ tỉ giá

Trên Thị trường ngoại hối, các nhà kinh doanh có thể tiến hành kinh doanh chênh lệch tỉ giá hoặc đầu cơ tỉ giá.

Kinh doanh chênh lệch tỉ giá (Arbitrage) là việc tại cùng một thời điểm mua vào một đồng tiền ở nơi rẻ và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá cao hơn để ăn chênh lệch giá. Vì hành vi mua vào và bán ra diễn ra tại cùng một thời điểm nên về mặt lý thuyết thì kinh doanh chênh lệch tỉ giá không hề chịu rủi ro tỉ giá và không phải bỏ vốn.

Tuy nhiên, ngày nay hoạt động kinh doanh chênh lệch tỉ giá rất hiếm khi xảy ra bởi vì thông tin được truyền đi rất nhanh chóng và rộng khắp. Mọi diễn biễn thị trường đều được cập nhật và các thị trường hoạt động ngày càng liên thông với nhau và rất hiệu quả. Tuy nhiên, hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất trên Thị trường ngoại hối vẫn có cơ hội nếu nhà kinh doanh chịu quan sát và có kỹ thuật kinh doanh tốt.

Kinh doanh đầu cơ tỉ giá (Speculation) là việc mua một đồng tiền ngày hôm nay và bán lại đồng tiền này tại một thời điểm nhất định trong tương lai nhằm ăn chênh lệch tỉ giá. Hành vi đầu cơ tỉ giá diễn ra trên hai thị trường khác nhau nên tạo ra trạng thái ngoại hối mở bởi vậy mà nhà kinh doanh phải bỏ vốn và phải chịu rủi ro tỉ giá.

2. Các ngày giá trị trong Kinh doanh ngoại hối Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Trong các hợp đồng ngoại hối, ngày ký kết hợp đồng (Contract Date – CD) và ngày các bên tham gia thực sự thanh toán cho nhau thường là khác nhau. Ngày mà các bên tham gia hợp đồng thanh toán thực sự cho nhau gọi là ngày giá trị (Value Date – VD).

Ngày giá trị quan trọng nhất trên Thị trường ngoại hối là ngày giá trị giao ngay (Spot Value Date – SVD). Theo thông lệ thì ngày giá trị giao ngay là ngày làm việc thứ hai sau ngày ký kết hợp đồng. Nếu gọi ngày ký kết hợp đồng là J, thì ngày giá trị giao ngay là: SVD = J+2 (trong đó số 2 là hai ngày làm việc).

Nếu lấy ngày giá trị giao ngay làm mốc thì trên Thị trường ngoại hối còn có các ngày giá trị sau:

  • Ngày giá trị kì hạn (Forward Value Date – FVD): Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch kì hạn. Theo thông lệ, ngày giá trị kì hạn là ngày làm việc thứ hai sau ngày hợp đồng kì hạn đến hạn. Nếu hợp đồng kì hạn có thời hạn là n ngày (n ≥1) thì ngày giá trị kì hạn là: FVD = (J+n) +2
  • Ngày giá trị ngày mai (Tomorrow Value Date – TOM): Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị sớm hơn một ngày so với ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch có ngày giá trị ngày mai (J+1)
  • Ngày giá trị hôm nay (Today Value Date – TOD): Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị sớm hơn hai ngày so với ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch có ngày giá trị hôm Như vậy, giao dịch có ngày giá trị hôm nay là giao dịch có ngày giá trị ngay trong ngày kí kết hợp đồng, nên người ta còn gọi là —same day value date = J‖.

3. Trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền

Trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền có ý nghĩa quan trọng trong quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng nói chung và rủi ro tỉ giá nói riêng. Thực tế cho thấy trong Kinh doanh ngoại hối, nếu lỏng lẻo trong công tác quản lý trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền thì sớm muộn tai hoạ cũng sẽ xảy ram và hậu quả của nó là khó lường.

3.1. Trạng thái ngoại hối Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Đối với Ngân hàng thương mại, trạng thái ngoại hối (Foreign exchange position) của mỗi ngoại tệ hay vàng tiêu chuẩn quốc tế là chênh lệch giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ (bao gồm cả nội bảng và ngoại bảng) của tổng ngoại hối tại một thời điểm nhất định. Trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ phản ánh số dư của ngoại tệ đó tại một thời điểm nhất định. Ngày nay, vai trò tiền tệ và vai trò ngoại hối của vàng cũng như ý nghĩa của nó so với ngoại tệ ngày càng giảm sút và trở nên thứ yếu do đó nói tới trạng thái ngoại hối là nói tới trạng thái của các ngoại tệ là chủ yếu.

Các giao dịch liên quan đến ngoại tệ được chia làm hai nhóm: Nhóm làm phát sinh sự chuyển giao quyền sử dụng và nhóm làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ. Trong đó, chỉ những giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu thì mới làm phát sinh trạng thái ngoại tệ. Theo đó, bao gồm các giao dịch sau:

  • Mua, bán ngoại tệ (giao ngay và kì hạn)
  • Thu, chi lãi suất bằng ngoại tệ
  • Các khoản thu, chi phí dịch vụ bằng ngoại tệ
  • Các khoản cho, tặng, biếu, viện trợ bằng ngoại tệ
  • Các khoản ngoại tệ bị mất, rách, nát, hư hỏng không còn giá trị.

Những giao dịch làm phát sinh tăng quyền sở hữu về ngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái trường của ngoại tệ đó (Long The Foreign Currency – LFC) và những giao dịch làm phát sinh giảm quyền sở hữu về ngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái đoản của ngoại tệ đó (Short The Foreign Curency – SFC).

Trạng thái ngoại tệ ròng đối với ngoại tệ (F) tại thời điểm t được xác định bằng hai cách như sau:

Cách 1: Bằng doanh số phát sinh trạng thái trường và trạng thái đoản đối với ngoại tệ

  • (F) trong một thời kì nhất định:
  • NEPF(t)= LFCF(to-t) – SFCF(to-t)

Trong đó:

  • NEPF(t) – trạng thái ngoại tệ ròng đối với ngoại tệ F tại thời điểm t
  • LFCF(to-t) – doanh số phát sinh trạng thái trường của ngoại tệ F trong kì
  • SFCF(to-t) – doanh số phát sinh trạng thái đoản của ngoại tệ F trong kì

Trong thực tế, trạng thái ngoại tệ được tính tại thời điểm cuối của mỗi ngày giao dịch, tức không tính riêng cho từng thời kì. Công thức tính trạng thái ngoại tệ cuối ngày giao dịch như sau: NEPF(t) = NEPF(t-1) + LFCF(t) – SFCF(t)

Trong đó: Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

  • NEPF(t) – trạng thái ngoại tệ ròng cuối ngày giao dịch
  • NEPF(t-1) – trạng thái ngoại tệ ròng cuối ngày giao dịch (t-1)
  • LFCF(t) – Doanh số phát sinh trạng thái trường của ngoại tệ F trong ngày t
  • SFCF(t) – Doanh số phát sinh trạng thái đoản của ngoại tệ F trong ngày t

Cách 2: Xét từ góc độ kế toán, trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ F tại thời điểm t được xác định như sau:

  • NEPF(t) = TSCF(t) – TSNF(t) (bao gồm cả nội và ngoại bảng) Trong đó:
  • TSCF(t) – Tài sản có của ngoại tệ F tại thời điểm t.
  • TSNF(t) – Tài sản nợ của ngoại tệ F tại thời điểm t.

3.2. Trạng thái luồng tiền

Trạng thái ngoại tệ chỉ phát sinh khi có sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ, trong khi trạng thái luồng tiền được tạo ra bởi cả các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu và quyền sử dụng tiền tệ nói chung và mỗi ngoại tệ nói riêng, trong đó:

  • Luồng tiền dương (Positive Cash Flow – PCF): Gồm các khoản thu nhận tiền từ người khác, nó được tính trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ doanh số thu trong một ngày, một tuần, một tháng…
  • Luồng tiền âm (Negative Cash Flow – NCF): Gồm các khoản chi trả tiền cho người khác. Luồng tiền âm cũng được tính trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ doanh số chi trả trong một ngày, một tuần, một tháng…

Trạng thái luồng tiền ròng (Net Cash Flow Position – NETCF): Là chênh lệch giữa luồng tiền dương và luồng tiền âm tại một thời điểm, do đó nó phản ánh số dư tại một thời điểm. Vậy, nếu kì tính toán các luồng tiền là (to-t1), trong đó: to là điểm xuất phát của kì tính toán, t1 là điểm kết thúc của kì tính toán, ta có công thức tính trạng thái luồng tiền ròng tại thời điểm t1 là NETCF(t1) = PCF(to-t1) – NCF(to-t1)

  • Trong đó:

PCF(to-t1) – Tổng luồng tiền vào trong kì tính toán (to-t1) NCF(to-t1) – Tổng luồng tiền ra trong kì tính toán (to-t1) NETCF(t1) – Trạng thái luồng tiền ròng tại thời điểm (t1).

III. CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI HỐI Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

TTNH càng phát triển các nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối càng đa dạng, phong phú làm tăng cơ hội kinh doanh cũng như phương thức phòng ngừa rủi ro cho các Ngân hàng thương mại và các đối tượng kinh doanh khác trên thị trường. Các giao dịch ngoại hối hiện nay bao gồm năm loại sau: giao dịch giao ngay, kì hạn, hoán đổi, tương lai, quyền chọn.

1. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối giao ngay (Spot)

1.1. Spot

Giao dịch ngoại hối giao ngay là nghiệp vụ giao dịch ngoại hối trong đó việc thực hiện thanh toán được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc kể từ ngày ký kết hợp đồng. Thị trường giao ngay được biết đến như là thị trường rất sôi động, giao dịch với khối lượng tiền cực lớn và với tốc độ giao dịch nhanh như tia chớp nhằm tận dụng cơ hội chênh lệch tỉ giá dù là cực nhỏ.

Thị trường giao ngay, theo nghĩa rộng, bao gồm thị trường bán buôn và thị trường bán lẻ, nhưng do doanh số giao dịch trên thị trường bán buôn là chủ yếu, do đó theo nghĩa hẹp người ta coi thị trường giao ngay là thị trường liên ngân hàng.

Tỉ giá được hình thành trên thị trường bán buôn hay thị trường liên ngân hàng gọi là tỉ giá bán buôn. Đây là tỉ giá giao dịch giữa các ngân hàng. Tỉ giá của ngân hàng áp dụng cho khách hàng của mình gọi là tỉ giá bán lẻ cũng được hình thành trên cơ sở của tỉ giá thị trường liên ngân hàng. So với tỉ giá bán buôn thì Spread của tỉ giá bán lẻ là rộng hơn, điều này có nghĩa là ngân hàng mua của khách hàng là rẻ hơn và bán cho khách hàng đắt hơn so với giao dịch trên thị trường liên ngân hàng. Spread của tỉ giá bán lẻ phụ thuộc chủ yếu vào số lượng giao dịch. Các ngân hàng không nhất thiết phải tham gia thị trường liên ngân hàng, đặc biệt là với các giao dịch nhỏ. Tuy nhiên, tỉ giá bán lẻ của ngân hàng vẫn được hình thành trên cơ sở tỉ giá liên hàng do các ngân hàng có thể cập nhật tỉ giá với nhau thông qua hệ thống nối mạng vi tính.

Ở Mỹ cũng như ở hầu hết các nước khác, Thị trường ngoại hối giao ngay có hai cấp, đó là: Thị trường liên ngân hàng trực tiếp giữa các ngân hàng, đây là thị trường tập trung, liên tục, đấu giá mở và giao dịch hai chiều, và cấp thứ hai là thị trường liên ngân hàng gián tiếp thông qua môi giới, đây là thị trường bán tập trung, liên tục, đặt lệnh có giới hạn và thông qua phương thức đấu giá một chiều. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Đối với các giao dịch giao ngay, lãi và lỗ được xác định trên cơ sở tính giá trị luồng tiền ròng cuối ngày ứng với tỉ giá đóng cửa của ngày giao dịch đó.

1.2. Arbitrage

Nghiệp vụ Acbit là một dạng biến tướng của nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối giao ngay. Nghiệp vụ acbit theo ý nghĩa nguyên thuỷ của nó là việc lợi dụng sự chênh lệch về tỉ giá giữa các Thị trường ngoại hối khác nhau để thu lời thông qua hoạt động mua và bán.

Nội dung của nghiệp vụ này bao gồm việc tiến hành mua bán ngoại tệ đồng thời trên các thị trường hối đoái theo nguyên tắc mua ở nơi rẻ và bán ở nơi đắt, nghĩa là mua với tỉ giá thấp và bán với tỉ giá cao.

Mục đích của việc kinh doanh chênh lệch là để bảo toàn vốn và kiếm lời nhờ chênh lệch giá tại các thị trường hối đoái khác nhau. Nghiệp vụ này được thể hiện dưới hai dạng: kinh doanh giản đơn và kinh doanh phức tạp. Kinh doanh giản đơn (còn gọi là acbit hai điểm) là việc mua bán ngoại tệ được thực hiện ở hai thị trường khác nhau trong cùng một thời điểm. Kinh doanh phức tạp (còn gọi là acbit ba điểm) là việc mua bán ngoại tệ thông qua nhiều thị trường, thông thường từ ba thị trường trở lên.

2. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối theo kì hạn (Forward)

Giao dịch ngoại hối kì hạn là những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay.

Tỉ giá áp dụng trong giao dịch giao dịch kì hạn gọi là tỉ giá kì hạn. Đó là tỉ giá được thoả thuận ngay từ ngày hôm nay để làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay. Công thức tổng quát xác định tỉ giá kì hạn được hình thành như sau:

  • Gọi: PVT là giá trị hiện tại của đồng tiền định giá PVC là giá trị hiện tại của đồng tiền yết giá
  • FVT là giá trị kì hạn của đồng tiền định giá FVC là giá trị kì hạn của đồng tiền yết giá
  • RT = mức lãi suất/năm của đồng tiền định giá RC = mức lãi suất/năm của đồng tiền yết giá t = thời hạn, tính theo ngày
  • dpy = cơ sở tính lãi suất (số ngày trong một năm) dpyT = cơ sở tính lãi suất đồng tiền định giá
  • dpyC = cơ sở tính lãi suất đồng tiền yết giá Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Giả sử tỉ lệ trao đổi giao ngay giữa đồng tiền định giá và đồng tiền yết giá là: PVC = PVT, ta định nghĩa tỉ giá giao ngay là tỉ số giữa giá trị hiện tại của đồng tiền định giá chia cho giá trị hiện tại của đồng tiền yết giá. Do đó ta có: S = PVT/ FVC

Giả sử tỉ lệ trao đổi kì hạn (tại một thời điểm nhất định trong tương lai) giữa đồng tiền định giá và đồng tiền yết giá là : FVC =FVT, ta định nghĩa tỉ giá kì hạn là tỉ số giữa giá trị kì hạn của đồng tiền định giá chia cho giá trị kì hạn của đồng tiền yết giá. Do đó, ta có:

  • Vì tỉ giá kì hạn mua vào FB nhỏ hơn tỉ giá kì hạn bán ra FO nên ta có
  • Trong đó: SB là tỉ giá mua giao ngay
  • SO là tỉ giá bán giao ngay
  • RTB là lãi suất đi vay đồng tiền định giá RCB là lãi suất cho vay đồng tiền yết giá

Nhìn vào các công thức xác định tỉ giá kì hạn ở trên ta thấy được mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ liên ngân hàng với thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trong việc hình thành tỉ giá kì hạn. Vì tỉ giá giao ngay (S) được hình thành trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn các mức lãi suất của các đồng tiền định giá và đồng tiền yết giá đều được hình thành trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.

Chênh lệch giữa tỉ giá kì hạn với tỉ giá giao ngay gọi là điểm kì hạn, nếu gọi (P) là điểm kì hạn thì ta có:

Từ công thức trên ta thấy:

  • Nếu RT > RC thì P > 0, ta có điểm kì hạn gia tăng. Đồng thời, F > S nên đồng tiền yết giá lên giá kì hạn còn đồng tiền định giá giảm giá kì hạn.
  • Nếu RT < RC thì P < 0, ta có điểm kì hạn khấu trừ. Đồng thời, F < S nên đồng tiền yết giá giảm giá kì hạn còn đồng tiền định giá tăng giá kì hạn.
  • Nếu RT = RC thì P = 0, tỉ giá kì hạn và tỉ giá giao ngay là bằng nhau không đồng tiền nào là lên giá hay giảm giá kì hạn.

Như vậy, căn cứ vào mức lãi suất của các đồng tiền ta sẽ biết được đồng tiền nào là lên giá và đồng tiền nào là giảm giá kì hạn.

Các giao dịch ngoại hối kì hạn được áp dụng khá phổ biến trong các ngân hàng. Ngân hàng thương mại có thể thực hiện giao dịch kì hạn nhằm làm dịch vụ cho khách hàng là các công ty xuất, nhập khẩu để họ bảo hiểm cho các khoản thu xuất khẩu hoặc khoản chi nhập khẩu của họ. Trên thị trường kì hạn các Ngân hàng thương mại còn là những nhà kinh doanh chênh lệch giá với mục đích tạo lợi nhuận nhưng không chịu rủi ro trên cơ sở sự chênh lệch về lãi suất và điểm kì hạn

Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại cũng kiếm lợi nhuận thông qua hành vi đầu cơ, chấp nhận rủi ro tỉ giá. Trên cơ sở dự báo rằng tỉ giá giao ngay tại thời điểm (t) trong tương lai sẽ có một độ lệch nhất định so với tỉ giá kì hạn, ngân hàng có thể mua (hoặc bán) kì hạn để sau đó sẽ bán (hoặc mua) giao ngay.

Kết quả kinh doanh kì hạn cũng được xác định vào cuối ngày giao dịch. Kết thúc ngày giao dịch, các ngân hàng có trạng thái ngoại hối ròng của các hợp đồng còn hiệu lực với những ngày giá trị khác nhau. Kết quả kinh doanh có thể được tính dựa trên giả định rằng tất cả các hợp đồng kì hạn còn hiệu lực đều được thanh lý ngay lập tức và tỉ giá được áp dụng để định giá lại là tỉ giá kì hạn lúc đóng cửa của ngày giao dịch hôm đó.

3. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối hoán đổi (Swap) Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Giao dịch hoán đổi ngoại hối là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau.

Một hợp đồng hoán đổi có những đặc điểm sau :

  • Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được ký kết đồng thời tại ngày hôm nay và nếu không có thoả thuận gì khác, thì mua một đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá và bán một đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá bán ra đồng tièn yết giá.
  • Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền yết giá là bằng nhau. Vì thế giao dịch này không tạo ra trạng thái ngoại hối ròng cho ngân hàng và do đó mà tránh được rủi ro tỉ giá.
  • Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và ngày giá trị của hợp đồng bán ra là khác nhau vì thế mà tạo ra độ lệch về mặt thời gian đối với luồng tiền khiến cho ngân hàng phải chịu rủi ro lãi suất.

Tỉ giá hoán đổi phản ánh điểm kì hạn hay điểm hoán đổi tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng hoán đổi hai đồng tiền nhất định thông qua giao dịch giao ngay và giao dịch kì hạn. Do đó, xét về bản chất thì:

  • Tỉ giá hoán đổi = Điểm hoán đổi = Điểm kì hạn Tỉ giá hoán đổi chính là điểm kì hạn nên có thể viết:
  • Tỉ giá hoán đổi = Tỉ giá giao ngay – Tỉ giá kì hạn.

Trong một cặp tỉ giá hoán đổi, nếu tỉ giá hoán đổi đứng trước lớn hơn tỉ giá hoán đổi đứng sau thì có nghĩa là ngân hàng yết giá sẵn sàng mua kì hạn tại mức tỉ giá giao ngay trừ đi tỉ giá hoán đổi đứng trước và sẵn sàng bán kì hạn tại mức tỉ giá giao ngay trừ đi tỉ giá hoán đổi đứng sau. Ngược lại, nếu tỉ giá hoán đổi đứng trước mà nhỏ hơn tỉ giá hoán đổi đứng sau thì ngân hàng yết giá sẵn sàng mua kì hạn tại mức tỉ giá giao ngay cộng với tỉ giá hoán đổi và sẵn sàng bán kì hạn tại mức tỉ giá giao ngay cộng với tỉ giá hoán đổi đứng sau.

Trong giao dịch hoán đổi tỉ giá giao ngay không có vai trò quyết định nên có thể chọn tỉ giá giao ngay mua vào hoặc bán ra hoặc lấy tỉ giá trung bình của hai mức tỉ giá này để hình thành tỉ giá kì hạn trong hợp đồng kì hạn.

Giao dịch hoán đổi không chỉ được ứng dụng trong Kinh doanh ngoại hối để kiếm lời mà còn rất phổ biến trong bảo hiểm rủi ro tỉ giá và tín dụng quốc tế. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Trong bảo hiểm rủi ro tỉ giá, giao dịch hoán đổi rất được các nhà đầu tư và đi vay bằng ngoại tệ ưa chuộng. Sức hấp dẫn của giao dịch hoán đổi là ở chỗ nó có thể mang lại mức lãi suất cao hơn và phòng ngừa được rủi ro tỉ giá.

Đối với các khoản vay quốc tế, giao dịch hoán đổi được sử dụng khi người đi vay không có thu nhập bằng ngoại tệ để hoàn trả nhưng cũng không muốn có rủi ro tỉ giá. Ví dụ, một nhà đầu tư của Việt Nam muốn vay bằng USD, anh ta có thể tiến hành các bước sau:

  • Vay USD Libor
  • Ký một hợp đồng hoán đổi, trong đó bán giao ngay số USD vay được để nhận VND theo tỉ giá giao ngay và mua kì hạn khoản gốc và lãi phải trả bằng USD theo tỉ giá kì hạn.

Bằng cách này anh ta có thể phải chịu lãi suất thấp hơn so với đi vay bằng VND mà lại không phải chịu rủi ro tỉ giá. Có thể thấy, trong trường hợp này số lượng bán giao ngay và mua kì hạn là khác nhau nên cần được thoả thuận trước trong hợp đồng.

Trong khi giao dịch hoán đổi được các nhà đầu tư và đi vay quốc tế sử dụng một cách rộng rãi thì nó lại không mấy giá trị đối với các nhà xuất nhập khẩu. Những khoản phải trả và sẽ thu trong thương mại quốc tế thường là một chiều. Do đó, giao dịch mua ngoại hối kì hạn một chiều luôn được các nhà nhập khẩu ưa chuộng và giao dịch bán kì hạn một chiều luôn được các nhà xuất khẩu ưa chuộng chứ không phải là giao dịch hoán đổi. Tuy nhiên, trong thực tế, những nhà xuất, nhập khẩu cũng sử dụng những giao dịch hoán đổi để kéo dài hay rút ngắn trạng thái ngoại tệ trong trường hợp họ đã ký những hợp đồng kì hạn để bảo hiểm cho các khoản thu xuất khẩu hay khoản chi nhập khẩu của mình nhưng thực tế họ lại được thanh toán hay phải thanh toán sớm hơn, hay muộn hơn so với thời điểm hợp đồng kì hạn đến hạn.

Ví dụ: Cách đây 3 tháng công ty A đã ký mua kì hạn 3 tháng một khoản USD để bảo hiểm cho khoản thanh toán bằng USD theo tỉ giá kì hạn. Do tàu chở hàng đến muộn nên công ty chưa phải thanh toán tiền hàng trong 30 ngày. Khi đó công ty phải xử lý trạng thái dư thừa USD và thiếu hụt VND trong 30 ngày bằng cách ký hợp đồng hoán đổi:

  • Bán giao ngay USD
  • Mua kì hạn USD 30 ngày.

Trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại tệ của công ty được thể hiện ở bảng sau:

Qua bảng trên ta thấy, trạng thái ngoại hối luôn luôn được cân bằng vì thế mà công ty không phải chịu rủi ro tỉ giá.

Giao dịch hoán đổi cũng được các ngân hàng sử dụng rất tích cực vào việc phòng ngừa rủi ro ngoại hối. Bởi vì, với vai trò là nhà tạo thị trường, ngân hàng thường sở hữu rất nhiều hợp đồng bằng các đồng tiền khác nhau và có ngày giá trị khác nhau. Tại một số ngày giá trị và với một số đồng tiền nhất định, ngân hàng có thể ở trạng thái trường, tức là ngân hàng đã cam kết mua vào nhiều hơn bán ra. Tại những ngày giá trị khác và các đồng tiền khác, ngân hàng lại ở trạng thái đoản, tức là ngân hàng đã cam kết bán ra nhiều hơn là mua vào. Các giao dịch hoán đổi giúp ngân hàng giảm được rủi ro tỉ giá giống như các công ty xuất nhập khẩu. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

4. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối theo hợp đồng tương lai (Future)

Giao dịch tiền tệ tương lai là việc hai ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với khách hàng thoả thuận về việc mua bán ngoại tệ trong tương lai tại một mức giá cố định.

Giao dịch tương lai được thực hiện trên thị trường tập trung (sở giao dịch), các hợp đồng đều được tiêu chuẩn hoá và chỉ giới hạn trong một số ngày giá trị. Ví dụ, tại sở giao dịch ở Chicago chỉ có 4 ngày giá trị trong năm là các thứ 4 của tuần thứ ba vào các tháng 3,6,9,12. Các hợp đồng tương lai có thể chấm dứt trước thời hạn và thủ tục chấm dứt được thực hiện tại sở giao dịch.

Trên sở giao dịch có các nhà thanh toán bù trừ, họ hạch toán các khoản lỗ, lãi của các bên mua, bán vào số tiền ký quỹ của các bên. Để tránh rủi ro cho nhà thanh toán bù trừ khi giá tăng (hoặc giảm) thường xuyên, nhà thanh toán bù trừ yêu cầu nhà kinh doanh ký quỹ bổ sung trong trường hợp số dư trên tài khoản ký quỹ giảm xuống 25%. Nghĩa là khi số dư trên tài khoản ký quỹ của nhà kinh doanh giảm xuống mức 75% so với mức ký quỹ ban đầu thì nhà kinh doanh phải ký quỹ bổ sung cho đủ 100%. Nếu không thực hiện ký quỹ bổ sung trong thời gian quy định, nhà thanh toán bù trừ có thể tự động thanh lý hợp đồng với nhà kinh doanh này.

Các hợp đồng tương lai thường được sử dụng vào mục đích phòng ngừa rủi ro. Với hợp đồng tương lai giá mua, bán ngoại tệ được thoả thuận giữa các bên mua, bán vào thời điểm hợp đồng đến hạn là cố định bởi vậy mà các bên có thể tránh được ảnh hưởng của sự lên, xuống của giá cả (hay tỉ giá) trong tương lại. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nhà kinh doanh trong bối cảnh mà tỉ giá luôn luôn biến động mà khó có thể dự báo trước được.

Ngoài ra, hợp đồng tương lai cũng được sử dụng vào mục đích đầu cơ, kiếm lợi nhuận thông qua sự dự đoán chuẩn xác của mình về tỉ giá trong tương lai. Trong trường hợp này, tham gia vào hợp đồng tương lai giống như chơi trò chơi cá cược. Nếu dự đoán về tỉ giá trong tương lai mà đúng bạn có thể thu được lợi nhuận. Hàng ngày nhà thanh toán bù trừ sẽ cộng vào tài khoản ký quỹ của bạn phần lãi và ngược lại, nếu tỉ giá diễn biến trái với những gì mà bạn dự đoán, bạn có thể bị lỗ và khi đó tài khoản ký quỹ của bạn sẽ bị trừ đi. Đây được gọi là nguyên tắc ghi điểm thị trường.

5. Nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối theo hợp đồng quyền chọn (Option) Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Các giao dịch quyền chọn tiền tệ được thực hiện thông qua việc ký kết các hợp đồng quyền chọn. Vì vậy, ta sẽ tìm hiểu giao dịch này thông qua việc tìm hiểu về hợp đồng quyền chọn.

Xét từ giác độ người mua hợp đồng, hợp đồng quyền chọn tiền tệ là một công cụ tài chính, cho phép người mua hợp đồng có quyền (chứ không phải nghĩa vụ), mua hoặc bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỉ giá cố định đã thoả thuận trước, trong một khoảng thời gian nhất định.

Có thể thấy sự khác biệt đặc trưng giữa hợp đồng quyền chọn với các hợp đồng kì hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng tương lai là:

Trong một hợp đồng quyền chọn: Người mua hợp đồng có thể tiến hành giao dịch theo tỉ giá đã thoả thuận cố định từ trước nếu anh ta thấy có lợi cho mình hoặc là mặc nhiên để cho hợp đồng tự động hết hạn mà không tiến hành bất cứ một giao dịch nào, nếu anh ta thấy làm như vậy thì ít tốn kém hơn, song để được quyền đó anh ta phải mất phí mua quyền. Còn đối với người bán hợp đồng quyền chọn, anh ta không có bất cứ sự lựa chọn nào khác ngoài việc luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch nếu người mua muốn. Đổi lại, anh ta được hưởng phí bán quyền. Như vậy, giao dịch mua, bán tiền tệ trong hợp đồng quyền chọn có thể không xảy ra.

Trong khi, đối với các hợp đồng kì hạn, mặc dù chúng ta có thể thoát ra khỏi trạng thái của hợp đồng bằng cách tiến hành một giao dịch kì hạn đối ứng; đối với các hợp đồng tương lai có thể được chuyển nhượng và những khoản phụ trội trên tài khoản ký quỹ có thể được rút ra. Song, cuối cùng thì mọi hợp đồng này đến khi đáo hạn đều phải được thanh lý giữa các đối tác tham gia. Họ không có bất kì sự lựa chọn nào khác ngoài việc thanh lý hợp đồng, kể cả trong những trường hợp bất lợi cho họ.

Giống như bất cứ một hợp đồng nào, hợp đồng quyền chọn cũng có hai đối tác tham gia: người bán hợp đồng và người mua hợp đồng.Vì có hai loại hợp đồng là hợp đồng chọn mua hoặc hợp đồng chọn bán nên cũng có người bán hợp đồng chọn mua (hoặc hợp đồng chọn bán) và người mua hợp đồng chọn mua (hoặc hợp đồng chọn bán).

Có hai loại quyền chọn: quyền chọn kiểu Châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹ. Các hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ cho phép thực hiện giao dịch tại thời điểm hợp đồng đến hạn. Trong khi các hợp đồng quyền chọn của Mỹ cho phép thực hiện quyền chọn vào những ngày làm việc hợp pháp trong thời gian hiệu lực của hợp đồng và trước khi hợp đồng đáo hạn. Hầu hết các hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ cho phép thực hiện hợp đồng tại bất cứ ngày làm việc hợp pháp nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ, quy định thời gian thực hiện quyền chọn ngắn hơn, ví dụ 2 tuần trước khi hợp đồng đến hạn. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

Việc thanh toán hay thanh lý hợp đồng quyền chọn được gọi là thực hiện quyền chọn. Tỉ giá áp dụng khi thực hiện quyền chọn gọi là tỉ giá quyền chọn. Tỉ giá này không chỉ phụ thuộc vào cung cầu trên thị trường mà còn phụ thuộc vào mức phí quyền chọn là cao hay thấp. Nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn đáng kể so với tỉ giá giao ngay hay tỉ giá kì hạn, tức là nó có thể là bất cứ như thế nào nếu người mua muốn. Người bán luôn sẵn sàng chấp nhận mọi tỉ giá quyền chọn mà người mua đề nghị và đưa ra mức phí quyền chọn tương ứng (hay giá quyền chọn). Mức giá hợp đồng quyền chọn phải là lượng tiền hợp lý sao cho đủ để bù đắp rủi ro xét từ góc độ người bán và không bị quá đắt xét từ góc độ người mua. Nếu hợp đồng đáo hạn mà không xảy ra giao dịch thì chỉ có một luồng tiền duy nhất xảy ra, đó là khoản phí quyền chọn mà người mua trả chi người bán. Như vậy, thu nhập của người bán là bị giới hạn và tối đa chỉ bằng khoản phí quyền chọn đã thu.

Các hợp đồng quyền chọn cũng thường được sử dụng để phòng ngừa rủi ro tỉ giá. Vì cũng giống như các giao dịch kì hạn, hoán đổi hay tương lai, giao dịch quyền chọn cho phép thực hiện việc mua bán tại mức giá đã thoả thuận trước nên các bên tham gia tránh được những tổn thất do sự biến động bất thường của tỉ giá

Giao dịch quyền chọn cũng được sử dụng nhằm mục đích đầu cơ. Trong trường hợp này thì hợp đồng quyền chọn có ưu thế hơn so với các hợp đồng khác. Vì người mua có quyền tiến hành giao dịch nếu thấy có lợi cho mình và không tiến hành giao dịch nếu thấy bất lợi (khi tỉ giá diễn biến trái với những gì mà họ dự tính) nên có thể nói giao dịch quyền chọn làm hạn chế rủi ro nhưng không hạn chế các khoản lợi nhuận. Như vậy, qua nghiên cứu về 5 loại giao dịch ngoại hối trên ta có thể thấy, Thị trường ngoại hối cung cấp những công cụ phòng ngừa rủi ro cũng như những cơ hội kinh doanh hết sức linh hoạt, phong phú và đa dạng. Nhưng không phải Thị trường ngoại hối của bất cứ nước nào cũng có đầy đủ các giao dịch này cũng như mức độ áp dụng các giao dịch này ở các nước khác nhau cũng hoàn toàn khác nhau. Song có thể khẳng định một điều là khi thị trường ngoai hối càng phát triển thì các giao dịch này càng được thực hiện phổ biến và chính việc áp dụng rộng rãi các giao dịch này sẽ tạo động lực để Thị trường ngoại hối phát triển.

Nhìn chung, hoạt động Kinh doanh ngoại hối là một hoạt động đặc trưng cho nền kinh tế thị trường hiện đại, phức tạp, nhiều rủi ro, phụ thuộc vào Thị trường ngoại hối, đòi hỏi sự đầu tư lớn về cả cơ sở vật chất lẫn nhân lực. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng mạnh mẽ, vai trò của hoạt động này đối với các Ngân hàng thương mại cũng vì vậy mà ngày càng được nâng cao. Mỗi nghiệp vụ giao ngay, kì hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai đều có đặc điểm riêng, phương thức giao dịch riêng, mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng ở các khía cạnh khác nhau: bảo hiểm và đầu tư. Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Hiện trạng Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank

One thought on “Khóa luận: Hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại NH Techcombank”

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp Kinh doanh ngoại hối tại Techcombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537