Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đáp ứng yêu cầu của Hiệp Ước mới về vốn của ủy ban Basel này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam ngày một phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm đạt trên 8%[19]. Đặc biệt năm 2025 đánh dấu một mốc son phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam trong xu thế hội nhập. Chúng ta đã tổ chức thành công hội nghị APEC vào tháng 12/2025, trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức WTO vào ngày 07/11/2025. Các sự kiện trọng đại này tạo ra rất nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là đối với ngành ngân hàng. Với những cam kết để gia nhập WTO, ngành ngân hàng được đánh giá là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất.
Để hội nhập thành công trên “sân nhà”, các NHTM Việt Nam đặc biệt là các NHTM Quốc doanh – những đầu tàu mũi nhọn của hệ thống ngân hàng Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh, lành mạnh hoá tài chính theo chuẩn mực quốc tế. Một trong những nội dung hội nhập trong kinh doanh ngân hàng là tham gia vào những hiệp Ước quốc tế, trong đó có các cam kết về quản trị rủi ro ngân hàng. Quan trọng nhất trong các hiệp Ước quốc tế về quản trị rủi ro ngân hàng là Hiệp Ước mới về vốn (Basel II) của uỷ ban Basel, có hiệu lực từ 01/01/2026 với những chuẩn mực về an toàn vốn và những nguyên tắc thiết yếu trong vấn đề quản trị rủi ro ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Sự chuẩn hoá công tác quản trị rủi ro, trong đó có quản trị rủi ro theo Basel II không những thể hiện sự lành mạnh trong kinh doanh ngân hàng mà còn tạo sức hấp dẫn mạnh mẽ trong hợp tác với các nhà đầu tư và cộng đồng tài chính quốc tế. Tuy Hiệp ước Basel II chỉ là một thông lệ quốc tế và việc áp dụng các quy định của Basel II là không bắt buộc, nhưng vì lợi ích quốc gia, lợi ích của bản thân ngân hàng mà hầu hết các ngân hàng trên thế giới đều sẵn sàng tuân thủ các quy định của Basel II. Do vậy, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Mặt khác, xét về thực trạng rủi ro của các NHTM Việt Nam, đặc biệt là rủi ro tín dụng, các con số thống kê và nhiều nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng[4]. Hiệu quả hoạt động tín dụng chưa cao, chất lượng tín dụng chưa tốt thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn còn cao so với khu vực và chưa có khuynh hướng giảm vững chắc[8]. Trong khi đó, tại Việt Nam, hoạt động tín dụng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn nhất: từ 60- 70% trong danh mục tài sản có [10]. Đặc biệt, nguồn tín dụng này đang đóng vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo cho các doanh nghiệp. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam đang là vấn đề bức xúc trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn. Nếu không có một chiến lược cụ thể để hoàn thiện công tác quản trị RRTD trong mảng hoạt động cho vay thì chắc chắn các NHTM Việt Nam sẽ khó cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài vốn đã rất dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Là một ngân hàng thương mại quốc doanh hàng đầu tại Việt Nam, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã bước đầu có những triển khai công tác quản trị rủi ro trong đó chú trọng công tác quản trị rủi ro tín dụng theo các chuẩn mực của Basel II, và đã đạt được một số những thành công đáng khích lệ. Song bên cạnh đó, vẫn còn một số vấn đề cần phải giải quyết để hoàn thiện công tác quản trị RRTD của ngân hàng này nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu của Basel II, tăng cường an toàn hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Dựa trên tính khả thi và cấp bách của đề tài, với mong muốn nâng cao khả năng quản trị RRTD của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – một trong những ngân hàng quan trọng hàng đầu của Việt Nam, cùng sự say mê nghiên cứu chuyên ngành Tài chính Ngân hàng, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đáp ứng yêu cầu của Hiệp Ước mới về vốn của ủy ban Basel”.
2/ Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu xuyên suốt của đề tài nhằm:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng.
- Giới thiệu khái quát các quy định về quản trị rủi ro tín dụng trong Hiệp ước mới về vốn (Basel II)
- Làm rõ sự cần thiết phải Quản lý rủi ro tín dụng đáp ứng yêu cầu Hiệp ước Basel II tại các NHTM Việt Nam.
- Phân tích một số bài học kinh nghiệm trong việc quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II của một số ngân hàng nước ngoài.
- Đánh giá những kết quả đã đạt được trong quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV nhằm đáp ứng các yêu cầu của Hiệp ước Basel II cũng như những bất cập trong việc quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại này.
- Đề xuất những giải pháp trong hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng cho ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đáp ứng yêu cầu Hiệp ước Basel II.
3/ Phương pháp nghiên cứu
Tác giả lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung cho đề tài. Tập trung sử dụng các phương pháp phân tích khảo cứu, điều tra khảo sát thực tế trên cơ sở quá trình thực tập 1 tháng (07/2026 – 08/2026) tại Sở giao dịch 1, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và những kiến thức tổng hợp về tài chính ngân hàng và quản trị kinh doanh đã được bồi dưỡng dưới mái trường Đại học Ngoại Thương. Ngoài ra, khoá luận còn chú trọng tới lượng hóa qua phương pháp thống kê, so sánh để nghiên cứu đề tài một cách khoa học.
4/ Phạm vi nghiên cứu
Các quy định về quản trị rủi ro tín dụng của Hiệp ước Basel II và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn Basel II.
5/ Kết cấu của đề tài Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Ngoài phần Mở đầu, Phụ lục Tài liệu tham khảo và Kết luận, đề tài gồm 3 chưương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng và các quy định về quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II
- Chương 2: Thực trạng về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo các yêu cầu của Hiệp ước Basel II
- Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL II
I. Một số lý luận chung về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
1. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.1 Khái niệm
1.1.1 Rủi ro trong kinh doanh
Trong kinh tế học và kinh doanh, thuật ngữ “rủi ro”(risk) đã được đưa ra từ lâu nhưng cho đến gân đây, với sự phát triển của các ngành khoa học kinh tế lượng và các môn giúp lượng hoá các biến ngẫu nhiên trong hoạt động kinh doanh, rủi ro mới trở thành một đối tượng nghiên cứu và kinh doanh.
Theo định nghĩa truyền thống, dưới góc độ kinh doanh, rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ[32]. Mục tiêu quan trọng hàng đầu của hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp là lợi nhuận. Nhưng lợi nhuận bao giờ cũng đi kèm với nguy cơ thua lỗ và mất mát, đó chính là “rủi ro”. Như vậy, rủi ro theo nghĩa thuần tuý này đe dọa khả năng tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh.
Theo định nghĩa hiện đại, rủi ro kinh doanh là sự kiện mà kết quả kinh doanh hiện tại hoặc tương lai có khả năng khác biệt đáng kể so với mức dự kiến từ trước, hay còn gọi là mức kỳ vọng. Sự chênh lệch tạo ra rủi ro vì giới kinh doanh – đầu tư quan niệm rằng những bất trắc không thể lường hoặc kiểm soát được chính là bản chất của rủi ro.
Định nghĩa về rủi ro hiện đại bao hàm nghĩa rộng hơn, vì rủi ro thể hiện tính chất đầu cơ, liên quan đến khả năng lời hay lỗ, phụ thuộc vào sự thành công hay thất bại của một sự án kinh doanh tài chính hay thương mại, tức là rủi ro không chỉ dẫn đến những mất mát tổn thất mà việc chấp nhận các yếu tố rủi ro có thể mang lại những lợi ích to lớn. Đối với mỗi lĩnh vực hoạt động kinh doanh rủi ro lại tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Chẳng hạn, các ngân hàng cũng chấp nhận rủi ro khi họ cho vay, mà có thể được hoàn trả hay bị vỡ nợ. Các nhà đầu tư vốn đôi khi cũng là những người chịu rủi ro; các khoản đầu tư của họ có thể được coi là “vốn mạo hiểm” nếu như chúng chịu một mức độ rủi ro đáng kể, như trong trường hợp của các doanh nghiệp mới, hay “vốn chứng khoán” nếu như chúng chịu ít rủi ro.
1.1.2 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Như bất kỳ một công ty hay tổ chức nào khác, một ngân hàng thực hiện mục tiêu kiếm tiền bằng việc chấp nhận, phải sống chung với rủi ro, do đó ngân hàng sẽ có thể đối mặt với thua lỗ. Trong trường hợp tệ nhất, ngân hàng có thể phá sản.
Ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), khái quát quy luật trên như sau: “Muốn có lợi nhuận phải chấp nhận rủi ro, không chấp nhận rủi ro sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận. Đó là sự thật dù muốn hay không”[6].
Từ đó có thể thấy, ngân hàng là ngành kinh doanh rủi ro và việc tìm hiểu rủi ro có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng .Vậy rủi ro ngân hàng là gì? Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Một cách khái quát, Rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động.[33]
Với vai trò trung gian trên thị trường tài chính, ngân hàng thực hiện chức năng “đi vay để cho vay”. Vì thế, ngân hàng gánh chịu rủi ro từ cả 2 phía: Người đi vay và người cho vay. Đứng trên giác độ là người đi vay, RRTD xảy ra khi người gửi tiền rút trước hạn; còn đứng trên giác độ là người cho vay, RRTD xảy ra khi người vay hoàn trả tiền vay không đúng với hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.
Rủi ro trong kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế thị trường luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm, do hoạt động ngân hàng có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định kinh tế- xã hội. Nếu một ngân hàng nào đó gặp rủi ro, lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, có nguy cơ hoặc thực sự đi đến phá sản, dễ gây tâm lý hoảng loạn, khiến mọi người đổ xô đi rút tiền gửi của mình thật nhanh để tránh bị tổn thất, gây đổ vỡ hệ thống.
1.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Hiện nay đang tồn tại nhiều cách phân loại rủi ro ngân hàng, tuy nhiên luận văn lựa chọn cách phân loại của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, theo đó các rủi ro ngân hàng được phân thành 3 loại chính là : rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và một số loại rủi ro khác gồm: rủi ro lãi suất,rủi ro ngoại hối, rủi ro uy tín…
1.2.1 Rủi ro thị trường (Market Risk)
Là rủi ro xảy ra do thay đổi giá trị tài sản và các khoản nợ do sự thay đổi lãi suất và tỉ giá hối đoái. Từ khái niệm này, rủi ro thị trường bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối.
Rủi ro lãi suất: là rủi ro về thu nhập và lợi tức, tính chất rủi ro này gắn liền với những thay đổi trong các lãi suất trên thị trường và sự mất cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có về các loại tài sản nhạy cảm với lãi suất. Rủi ro lãi suất có thể có một số hình thức khác nhau, như rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay đổi, rủi ro tương quan lãi suất, và rủi ro quyền chọn đi kèm.
Rủi ro ngoại hối: Phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.
1.2.2 Rủi ro hoạt động (Operational Risk)
Là loại rủi ro tổn thất tài sản do hoạt động kém hiệu quả, hoạt động có vấn đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được.
Rủi ro hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một Ngân hàng điều hành các hoạt động của mình. Các ví dụ về rủi ro hoạt động là: việc cấu trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản trị tồi các quy trình quản lý tín dụng, cán bộ tham ô…
1.2.3 Rủi ro tín dụng (Credit Risk)
Là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một Ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Rủi ro này bao gồm cả rủi ro thanh toán khi một bên thứ ba (ví dụ một Ngân hàng thanh toán) không thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng này. Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
- Biểu đồ 1.1: Tỷ trọng các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng trên thế giới
1.2.4 Rủi ro khác (residual risk)
Rủi ro thanh khoản: Phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các Ngân hàng là huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn, xảy ra nếu như các khoản huy động sẽ phải hoàn trả theo yêu cầu của người gửi tiền, đặc biệt như chúng ta đã thấy trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền của mình ra nhanh hơn việc người đi vay sẵn sàng trả nợ.
Rủi ro giá cả: Đây là rủi ro về việc giá trị các tài sản của một Ngân hàng có thể biến động. Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản, từ bất động sản đến cổ phiếu và trái phiếu…
Rủi ro pháp lý: Thường tác động tới các Ngân hàng theo hai cách.
Các khách hàng và những người khác có thể khởi kiện Ngân hàng. Lý do của việc khởi kiện có thể phát sinh từ quá trình hoạt động kinh doanh bình thường, ví dụ việc Ngân hàng từ chối cấp lại hạn mức cho vay mà theo khách hàng là vô lý. Tuy nhiên, các trường hợp có thể phát sinh từ các lý do tách biệt khỏi hoạt động kinh doanh Ngân hàng như việc tài trợ cho những khách hàng gây ô nhiễm môi trường có thể làm Ngân hàng bị kiện …
Khi các thu xếp pháp lý của một Ngân hàng, ví dụ, các hợp đồng cho vay và tài sản đảm bảo tiêu chuẩn của Ngân hàng đó có vấn đề, hoặc Nhà nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên…điều này có thể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho Ngân hàng.
Rủi ro chiến lược: phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt động của Ngân hàng trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính. Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân Ngân hàng. Ví dụ, việc xâm nhập vào một thị trường mới mà thiếu sự nghiên cứu đầy đủ và thiếu các nguồn lực cần thiết để khai thác thị trường này có thể làm Ngân hàng gặp phải rủi ro thua lỗ.
Rủi ro uy tín: là rủi ro dư luận đánh giá xấu về Ngân hàng, gây khó khăn nghiêm trọng cho Ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ Ngân hàng.
1.3 Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thương mại Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
1.3.1 Khái niệm
Một cách hiểu khác theo cuốn Risk Management in Banking (2020) của Joel Bessis thì rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả đuợc nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay[32].
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án …
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả. Khi gặp phải RRTD ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.
1.3.2 Phân loại
Từ khái niệm trên đây ta có thể phân rủi ro tín dụng thành các loại sau:
- Rủi ro đọng vốn
Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hạn.(Delayed Payment) Rủi ro đọng vốn gây ảnh hưởng đến khách hàng khác muốn sử dụng vốn cũng như gây khó khăn cho việc chi trả người gửi tiền. (biểu đồ 1.2)
- Rủi ro mất vốn
Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh toán ( non -payment) Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí hoạt động, tăng trưởng giảm sút, khả năng sinh lợi giảm.(biểu đồ 1.2)
- Biểu đồ 1.2 : Các loại rủi ro tín dụng và ảnh hưởng
1.3.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Nguyên nhân từ phía người cho vay (các ngân hàng)
Nguyên nhân đầu tiên thuộc về ngân hàng phải kể đến là việc cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay.
Nguyên nhân thứ hai là chính sách và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phương pháp xem xét phân tích còn hạn chế, chưa chính xác. Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng.
Nguyên nhân thứ ba là kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như: việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn còn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng còn nghèo nàn.
Nguyên nhân thứ tư là thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng chính xác đáng tin cậy. kịp thời để xem xét, phân tích trớc khi cấp tín dụng. Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Nguyên nhân nữa có thể kể đến là năng lực và phẩm chất của cán bộ tín dụng và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ của cán bộ ngân hàng.
1.3.3.2 Nguyên nhân từ phía người đi vay
Các nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng vay vốn không trả được nợ cho ngân hàng có rất nhiều, có thể sắp xếp theo hai nhóm như sau:
Nhóm nguyên nhân khách quan, là những tác động ngoài ý chí của khách hàng như do thiên tai, hoả hoạn, do sự ổn định của các chính sách kinh tế chưa chắc chắn, thay đổi đột ngột chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch, do hành lang văn bản pháp lý chưa phù hợp, do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi.
Nhóm nguyên nhân chủ quan, là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng. Trước hết là vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn quá ít so với nhu cầu. Năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh. Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao.Trong đó cũng phải kể đến nguyên nhân thiếu thiện chí trả nợ vay ngân hàng ngay từ khi xin vay vốn.
1.4 Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.4.1 Khái niệm
- Quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro của các NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của các nhà quản trị ngân hàng lên các đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn của các ngân hàng.[10]
Các phương châm quản trị rủi ro hiện đại được xây dựng trên cơ sở “ Không có rủi ro thì không có lợi nhuận”, và rủi ro là cái để quản lý chứ không phải cái để tránh”
Theo Uỷ ban Basel, quản trị rủi ro là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính.
- Quản trị rủi ro tín dụng Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM .[22]
Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo của NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM ngay cả trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng.
1.4.2 Vai trò của quản trị rủi ro tín dụng
- Vai trò chung của quản trị rủi ro ngân hàng
Xu hướng tự do hoá trong lĩnh vực tài chính đã tạo ra cơ hội cho các nhà ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động về mặt địa lý, giúp cho các ngân hàng hạn chế được những tổn thất do những thay đổi điều kiện kinh tế trong nước. Tuy nhiên cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính trên phạm vi toàn cầu cũng tạo ra một thị trường tài chính rủi ro hơn. Trong khi đó, bản chất hoạt động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tín để thu hút nguồn và dùng năng lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn và phát triển dịch vụ khác với tư cách là người “đứng giữa” các lực lượng cung và các lực lượng cầu về các dịch vụ Ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của các NHTM do đó bao gồm rất nhiều loại rủi ro.
Bởi vậy, nhiều ý kiến cho rằng các Ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận được. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà Ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro.
Trong bối cảnh đó, không có một ngân hàng hay một tổ chức tài chính nào có thể tồn tại mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng có vai trò sống còn đối với hoạt động ngân hàng. Hoạt động quản trị rủi ro giúp xác định và kiểm soát rủi ro ở mức có thể chấp nhận được. Chủ tịch tập đoàn tài chính Citicorp Walter Wriston đã nói lên vai trò quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro như sau: “Toàn bộ cuộc sống trong hoạt động ngân hàng là quản trị rủi ro”[35]. Hoạt động quản trị rủi ro, do đó, là một bộ phận cốt lõi trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tùy thuộc vào năng lực quản trị rủi ro (quản trị rủi ro). Nói một cách ví von có thể coi quản trị rủi ro là nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo năng lực “sống” hay là “chết” của một NHTM.
- Vai trò điển hình của quản trị rủi ro tín dụng Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Là một nội dung hạt nhân của hoạt động quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng do hoạt động tín dụng luôn là mảng chính của hầu hết các ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng, do vậy mang tính chất quyết định trong việc mang lại thành công cho các ngân hàng thương mại. Quản trị rủi ro tín dụng giúp đảm bảo mức độ RRTD mà ngân hàng gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng. Hoạt động quản trị rủi ro hiệu quả có thể cho phép ngân hàng đạt được tương quan hợp lý giữa rủi ro mà ngân hàng mong muốn ( ở mức chi phí tương xứng) với rủi ro mà ngân hàng muốn giảm thiểu.
Khi rủi ro được kiểm soát một cách hợp lý thì ngân hàng sẽ có điều kiện tối đa hoá các lợi ích thu đuợc từ những RRTD đó thông qua nhiều cách như: chấp nhận, giảm nhẹ, loại bỏ, hay chuyển đổi rủi ro tín dụng. Quản trị rủi ro tín dụng giúp hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của mỗi NHTM bằng các chính sách tín dụng cũng như các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả.
1.4.3 Nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng
Các nguyên tắc cần phải thấm nhuần trong quản trị rủi ro tại một ngân hàng bao gồm:
- Nguyên tắc chấp nhận rủi ro
Một ngân hàng cần phải quyết định và xác định càng rõ càng tốt mức độ rủi ro mà ngân hàng đó chấp nhận. Ví dụ. một ngân hàng cho vay với tài sản đảm bảo là bất động sản thế chấp lần đầu và với một tỷ lệ thấp giữa nợ vay và giá trị tài sản thế chấp sẽ chấp nhận một mức độ rủi ro hoàn toàn khác so với một ngân hàng chuyên kinh doanh các sản phẩm phái sinh mới với số lượng lớn.
- Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép:
Ngân hàng cần phải có đầy đủ các hệ thống để xử lý các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng đó cung cấp và để có thể đo lường và kiểm soát các rủi ro liên quan. Các hệ thống cần có phải được đánh giá như là một phần của quy trình đánh giá một sản phẩm mới và phải được đánh giá lại theo định kỳ.
- Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung và khả năng đáp ứng của Ngân hàng:
Trên cơ sở mức độ rủi ro mà một ngân hàng có thể chấp nhận, ngân hàng cần xác định càng rõ càng tốt những sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp. Ngân hàng đó cũng cần có các cơ chế để đảm bảo rằng bất cứ một sản phẩm mới nào cũng phải trải qua một quy trình đánh giá chính thức để xem liệu sản phẩm đó có phù hợp với chiến lược và mức độ rủi ro mà ngân hàng chấp nhận hay không. Trong trường hợp này, ngân hàng đó cũng cần xem xét các vấn đề tác nghiệp như hiệu quả kinh tế hay liệu ngân hàng có đủ nguồn lực cần thiết về khả năng tài chính, thời gian cần thiết, năng lực về mặt kỹ thuật để triển khai hiệu quả sản phẩm đó. Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
- Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt
Một ngân hàng cần phải đảm bảo rằng nhân viên của mình có đủ kiến thức để quản lý tất cả các sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cũng như các loại rủi ro riêng biệt gắn liền với chúng. Kiến thức này cần phải được trang bị cho nhân viên tất cả các cấp, và không nên chỉ tập trung vào bộ phận giải quyết những sản phẩm và dịch vụ đang đề cập. Cụ thể, Hội đồng quản trị và ban điều hành cấp cao luôn luôn phải hiểu rõ và đầy đủ về hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó cũng như có sự phân cấp xử lý rõ ràng cho các nhân viên ngân hàng.
- Nguyên tắc xây dựng hệ thống đầy đủ để đo lường, kiểm soát rủi ro
Một ngân hàng cần phải có đầy đủ các hệ thống để xử lý các dịch vụ ngân hàng đó cung cấp và để có thể đo lường và kiểm soát các rủi ro liên quan. Các hệ thống không chỉ bao gồm hệ thống công nghệ thông tin, mà còn bao gồm các phương thức tổ chức và hành chính. Các hệ thống cần có phải được đánh giá như là một phần của quy trình đánh giá một sản phẩm mới và phải được đánh giá lại định kỳ.
1.4.4 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Việc quan trọng nhất trong quản trị rủi ro là phải xây dựng được quy trình quản lý rủi ro. Thông thường, quy trình quản lý RRTD được chia thành 4 bước:
- Xác định rủi ro tín dụng
Cơ sở cho việc quản trị RRTD một cách hiệu quả là việc xác định những rủi ro hiện có và những rủi ro tiềm tàng trong bất cứ sản phẩm hay hoạt động nào của ngân hàng. Mức độ RRTD mà ngân hàng có thể chấp nhận được chỉ có thể thiết lập được sau khi đã xác định được những yếu tố tạo nên rủi ro tín dụng. Để phát hiện RRTD dựa trên việc xem xét kỹ lưỡng các đặc thù RRTD của từng sản phẩm hay hoạt động ngân hàng.
Các khách hàng và ngành nghề khác nhau chứa đựng các rủi ro khác nhau. Việc lựa chon các khách hàng mục tiêu và ngành nghề mục tiêu là rất thiết yếu đối với chất lượng tài sản. Khả năng tồn tại của bất cứ ngân hàng nào cũng đều liên quan rất chặt chẽ với khả năng tồn tại của khách hàng, ngành nghề mà ngân hàng cấp tín dụng.
Các sản phẩm tín dụng khác nhau chứa đựng những rủi ro khác nhau. Ngân hàng cung cấp nhiều hình thức tín dụng như cho vay bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ, cho vay hợp vốn, bảo lãnh…Các loại hình tín dụng khác nhau này hàm chứa mức độ rủi ro khác nhau.
Rủi ro thanh toán gắn với các công cụ tài chính khác nhau, RRTD cũng phát sinh từ các công cụ tài chính. Rủi ro của đối tác không trả được nợ vào lúc đáo hạn của một hợp đồng ngoại bảng cân đối kế toán được hiểu là rủi ro thanh toán. Đây là rủi ro mà bên đối tác không thanh toán cho ngân hàng sau khi ngân hàng đã thực hiện thanh toán cho bên đối tác.
Khả năng cấp tín dụng và chuyên môn của cán bộ tín dụng. RRTD phụ thuộc vào năng lực của cán bộ tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ khi xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay.
Mức độ tập trung của danh mục tín dụng. Mức độ tập trung của danh mục tín dụng theo các đặc thù riêng trực tiếp ảnh hưởng đến rủi ro của danh mục tín dụng. Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
- Định lượng rủi ro tín dụng
Là việc đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro tín dụng, giúp ban điều hành xác định được nguy cơ RRTD cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát. Hiện nay trên thực tế có 3 phương pháp định lượng cơ bản sau:
Phương pháp thống kê: Bản chất của phương pháp này là dựa trên việc tính toán xác suất xảy ra thiệt hại đối với những nghiệp vụ được nghiên cứu.
Phương pháp kinh nghiệm: Phương pháp này được hình thành trên kinh nghiệm của các chuyên gia.
Phương pháp tính toán – phân tích: Phương pháp này dựa trên việc xây dựng đường cong xác suất thiệt hại và đánh giá rủi ro Ngân hàng dựa trên động thái biên thiên của đồ thị toán ứng dụng bằng phương pháp ngoại suy.
- Quản trị rủi ro tín dụng
Các nhiệm vụ của quản trị RRTD là việc thực hiện đầy đủ các hệ thống, các thủ tục kiểm soát, nhờ đó ban điều hành có thể theo dõi được mức rủi ro tín dụng, như:
- Xác định giới hạn tín dụng: Hàng năm các ngân hàng xác định hạn mức tín dụng cho từng khách hàng nhằm làm căn cứ để lập kế hoạch tiếp cận khách hàng và cũng là cơ sở quản trị rủi ro tín dụng.
- Phân vùng đầu tư: để đảm bảo chất lượng tín dụng và thuận tiện trong giám sát các khoản vay.
- Phân cấp thẩm quyền quyết định tín dụng nhằm tạo tính linh hoạt và đảm bảo mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng
Kiểm soát hoạt động quản trị rủi ro tín dụng:
RRTD được kiểm soát với việc thực hiện các thủ tục nằm trong hệ thống KSNB, trong các quy trình kinh doanh và hoạt động nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng. Chi phí cho các thủ tục kiểm soát cao có thể giảm thiểu RRTD tối đa nhưng hiệu quả lại thấp và ngược lại. Ngân hàng phải tìm ra sự cân bằng tối ưu giữa chi phí kiểm soát và lợi ích đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa chọn thủ tục kiểm soát RRTD phù hợp.
1.4.5 Các chỉ số và các mô hình phân tích đánh giá rủi ro tín dụng
Từ việc xây dựng quy trình quản trị rủi ro tín dụng, rất nhiều chỉ số và mô hình đánh giá, phân tích RRTD đã được đưa ra, dưới đây là một số điển hình quan trọng:
- Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng
a/ Tình hình nợ quá hạn
Nợ quá hạn là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế. Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng. Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
- Nợ quá hạn được xác định bằng các công thức sau:
b/ Tình hình rủi ro mất vốn
- Các mô hình phân tích đánh giá rủi ro tín dụng a/ Mô hình định tính về rủi ro tín dụng
Muốn hạn chế RRTD khi cho vay, một trong những mô hình định tính đánh giá RRTD được sử dụng phổ biến trong quá trình phân tích tín dụng là mô hình chất lượng 6C [25], bao gồm:
Character (Tư cách người vay): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn.
Capacity (Năng lực người vay): Người đi vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng.
Cash (Thu nhập người vay): Tiêu chí này nhằm tập trung vào câu hỏi : Người đi vay có khả năng để tạo ra đủ tiền để trả nợ? Nhìn chung, người vay có ba khả năng để tạo ra tiền đó là :(i) luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, (ii) bán thanh lý tài sản, (iii) tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn.[27] Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả nợ vay ngân hàng.
Collateral (Bảo đảm tiền vay): Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụng phải tự hỏi: người vay có hữu một giá trị nào hay tài sản nào có chất lượng để hỗ trợ cho khoản vay không. Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: tuổi thọ, điều kiện, tính lỏng tài sản người vay…
Conditions (Các điều kiện): Ngân hàng cần phải biết được xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng.
Control (Kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như: Các thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
b/ Các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng
- Mô hình điểm số Z
Mô hình này do nhà kinh tế E.I. Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn:
Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5
Trong đó:
- X1 = Hệ số vốn lưu động/ tài sản
- X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/ tổng tài sản
- X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/ tổng tài sản
- X4 = Hệ số giá thị trường của tổng vốn sở hữu/ Giá trị của tổng nợ
- X5 = Hệ số doanh thu/ Tổng tài sản.
Theo mô hình của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 thì sẽ được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao.
- Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng áp dụng cho cá nhân, dựa vào hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, sở hữu nhà, thu nhập, thời gian công tác… để cho điểm, từ đó hình thành khung chính sách tín dụng.
- Bảng 1.1: Ví dụ về mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Bảng tính điểm trên dựa vào Giả sử ngân hàng biết rằng, mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và tín dụng xấu; ngân hàng hình thành khung chính sách tín dụng như vậy để đối phó với RRTD.
Mô hình này thường sử dụng từ 7 đến 12 hạng mục mỗi hạng mục được cho từ 1 đến 10 điểm, dưới đây là bảng tính điểm thường được sử dụng tại các ngân hàng Mỹ với mô hình 8 hạng mục và điểm số cao nhất là 43 điểm và thấp nhất là 9 điểm.
II. Các quy định về quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp Ước Basel II 1 Lịch sử phát triển của Hiệp ước Basel Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
1.1 Vài nét về Uỷ ban Basel
Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10, năm 1975. Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng và bản thân ngân hàng Trung Ương của các nước Bỉ, canda, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Uỷ ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng thanh toán quốc tế tại Washington hoặc tại Thành Phố Basel – Thụy Sỹ. Ban thư ký thường trực của Uỷ ban này cũng có trụ sở làm việc tại Thủ Đô Washington – Hoa Kỳ.
Quan điểm của Uỷ Ban này là: Sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe doạ đến sự ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó và trên trường quốc tế. Nhu cầu cần nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới đặc biệt quan tâm, hưởng ứng.
Uỷ ban Basel về Giám sát Nghiệp vụ ngân hàng đã tham gia hoạt động trong nhiều năm qua cho quan điểm và sứ mạng này.Uỷ ban này đã luôn xem xét tìm các biện pháp tốt nhất tăng cường mọi nỗ lực củng cố công tác giám sát chuẩn mực ở tất cả các quốc gia thông qua việc thiết lập mối quan hệ tốt với các nước nằm ngoài nhóm G-10, ngoài các hoạt động trước đây đã được thiết lập thúc đẩy công tác giám sát tốt hơn tại các nước trong nhóm.
1.2 Hiệp ước quốc tế về vốn ngân hàng Basel I (Basel Capital Accord) và các hạn chế
1.2.1 Nội dung cơ bản Hiệp ước Basel I – 1988
Nhận thấy sự cần thiết phải có một thoả thuận đa quốc gia nhằm củng cố sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh do các yêu cầu về vốn tối thiểu khác nhau giữa các nước, năm 1987, Uỷ ban Basel đã xây dựng bản dự thảo hiệp định sơ bộ về tiêu chuẩn vốn – Hiệp định áp dụng với các ngân hàng và tổ chức tín dụng hoạt động quốc tế lớn ( large international banks) và gửi đến các nước thành viên G10[30].Tháng 7/1988, Hiệp ước quốc tế về vốn ngân hàng Basel I (the Basel Capital Accord) đã chính thức được thông qua nhằm khuyến khích các ngân hàng củng cố vốn và xem xét rủi ro trong hoạt động của mình. Hiệp định này quy định tỷ lệ vốn tối thiểu đối với các NHTM phải đạt 8% trên tài sản có tính theo trọng số rủi ro ( Tỷ số Cooke – Cooke Ratio) vào cuối năm 2011. Đến tháng 9 năm 2012, tất cả các NHTM trong nhóm G10 có hoạt động kinh doanh ngân hàng quốc tế lớn đều đạt mức yêu cầu vốn tối thiểu này.
1.2.2 Những thiếu sót của Hiệp ước Basel I Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Hiệp ước Basel 1 năm 1988 mang tính chất thỏa thuận quốc tế và các tiêu chuẩn về vốn đã trở thành chuẩn mực quốc tế về vốn tự có. Nó quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và quản lý RRTD đối với ngân hàng, là một trong những căn cứ, tiêu chuẩn để các ngân hàng của các quốc gia trên thế giới áp dụng quản lý, bảo đảm an toàn trong hoạt động.Tuy nhiên, Basel 1 mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng chứ chưa đề cập đến những rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất. Xét riêng về quản trị rủi ro tín dụng, Hiệp ước Basel I vẫn còn có những điểm hạn chế như sau:
- a/ Không phân biệt theo loại rủi ro
Một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng AA được coi như một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng B. Trọng số rủi ro chỉ phân biệt nhóm tài sản có theo đối tượng cho vay mà không phân biệt đến chất lượng hoạt động thực tế của đối tượng đó. Cụ thể, theo Basel I thì một khoản vay cho đối tượng công ty được xếp hạng loại A ( theo hệ thống xếp hạng Moody’s, S & P hay Fitch ICBA) cũng được gán trọng số rủi ro là 100% như đối với khoản vay cho công ty có xếp hạng tín dụng thấp hơn (B, BB, B-) vì cùng thuộc mảng cho vay tư nhân. Điều này không bao quát được ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng.
- b/ Không có lợi ích từ việc đa dạng hóa
Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn giống như một danh mục đầu tư được đa dạng hóa, với cùng một giá trị, tức là, không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay $1, trong khi thực tế khả năng xảy ra rủi ro với 100 khoản vay 1$ tại một thời điểm là thấp hơn rất nhiều so với việc xảy ra rủi ro với khoản vay 100$ tại cùng thời điểm đó.
- c/ Chưa bắt kịp với sự phát triển của các công cụ tài chính mới như chứng khoán hoá các khoản nợ và các công cụ phái sinh
Với sự ra đời của một loạt các công cụ tài chính mới, Basel I không còn phù hợp do chưa tận dụng được hết những lợi ích của các công cụ này nhằm tăng cường an toàn cho hoạt động ngân hàng.
1.3 Basel II – Hiệp ước sửa đổi bổ sung Basel I Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Trước đòi hỏi của sự phát triển, về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với những tập đoàn ngân hàng lớn có phạm vi hoạt động quốc tế, Hiệp ước Basel 2 đã ra đời với những bổ sung cần thiết để khắc phục các hạn chế của Basel I cũng như giúp các ngân hàng nâng cao năng lực quản trị rủi ro.
Basel II được phát triển dựa trên khái niệm 3 “trụ cột”, trong đó trụ cột I đưa ra những yêu cầu về vốn dự phòng rủi ro tối thiểu. Trụ cột II đặt ra các yêu cầu về giám sát và trao trách nhiệm theo dõi cho giám đốc và các nhà quản lý cao cấp của tổ chức tài chính nhằm tăng cường thực thi các nguyên tắc về kiểm soát nội bộ và những hoạt động quản lý doanh nghiệp khác theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước. Trụ cột III đòi hỏi các ngân hàng công khai thông tin nhiều hơn nhằm thực thi qui tắc thị trường một cách có hiệu quả.
Các quan chức Uỷ ban Basel lý giải, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Basel II là tạo ra một sân chơi bình đẳng trên cả cấp độ quốc tế và quốc gia cho các ngân hàng. Tuy nhiên, mức độ tác động của Basel II đến khả năng cạnh tranh của từng ngân hàng ở mỗi nước còn phụ thuộc vào việc thực thi của ngân hàng đó. Kết quả chắc chắn là nghiệp vụ quản lý rủi ro sẽ được thực hiện tốt hơn trong tất cả các hoạt động ngân hàng.
2. Nội dung cơ bản của Hiệp ước Basel II
Hiệp ước Basel II – tên đầy đủ là Thoả thuận quốc tế Đo lường vốn và các Chuẩn mực về vốn – Bản sửa ( International Convergence of Capital Mesurement and Capiatal Standard, A Revised framework), hay thường được gọi là Hiệp ước mới về vốn, chính thức được ban hành vào tháng 6/2023 thay thế cho Hiệp ước Basel I sau 6 năm phát triển và tổng hợp ý kiến đóng góp từ khắp nơi trên thế giới. Hiệp ước Basel II làm tăng tính nhạy cảm của vốn tự có đối với rủi ro và tính hiệu quả của quản lý vốn. Hiệp ước này gồm 3 trụ cột như sau:
- Biểu đồ 1.3: Các cấu phần Hiệp ước Basel II
2.1 Trụ cột thứ nhất: Yêu cầu vốn tối thiểu
Trụ cột về yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đóng vai trò trọng tâm và chiếm hơn nửa nội dung của Basel II. Theo trụ cột thứ nhất này, lượng vốn duy trì được tính toán theo ba yếu tố rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành và rủi ro thị trường, những yếu tố đã chưa được xem xét đầy đủ trong Hiệp ước Basel I. Những loại rủi ro khác không được coi là có thể lượng hoá hoàn toàn ở bước này.
Trong trụ cột này, quy định về tỷ lệ tổng vốn tối thiểu theo rủi ro trên tài sản có tính theo rủi ro (Tỷ lệ CAR – theo McDonough)[32] trong một NHTM không được nhỏ hơn 8% (³ 8%) và vốn cấp 2 (Tier 2) lớn nhất cũng chỉ được bằng vốn cấp 1(Tier 1). Mỗi tài sản có trong danh mục của NHTM lại được gán một trọng số RRTD nhất định.
Ngoài ra, trụ cột thứ nhất còn đưa ra các cách tiếp cận tính toán yêu cầu về vốn, cụ thể là:
Các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng
- Phương pháp chuẩn hoá (The Standardised Approach)
- Phương pháp Đánh giá nội bộ(IRB – Internal Ratings Based Approach)
(Các phương pháp đo lường RRTD này sẽ được phân tích cụ thể ở mục 2.3.1.2)
Các phương pháp đo lường rủi ro hoạt động:
- Phương pháp chỉ số cơ bản: (The Basic Indicator Approach): Phương pháp này quy định rằng mức vốn dự phòng bắt buộc đối với rủi ro hoạt động bằng 15% tổng thu nhập.
- Phương pháp chuẩn hoá: (The standardised Approach) Mức vốn dự phòng bằng bình quan gia quyền của tổng thu nhập có được từ nhiều nguồn khác nhau với các trọng số tương ứng với mỗi loại hình hoạt động nhất định và nằm trong khoảng từ 12% – 18%.
- Phương pháp đo lường cao cấp (Advanced Mesurement Approach – AMA) Nếu các tiêu chuẩn do NHTW đặt ra đều được các ngân hàng đáp ứng thì có thể dùng các mô hình hay hệ thống đo lường rủi ro hoạt động của mình để tính toán mức dự phòng bắt buộc cho rủi ro hoạt động.
2.2 Trụ cột thứ hai: Theo dõi giám sát Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Trụ cột thứ II liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà Hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk). Bốn nguyên tắc để xem xét giám sát gồm:
- Ngân hàng nên có một quy trình xác định mức độ vốn nội bộ theo mức rủi ro và chiến lược duy trì mức vốn của họ.
- Các giám sát viên nên xem xét và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu.
- Khuyến nghị rằng ngân hàng nên giữ mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định.
- Những người giám sát sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên để ngăn cản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu.
2.3 Trụ cột thứ ba: Nguyên tắc thị trường
Trụ cột thứ III làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một ngân hàng phải công bố. Phần này được thiết kế để cho phép thị trường có một bức tranh hoàn thiện hơn về vị thế rủi ro tổng thể và cho phép các đối tác của ngân hàng định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý. Để thực hiện điều đó, Uỷ ban Basel yêu cầu các ngân hàng tuân thủ nguyên tắc: “Ngân hàng phải có chính sách về tính minh bạch và công khai được hội đồng quản trị thông qua. Chính sách này phải thể hiện rõ các mục tiêu và chiến lược dành cho việc công khai hoá các thông tin về thực trạng tài chính và hoạt động ngân hàng”
3. Các qui định về quản lý rủi ro tín dụng của Basel II
3.1 Về yêu cầu vốn tối thiểu
- Sử dụng trọng số tín dụng tương ứng với mỗi loại tài sản có
Theo yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong Basel II, để đo lường mức độ rủi ro tương ứng của mỗi tài sản có, mỗi danh mục tài sản có của NHTM được gán một trọng số RRTD nhất định để tính tài sản có theo RRTD ( risk – weighted asset). Việc áp dụng trọng số rủi ro trong tính toán tỷ lệ an toàn vốn sẽ công bằng hơn trong so sánh tỷ lệ an toàn tối thiểu của các hệ thống NHTM tại các nước khác nhau; đồng thời khích lệ ngân hàng giữ tiền mặt hoặc các loại tài sản có tính thanh khoản cao. Basel II chia tài sản có của ngân hàng thành 5 nhóm với quy định một cách tương đối về trọng số rủi ro.(xem bảng …) Tổng tài sản có theo RRTD của NHTM tính bằng công thức:
- (Wi : trọng số rủi ro tín dụng, Ai: loại tài sản có) (TCRA: Tổng tài sản có theo rủi ro tín dụng)
- Theo Basel II, trọng số RRTD của tài sản “Có” quy định như sau:
Bảng 1.2: Phân loại tài sản “Có” theo trọng số rủi ro tín dụng
- Yêu cầu về phương pháp tiếp cận
Ngân hàng có thễ lựa chọn một trong các cách tiếp cận sau:
- a/ Phương pháp Standardized
Phương pháp này đễ tính toán vốn tín dụng tối thiễu sö dụng kết quả đánh giá hệ số tín nhiệm (credit ratings) của một công ty đánh giá tín nhiệm độc lập (S & P, Moody’s… ) đễ xác định trọng số rủi ro gắn với mỗi đối tượng khách hàng của NHTM.Trọng số RRTD theo phương pháp tiêu chuẫn được quy định như trong bảng sau: Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Bảng 1.3 – Trọng số rủi ro tín dṇng theo phương pháp tiêu chuẩn
- b/ Phương pháp Đánh giá nội bộ (Internal Ratings Based – IRB)
Theo phương pháp này, các NHTM tự mình đánh giá các thành phần rủi ro và mức độ rủi ro của danh mục tài sản có của mình để xác định mức vốn tín dụng an toàn tối thiểu. Phương pháp IRB quy định các thành phần rủi ro gồm: xác suất vỡ nợ (Probability of Default – PD), mất vốn do vỡ nợ( Loss given Default – LGD), rủi ro vỡ nợ (Exposure at Default – EAD) và kỳ hạn hiệu lực (Effective Maturity – EM). Để thực hiện phương pháp này, trước hết các NHTM cần phân loại giá trị rủi ro thành 5 nhóm: (1) doanh nghiệp, (2) nước ngoài, (3) ngân hàng, (4) bán lẻ, (5) cổ phiếu và ứng với mỗi nhóm này NHTM sẽ xác định Tổn thất dự kiến (Expected Loss- EL) và không dự kiến (Unexpected Loss – UL)
Đối với EL, NHTM cần trích lập dự phòng để bù đắp từ nguồn chênh lệch kinh doanh tạo ra. Đối với UL, Hiệp ước quy định một mức tính toán vốn an toàn tín dụng căn cứ theo từng chỉ tiêu PD, LGD, EAD của từng nhóm rủi ro phân loại ở trên.
Phương pháp IRB là một quy trình phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải có một hệ thống công nghệ quản lý mạnh và hệ thống dữ liệu lịch sử đầy đủ trong một giai đoạn cũng như phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định về hệ thống Xếp hạng tín dụng nội bộ, trình độ quản trị ngân hàng và các quy định về công khai thông tin.
3.2 Yêu cầu về Xây dựng các hệ thống
3.2.1 Hệ thống xếp hạng tín dụng
Trong việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng cần phải xác định được những đối tượng nào sẽ phải được xếp hạng. Mô hình chung, hệ thống xếp hạng tín dụng bao gồm: Xếp hạng khoản vay, xếp hạn đánh giá khoản vay xấu, xếp hạng sản phẩm, xếp hạng tiêu chuẩn và thực trạng cán bộ tín dụng, lãnh đạo liên quan đến phê duyệt tín dụng, xếp hạng khách hàng, xếp hạng đối tác, và xếp hạng mức độ rủi ro Quốc gia.
Hệ thống xếp hạng cũng có thể thoả mãn cho một mục đích cụ thể nào đó của ngân hàng. Lý luận phân loại cần phải được hỗ trợ đầy đủ để có được sự phân loại đúng nhất trong sự đa dạng của kết quả phân loại và từ đó quyết định xác suất vỡ nợ (PD) phù hợp nhất.
Trong các hệ thống xếp hạng tín dụng, hệ thống xếp hạng khách hàng là căn cứ để xác định xác suất vỡ nợ cho từng khoản vay hay sản phẩm.Theo thông lệ quốc tế, xếp loại khách hàng thông thường được chia làm 10 hạng, gồm: AAA, AA,A; BBB,BB,B; CCC, CC, C và D. Với mỗi hạng sẽ có một giá trị PD tương ứng. Với cách chia như vậy, việc xác định xác suất vỡ nợ sẽ có độ chính xác cao hơn.
3.2.2 Hệ thống quản lý tài sản bảo đảm Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Hệ thống này nhằm đảm bảo khả năng kiểm soát toàn bộ tài sản bảo đảm. Theo đó, phải đảm bảo rằng sẽ không xảy ra rủi ro pháp lý đối với hồ sơ. Hệ thống cũng sẽ đảm bảo khả năng linh hoạt trong việc đánh giá giá trị hiện thời. Hệ thống này sẽ là căn cứ để xác định xác suất mất vốn do vỡ nợ (LGD) đồng thời cũng cho phép áp dụng các nghiệp vụ bù trừ giá trị tài sản bảo đảm hay nghiệp vụ chiết khấu giá trị tài sản bảo đảm (Haircut)
3.2.3 Hệ thống giới hạn tín dụng
Hệ thống này cần phải giải quyết được hai vấn đề cơ bản, đó là về khoa học tính toán và vấn đề kiểm soát việc thực hiện. Hệ thống giới hạn cũng phải kiểm soát được cả các chỉ tiêu giới hạn thuộc quy định của ngân hàng nhà nước.Hệ thống giới hạn có thể được gán theo hạng sản phẩm, theo mức độ hay loại tài sản đảm bảo, theo khách hàng, theo người phê duyệt tín dụng, theo cấp độ Chi nhánh, theo ngành kinh tế hay một vùng kinh tế.
3.2.4 Mô hình tính toán
Mô hình phương pháp tính toán sẽ xác định các kết quả cuối cùng trong việc tính toán các chỉ tiêu định lượng cụ thể, ước tính tổn thất. Từ đây, những biện pháp đối phó, yêu cầu về phân bổ vốn phải được thực hiện theo mức độ rủi ro đã được xác định trong các báo cáo nói trên.Ngoài ra, cần thiết phải có quy trình kiểm tra tính hữu hiệu của mô hình bao gồm cả giám sát hoạt động và tính ổn định của mô hình.
3.3 Hoàn thiện các thành phần khung qui trình quản trị rủi ro tín dụng Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
3.3.1 Cơ sở hạ tầng dữ liệu thông tin tín dụng (TTTD)
Basel II yêu cầu có một sự chuẩn hoá, hay còn gọi là sự thống nhất chung về kết cấu dữ liệu, theo đó nó thể hiện trong việc thu thập dữ liệu, tổng hợp, hợp chuẩn và thống nhất dữ liệu về toàn bộ liên quan đến hoạt động tín dụng. Những yêu cầu đối với dữ liệu tín dụng bao gồm:
- Thông tin sản phẩm: Hệ thống kiến trúc dữ liệu phải đảm bảo cung cấp được thông tin về tất cả các loại sản phẩm mà ngân hàng đang áp dụng.
- Xây dựng dữ liệu: Cơ sở dữ liệu phải đảm bảo cho việc tính toán chính xác các chỉ số xác suất vỡ nợ (PD), mất vốn do vỡ nợ (LGD), rủi ro vỡ nợ (EAD), để từ các giá trị này sẽ xác định được lỗ dự kiến (EL).
- Dữ liệu phải cung cấp được quá trình lịch sử, dữ liệu liên quan đến rủi ro, đánh giá phân loại, xác suất vỡ nợ, khả năng mất vốn và thu hồi nợ ngoại bảng.
3.3.2 Tính toán rủi ro
Theo Basel II còn có thể tính xác suất rủi ro dự kiến, hay tổn thất dự kiến EL (Expected Loss) theo khả năng vỡ nợ PD (Probability of Default) với mức độ tổn thất khi vỡ nợ LGD (Loss Given Default) theo công thức sau:
Basel II cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các phương pháp đo lường, thử nghiệm rủi ro tín dụng. Thử nghiệm là công cụ nhằm xem xét đánh giá rủi ro và yêu cầu vốn sự thay đổi cần thiết như thế nào trong trường hợp môi trường kinh tế yêu cầu cần phải có một cách tiếp cận tiên tiến hơn đối với quản trị rủi ro. Nhà quản trị ngân hàng cần xem xét kết quả của thử nghiệm đó khi xác định mức vốn cần thiết để thoả mãn các yêu cầu về tỷ lệ vốn tối thiểu.
3.3.3 Các kỹ thuật hạn chế rủi ro
Các giải pháp kỹ thuật hạn chế RRTD được kể đến đó là bù trừ giá trị, lập mạng lưới vị thế ( netting position), bảo lãnh, công cụ phái sinh tín dụng. Module tài sản bảo đảm tiền vay cần thiết phải có cơ chế áp dụng bù trừ trong tổng giá trị tài sản bảo đảm với tổng dư nợ vay của một khách hàng đối với ngân hàng. Nó phải có đủ độ linh hoạt để xác định tiêu chí cho nhiều loại tài sản bảo đảm và áp dụng tỷ lệ khấu trừ tài sản đảm bảo dựa trên tính dễ thay đổi giá trị, chênh lệch kỳ hạn và rủi ro chuyển đổi loại tiền.
4. Sự cần thiết phải đáp ứng Basel II để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mại Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Do quy mô và phạm vi hoạt động ngân hàng tăng cao và ngân hàng ngày nay đã trở nên tập trung hơn, tác động của các sai lầm trong việc thực hiện rủi ro quá mức và giảm năng lực tín dụng lên nền kinh tế tài chính quốc gia và quốc tế trở nên quá lớn. Sự lựa chọn nhằm tăng cường khả năng quản trị rủi ro bị hạn chế và không thực sự cuốn hút; sự ngăn cấm hoạt động hoặc các cơ quan giám sát quá chặt chẽ. Các nhà quản trị ngân hàng và cổ đông, cũng như với những ai tin tưởng vào quy luật thị trường sẽ được hưởng những lợi ích lớn từ việc áp dụng Basel II, một Hiệp ước thực sự hữu ích trong việc giúp các ngân hàng nâng cao năng lực quản trị rủi ro, trong đó có quản trị rủi ro tín dụng.
- Basel II thiết lập sự an toàn cho hệ thống ngân hàng
Basel làm tăng sự chú trọng quản trị rủi ro tại mỗi ngân hàng, nhờ đó nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng này. Basel II ăn sâu vào tài chính hiện đại và nỗ lực phát triển trong các tổ chức ngân hàng lớn một cách tiếp cận tổng thể, có hệ thống trong việc đánh giá các rủi ro khác nhau mà ngân hàng phải đối mặt. Nó chắc chắn làm nâng cao kỳ vọng của cả cơ quan giám sát lẫn thị trường vào hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng. Điều này rõ ràng làm tăng nguồn lực và sự chú tâm của tất cả các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng của các nước phát triển và đang phát triển dành cho các hoạt động quản trị rủi ro cụ thể nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro, tăng lợi nhuận; Hiệp ước cũng hướng sự chú ý của các ngân hàng này tới các loại rủi ro có thể có cũng như những tổn thất tiềm tàng mà nó có thể gây ra.
Việc áp dụng 3 trụ cột theo khuyến nghị của Basel II thúc đẩy ngân hàng đầu tư vào và cải thiện năng lực quản trị rủi ro. Phương pháp tiếp cận tiên tiến đối với RRTD yêu cầu các ngân hàng lớn phân tích RRTD một cách chính thức và có hệ thống, thông qua việc phân tích khả năng và rủi ro đổ vỡ.
Chế độ lưu tâm tới rủi ro chính thức như theo khuyến nghị tại Basel II tạo ra những hy vọng về các tác động ổn định hơn của năng lực tín dụng. Quản trị rủi ro lượng hoá sẽ giảm RRTD quá mức xảy ra, điều này sẽ làm giảm thiểu thiệt hại và các chuẩn mực cho vay chặt chẽ hơn trong giai đoạn suy thoái kinh tế và có thể làm giảm tác động chu kỳ của yêu cầu mức đủ vốn có thể xảy ra khi không có những kỹ thuật quản trị rủi ro cần thiết theo khuyến nghị của Basel II.
- Basel II khích lệ tính chủ động, giám sát và minh bạch thông tin
Điều hành ngân hàng thời hội nhập nên dựa vào những trụ cột cơ bản theo tinh thần của Hiệp ước Basel II, đó là khuyến khích tính chủ động, giám sát và minh bạch thông tin. Theo đó, các ngân hàng thương mại tự chọn cách thức tính toán, đo lường rủi ro cho mình, thiết lập chương trình quản trị rủi ro riêng (dựa trên một số phương pháp hiện đại, được dùng rộng rãi nhưng “vừa sức” với khả năng ứng dụng của ngân hàng Việt Nam cũng như khả năng giám sát của NHNN), rồi gửi bản đề xuất ấy cho NHNN. NHNN sẽ xem xét, có các điều chỉnh cần thiết, rồi xem đó là một bản hợp đồng ghi nhớ mà ngân hàng thương mại phải tuân thủ, NHNN sẽ định kỳ yêu cầu báo cáo, kiểm tra giám sát việc tuân thủ bản hợp đồng ấy. Mặt khác, các ngân hàng thương mại muốn tham gia thực hiện Hiệp ước Basel II phải gia tăng tính minh bạch trong các báo cáo của mình, “trình bày” cho công chúng rõ hơn về những rủi ro mà mình chấp nhận, các cách thức quản trị, mức độ vốn dự phòng của mình cho các rủi ro… Chính điều này sẽ tạo ra một “kỷ luật thị trường” cho các ngân hàng.
- Basel II làm tăng hiệu quả hệ thống ngân hàng Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Sự bình đẳng trên cả phạm vi quốc gia và quốc tế là một tôn chỉ được đề ra đối với Basel II. Tất cả các ngân hàng với quy mô khác nhau đều cần tiếp cận như nhau với các yêu cầu của chuẩn mực này, đều phải đáp ứng các chuẩn chung đã được đề cập. Từ đó, Basel II tạo nên sự sàng lọc tự nhiên thiết yếu để cải tổ hệ thống ngân hàng. Chẳng hạn, nếu ngân hàng hoạt động quá rủi ro thì tự động cổ đông sẽ “trừng phạt” bằng cách bán cổ phiếu đi, hạng mức tín nhiệm của ngân hàng sẽ thấp, và ngân hàng khác sẽ nhăm nhe “nuốt chửng” ngân hàng đó. Ngoài ra, do các ngân hàng luôn có mối quan hệ cộng tác tương hỗ nên sự sụp đổ của bất cứ ngân hàng nào cũng gây thiệt hại đến một hoặc nhiều ngân hàng khác. Để thực thi thành công Hiệp ước này, tất cả các ngân hàng cần phải có sự phối hợp, liên kết và trao đổi kinh nghiệm với nhau để đề ra những phương pháp, giải pháp tiên tiến. Do vậy, đây cũng là cơ hội cho ngân hàng ở các nước đang phát triển hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng mình nhờ rút ngắn được khoảng cách kỹ thuật và công nghệ.
Với những điểm tiến bộ không thể phủ nhận trong Hiệp ước Basel II về nội dung quản trị rủi ro tín dụng, việc áp dụng các yêu cầu của Hiệp ước này nhằm nâng cao năng lực quản trị RRTD sẽ là một hệ quả tất yếu, một lựa chọn cần thiết đối với các NHTM. Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV


Pingback: Khóa luận: Biện pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV