Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo các yêu cầu của Hiệp ước Basel II này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. Giới thiệu về ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
1. Lịch sử doanh nghiệp BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ. Trong quá trình hoạt động và trưởng thành, Ngân hàng được mang các tên gọi khác nhau phù hợp với từng thời kỳ xây dựng và phát triển của đất nước: (xem thêm phụ lục 1)
- Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/4/1957
- Ngân hàng Đầu tư và xây dựng Việt Nam từ ngày 24/6/1981
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất ở Việt Nam được hình thành sớm nhất và lâu đời nhất, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức hoạt động theo mô hình Tổng công ty nhà nước.[21]
2. Lĩnh vực hoạt động của BIDV
Bên cạnh việc hoạt động đầy đủ các chức năng của một ngân hàng thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, làm ngân hàng đại lý, phục vụ các dự án từ các nguồn vốn, các tổ chức kinh tế, tài chính, tiền tệ trong và ngoài nước, BIDV luôn khẳng định là ngân hàng chủ lực phục vụ đầu tư phát triển, huy động vốn cho vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn cho các thành phần kinh tế; là ngân hàng có nhiều kinh nghiệm về đầu tư các dự án trọng điểm.
Khách hàng quan trọng: phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng, khách hàng của BIDV được phân thành 3 nhóm chủ yếu là:
- Nhóm khách hàng có quan hệ tiền gửi: (gồm khách hàng dân cư, cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội.)
- Nhóm khách hàng có quan hệ vay vốn: (gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các khách hàng cá nhân tiêu dùng…) Hiện nay đây là nhóm khách hàng tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng.
- Nhóm khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng: nhóm này tương đối quan trọng vì tạo ra một phần đáng kể thu nhập cho ngân hàng với mức rủi ro thấp.
Các sản phẩm và dịch vụ chính: Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế Đất nước.
3. Vài nét về tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Hiện nay, BIDV là một trong những ngân hàng có mạng lưới phân phối lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam với 103 chi nhánh cấp 1 với gần 400 điểm giao dịch, hơn 700 máy ATM và hàng chục ngàn điểm POS trên toàn phạm vi lãnh thổ, sẵn sàng phục vụ mọi nhu cầu khách hàng.
Tình hình hoạt động kinh doanh hiện tại của BIDV qua các năm gần đây tương đối tốt, luôn đạt được vượt mức, toàn diện các mục tiêu đề ra. Đặc biệt trong 2 năm 2024 – 2025, BIDV đã đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất từ trước tới nay. Thể hiện qua bảng sau (Theo chuẩn mực quốc tế IFRS):
- Bảng 2.1: Tình hình hoạt động kinh doanh BIDV 2024 – 2025
Cũng trong năm 2025, lợi nhuận sau thuế của BIDV có mức tăng trưởng cao vượt bậc so với kế hoạch, đạt 613 tỷ đồng so với mức 115 tỷ đồng năm 2024 (gấp hơn 4 lần). Kết quả này đã góp phần đáng kể làm tăng năng lực tài chính của BIDV.
Nhìn chung, BIDV đang là một ngân hàng kinh doanh khá hiệu quả với những tiến bộ, tăng trưởng rất thuyết phục trong tình hình hoạt động của ngân hàng này.
II. Tình hình rủi ro tín dụng và khả năng đáp ứng yêu cầu Basel II trong thực hiện quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
1. Tình hình hoạt động tín dụng tại BIDV
1.1 Tình hình tín dụng nói chung
Tín dụng luôn được đánh giá là mảng hoạt động nghiệp vụ quan trọng nhất và mang lại tỷ trọng thu nhập cao nhất cho BIDV. Hoạt động tín dụng chiếm tới gần 80% trong tổng danh mục tài sản có [19]. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng trên tổng tài sản năm giảm từ 67% năm 2024 xuống còn 59% năm 2025 được đánh giá là phù hợp với mục tiêu phát triển thể chế cam kết với World Bank.
Chất lượng tín dụng được kiểm soát chặt chẽ, có hệ thống nên tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn có xu hướng giảm thấp và ổn định dần, khả năng kiểm soát chất lượng tín dụng có xu hướng tăng lên.
Trong những năm gần đây, nhằm thực hiện đẩy mạnh phát triển tín dụng toàn hệ thống, quy mô hoạt động tín dụng của BIDV không ngừng được mở rộng, thể hiện ở mức tăng trưởng đều đặn về Tổng dư nợ cho vay ròng qua các năm. (biểu đồ 2.1)
- Biểu đồ 2.1: Dư nợ cho vay và ứng trước khách hàng (ròng) qua các năm (*)
Qua biểu đồ 2.1 ta thấy, từ năm 2020 đến 2025, mức dư nợ tín dụng liên tục tăng trưởng, trung bình mỗi năm từ 14% – 15%. Đặc biệt, tính đến 31/ 12 năm 2025, tổng dư nợ cho vay ròng đạt mức 93.453 tỷ đồng, tăng 17.7% so với năm 2024 và gấp hơn 2,1 lần so với năm 2020. Điều này phản ánh khả năng kiểm soát tăng trưởng tín dụng hợp lý của BIDV nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế và cam kết với Ngân hàng Thế giới (WB), tuy nhiên mức tăng trưởng này chưa đạt được tới mục tiêu tăng trưởng tín dụng mà BIDV đặt ra (18% – 20%/năm).
1.2 Về cơ cấu dư nợ tín dụng
Trong những năm qua, BIDV tiếp tục thực hiện chiến lược từng bước chuyển dịch cơ cấu tín dụng và phân loại khách hàng nhằm tuân thủ các yêu cầu của WB đối với sự phát triển cơ cấu tín dụng và với Kế hoạch Tái Cơ cấu của BIDV. Cơ cấu dư nợ cho vay của BIDV cũng đã có những chiều hướng thay đổi tích cực, thể hiện qua các tiêu chí phân loại cơ cấu như sau:
- Cơ cấu dư nợ theo loại hình cho vay Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Trong tổng dư nợ, cho vay thương mại đạt đến năm 2024 75.134 tỷ VND, chiếm 87,94% (năm 2023: 85,23%), tăng 4,33%. Tỷ lệ cho vay theo chỉ định và theo kế hoạch nhà nước vốn là các khoản dự nợ cũ từ trước năm 2017 giảm dần qua các năm (đến năm 2024 chỉ còn 5,92%) và không phát sinh nợ mới.
Bảng 2.2: Danh mục dư nợ phân theo loại hình cho vay
- Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn
Cơ cấu tín dụng từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng dư nợ trung dài hạn có xu hướng giảm dần, từ 48.5% năm 2022 đến 2025 chỉ còn 41%, gần đạt mức mục tiêu đặt ra là 40%. Cùng với đó, tỷ trọng dư nợ ngắn hạn ngày càng tăng từ 51,5% năm 2022 lên 59% năm 2025, thể hiện khả năng thu hồi vốn nhanh của BIDV tăng lên.(biểu đồ 2.2)
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn 2022 – 2023 / 2024 – 2025
- Cơ cấu dư nợ cho vay của BIDV theo loại hình doanh nghiệp kinh doanh như sau:
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu tín dụng theo loại hình doanh nghiệp kinh doanh
Qua biểu đồ ta thấy, Có xu hướng chuyển dịch tương đối đáng kể từ cho vay doanh nghiệp quốc doanh sang cho vay khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tỷ trọng dư nợ cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, chiếm 48% tổng dư nợ. Từ đó, có thể thấy xu hướng chuyển dịch đối tượng cho vay từ các doanh nghiệp quốc doanh sang khu vực doanh nghiệp tư nhân và liên doanh – loại hình doanh nghiệp đang phát triển mạnh trong thời gian gần đây với những kết quả đáng khích lệ.
- Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế:
Trước 2024, BIDV ưu tiên đầu tư nhiều nhất cho các ngành xây lắp (đóng tàu, nhà ở…) (chiếm tới gần 40%) và công nghiệp năng lượng (điện, than, xi măng).
- Biểu đồ 2.4: Cơ cấu tín dụng của BIDV theo ngành kinh tế
Năm 2024, BIDV đã giảm tỷ lệ cho vay xây lắp theo đúng mục tiêu và đẩy mạnh cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu dùng, xuất nhập khẩu, cho vay các ngành kinh tế tiềm năng(36,5%). Sang năm 2025, xu hướng giảm tỷ lệ cho vay xây lắp tiếp tục được thực hiện, tỷ lệ cho vay ở khu vực này tuy vẫn chiếm tỷ lệ cao song đã giảm xuống còn 24,9%. Cùng lúc đó, nhằm tiếp tục đẩy mạnh các ngành kinh tế mũi nhọn, BIDV đã xác định danh mục tín dụng đầu tư vào các ngành thương mại và dịch vụ(xuất nhập khẩu), sản xuất chế biến(sản phẩm nông nghiệp, chế biến gỗ…) làm tỷ trọng dư nợ tín dụng của các ngành này tăng mạnh mẽ, điển hình ngành thương mại dịch vụ trở thành ngành tập trung đầu tư tín dụng số 1 tại BIDV( chiếm 27,3%) (xem biểu đồ 2.4) Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
BIDV có thế mạnh trong hoạt động tài trợ dự án, hiện đã đầu tư vào 121 dự án điện, 57 dự án xi măng với tổng mức vốn đã ký theo hợp đồng tương ứng lên đến 19.760 tỷ VNĐ và 12.850 tỷ VND. BIDV đã cấp bảo lãnh thanh toán ứng trước trị giá 322 triệu Đô la Mỹ đối với các dự án trong ngành đóng tàu. Ngoài ra, BIDV tài trợ nhiều dự án trọng điểm quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế của Việt Nam như Nhà máy thủy điện Sơn La, Nhiệt điện Hải Phòng; Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nhà máy khí điện đạm Cà Mau, Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Đường Tránh Đồng Hới, Quốc lộ 1 và Cầu Phú Mỹ…
Song song đó, hoạt động tín dụng của BIDV được gắn với xây dựng hợp tác chiến lược với các tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước như: Vinashin, Dầu khí, Than và Khoáng Sản, các Tổng công ty Sông Đà, Vinaconex, Lilama, FPT, Bitexco…Các quan hệ hợp tác toàn diện này nhằm mục tiêu cung ứng vốn, các dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp và tạo ra cơ chế đầu tư phù hợp cho các dự án lớn.
Có thể thấy, hoạt động tín dụng của BIDV đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của của địa phương cũng như các doanh nghiệp tại các địa bàn, trên cơ sở nguyên tắc kết hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và ngân hàng để thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần đẩy mạnh kinh tế đất nước.
2. Các nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng gia tăng
2.1 Nguy cơ rủi ro tín dụng do tăng quy mô hoạt động tín dụng
Nguy cơ RRTD luôn tiềm tàng trong hoạt động tín dụng của BIDV do quy mô cấu thành lớn của hoạt động này trong hệ thống hoạt động ngân hàng. Quy mô tín dụng càng được mở rộng bao nhiêu thì khả năng RRTD xảy ra sẽ lớn hơn bấy nhiêu. Với xu hướng mở rộng quy mô hoạt động tín dụng cũng như việc mở rộng các loại hình sản phẩm tín dụng khiến tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của BIDV tăng nhanh như những năm gần đây, nguy cơ RRTD của BIDV cũng tăng theo do làm tăng nguy cơ nợ quá hạn do lượng vốn lớn dẫn đến việc quay vòng vốn chậm, tỷ lệ hoàn trả trong thời gian xác định không cao, dẫn đến khả năng nợ quá hạn lớn; nguy cơ đọng vốn, mất vốn và dễ dẫn đến các khó khăn kéo theo trong hoạt động tín dụng như khó khăn trong việc cấp tín dụng cho các khách hàng khác, giảm lợi nhuận của ngân hàng hoặc nghiêm trọng hơn là nguy cơ vỡ nợ, gây sụp đổ toàn hệ thống.
Đây là nguy cơ RRTD rất đáng lưu tâm tại BIDV trong bối cảnh ngân hàng này đang thực hiện các Đề án cơ cấu và phát triển, dự án cổ phần hoá với việc mở rộng quy mô, bành trướng thị trường để phấn đấu xây dựng một tập đoàn tài chính lớn trong tương lai không xa. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
2.2 Thị trường tín dụng có tính cạnh tranh ngày càng cao
Đây cũng là một nguy cơ RRTD tiềm tàng đối với BIDV. Trên thực tế, riêng đối với mảng tín dụng, BIDV phải cạnh tranh với ba loại NHTM:
- Nhóm ngân hàng thương mại Quốc doanh:
Mỗi ngân hàng thương mại Quốc doanh đều có thế mạnh và lợi thế cạnh tranh riêng trong thị trường tín dụng Việt Nam: BIDV có thế mạnh trong hoạt động tài trợ dự án, hoạt động đầu tư; Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) là ngân hàng thương mại đi đầu trong các dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ tín dụng và kinh doanh ngoại hối; Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank) có mối quan hệ mật thiết với các công ty sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các khách hàng thành thị; và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính ở nông thôn.
Biểu đồ 2. 5: Thị phần TD của BIDV trong khối các NHTM Quốc Doanh
- Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần:
Hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam đều có năng lực tài chính khá phù hợp với phạm vi hoạt động của mình. Đặc biệt, các ngân hàng thương mại cổ phần đều duy trì tỷ lệ an toàn vốn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế (CAR khoảng 8 – 10%). Một số ngân hàng thu hút đầu tư từ các ngân hàng nước ngoài, điều này giúp cải thiện bộ máy quản lý ngân hàng và triển khai, đa dạng hóa nhanh chóng các sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng này, nhằm đón bắt, thỏa mãn nhu cầu, tâm lý của khách hàng. (Ví dụ: Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu – ACB, ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín – Sacombank) Thị phần huy động vốn và tín dụng của nhóm ngân hàng này giai đoạn 2020 – 2024 đã tăng từ 9% lên trên 13%.[16]
- Nhóm Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh:
Do Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và theo các hiệp định thương mại hoặc vì bất kỳ lý do nào khác, nếu Chính phủ mở cửa thị thường đối với các ngân hàng nước ngoài thì sự cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài sẽ tăng mạnh. Đó là một nguy cơ RRTD rất đáng chú ý đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh, trong đó có BIDV. Các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh đang mở rộng hoạt động ra phạm vi toàn cầu nhằm phục vụ nhu cầu vốn của các khách hàng, trong đó có các khách hàng đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Các ngân hàng này có khả năng tăng số dư tiền gửi và cho vay sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bãi bỏ các hạn chế về tiền gửi bằng VNĐ. Ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh có thị phần tuy nhỏ nhưng đang trên đà tăng trưởng và ngày càng được quảng bá rộng rãi. Giữa ngân hàng nước ngoài và ngân hàng cổ phần có sự hợp tác khá chặt chẽ. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Với một thị trường tín dụng đầy tính cạnh tranh như vậy, việc các ngân hàng tranh giành thị phần sẽ dẫn đến tình trạng lôi kéo khách hàng buộc các ngân hàng cạnh tranh nhau bằng những điều kiện khoản vay ưu đãi hơn, dễ dàng hơn. Điều này mặc dù làm tăng tính linh động của thị trường tín dụng nhưng ở một khía cạnh nào đó sẽ làm tăng tính rủi ro của các khoản vay do không còn có “lá chắn” là các yêu cầu, điều kiện vay khắt khe như trước; giảm khả năng lường trước rủi ro của các ngân hàng trong đó có BIDV.
2.3 Rủi ro tín dụng do tính đặc thù của BIDV
BIDV là một ngân hàng thương mại Quốc doanh. Trước năm 2023, bên cạnh hoạt động cho vay thương mại, BIDV còn cho vay theo chính sách và theo chỉ định của Chính phủ. Trước đây, BIDV phụ thuộc vào Chính phủ về vốn để thực hiện chiến lược kinh doanh của mình và đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định Mặc dù BIDV đã tiến hành trích lập dự phòng đáng kể đối với các khoản nợ xấu, tại BIDV có nguy cơ phải trích lập dự phòng bổ sung và xử lý các khoản cho vay theo chỉ định và các khoản nợ khác do phụ thuộc vào việc Chính phủ có chịu trách nhiệm về các khoản nợ này hay không. Việc thực hiện các khoản vay chỉ định theo yêu cầu của Chính phủ là một nguy cơ RRTD tương đối lớn của BIDV, vì hầu hết các khoản vay này đều dành cho các tổng công ty quốc doanh mà đa phần có năng lực tài chính tương đối yếu, bộ máy hoạt động cồng kềnh, phụ thuộc vào cơ chế “xin – cho”, khả năng hoàn vốn không cao.
Ngoài ra, do có thế mạnh về vốn, khách hàng vay trọng tâm của BIDV là các chủ dự án nhu cầu vốn lớn thuộc về các ngành xây dựng, năng lượng, chế tạo, giao thông vận tải, do vậy BIDV phụ thuộc tương đối vào tình hình hoạt động của các ngành này. Một ví dụ điển hình là BIDV đã cấp tín dụng với tỷ lệ khá lớn đối với ngành xây dựng: tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2025, tổng dư nợ cho vay cho ngành này chiếm 24,9% tổng các khoản cho vay đối với khách hàng. Vì vậy bất kỳ sự giảm sút nào của ngành xây dựng tại Việt Nam cũng có thể gây ảnh hưởng bất lợi tới tình hình kinh doanh, tài chính và kết quả hoạt động của BIDV.
III: Khả năng đáp ứng yêu cầu Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng ở BIDV Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
3.1 Những thuận lợi
3.1.1 Khách quan
- Môi trường pháp lý tương đối hoàn chỉnh
Để tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhằm đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả và bền vững tại các ngân hàng thương mại, đáp ứng yêu cầu của Uỷ ban Basel (Basel II) về quản trị rủi ro trong hoạt động Ngân hàng, gần đây, NHNN đã ban hành một số văn bản liên quan đến công tác quản trị RRTD nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, như:
- Quyết định 783/2024/QĐ-NHNN ngày 31/5/2024 của Thống đốc NHNN sửa đổi bổ sung Quy chế cho vay của NHTM đối với khách hàng. Các nội dung được sửa đổi quy định theo hướng trao nhiều quyền phán quyết, hoặc tạo cơ sở Pháp lý cho TCTD chủ động thực hiện theo đặc thù kinh doanh – Ví dụ: việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ là do NHTM tự xem xét, quyết định trên cơ sở khả năng tài chính của mình và kết quả đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng;
- Quyết định số 457/2024/QĐ-NHNN ngày 19/4/2024 của Thống đốc NHNN ban hành Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của NHTM;
- Quyết định số 493/2024/QĐ-NHNN ngày 22/4/2024 của Thống đốc NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động Ngân hàng của NHTM.
- Chỉ thị số 02/2024/CT-NHNN ngày 20/4/2024 yêu cầu các NHTM tuân thủ đúng các quy định về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay, bảo đảm tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, đảm bảo chú trọng đến công tác quản trị rủi ro, kiểm tra, kiểm soát nội bộ;
Liên quan đến vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong thời gian gần đây, Thống đốc NHNN đã ban hành các chỉ thị: Chỉ thị số 02/2024/CT-NHNN ngày 20/04/2024 về việc nâng cao chất lượng tín dụng, tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống;
Chỉ thị số 02/2025/CT-NHNN ngày 23/05/2025 v/v tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các TCTD. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Đặc biệt, trong những tháng đầu năm 2026, khi vốn tín dụng có xu hướng tăng trưởng ở mức cao hơn so với cùng kì năm trước và mục tiêu cả năm, có thể ảnh hưởng không thuận lợi đối với kiểm soát lạm phát trong năm nay và các năm tới; chất lượng tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực chưa cao; cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán có nguy cơ rủi ro cao, do thị trường chứng khoán biến động; việc thu thập thông tin từ thị trường để đánh giá, quản trị rủi ro còn bất cập, ngày 28/05/2026, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 03/2026/CT- NHNN về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những biện pháp và chỉ dẫn cần thiết để các TCTD tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường phòng ngừa, hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn hệ thống trong điều kiện hiện nay.
- Tăng cường quản trị RRTD là xu thế chung của các NHTM Việt Nam
Hiệp ước Basel II ra đời đã thu hút được sự quan tâm hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trong cuộc hội thảo tổ chức tại Hà Nội về quản lý rủi ro theo Basel II của Hiệp hội Ngân hàng ASEAN(2025), Hiệp hội Ngân hàng Malaysia đã giới thiệu một số kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản trị rủi ro của các ngân hàng Malaysia nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn Basel II. Theo khuyến nghị của đại diện Ngân hàng Maybank (Malaysia)- bà Chan Wai Yu, Phó chủ tịch, kiêm Trưởng bộ phận quản lý rủi ro tín dụng, “Basel II đóng vai trò như một chất xúc tác cho việc xây dựng chiến lược về quản lý rủi ro”[6]. Các ngân hàng nên tiến hành phân tích và xác định mức độ phù hợp của Basel II dựa trên quy mô, độ phức tạp các hoạt động của mình.
Những kinh nghiệm về quản trị rủi ro theo Basel II này được Chủ tịch Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, ông Lê Văn Sở đánh giá cao. Theo ông, rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, là nỗi lo thường trực, hiện hữu của các ngân hàng và các tổ chức tài chính tại mọi quốc gia. Trong thời đại hội nhập hiện nay, các mối quan hệ kinh tế, giao thương, đầu tư thế giới ngày càng trở nên nhạy cảm, phức tạp và ngày càng phụ thuộc lẫn nhau thì mỗi sự thành công hay thất bại hoặc nào đó xảy ra đối với một hoặc một số ngân hàng – tổ chức tài chính tại một quốc gia thì lập tức sẽ có ảnh hưởng chuỗi tới các tổ chức ngân hàng – tài chính của quốc gia đó và các nước khác trong khu vực, hoặc nghiêm trọng hơn cả châu lục và thế giới. Một minh chứng rõ rệt về công tác quản lý rủi ro yếu kém, bất cập đối với diễn biến phức tạp của thị trường, ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế chính là cuộc khủng hoảng tài chính trong những năm gần đây tại khu vực châu Á (2016). Từ đó, một đòi hỏi khách quan đối với các ngân hàng và tổ chức tài chính Việt Nam trong tiến trình hội nhập là phải chủ động tìm hiểu và có những giải pháp phòng ngừa các hệ quả xấu của những thách thức trực tiếp đối với hoạt động tài chính ngân hàng. Basel II là một công cụ đắc lực giúp nâng cao năng lực quản trị rủi ro để đối phó với những thách thức đó. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Trong những năm gần đây, hệ thống các ngân hàng, tổ chức tài chính – tín dụng Việt Nam đã không ngừng được củng cố, phát triển. Song song với việc tái cơ cấu về mặt tổ chức, đổi mới hoạt động, tăng năng lực quản trị, điều hành, các ngân hàng, tổ chức tài chính – tín dụng đã và đang tích cực tăng vốn điều lệ, xử lý những khoản nợ xấu nhằm tăng năng lực tài chính, đồng thời không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ cao. Tuy nhiên, các ngân hàng, tổ chức tài chính – tín dụng Việt Nam vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý hoạt động của mình, đặc biệt là quản lý rủi ro.
Với những thực tiễn đặt ra như vậy trong quá trình quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam, việc ứng dụng các chuẩn mực Basel II vào công tác quản trị rủi ro có thể xem là một xu hướng tất yếu. Đây là một xu hướng đáng cổ vũ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, do đó nhất định các ngân hàng sẽ sớm nhận được sự quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước và các cấp có chủ quyền nhằm giúp đỡ các ngân hàng, trong đó có ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thực hiện chuẩn hoá công tác quản trị rủi ro của ngân hàng mình theo các quy định của hiệp ước Basel II.
3.1.2 Chủ quan
Chính sách quản trị RRTD theo các tiêu chuẩn quốc tế của BIDV Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng các chuẩn mực quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới cũng như nhìn nhận được xu thế chung tất yếu của các ngân hàng Việt Nam là dần chuẩn hoá theo thông lệ quốc tế trong tất cả các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động quản trị rủi ro nói riêng, quan điểm của BIDV trong công tác quản trị RRTD là chủ động tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế, phân tích tình hình cũng như khả năng ứng dụng các chuẩn mực tại những giai đoạn phát triển nhất định để từng bước ứng dụng các chuẩn mực này vào quy trình quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng.
Theo bộ phận Quản lý rủi ro ngân hàng BIDV, chính sách quản trị rủi ro tín dụng của BIDV là hướng tới sau vài năm nữa xây dựng được một hệ thống quản trị RRTD chuẩn mực, góp phần quản trị rủi ro ngân hàng một cách hiệu quả hơn, đó là một con đường đầy khó khăn, nhưng cũng là con đường duy nhất đúng, nhằm góp phần tích cực vào tiến trình hội nhập của BIDV với cộng đồng Tài chính – ngân hàng quốc tế. Đặc biệt, BIDV rất quan tâm đến những chuẩn mực Basel II trong vấn đề quản trị rủi ro tín dụng. Ngay từ khi Hiệp ước này mới ra đời và cùng với sự thành lập của bộ phận Quản lý RRTD BIDV (8/2023) (cụ thể sẽ được đề cập ở phần sau), các cán bộ, chuyên gia quản trị rủi ro của ngân hàng đã dày công tìm hiểu, nghiên cứu các chuẩn mực này, và đã đề ra một đường lối cụ thể trong việc ứng dụng các chuẩn mực Basel II vào công tác quản trị RRTD của BIDV.Theo đó, BIDV phấn đấu trong giai đoạn 2030 – 2035 sẽ hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng toàn diện, đạt chuẩn quốc tế đáp ứng tất cả các chuẩn mực của Hiệp ước Basel II. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
- Cơ sở liệu phục vụ việc XLTD theo Basel II khá đầy đủ, chi tiết
Cùng với việc tìm hiểu, nghiên cứu các chuẩn mực của Hiệp ước Basel II, ngân hàng BIDV đã xác định một đường lối rõ ràng trong vấn đề quản trị RRTD và đã có những sự chuẩn bị, tập hợp các điều kiện cần thiết để từng bước ứng dụng các chuẩn mực này. Một trong những yêu cầu tiên quyết của việc ứng dụng các chuẩn mực Basel II, cụ thể hơn là ứng dụng các phương pháp tính toán, đo lường, xếp hạng rủi ro để thực hiện các tiêu chí quản lý đó là yêu cầu ngân hàng phải thiết lập được hệ thống cơ sở dữ liệu lịch sử phục vụ cho công tác quản trị rủi ro. Đối với rủi ro tín dụng, hệ thống này đòi hỏi một sự chuẩn hoá, hay còn gọi là sự thống nhất chung về kết cấu dữ liệu, theo đó nó thể hiện trong việc thu thập dữ liệu, tổng hợp, hợp chuẩn và thống nhất dữ liệu về toàn bộ liên quan đến hoạt động tín dụng.
Tại ngân hàng BIDV, cơ sở dữ liệu về hoạt động tín dụng luôn được ngân hàng thu thập và lưu trữ và quản lý một cách đầy đủ và cẩn thận với một hệ thống dữ liệu lịch sử toàn diện trên 5 năm, từ đó BIDV có một lợi thế trong việc lựa chọn và ứng dụng các phương pháp tính toán, đo lường rủi ro theo các đề xuất trong chuẩn mực của Hiệp ước Basel II vào công tác quản trị rủi ro tín dụng của mình.
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi nghiệp vụ
Nguồn nhân lực luôn là một nội dung rất được quan tâm trong hoạt động của ngân hàng BIDV. Ngân hàng đã có sự chú trọng thích đáng đến nguồn lực con người, làm cơ sở nòng cốt cho sự phát triển an toàn, bền vững. Để đáp ứng các đòi hỏi về tăng trưởng và phát triển của ngân hàng, cùng với nhận thức nguồn nhân lực chính là vốn quý của ngân hàng, BIDV không ngừng nỗ lực tăng cường đội ngũ cán bộ ngân hàng cả về số lượng và chất lượng. Hiện tại, đội ngũ cán bộ của ngân hàng lên tới 10.516 người, trong đó số người có trình độ đại học chiếm tới hơn 75%.
Một đặc điểm dễ nhận biết của đội ngũ nhân viên BIDV đó là sự trẻ trung, tâm huyết và được đào tạo bài bản, đúng chuyên môn. Việc tuyển dụng tại BIDV luôn được sàng lọc cẩn thận để đảm bảo một đội ngũ làm việc chuyên nghiệp, giỏi nghiệp vụ. Công tác bố trí lao động về cơ bản đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh toàn hệ thống.
- Biểu đồ 2.6: Cơ cấu lao động theo trình độ lao động đến 31/12/2025
Ngoài ra, do xác định năng lực của đội ngũ lao động là nhân tố quyết định sự thành công của ngân hàng, BIDV rất chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực. Trong năm 2025, BIDV đã triển khai nhiều khoá đào tạo như quản trị điều hành, nghiệp vụ tín dụng..v.v ; đã có 111 đoàn với 361 lượt cán bộ được cử đi đào tạo ở nước ngoài và 32 khoá đào tạo với 307 lượt cán bộ trong nước. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Với một đội ngũ cán bộ lớn mạnh cả về chất và lượng; nhiệt tình tâm huyết giỏi nghiệp vụ, việc triển khai ứng dụng các chuẩn mực Basel II trong công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với toàn bộ các sản phẩm tín dụng, các chi nhánh trên quy mô toàn hệ thống về cơ bản sẽ có những thuận lợi đáng kể.
- Sự hợp tác chặt chẽ giữa các bộ phận nhằm mục đích nâng cao chất lượng hoạt động theo các chuẩn mực quản trị rủi ro theo Basel II
Để nâng cao nhận thức, tạo sự chuyển biến tích cực trong phong cách làm việc trong toàn hệ thống, BIDV đã ứng dụng các tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001: 2019 là những bước đầu tiên trên con đường xây dựng “Văn hoá chất lượng “ tại ngân hàng này. Việc xây dựng và vận hành hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001: 2019 tại BIDV đã tạo cho toàn thể cán bộ, nhân viên nhận thức đầy đủ về chất lượng và yêu cầu quản lý, yêu cầu về việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Đồng thời hình thành nề nếp làm việc khoa học, tiên tiến, thống nhất trong toàn hệ thông, nhờ có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, và yêu cầu tuân thủ triệt để các quy trình và các qui định đã được xây dựng. Mối quan hệ giữa công việc và con người được cải thiện rõ rệt. Quan hệ giữa các thành viên trong mỗi bộ phận, sự hợp tác giữa các phòng ban được tăng cường, hướng tới một mục tiêu chung của ngân hàng là năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Văn hoá chất lượng được hình thành và ngày càng bộc lộ rõ nét.
Thông qua việc cung cấp hệ thống chất lượng sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng hoàn hảo tạo được lòng tin của khách hàng trong và ngoài nước giúp cho ngân hàng áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2019. Nhờ đó tiết kiệm được chi phí, giảm bớt khối lượng kiểm tra, giám sát bởi khách hàng và cơ quan quản lý.
Tăng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng: áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2019 sẽ tăng cường các biện pháp kiểm tra, phòng ngừa rủi ro, kịp thời phát hiện và khắc phục sai sót, nhờ đó giảm chi phí đầu vào, tăng lợi nhuận, cải thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ nâng cao khả năng hội nhập và phát triển bền vững cho Ngân hàng.
100% các đơn vị thành viên của NHĐT & PTVN được cấp chứng chỉ ISO thể hiện sự nỗ lực rất lớn trong việc đưa ISO vào hoạt động ngân hàng. Sự chuyển biến này là tiền để để thu hẹp khoảng cách về trình độ sản phẩm, dịch vụ của hệ thống BIDV với khu vực và tăng cường sức cạnh tranh cho ngân hàng trước những thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế. Có được kết quả đó là nhờ sự chỉ đạo thường xuyên, sát sao của Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, Ban Lãnh đạo NH, sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị, phòng ban tại hội sở chính và các đơn vị thành viên.
3.2 Những khó khăn Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Theo đánh giá chung, các ngân hàng Việt Nam sẽ gặp không ít khó khăn và thách thức khi dự thảo Hiệp ước Basel II được chính thức thông qua, quản trị RRTD tại BIDV nhằm đáp ứng yêu cầu của Hiệp ước này cũng có một số trở ngại như sau:
3.2.1 Khách quan
- Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II chưa phổ biến tại Việt Nam
Khái niệm quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Các NHTM Việt Nam từ trước đến nay kinh doanh đều đã có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế các rủi ro, nhưng việc rủi ro được đặt trong sự quản lý, quản trị thì chỉ mới xuất hiện một cách chính thống trong vài năm gần đây. Đó là điều có thể lí giải một phần lý do tại sao Hiệp ước Basel II về vấn đề quản trị rủi ro, trong đó tập trung vào RRTD lại chưa được áp dụng chính thức tại bất cứ một NHTM Việt Nam nào.
Một lý do khác nữa là Hiệp ước Basel II mới chỉ chính thức có hiệu lực từ tháng 01/2026,và bản thân Hiệp ước khi được đưa ra cũng không đặt ra mục tiêu áp dụng cho tất cả các ngân hàng trên thế giới mà chỉ tập trung vào các ngân hàng ở các nước thuộc khối G10. Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu của việc đáp ứng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo yêu cầu của Hiệp ước Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng, ngân hàng BIDV đã quyết định sẽ hướng tới các chuẩn mực này trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng mình. Song, do chưa có tiền lệ, bài học thực tiễn tại Việt Nam, nên mô hình chung ngân hàng sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc tìm phương hướng, triển khai công tác quản trị RRTD theo chuẩn mực Basel II trong những điều kiện, bối cảnh kinh tế xã hội mang tính đặc thù riêng của Việt Nam.
- Hệ thống thông tin phục vụ hoạt động tín dụng còn thiếu, chưa đồng bộ
Thông tin tín dụng là một trong những nhân tố quan trọng được đề cập đến trong hiệp ước Basel II. Thông tin tín dụng giúp ngân hàng nhận biết, phân tích, đo lường rủi ro tín dụng. ở Việt Nam, thông tin tín dụng được cung cấp bởi Trung tâm thông tin tín dụng (Credit Information Center – CIC) của NHNN [3]. Tuy nhiên, hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) còn chưa đạt yêu cầu: dù được thành lập từ năm 2011 và đã có nhiều cải tiến trong hoạt động những năm gần đây nhưng đến nay CIC vẫn chưa đáp ứng tốt những nhu cầu của các NHTM, thông tin cung cấp còn nghèo nàn về số lượng cả chất lượng. Hoạt động của trung tâm còn khá thụ động, thường chỉ cung cấp thông tin về những trường hợp được các NHTM yêu cầu. Độ tin cậy của hệ thống báo cáo tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp gây khó khăn cho việc quyết định tín dụng của các ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
- Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều chưa được xếp hạng tín dụng
Một trong những yêu cầu của Hiệp ước Basel II trong việc sử dụng các phương pháp tính toán RRTD, cụ thể là theo phương pháp chuẩn hóa (Standardized) là đòi hỏi phải sử dụng hệ số tín nhiệm đáng tin cậy của một công ty xếp hạng có uy tín như Moody’s, S&P (Standard and Poor)…
Tại Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp không được xếp hạng theo hệ số tín nhiệm. Điều này dẫn tới bất lợi cho các ngân hàng Việt Nam vì tất cả các khoản vay khách hàng không được xếp hạng sẽ bị áp dụng mức độ rủi ro là 100%. Thêm vào đó, việc Basel II cho rằng những công ty không xếp hạng ít rủi ro hơn những công ty được xếp hạng là không hoàn toàn chính xác.
Khi đó, điểm xếp hạng sẽ do những công ty này cung cấp sẽ không chính xác do thông tin về doanh nghiệp chưa đầy đủ và như vậy sẽ bất lợi cho doanh nghiệp. Mặt khác, trong phương pháp đánh giá rủi ro hoạt động cũng còn nhiều vấn đề như phương pháp ngân hàng tự đánh giá quá phức tạp, phương pháp chuẩn hóa với các chỉ tiêu cơ bản không gắn chặt với rủi ro, đem cộng gộp RRTD với rủi ro hoạt động.
3.2.2 Chủ quan
- Quy mô ngân hàng tương đối lớn gây khó khăn cho việc hoàn thiện công tác quản trị RRTD toàn hệ thống
Một trong các tiêu chí cần đạt tới khi ứng dụng các “trụ cột” của Hiệp ước Basel II vào công tác quản trị RRTD là phải triển khai được một cách toàn diện trên toàn bộ hệ thống hoạt động của tổ chức tài chính – ngân hàng có quy mô lớn nhằm hạn chế, giảm thiểu rủi ro xảy ra do tính chất phức tạp, giá trị lớn của các thương vụ.
Có thể thấy, xét theo tiêu chí này, việc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro theo Basel II tại ngân hàng BIDV là rất cần thiết, do BIDV là một ngân hàng có quy mô lớn, mạng lưới phủ khắp cả nước với đa dạng các loại hình tín dụng. Tuy nhiên, chính đặc điểm này lại tạo ra khó khăn cho việc hoàn thiện công tác quản trị RRTD trên toàn hệ thống một cách đồng bộ, thống nhất, và đòi hỏi ngân hàng phải dành thời gian cũng như tốn một mức chi phí đáng kể để thực hiện.
- Nguồn lực còn hạn chế Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Thực tế, trong giai đoạn hiện nay BIDV đang cùng lúc thực hiện rất nhiều chương trình cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động ngân hàng như: Đề án Cơ cấu lại ngân hàng( do WB tài trợ), Chương trình cổ phần hoá(2024 – 2027), Xây dựng tập đoàn tài chính BIDV (2027 – 2030) và cùng với mỗi chương trình này lại có vô số công việc cần phải thực hiện để hoàn thành tốt các mục tiêu của các chương trình. Trong đó, quản trị rủi ro, dù rất quan trọng, cũng chỉ là một phần nội dung trong các nhiệm vụ mà BIDV cần thực hiện để cải tổ triệt để các tồn tại, bất cập trong hoạt động của ngân hàng này. Do vậy, với nguồn lực tài chính và con người có hạn và sự dàn trải của các nhiệm vụ sẽ có thể dẫn đến tình trạng việc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro, trong đó có quản trị RRTD sẽ không hội đủ các nguồn lực cần có, hoặc không thể thực hiện được một cách xát xao, triệt để như mục tiêu đề ra.
- Trình độ quản trị rủi ro của cán bộ ngân hàng chưa đạt tiêu chuẩn
Trên thực tế, mặc dù có một đội ngũ lao động có trình độ cao, giỏi nghiệp vụ giúp hạn chế rủi ro xảy ra trong các hoạt động tác nghiệp nhưng xét riêng về hoạt động quản trị rủi ro thì đây lại là một lĩnh vực tương đối mới mẻ đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và BIDV nói riêng, nên không tránh khỏi tình trạng không có các cán bộ được đào tạo chuyên môn chính thức về nghiệp vụ quản trị rủi ro ngân hàng, am hiểu công tác quản trị rủi ro theo các chuẩn mực quốc tế. Điều này gây khó khăn cho công tác quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị RRTD do yêu cầu của các chuẩn mực Hiệp ước Basel II tương đối khắt khe, đòi hỏi các cán bộ tham gia quản trị rủi ro nắm vững cơ sở lý luận cũng như các kiến thức căn bản nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ. Vì lý do này, trong một số tình huống BIDV còn phải đầu tư thuê chuyên gia tư vấn quản trị rủi ro nước ngoài với chi phí rất tốn kém. Đây thực sự là một trở ngại lớn cho ngân hàng trong quá trình hoàn thiện công tác quản trị rủi ro, trong đó đầu tiên và quan trọng nhất là quản trị rủi ro tín dụng, đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực của Hiệp ước Basel II.
IV. Đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo các chuẩn mực Basel II Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
1. Tổng quan về tình hình công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV
Trong những năm gần đây, trọng tâm của công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV là kiểm soát tăng trưởng tín dụng, tăng cường chất lượng tín dụng và xử lý nợ tồn đọng. Để thực hiện các mục tiêu này, BIDV đã thực hiện đổi mới cơ bản quản trị điều hành trong công tác tín dụng thông qua việc sửa đổi, bổ sung các quy chế, quy trình và áp dụng có hiệu quả các công cụ kế hoạch, giới hạn, cơ cấu tín dụng, cơ cấu khách hàng hiệu quả. BIDV đã thực hiện đánh giá đúng thực trạng tín dụng theo các chuẩn mực mới của Ngân hàng nhà nước. Trên cơ sở đó, Ngân hàng đã có những biện pháp nhằm nâng cao năng lực thẩm định, thực hiện chỉnh sửa đổi mới phân cấp uỷ quyền, chuyển biến cơ cấu khách hàng, cơ cấu dư nợ nhằm mục đích hình thành hệ thống quản lý rủi ro tín dụng.
Để giảm thiểu rủi ro tín dụng, BIDV đã cơ cấu Ban Tín dụng theo hướng tách bạch chức năng tiếp cận và thẩm định khách hàng với chức năng phê duyệt các khoản cho vay. ở cấp hội sở chính, BIDV đã thành lập Khối Tín dụng, Khối Thẩm định Dự án, Khối Quản lý Tín dụng và Khối Quản lý Rủi ro. ở cấp chi nhánh, có Bộ phận Thẩm định Dự án và Phòng Quản lý Tín dụng.
BIDV có sổ tay Tín dụng trong đó quy định chính sách tín dụng, các quy trình và thủ tục cho vay, mô hình chấm điểm và xếp hạng khách hàng và các quy định nội bộ liên quan đến quản lý rủi ro. Hồ sơ tín dụng được lập và lưu giữ một cách đầy đủ.
Công tác phân loại, quản lý và xử lý nợ xấu được thực hiện thường xuyên phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. BIDV đang tăng trích lập dự phòng rủi ro phù hợp với IFRS như được đề cập tới trong báo cáo tài chính hợp nhất của BIDV tính tới ngày 31 tháng 12 năm 2025.
Các biện pháp quản lý RRTD cũng được áp dụng trong từng thời điểm bao gồm các quy trình, quy định và hướng dẫn hoạt động tín dụng phù hợp với thực tế từng thời kỳ. BIDV cũng phân cấp phê duyệt tín dụng cho các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình thẩm định và phê duyệt tín dụng. BIDV đã xây dựng và ban hành chỉ tiêu kế hoạch tín dụng cho các đơn vị thành viên, xem xét danh mục cho vay và phân loại khoản vay, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định.
2. Đánh giá quản trị RRTD theo các yêu cầu Basel II Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
2.1 Những thành tựu đã đạt được
Thực tế, BIDV đã bước đầu đạt được một số thành tựu hướng theo các tiêu chuẩn quản trị rủi ro tín dụng của Basel II như sau:
2.1.1 Xây dựng thành công hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
BIDV hiện đang tiên phong thực hiện xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế, đặc điểm kinh doanh của mình theo tinh thần Quyết định 493 của NHNN. Đây là một bước tiến ban đầu đầy quyết liệt trong tiếp cận an toàn vốn, không chỉ nhằm mục đích phân loại nợ, mà còn nhằm đánh giá rủi ro khoản vay, quản lý chất lượng tín dụng.
Tháng 6/2025, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đăng ký với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam thực hiện xếp hạng tín dụng (XHTD) nội bộ làm cơ sở phân loại nợ theo điều 7 Quyết định 493/2024/QĐ-NHNN. Tính tới thời điểm này, BIDV là ngân hàng (NH) đầu tiên và duy nhất hiện nay xây dựng xong hệ thống XHTD nội bộ phù hợp với thông lệ quốc tế.
Đánh giá chung của NHNN là hệ thống XHTD nội bộ của BIDV được xây dựng theo một kết cấu chặt chẽ, khoa học. Hệ thống được tin học hoá thành chương trình phần mềm chấm điểm, xếp hạng khách hàng và được triển khai thống nhất trong toàn hệ thống của BIDV, hạn chế tối đa tác động chủ quan của người trực tiếp thực hiện xếp hạng. Theo đánh giá của đơn vị tư vấn Erns & Young, hệ thống XHTD nội bộ của BIDV đảm bảo được các tiêu chuẩn đo lường rủi ro trong hoạt động tín dụng; xác định phân hạng khách hàng một cách chi tiết và cụ thể, phản ánh đúng chất lượng tín dụng của NH, phù hợp với thông lệ quốc tế.
BIDV đã phải giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ để xây dựng hệ thống này. Trước năm 2026, chỉ các DN có dư nợ trên 5 tỷ đồng mới nằm trong diện xếp hạng. Đến nay, tất cả DN có dư nợ tại BIDV đều được xếp hạng trừ những DN nhỏ, có báo cáo tài chính không được kiểm toán thì xếp hạng cùng với hộ kinh doanh cá thể. Vấn đề khó khăn nhất đặt ra cho NH là khi thực hiện phân loại nợ, không ít trường hợp điều chỉnh lần 1, DN bị xếp vào nhóm 2 nhưng khi điều chỉnh lần thứ hai có thể sẽ “nhẩy” xuống nhóm 4. Như vậy sẽ lập tức ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của NH. Vì là hệ thống tự động nên cứ “nạp” dữ liệu là máy tự chấm điểm và đưa ra kết quả mà không thể can thiệp được
Trước khi đưa hệ thống XHTD vào thực hiện, BIDV đã tiến hành một cuộc cách mạng thực sự trong công tác tín dụng, NH đã tổ chức nhiều cuộc họp để đánh giá một cách thẳng thắn, trung thực tình trạng tài chính, khả năng trả nợ và năng lực của mỗi khách hàng (đặc biệt là với những khách hàng lớn) để có chính sách khách hàng phù hợp. Nếu trước đây vì một lý do nào đó, NH vẫn phải “bơm” vốn cho những DN xếp hạng từ nhóm B trở xuống thì nay mọi chuyện đã khác. Chỉ riêng việc cùng với Tổng công ty Công trình giao thông 5 (CIENCO 5) xem xét, quyết định để 3 công ty trực thuộc CIENCO 5 giải thể đã cho thấy BIDV đang mạnh tay thực hiện cuộc cải cách này. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Về nội dung, hệ thống XHTD nội bộ của BIDV sử dụng phương pháp chấm điểm các nhóm chỉ tiêu tài chính, phi tài chính với ba hệ thống chấm điểm khác nhau, cho ba nhóm khách hàng chính: Tổ chức kinh tế, các định chế tài chính và các khách hàng là cá nhân.
Năm 2025, BIDV đã chọn 35 ngành kinh tế với hơn 2.000 khách hàng có tổng dư nợ bình quân mỗi khách hàng trên 5 tỷ đồng (chiếm 80% tổng dư nợ toàn hệ thống) để chấm điểm. Mỗi khách hàng được chấm điểm dựa trên 54 chỉ tiêu, trong đó có 14 chỉ tiêu tài chính và 40 chỉ tiêu phi tài chính. Những chỉ tiêu này được xây dựng một cách chi tiết, minh bạch, phù hợp với danh mục khách hàng và môi trường quản lý rủi ro của NH. Thang điểm được chia thành 100-80-60-40-20 và quy về 5 nhóm. Nhóm 1 gồm các hạng: AAA- AA-A; Nhóm 2 gồm: BBB-BB; Nhóm 3 gồm: B-CCC-CC; Nhóm 4: C và Nhóm 5: D.(Xem thêm phụ lục 3)
Hệ thống XHTD nội bộ không chỉ giúp BIDV kiểm soát chất lượng tín dụng tốt hơn, đánh giá khách hàng một cách thống nhất trong toàn hệ thống để có chính sách khách hàng phù hợp. Đây cũng là căn cứ để BIDV hoàn thiện các quy trình, thủ tục cấp tín dụng, qua đó nâng cao được chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống, góp phần xác định chính xác giá trị phần tài sản của BIDV khi thực hiện cổ phần hoá.
2.1.2 Cơ cấu dư nợ có tài sản bảo đảm tăng
Tài sản bảo đảm trong hoạt động tín dụng chính là những tài sản có giá trị mà khách hàng vay đưa ra để làm căn cứ chứng minh khả năng tài chính, hậu thuẫn chắc chắn cho các khoản cho vay, bảo đảm khả năng thu hồi vốn của ngân hàng. Tài sản đảm bảo có thể là bất động sản( nhà cửa, đất đai..), trang sức ( kim cương, vàng, đá quý…), giấy tờ có giá trị (sổ tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu…) Các khoản vay có tài khoản bảo đảm sẽ làm giảm mức RRTD mà ngân hàng phải gánh chịu. Chính vì vậy, ngân hàng BIDV đã xây dựng một hệ thống quản lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng mình, và hệ thống này trong thời gian qua đã hoạt động tương đối hiệu quả, làm cho cơ cấu dư nợ có tài sản bảo đảm của BIDV tăng lên rõ rệt trong thời gian vừa qua.
- Biểu đồ 2.7: Cơ cấu dư nợ có tài sản bảo đảm
Nhìn vào biểu đồ ta thấy Tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo trên tổng dư nợ năm 2024 đạt 66% và đến năm 2025, tỷ lệ này tăng lên tới 70% trong tổng cơ cấu dư nợ. Điều này cho thấy vai trò của hệ thống quản lý tài sản bảo đảm của ngân hàng đã góp phần làm giảm nguy cơ RRTD tại BIDV. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
2.1.3 Hệ số an toàn vốn liên tục được tăng cường
Ngân hàng (trừ các trường hợp ngoại lệ) phải đảm bảo rằng tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có rủi ro ít nhất phải là 8%, tính theo quy định của VAS (Vietnam Accounting System).
Tại BIDV, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong những năm vừa qua đã có những chuyển biến tích cực. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Average Rate – CAR) đã được cải thiện đáng kể trong năm 2025.
- Bảng 2.3: Tình hình tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) 2024 -2025
Qua biểu đồ ta thấy, nếu như năm 2024 tỷ lệ an toàn vốn CAR còn dưới mức yêu cầu, chỉ đạt 6,86% thì đến năm 2025 chỉ số này đã tăng trưởng nhảy vọt, đạt tới 9.1% vượt trên mức yêu cầu 1.1%. Hệ số an toàn vốn CAR của BIDV được tính theo VAS vẫn tiếp tục tăng trong năm 2026, đạt xấp xỉ 10,37 % tại thời điểm 30 tháng 4 năm 2026.
Ngoài ra, trong năm 2025, BIDV đã chủ động đề xuất với Chính phủ thực hiện giải pháp tăng vốn tự có cấp 1, mang tính khả thi sẽ sớm được Chính phủ quyết định bổ sung vốn để đạt hệ số an toàn vốn (CAR) tối thiểu 8%.
Ngân hàng này cũng chủ động xây dựng đề án và phát hành thành công 3.250 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2, hệ số an toàn vốn tính theo Quyết định 457/2024/QĐ-NHNN đạt 9,6% và dự kiến đạt 6,8% theo chuẩn mực kế toán quốc tế. BID là tổ chức đầu tiên của VN phát hành trái phiếu dài hạn để tăng vốn, đáp ứng chuẩn mực quốc tế về cả cơ chế và phương thức phát hành. Trái phiếu phát hành đợt 1/2025 đã đủ điều kiện niêm yết giao dịch từ 13/7/2025 tại sàn giao dịch TP Hồ Chí Minh, trái phiếu dài hạn để tăng vốn đợt 2/2025 của BIDV đã niêm yết vào cuối tháng 1/2026. Việc phát hành thành công 3.250 tỷ trái phiếu tăng vốn cấp II theo chuẩn mực quốc tế đầu tiên trên thị trường tài chính VN đã giúp BIDV được tạp chí Tài chính Châu Á trao tặng danh hiệu “Giao dịch Trái phiếu nội tệ tốt nhất trong năm”.
2.1.4 Năng lực tài chính được khẳng định trên thị trường quốc tế
Năm 2025, uy tín, vị thế của BIDV đã được khẳng định. Vào tháng 5/2025, BIDV đã chính thức được Moody’s – tổ chức định hạng quốc tế hàng đầu trên thế giới xếp hạng ở mức E – triển vọng tích cực( xếp hạng năng lực tài chính độc lập – IFRS), Ba1/B1( xếp hạng tiền gửi nội tệ/ ngoại tệ) cho năm tài chính 2024. Đây đều là các mức xếp hạng kịch trần quốc gia. Với sự kiện này, BIDV trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam tham gia tổ chức định hạng toàn cầu, qua đó khẳng định cam kết minh bạch hóa tài chính và áp dụng các chuẩn mực quốc tế. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Đến tháng 4/2026, Moody’s đã nâng mức xếp hạng năng lực tài chính của BIDV đang được cải thiện, đặc biệt là khả năng nâng cao vốn và việc giảm đáng kể nợ xấu và chiến lược kinh doanh tạo sự khác biệt so với các ngân hàng khác trong ngành.
Cơ cấu lại tài sản có, tài sản nợ xích gần với thông lệ quốc tế, giảm thiểu rủi ro: Cơ cấu lại chất lượng và kỳ hạn nguồn vốn ngắn hạn – trung dài hạn, nguồn vốn VND – ngoại tệ phù hợp với cơ cấu tài sản có; Giảm tỷ trọng tín dụng trong tổng tài sản, giảm tỷ trọng tín dụng trung dài hạn, tăng tỷ trọng tín dụng đối với các DN ngoài quốc doanh, tăng tỷ trọng tài sản đảm bảo vốn vay theo đúng định hướng cơ cấu lại hoạt động tín dụng, kiểm soát và minh bạch chất lượng tín dụng, đi đầu trong triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo Điều 7 QĐ 493 (tương ứng với chuẩn mực chung của quốc tế) bằng chương trình quản lý với sự tư vấn, hỗ trợ của Ernst & Young, NHNN, Bộ Tài chính, tích cực chủ động trong trích lập dự phòng rủi ro… Hoạt động dịch vụ và đầu tư gia tăng chất lượng và có bước tăng trưởng cao.
2.1.5 Trích lập dự phòng rủi ro hợp lý
BIDV là luôn trích lập dự phòng ngay khi cần thiết trên cơ sở thận trọng và phù hợp với các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Việc trích lập dự phòng RRTD của BIDV bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
Ba năm nay BIDV thực hiện “thắt lưng buộc bụng” để trích dự phòng rủi ro, thể hiện quyết tâm của ngân hàng trong việc “làm sạch” bảng cân đối kết toán.
Bắt đầu từ quý 4 năm 2025, BIDV đã áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để phân loại nợ như sau: Nợ đủ tiêu chuẩn, Nợ cần chú ý, Nợ dưới tiêu chuẩn, Nợ nghi ngờ và Nợ có khả năng mất vốn. Việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo Điều 7 của Quyết định 493 đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận vào ngày 14 tháng 11 năm 2025 được áp dụng dựa trên sự kết hợp các yếu tố tài chính và phi tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế là một điểm rất tiến bộ trong công tác trích lập dự phòng rủi ro của BIDV.
2.2 Những tồn tại, hạn chế Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
2.2.1 Tỉ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trong tổng dư nợ vẫn ở mức cao
Ngày 31/12/2025, khi BIDV công bố tỷ lệ nợ xấu ở mức 9,6%, gấp khoảng 3 lần so với các NHTM Nhà nước khác, không chỉ là điều đáng nghi ngờ mà còn thực sự gây sốc cho không ít người. BIDV là đơn vị “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới” với thương hiệu mạnh, được tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Investors Service đánh giá cao, tại sao lại có tỷ lệ nợ xấu cao như vậy?
Ông Lê Ngọc Quỳnh – Giám đốc Ban Quản lý tín dụng BIDV cho biết, nếu thực hiện theo điều 6, Quyết định 493 thì tỷ lệ nợ xấu của BIDV chỉ là 3,2%. Do quyết định thực hiện phân loại nợ theo điều 7 – gần hơn với thông lệ quốc tế nên con số này tăng lên 9,6%. Dưới đây là bảng phân loại nợ của BIDV tại thời điểm 31/12/2025 (theo Điều 7 QĐ 493) theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế:
- Bảng 2.5: Kết quả phân loại nợ của BIDV tại thời điểm 31/12/06
Theo cách phân loại nợ này, BIDV cũng đã tiến hành phân loại nợ lại các năm 2023, 2024 với tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ lần lượt là 14,56% và 12,47%. Như vậy, nhìn chung qua 3 năm tỷ lệ nợ xấu có giảm tương đối song vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợ BIDV.
2.2.2 Chưa đạt tới tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo yêu cầu Basel II
Theo yêu cầu của Hiệp ước Basel II, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) phải đạt mức trên 8% theo các tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế. Tại BIDV, dù đã có nhiều nỗ lực nhằm cải thiện hệ số CAR trong những năm qua và bước đầu đã đạt được yêu cầu này nếu tính theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam, nhưng nếu xét theo hệ thống kiểm toán quốc tế IFRS thì chỉ số này còn kém xa so với yêu cầu. (đến cuối 2025 chỉ đạt 5.9 % – xem bảng 2.2 ở trên)
Ngoài ra, công tác xác định trọng số RRTD cho mỗi tài sản có của BIDV cũng chưa thực hiện theo đúng các quy định của Basel II. Phương pháp đo lường RRTD theo Đánh giá nội bộ (Internal Ratings Based – IRB) mà BIDV lựa chọn dựa trên kết quả của xếp hạng tín dụng nội bộ chưa được thực hiện đầy đủ để xác định RRTD đối với mọi loại tài sản có, chưa xác định được chính xác các cấu phần xác suất vỡ nợ (Probability of Default – PD), mất vốn do vỡ nợ( Loss given Default – LGD), rủi ro vỡ nợ (Exposure at Default – EAD) và kỳ hạn hiệu lực (Effective Maturity – EM) để từ đó xác định Tổn thất dự kiến (Expected Loss- EL) và không dự kiến (Unexpected Loss – UL) nhằm trích lập dự phòng để bù đắp từ nguồn chênh lệch kinh doanh tạo ra(đối với EL) và quy định một mức tính toán vốn an toàn tín dụng căn cứ theo từng chỉ tiêu PD, LGD, EAD của từng nhóm rủi ro phân loại ở trên. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
2.2.3 Phân tích, đánh giá rủi ro từ phía khách hàng còn nhiều bất cập
Nhân viên tín dụng BIDV còn gặp nhiều khó khăn trong việc đánh giá tài chính của khách hàng vay. Việc đánh giá nhầm, đánh giá không chính xác tình hình tài chính khách hàng vẫn còn xảy ra tại nhiều chi nhánh. Còn có tình trạng một khách hàng vay vốn tại nhiều NHTM nhưng không có sự kiểm tra, đánh giá về mức độ rủi ro. Chẳng hạn gần đây, trong tháng 9/2026, theo Đài truyền hình Việt Nam đưa tin, một người vay được vốn tại cả chi nhánh BIDV và Agribank Đà Nẵng đã bị phát hiện là làm giả hồ sơ, giấy tờ nhà đất làm tài sản bảo đảm để cho vay với lượng vốn lên tới trên 20 tỷ đồng. Qua đó có thể thấy, vẫn còn nhiều “lỗ hổng” trong công tác thẩm định tư cách người vay, thẩm định tài sản bảo đảm của BIDV tại các chi nhánh.
2.2.4 Chưa có hệ thống quản lý tài sản bảo đảm
Một tổ chức tín dụng có thể giảm RRTD bằng nhận cầm cố, thế chấp khi cho vay tuy nhiên việc xác định giá trị của các tài sản bảo đảm cũng như việc phát mại chúng khi khách hàng vỡ nợ không phải là điều đơn giản. Để làm được điều này mỗi ngân hàng cần phải xây dựng cho mình một hệ thống quản lý tài sản bảo đảm. Hệ thống này sẽ đưa ra căn cứ để xác định xác suất mất vốn do vỡ nợ; đồng thời cũng cho phép áp dụng các nghiệp vụ bù trừ giá trị tài sản bảo đảm hay nghiệp vụ chiết khấu giá trị tài sản bảo đảm trong trường hợp xảy ra vỡ nợ.
Mặc dù đã ý thức được tầm quan trọng của tài sản đảm bảo trong việc giảm thiểu rủi ro khoản cho vay và đã có những chuyển biến tích cực về cơ cấu dư nợ có tài sản bảo đảm như đã đề cập ở trên, song tại BIDV vẫn chưa có một hệ thống quản lý tài sản bảo đảm. Hệ thống này nhằm đảm bảo khả năng kiểm soát toàn bộ tài sản bảo đảm, đảm bảo rằng sẽ không xảy ra rủi ro pháp lý đối với hồ sơ cũng như khả năng linh hoạt trong việc đánh giá giá trị hiện thời.
2.3 Nguyên nhân của các hạn chế Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
2.3.1 Nguyên nhân khách quan
- Sự can thiệp của Chính phủ, NHNN và các cơ quan nhà nước vào các quyết định cho vay của các NHTM Quốc doanh
Một trong những yêu cầu rất quan trọng khi gia nhập WTO là giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Đây cũng là yêu cầu nội tại của nền kinh tế. Tức là, tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định, có khả năng dự đoán được và minh bạch. Luật các Tổ chức tín dụng cũng chỉ rõ, không cá nhân hoặc tổ chức nào có quyền gây sức ép đối với tổ chức tín dụng khi ra quyết định cấp tín dụng. Nhưng trên thực tế, sức ép này là hiện hữu.
Nhà nước với chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế được gắn chặt với Nhà nước – người chủ sở hữu duy nhất ngân hàng, quyết định toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ – tín dụng của NHTM. Có thể với nhiều loại hình doanh nghiệp, hai vai trò trên của Nhà nước sẽ được phân tách rất rõ ràng. Tuy nhiên, đối với ngân hàng thì lại khác. Chỉ cần có 1 đồng, về lí thuyết, Nhà nước có thể huy động khoảng 20 đồng của xã hội thông qua hệ thống ngân hàng của mình.
Với một thực tế là tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà Nước (ngân hàng Trung Ương) có chi nhánh ở tất cả các tỉnh và thành phố. Các chi nhánh này có chức năng giám sát hoạt động ngân hàng trên địa bàn, trong quản lý điều hành của các chi nhánh này đôi khi có mối quan hệ khá gần gũi với Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh hoặc chi nhánh ngân hàng nhà nước cấp tỉnh. Mối quan hệ gần gũi này có thể dẫn đến hệ quả là các quyết định cho vay vốn phải đáp ứng các mục tiêu phát triển của địa phương hơn là đáp ứng mục tiêu vì lợi nhuận của các ngân hàng thương mại nhà nước. Các quyết định này có thể không đáp ứng mục tiêu kinh doanh vì lợi nhuận của ngân hàng nhưng lại đáp ứng được nhu cầu của chính quyền địa phương.
Tại nhiều địa phương, các cấp chính quyền, đoàn thể coi ngân hàng như kênh tài trợ quan trọng khi kênh ngân sách có khó khăn. Họ gây áp lực cho ngân hàng bỏ qua kỷ luật tín dụng để tài trợ cho những dự án có phương diện tài chính thì yếu kém, song kỳ vọng về mặt xã hội lại lớn. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
- Thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng
Nguyên nhân khách quan thứ hai lý giải những hạn chế trong việc hoàn thiện công tác quản trị RRTD theo Basel II của BIDV đó là thiếu các thông tin thị trường để xem xét phân tích trước khi cấp tín dụng. Tại Việt Nam, tỷ lệ các ngân hàng đánh giá đây là vấn đề khó đối với họ trong cung ứng vốn là 22,2%.
Hoạt động cung cấp thông tin phòng ngừa rủi ro đã được quan tâm hơn trong những năm gần đây, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin về khách hàng của các tổ chức tín dụng. Thậm chí, bản thân các ngân hàng cũng còn giữ bí mật với nhau về vấn đề này. Một vài ngân hàng vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc báo cáo và khai thác thông tin từ Trung tâm Thông tin tín dụng là nghĩa vụ và quyền lợi nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.Điều này thể hiện tình trạng thiếu các thông tin thị trường tin cậy tại Việt Nam cũng như thiếu các tổ chức và hạn chế về động lực giúp các ngân hàng đánh giá đúng hồ sơ vay nợ hoặc thu hồi các khoản nợ từ những người đi vay không có khả năng hoàn vốn.
- Sự thiếu minh bạch về tình hình tài chính của bên vay vốn
Một môi trường minh bạch, công khai hoá các thông tin của định chế tài chính và các doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn rất mờ nhạt. Kiểm toán tài chính của doanh nghiệp gần như mới chỉ được tiến hành khi có yêu cầu từ cơ quan nhà nước, chưa trở thành điều bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp. Hoạt động của kiểm toán độc lập còn khiêm tốn. Những yếu tố này càng làm cho RRTD xuất phát từ thông tin không cân xứng của các ngân hàng trong đó có BIDV lớn hơn. Thực tế tại Việt Nam, mức độ minh bạch của hầu hết các doanh nghiệp còn hạn chế. Một phần là do hệ thống kế toán chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế. Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp thấp cả về số lượng và chất lượng. Và ngân hàng có xu hướng thận trọng với các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng e ngại ở mức độ cao về chất lượng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân đều thiếu tính minh bạch và hoạt động kế toán của họ thiếu tính tin cậy, không đạt tiêu chuẩn quốc tế. Điều dễ hiểu là các ngân hàng sẽ gặp rủi ro lớn nếu họ cung ứng vốn cho các doanh nghiệp dạng này. Nghiên cứu của Markus và Phạm Thị Hằng – ngân hàng ADB (2023)[36] cho thấy: “Ba phần tư các ngân hàng (72%) cho rằng họ không tin vào nội dung của hầu hết các báo cáo tài chính mà họ thấy. Hai phần ba (60%) trả lời rằng báo cáo mà họ thấy khác so với báo cáo nộp cho cơ quan thuế”. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Biểu đồ 2.8: Các yếu tố quan trọng ngân hàng xem xét khi cấp tín dụng
- Các quy định pháp luật hỗ trợ quyền chủ nợ của NHTM đối với tài sản thế chấp chưa được đảm bảo chặt chẽ
Mặc dù hiện nay nhiều ngân hàng đã nhận thức được việc thẩm định cho vay phải dựa vào dự án khả thi, vào năng lực tín dụng và giá trị các dòng tiền, nhưng trên thực tế thì tài sản thế chấp vẫn là một trong những căn cứ chủ yếu trong quyết định cho vay. Vấn đề ở đây là khuôn khổ quy định pháp lý về tài sản thế chấp hiện vẫn chưa rõ ràng và các ngân hàng nhận thức một cách đầy đủ về những khó khăn thực tế trong việc phát mại tài sản thế chấp của người vay (đặc biệt là với đất đai) trong trường hợp họ không trả được nợ. Do đó, một số ngân hàng có quy chế nội bộ chỉ cho vay đến 50% giá trị thị trường hoặc thậm chí thấp hơn giá trị của tài sản thế chấp.
Bởi cơ chế thị trường cũng mới được thiết lập tại Việt Nam nên vấn đề đánh giá giá trị tài sản doanh nghiệp cũng là một khó khăn cho ngân hàng.
Do chưa có tiêu chuẩn rõ ràng, nên việc định giá tài sản thế chấp dựa chủ yếu vào quan điểm chủ quan của nhân viên tín dụng Với năng lực tài chính hạn chế, tài sản thế chấp của hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân không đáp ứng tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng. Một số ngân hàng phàn nàn rằng thời gian cấp “sổ đỏ” hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rất chậm và quy trình không hợp lý. Nhưng nếu không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp và cá nhân không thể vay vốn ngân hàng.
- Thông lệ vốn phân bổ cho các Doanh nghiệp nhà nước của các NHTM Quốc doanh
Cho đến nay, NHTM quốc doanh vẫn là người cho vay doanh nghiệp nhà nước lớn nhất do: mối quan hệ truyền thống, nhu cầu vay lớn và khả năng cho vay lớn (ngân hàng thương mại cổ phần khó đáp ứng).
Đây là một trong những nguyên nhân gây ra nợ xấu, nợ tồn đọng cho các NHTM quốc doanh. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam khoảng 20.000 tỷ đồng(2024), phần lớn khoản nợ xấu này là từ các doanh nghiệp nhà nước. Nguyên nhân của của tình trạng này một phần là do thiếu thông tin tài chính doanh nghiệp, thiếu các dự án khả thi[3]. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt nam chi nhánh Hà Nội, 99,84% nợ xấu ở Hà Nội là từ các doanh nghiệp nhà nước. Theo điều tra của VDF, 2024, 91,66% các doanh nghiệp được điều tra cho rằng các dự án thất bại tại các doanh nghiệp nhà nước là cao hơn tại các doanh nghiệp tư nhân. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Tóm lại, từ những phân tích trên có thể thấy các nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến khả năng quản trị RRTD cũng như cản trở việc tăng cường năng lực quản trị RRTD của các NHTM Việt Nam tương đối đa dạng, gây khó khăn không nhỏ cho các NHTM trong việc đưa ra quyết định tín dụng một cách hợp lý, chính xác nhất. Những khó khăn này có thể tổng hợp lại qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2.9: Các vấn đề khó xác định của các NHTM khi cung ứng vốn vay
3.3.2 Nguyên nhân chủ quan
- Công tác quản trị rủi ro tín dụng chưa được tiến hành một cách bài bản
Như đã phân tích trong phần Các khó khăn chủ quan của BIDV, đây là lần đầu tiên một ngân hàng thương mại Việt Nam, lại là một ngân hàng quốc doanh triển khai hoạt động quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn quốc tế. Do vậy, trong quá trình triển khai không khỏi bỡ ngỡ. Dù đã có sự thống nhất ý chí trên toàn hệ thống BIDV, song phần đông cán bộ nhân viên còn xa lạ với các quy trình quản trị rủi ro tín dụng quy chuẩn, do vậy việc thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu tính bài bản, chuyên nghiệp. Bộ phận quản lý rủi ro tuy đã có những đường hướng chỉ đạo đúng đắn, song còn chưa nhiều kinh nghiệm, chưa đủ trình độ chuyên môn để giải quyết kịp thời những bất cập xảy ra trong quá trình thực hiện,
- Nguyên nhân mang tính lịch sử của BIDV về vấn đề nợ xấu
Thành lập từ năm 1957, với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết, và cũng như nhiều NHTM khác, BIDV thực hiện giải ngân theo kế hoạch; cho vay theo chỉ định nhiều công trình lớn; cho vay không cần tài sản thế chấp đối với các doanh nghiệp nhà nước. Năm 2020 khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 149/2020/QĐ-TTg về xử lý nợ tồn đọng, các NHTM khác đều xử lý được những khoản nợ quá hạn lên đến vài ngàn tỷ đồng, thì BIDV “cộng trên giời, dưới đất”, nợ quá hạn chỉ là 856 tỷ đồng.
Sở dĩ số nợ quá hạn của BIDV thấp hơn nhiều so với các ngân hàng khác (tại thời điểm đó) là do: các ngân hàng khác chủ yếu cho vay ngắn hạn nên khi Quyết định 149 có hiệu lực, ngay lập tức các khoản nợ quá hạn của họ đều “hiển hiện” trên sổ sách. Trong khi các NHTM khác có cơ hội để xử lý những khoản nợ tồn đọng lớn của mình, thì BIDV không xử lý được. Vì hầu hết những công trình mà BIDV đầu tư đều có thời hạn cho vay dài, và theo quy định, khoản vay chỉ được thanh toán khi công trình đã hoàn thành, được nghiệm thu. Nên khi áp dụng quyết định 149 các khoản nợ đó chưa thể gọi là nợ quá hạn.
Đến năm 2022 – 2023, khi các công trình lớn được hoàn thành và đến hạn trả nợ thì rất nhiều doanh nghiệp nhà nước (được cho vay theo kế hoạch) không có khả năng thanh toán. Căn cứ theo Quyết định 488/QĐ – NHNN, rồi Quyết định 493/QĐ-NHNN các khoản nợ này bị chuyển thành nợ xấu… Đó là nguyên nhân tại sao tỷ lệ nợ xấu của BIDV lại cao.
- Công tác thu nợ còn hạn chế Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
Công tác thu nợ là rất quan trọng trong hoạt động cấp tín dụng, nó đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải có năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất tốt kể từ khâu phân tích thẩm định khách hàng, bởi một khoản tín dụng có độ rủi ro cao hay thấp sẽ phụ thuộc rất lớn từ khâu đầu tiên này. Đối với ngân hàng, một khoản tín dụng cấp ra phải đạt chất lượng – tức phải thu hồi được nợ, lãi đúng hạn thì đó là kết quả của sự thận trọng và thường xuyên trong phân tích, đánh giá, kiểm tra của cán bộ tín dụng từ lúc khách hàng vay vốn, sử dụng vốn đến khi trả nợ và lãi cho ngân hàng. Tại BIDV, do tính chất đặc thù của các khoản vay là tập trung vào ngành xây dựng, giao thông vận tải là các ngành tương đối dễ bị đọng vốn vào các dự án, công trình có lượng vốn vay lớn, thời gian vay dài nên không tránh khỏi những trở ngại trong quá trình thu hồi nợ. Thực tế, rất nhiều khoản vay của BIDV đã không thể thu hồi, hoặc thu hồi chậm trễ do sự ngừng trệ, đình đốn ngoài dự kiến của các công trình dự án này, khiến cho tình trạng RRTD trầm trọng hơn.
- Bản thân ngân hàng chưa hội đủ các nguồn lực cần thiết để đáp ứng các chuẩn mực Basel II
Mặc dù là một trong những NHTM hàng đầu Việt Nam, nhưng nếu so sánh với mặt bằng chung thế giới thì ngân hàng BIDV còn kém về nhiều mặt. Vốn tự có thấp, chỉ bằng khoảng 1/5 so với một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực. Năng lực tài chính yếu dẫn đến khả năng duy trì, nâng cao hệ số an toàn vốn tối thiểu gặp khó khăn do vốn “mỏng”, trình độ quản lý kinh doanh non yếu, công tác quản lý rủi ro ngân hàng chưa chặt chẽ, mang tính thiếu chuyên nghiệp. Thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ lệ cao (trên 60%) và cho vay vẫn chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm. Trong khi đó, năng lực thẩm định tín dụng yếu, nguyên tắc kiểm tra, kiểm soát nội bộ còn thiếu chặt chẽ, sản phẩm tín dụng còn nghèo nàn đơn điệu, các sản phẩm, dịch vụ tiên tiến ít rủi ro đi kèm còn xa lạ chưa có môi trườmg thực thi; hạch toán, phân loại nợ, thống kê thông tin tín dụng chưa đảm bảo tính chính xác, minh bạch, trình độ công nghệ còn chậm tiến so với các nước trong khu vực… Hội tụ những điều này làm cho BIDV không thể ngay lập tức hoàn thiện công tác quản trị RRTD của ngân hàng mình theo mọi tiêu chuẩn của Basel II được.
Khái quát lại tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV xét trong mối liên hệ với việc đáp ứng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel II, có thể thấy ngân hàng đã đạt được một số những thành công đáng khích lệ như: Xây dựng thành công hệ thống xếp hạng nội bộ, thành lập bộ phận chuyên trách là Hội đồng quản trị rủi ro trong đó nhấn mạnh quản trị rủi ro tín dụng, minh bạch, công khai tài chính theo chuẩn quốc tế, hệ số an toàn vốn không ngừng được cải thiện… nhưng nhìn chung, tất cả những thành công này chỉ mới dừng lại là bước đệm, là sự chuẩn bị cho ngân hàng từng bước đáp ứng các chuẩn mực Basel II. Trên thực tế, tỷ lệ nợ xấu của BIDV còn cao; tỷ lệ an toàn vốn chưa đạt yêu cầu, hoạt động còn chứa đựng nhiều rủi ro trong khâu đánh giá khách hàng, thẩm định tài sản bảo đảm, chưa xây dựng được một số hệ thống cần thiết (thông tin, quản lý tài sản bảo đảm). Do vậy, để hoàn thiện công tác quản trị RRTD tại ngân hàng BIDV nhằm đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực của Hiệp ước Basel II thì còn rất nhiều việc phải làm. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Biện pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV


Pingback: Khóa luận: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV