Chia sẻ đề tài Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE cho các bạn đang chuẩn bị làm bài tiểu luận cùng nhau tham khảo nhé. Tiểu luận môn học là một trong những yêu cầu bắt buộc của các trường đại học, và Cao Học. Đối với sinh viên hay học viên tất cả các khóa học đều bắt buộc phải làm một bài tiểu luận, với đề tài bắt buộc hoặc là một đề tài cụ thể nào đó ví dư như đề tài: Tiểu luận Chiến lược kinh doanh Vinaphone giai đoạn 2010 – 2020 các bạn cùng tham khảo đề tài tiểu luận dưới đây nhé.
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH, HOÀN CẢNH NỘI BỘ VINAPHONE
1. Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
1.1. Môi trường vĩ mô
1.1.1. Yếu tố kinh tế
Trong những năm gần đây, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kinh tế Việt Nam có những bước phát triển đáng kể: GDP ngày càng tăng nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế hơn 7% mỗi năm.
Cơ cấu kinh tế cả nước đang có sự thay đổi khi các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu nền kinh tế quốc gia; kéo theo đó là sự dịch chuyển về mặt cơ học trong lực lượng lao động giữa các ngành kinh tế.
Việc hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, việc đơn giản hóa các thủ tục cấp phép đã làm số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, tạo việc làm cho nhiều lao động hơn và thu hút nguồn lao động ở các tỉnh khác, từ đó tăng thu nhập và kéo theo nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di động tăng cao.
Hệ thống ngân hàng, công ty tài chính phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng làm tăng khả năng luân chuyển vốn. Bên cạnh đó, chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích đầu tư nước ngoài, hợp tác liên doanh làm cho môi trường đầu tư trở nên đa dạng, phong phú, góp phần tạo ra lực lượng lớn khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ thông tin di động cao.
Số thuê bao điện thoại mới 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 22,8 triệu thuê bao, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm 707,7 nghìn thuê bao cố định, giảm 58,7% và 22,1 triệu thuê bao di động, tăng 18,7%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến hết tháng 6/2009 đạt 151 triệu thuê bao, tăng 48,5% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 17,5 triệu thuê bao cố định, tăng 10,7% và 133,5 triệu thuê bao di động, tăng 55,4%. Số thuê bao điện thoại của Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông tính đến hết tháng 6/2009 đạt 79,4 triệu thuê bao, tăng 35,6% so với cùng thời điểm năm 2008, bao gồm 11,6 triệu thuê bao cố định, tăng 4,4% và 67,8 triệu thuê bao di động, tăng 43%.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
1.1.2. Yếu tố chính trị, pháp luật
Tình hình chính trị ổn định gắn liền với những thành tựu đổi mới kinh tế đang ngày càng củng cố niềm tin trong nhân dân và trong lòng bạn bè quốc tế vào chủ trương, đường lối mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra. Đó cũng là một ưu thế trong việc tạo lập và triển khai các chiến lược đầu tư dài hạn của Vinaphone.
Ngày 15/8/1987, chính phủ ra nghị định số 121/HĐBT ban hành điều lệ Bưu chính Viễn thông. Theo qui định tại nghị định này, việc cung cấp các dịch vụ bưu chính viễn thông thuộc độc quyền Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế, cơ chế quản lý nhà nước lúc bấy giờ và đã tạo ra hành lang pháp lý rất quan trọng trong việc phát triển và quản lý ngành Bưu điện.
Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng phục vụ cho người sử dụng dịch vụ viễn thông ngày càng tốt hơn, phù hợp với chính sách mở cửa thu hút đầu tư của nhà nước, chính phủ đã từng bước hạn chế độc quyền bằng cách cho phép thành lập các công ty kinh doanh dịch vụ viễn thông. Cụ thể, từ năm 1995, chính phủ đã chính thức cho phép hai doanh nghiệp nhà nước là Công Ty Viễn Thông Quân Đội (Viettel) và Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Bưu Chính Viễn Thông Sài Gòn (SPT) thành lập, cung cấp các dịch vụ viễn thông trong nước và quốc tế. Hiện nay, SPT và Viettel cũng chính thức có mặt trên thị trường thông tin di động và đang cạnh tranh rất gay gắt với Vinaphone và Mobifone. Bên cạnh đó, bộ BCVT cũng đã cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ này cho hai đối thủ mới là VP Telecom và Hanoi Telecom vào đầu năm 2005. Để đảm bảo cạnh tranh công bằng, chính phủ cũng ban hành các qui định về:
- Việc kết nối các mạng viễn thông công cộng: quyết định số 547/1998/QĐ– TCBĐ của Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Bưu Điện.
- Quản lý giá cước: theo quyết định số 217/2003/QĐ của Thủ tướng Chính phủ.
- Cước dịch vụ thông tin di động trả sau GSM của VNPT: theo quyết định số 28/2004/QĐ–BBCVT của Bộ trưởng Bộ
Theo đó, tình hình trên thị trường hiện nay sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho Vinaphone. Vinaphone phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn và ngoài Mobifone, các đối thủ khác đều có lợi thế hơn hẳn về giá cước dịch vụ.
Ngày 13/07/2000, Việt Nam và Mỹ đã ký kết hiệp định về các quan hệ thương mại gọi là hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Thị trường viễn thông Việt Nam sẽ bị chia sẻ và cạnh tranh quyết liệt hơn vì các công ty viễn thông của Mỹ đều là những công ty lớn có kinh nghiệm lâu năm, khả năng quản lý rất tốt và nguồn tài chính mạnh.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
1.1.3. Yếu tố công nghệ
Là một nước đi sau các quốc gia khác trong lĩnh vực viễn thông, Việt Nam lại có được một lợi thế rất lớn là tiếp cận và học hỏi được nhiều công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Cũng nhờ vào yếu tố công nghệ phát triển đó mà GPC đã sản xuất được loại thẻ sim mới giá thành rẻ hơn trước tạo điều kiện thuận lợi cho việc hạ giá cước hòa mạng, thu hút nhiều khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh cho Vinaphone.
Với sự bùng nổ của những tiến bộ về công nghệ và khoa học kỹ thuật, thị trường viễn thông Việt Nam gần đây phát triển với tốc độ nhanh chóng, nhiều loại hình dịch vụ mới với chất lượng cao đã và đang xuất hiện đòi hỏi GPC phải luôn chú ý nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.
Viễn thông là một ngành mũi nhọn của đất nước, công nghệ thay đổi nhanh chóng nên cần phải thường xuyên học hỏi, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại để tránh tình trạng công nghệ quá lạc hậu, không đáp ứng tốt nhu cầu. Bên cạnh đó, các máy móc thiết bị viễn thông rất đắc cùng với vấn đề hao mòn vô hình, công nghệ nhanh chóng lạc hậu gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp viễn thông trong việc đầu tư, nâng cấp mạng lưới. Cho nên, GPC cần phải hiểu rõ những biến đổi đang diễn ra, đồng thời có khả năng phân tích dự đoán chính xác chu kỳ sống của công nghệ, thiết bị thông tin viễn thông nhằm nhận thức và làm chủ được những thay đổi và khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đó vào doanh nghiệp của mình
Kỹ thuật tiến bộ hiện nay là công nghệ CDMA mà đối thủ cạnh tranh S–Fone đang ứng dụng trở thành một thách thức lớn mà mạng Vinaphone phải đối mặt. Ngoài việc mang lại lợi ích cho các nhà khai thác cũng như cung cấp dung lượng cao, phủ sóng rộng hơn hẳn so với các hệ thống thông tin di động khác, có khả năng tối ưu hóa hệ thống cao, CDMA còn mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng nhờ áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến không có ở các hệ thống khác, có khả năng nâng cao chất lượng tín hiệu lên ngang với hệ thống điện thoại hữu tuyến. Mạng Vinaphone đang nghiên cứu nâng cấp công nghệ GSM thế hệ thứ hai lên GSM thế hệ thứ ba để tránh tụt hậu công nghệ và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
1.1.4. Yếu tố văn hóa – xã hội( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc ngày nay đã trở thành nhu cầu thiết yếu của xã hội. Mức sống ngày càng cao, nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông hàng ngày trong sinh hoạt và kinh doanh càng nhiều. Việc sử dụng điện thoại di động đang ngày càng trở nên phổ biến hơn đối với hầu hết những khách hàng có nhu cầu lớn trong việc trao đổi thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời. Đây là một thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động phát triển.
Với chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, đất nước ta không chỉ đổi mới về kinh tế mà trong nền văn hóa cũng đã có những màu sắc mới. Bên cạnh nền văn hóa truyền thống, những đổi mới về văn hóa đã ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu sử dụng điện thoại di động. Lớp trẻ ngày nay ngoài một số người thật sự có nhu cầu sử dụng điện thoại di động, còn lại thích sử dụng di động như một món hàng thời trang và mang tính phong trào. Điều này được thấy rất rõ qua việc sử dụng điện thoại di động đắt tiền, nhà cung cấp dịch vụ có uy tín, đòi hỏi nhiều dịch vụ cộng thêm, dịch vụ giá trị gia tăng mới và hay thay đổi điện thoại di động….
Phong trào nhắn tin cũng đang trở thành “Mode”. Người ta có thể nhắn tin mọi lúc, mọi nơi mà giá cước rẻ hơn nhiều so với giá cước một cuộc gọi. Đây là dấu hiệu tích cực cho việc khai thác kinh doanh dịch vụ bản tin ngắn, dịch vụ nhắn tin đa phương tiện, dịch vụ điện thoại di động trả trước một chiều.
1.1.5. Yếu tố tự nhiên
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới khá ổn định, thuận lợi cho công tác bảo dưỡng, chống sét cho các trạm thu phát sóng và tổng đài chuyển mạch.
1.2. Môi trường vi mô
1.2.1.Khách hàng
Trong môi trường cạnh tranh, khách hàng luôn là người được lợi vì doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong môi trường đó cần phải tìm mọi cách nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Nghiên cứu nhân tố khách hàng sẽ giúp cho Công ty xác định được nhu cầu nào của khách hàng chưa được thỏa mãn, khả năng chi trả hay mức độ sử dụng của từng nhóm khách hàng là bao nhiêu. Từ đó, Công ty sẽ hiểu được khách hàng và biết được cách thỏa mãn nhu cầu của họ. Khách hàng của Vinaphone có hai nhóm:( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
1.2.1.a. Nhóm khách hàng là người mua đi bán lại
Khách hàng này chính là những đại lý, các cửa hàng điện thoại di động. Mục đích mua sản phẩm của họ là để kiếm lời. Chính những khách hàng này đã góp phần tạo nên mạng lưới phân phối rộng khắp cho Công ty. Bán sản phẩm cho những khách hàng này, Công ty không chỉ lợi về việc tăng doanh thu mà còn lợi về việc mở rộng kênh phân phối. Dịch vụ nhóm khách hàng này mua để bán lại chủ yếu là thẻ cào và bộ Kit. Công ty nên có những chính sách hỗ trợ đại lý kinh doanh, chăm sóc đại lý thật tốt, đặc biệt cần chú ý đến việc tăng hoa hồng để tăng cường mối quan hệ, giữ vững lòng trung thành của họ.
1.2.1.b. Nhóm khách hàng là người tiêu dùng
Đây là nhóm khách hàng mua dịch vụ nhằm mục đích sử dụng. Ta tiến hành nghiên cứu nhóm khách hàng theo các tiêu thức sau:
A- Theo tiêu thức độ tuổi:
Ø Độ tuổi 12 – 24 và 60 – 69:
- Nghề nghiệp: học sinh, sinh viên, người về hưu
- Tính chất công việc: thông tin liên lạc bạn bè, người thân, vui chơi, giải trí.
- Thu nhập: đa số kinh tế phụ thuộc hoặc có thu nhập thấp.
- Nhu cầu sử dụng:
- Chủ yếu nhắn tin và nhận cuộc gọi.
- Nhu cầu khai thác các dịch vụ giá trị gia tăng cao.
- Rất nhạy cảm với các chương trình giải trí qua di động, các chương trình khuyến mãi.
- Quyết định sử dụng dịch vụ qua các đợt khuyến mãi hoặc qua lời giới thiệu của bạn bè.
Nhóm khách hàng này thường sử dụng Vinatext, TalkEZ và Vinacard (loại thẻ cào 100.000đ)
Độ tuổi 25 – 59:( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
- Nghề nghiệp: nằm trong thành phần kinh tế nhà nước, tư nhân, liên doanh,… và có thu nhập ổn định.
- Tính chất công việc: di chuyển nhiều, mức độ sử dụng thông tin cho công việc lớn, sử dụng thoại với tần suất
- Thu nhập: mức khá (>2 triệu) và mức cao (>5 triệu)
- Nhu cầu sử dụng:
- Tiếp nhận và xử lý thông tin
- Cường độ sử dụng lớn, chủ yếu dùng cho thông tin liên lạc.
- Lựa chọn sử dụng dịch vụ thông qua nhiều nguồn khác nhau như báo chí, truyền hình, tờ rơi, đại lý, lời giới thiệu…
- Yêu cầu chất lượng cao, dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt.
Nhóm đối tượng này thường sử dụng Vinacard, Vinadaily, Vinaphone.
B- Theo tiêu thức cường độ sử dụng:
C- Theo tiêu thức loại dịch vụ sử dụng: chia thành hai nhóm
Nhóm khách hàng sử dụng dịch vụ trả sau: nhóm khách hàng này có các đặc điểm sau:
- Có thu nhập từ trung bình trở lên.
- Có nhu cầu gọi nhiều, thường xuyên và liên tục.
- Có đủ điều kiện hòa mạng.
- Muốn có quyền kiểm soát cuộc gọi thông qua “Bản chi tiết cuộc gọi” được cung cấp từ Vinaphone.
- Là những khách hàng trung thành với dịch vụ.
- Ít bị tác động bởi các chương trình chiêu thị.
Nhóm khách hàng sử dụng dịch vụ trả trước: có các đặc điểm sau:
- Khách hàng có thu nhập từ trung bình trở xuống.
- Có nhu cầu gọi ít (thường xuyên nhận cuộc gọi nhiều).
- Không đủ thủ tục hòa mạng hoặc không thích xuất trình hộ khẩu (hoặc giấy phép hoạt động nếu là công ty).
- Thích chủ động trong việc sử dụng dịch vụ.
- Muốn tự kiểm soát cuộc gọi thông qua hộp thư thoại
- Luôn bị kích thích bởi các chương trình chiêu thị của Công
- Dễ rời bỏ mạng.
- Đa số là khách hàng cá nhân.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
D Theo tiêu thức đối tượng sử dụng:
Qua kết quả thống kê trên, ta thấy khách hàng của Vinaphone rất đa dạng, chủ yếu tập trung vào cá nhân, công ty TNHH, DNTN (chiếm tỷ lệ rất cao 89,2%), khối các công ty, tổ chức nước ngoài, liên doanh chiếm tỷ lệ thấp nhất 4,3% mặc dù nhóm khách hàng này sử dụng cước cao. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là dịch vụ Vinaphone ra đời sau MobiFone hai năm nên MobiFone đã thu hút được các công ty này. Trong quá trình kinh doanh, các công ty này không muốn chuyển đổi sang nhà cung ứng dịch vụ khác. Mặt khác, khi muốn hòa mạng cho nhân viên sử dụng, họ cũng chỉ muốn tập trung vào sử dụng một mạng để dễ quản lý vấn đề thanh toán cước phí.
Trong thời gian tới, Vinaphone cần chú trọng phát triển nhóm khách hàng này vì họ có khả năng thanh toán cước phí cao và nhu cầu sử dụng nhiều.
1.2.2. Sản phẩm thay thế
Đối với dịch vụ thông tin di động, các sản phẩm thay thế đáng chú ý có thể kể ra là: CardPhone, điện thoại cố định, điện thoại Internet, VoIP…. Mặc dù các sản phẩm này trên lý thuyết là có thể thay thế cho dịch vụ di động nhưng xét theo tính năng thì vẫn thiếu một tiêu chuẩn quan trọng nhất để có thể cạnh tranh với điện thoại di động, đó là khả năng di chuyển của thuê bao. Vì thế, những sản phẩm thay thế trên không ảnh hưởng nghiêm trọng đến dịch vụ thông tin di động. Tuy nhiên, sự phát triển rầm rộ của các sản phẩm thay thế trên sẽ tạo thêm nhiều sự lựa chọn cho khách hàng, và trở thành một trong những yếu tố làm giảm doanh thu một số dịch vụ mà Vinaphone đang triển khai.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
1.2.3. Nhà cung cấp
Nhà cung cấp chính là: Siemens, Ericsson, Motorola và Nokia. Motorola sẽ cung cấp hạ tầng cơ sở và các giải pháp GSM hàng đầu cũng như một loạt các dịch vụ toàn diện, bao gồm tối ưu hoá hệ thống mạng, vận hành và bảo dưỡng nhằm mở rộng mạng di động và các dịch vụ di động của Vinaphone, như mở rộng vùng phủ sóng GPRS ở Việt Nam và cung cấp dịch vụ EDGE tại các đô thị lớn. Nokia sẽ cung cấp 4 thiết bị tổng đài MSC dung lượng 1,6 triệu số.
1.2.4. Đối thủ cạnh tranh hiên tai
- Dịch vụ điện thoại di động Viettel Mobile – Công Ty Viễn Thông Quân Đội
Mạng Viettel sử dụng công nghệ GSM 900 với 1 MSC và hơn 300 BTS, khai trương vào ngày 15/10/2004. Hiện nay, mạng Viettel đã có khoảng 50 triệu thuê bao điện thoại, trở thành nhà cung ứng dịch vụ thông tin di động lớn nhất tại Việt Nam.
Điểm mạnh:
- Đặc điểm mạng:
- Cơ sở hạ tầng sẵn có (của quân đội), sử dụng công nghệ
- Nhờ vào lợi thế của người đi sau, Viettel đi thẳng lên GPRS và
- Vùng phủ sóng: mạng Viettel đã phủ sóng 64/64 tỉnh thành phố.
- Chiêu thị:
- Liên tục quảng cáo trên các phương tiện truyền thông như báo chí, Internet, truyền hình, chương trình quảng cáo hay và khá độc đáo.
- Tham gia chương trình “quỹ vì người nghèo” bằng cách tặng số điện thoại đẹp cho những người hảo tâm đóng góp vào quỹ này, bán đấu giá các số điện thoại đẹp.
- Các chương trình khuyến mãi, khuyến mại cũng đang được thực hiện rầm rộ.
Điểm yếu:
- Chất lượng mạng có xu hướng giảm sút gần đây do phát triển thuê bao ồ ạt, chế độ khuyến mại kém dần trừ khuyến mãi cho thuê bao dùng lâu dài.
- Vùng phủ sóng hạn chế, chất lượng sóng còn chưa tốt, đã phủ sóng được 64/64 tỉnh thành nhưng tổng cộng cả nước thì Viettel Mobile mới có khoảng trên 300 trạm
Vì mới ra đời vào năm 2004 nên hệ thống phân phối của Viettel Mobile khá mỏng, số lượng cửa hàng và đại lý còn hạn chế ở khu vực ngoại thành.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Có thể bạn quan tâm:
1.2.4.b. Dịch vụ điện thoại di động MobiFone – Công ty VMS
MobiFone là mạng điện thoại di động lớn thứ hai sau Vinaphone, do công ty thông tin di động VMS quản lý. VMS là công ty liên doanh giữa VNPT và tập đoàn Comvik International AB (Thụy Điển), ra đời vào năm 1991, vốn đầu tư 350 triệu USD.
Mạng MobiFone có 2 MSC và 780 trạm thu phát trên toàn quốc, sử dụng công nghệ GSM 900, tháng 7–2004 đã nâng cấp đầu tư mạng lên công nghệ GPRS, phủ sóng 64 tỉnh thành trên cả nước.
Công ty VMS đã được UKAS và BVQ1 cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng ISO–9001–2000, trở thành đơn vị đầu tiên ở Việt Nam cung cấp dịch vụ viễn thông nói chung và dịch vụ thông tin di động nói riêng áp dụng ISO.
Điểm mạnh:
- Chất lượng phủ sóng được đánh giá tốt, năng lực mạng lưới tương đối ổn định ở các tỉnh, thành phố lớn. Công ty đang đầu tư mở rộng, nâng cấp mạng lưới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
- Khả năng tài chính: là đơn vị hạch toán độc lập có vốn liên doanh, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, mang lại doanh thu và lợi nhuận cao nên nguồn lực tài chính mạnh, có thế chủ động
- Dịch vụ giá trị gia tăng được triển khai ngày càng phong phú, đa dạng hơn Vinaphone như dịch vụ gọi Taxi, đặt vé máy bay, tra cứu lịch vạn niên, dịch vụ “nghe kết quả xổ số”, dịch vụ học tiếng Anh…
- Chiêu thị: hoạt động chiêu thị được đầu tư và đẩy mạnh tối đa, nhiều chương trình khuyến mãi đa dạng, phong phú và thống nhất từ công ty xuống các chi nhánh. Quảng cáo trên tivi, báo đài với tần suất lớn. Chương trình khuyến mãi cho các đại lý hấp dẫn.
- Chăm sóc khách hàng: MobiFone thực hiện các chương trình chăm sóc khách hàng rất linh hoạt và hiệu quả. Ví dụ như vào ngày sinh nhật của những khách hàng sử dụng nhiều và thường xuyên thanh toán cước đều đặn hay vào những ngày kỉ niệm trong năm thì Công ty MobiFone thường tặng quà cho những khách hàng này.
- Hệ thống phân phối: Mạng lưới phân phối của MobiFone khá rộng với 4 kênh phân phối, hoạt động với phong cách chuyên nghiệp, thuận lợi cho khách hàng trong việc tiếp cận thông tin về dịch vụ, hòa mạng và mua thẻ cào.… Đây chính là một trong những điểm mạnh chủ yếu của MobiFone so với các đối thủ cạnh tranh khác.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
- Uy tín, thương hiệu: MobiFone là thương hiệu được mọi người biết đến do bề dày hoạt động, là công ty cung ứng dịch vụ thông tin di động đầu tiên tại Việt Nam, MobiFone không ngừng quảng bá thương hiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia đóng góp cho những chương trình từ thiện, giúp ích cho cộng đồng như “Hưởng ứng quỹ vì người nghèo”, “Góp tay xoa dịu nỗi đau da cam”, thăm làng trẻ em SOS ở địa phương, tài trợ cho giải bóng đá U21 thanh niên, Festival Huế,… nên đã tạo được uy tín rất lớn.
- Điểm yếu:
- Phủ sóng ở những vùng sâu, vùng xa còn hạn chế nên những cuộc gọi của khách hàng MobiFone đều bị Roaming sang mạng Vinaphone làm cho doanh thu của MobiFone bị giảm.
- Giá cước cũng bị khống chế như Vinaphone, cũng do VNPT quy định và trước khi có những chính sách mới về giá đều phải được sự chấp thuận của Bộ Bưu chính Viễn thông.
Dịch vụ điện thoại di động S–Fone – Công Ty Cổ Phần Bưu Chính Viễn Thông Sài Gòn (SaiGon Postel – SPT)
SPT cùng đối tác là tập đoàn SLD chính thức triển khai mạng điện thoại di động S–Fone từ ngày 1/7/2003. Đây là dự án BCC với tổng vốn đầu tư 230 triệu USD.
S–Fone là mạng điện thoại di động thế hệ mới, sử dụng công nghệ CDMA 2000 – là công nghệ mới nhất hiện nay và lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
Số thuê bao tính đến 8/2009 là 7 triệu thuê bao.
- Điểm mạnh:
- Khả năng tài chính rất mạnh nhờ được sự hỗ trợ của đối tác là tập đoàn
- Dịch vụ :
- Nhờ sử dụng công nghệ tiên tiến CDMA nên chất lượng dịch vụ tốt, dịch vụ cộng thêm phong phú như dịch vụ Coloring, Karaoke,…
- Có nhiều gói cước dịch vụ như Standard, VIP, Economy,… đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng.
- Giá cước: có thể tự quyết định giá cước của mình, có thể giảm giá cho các cuộc gọi nội mạng đối với những khách hàng nhiều thuê bao, miễn cước cuộc gọi cho một số máy đăng ký trước.
- Phân phối: Chế độ hoa hồng cho các đại lý rất mềm dẻo, linh hoạt.
- Uy tín, thương hiệu: công tác khuyếch trương thương hiệu được S–Fone tiến hành rất rầm rộ và chuyên nghiệp nên nhanh chóng được mọi người biết đến.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
- Chiêu thị:
- Nội dung và hình thức của các quảng cáo hay và tạo được ấn tượng trong lòng khách hàng, tần suất quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng lớn.
- Các chương trình khuyến mại liên tục được đưa ra như tặng tiền vào tài khoản, tặng thời gian sử dụng, chương trình “điện thoại trao tay” (tặng máy cho khách hàng hòa mạng)…
- Điểm yếu:
- Dịch vụ chuyển vùng quốc tế (Roaming quốc tế) còn rất hạn chế.
- Vùng phủ sóng còn giới hạn, còn 13 tỉnh thành phố chưa được phủ sóng
- Những bất đồng quan điểm trong dự án S–Fone giữa SPT và SK Telecom khiến cho mạng di động này đã tuột mất nhiều cơ hội vàng. Ngoài ra, sự khai tử của HT Mobile và sự trầm lắng của EVN Telecom đã phá vỡ đối trọng của công nghệ CDMA và GSM trên thị trường và S–Fone không còn mạnh mẽ trong cuộc chạy đua với các mạng di động lớn.
Sau đây là một số mạng di động mới thành lập gần đây, tuy số lượng thuê bao chưa lớn, nhưng đã tạo được ấn tượng thương hiệu thông qua việc quảng bá hình ảnh, chính sách giảm giá cước, khuyến mãi rầm rộ góp phần làm cho sự cạnh tranh trong thị trường mạng viễn thông ngày càng nhiều.
1.2.4.d. Mạng di động Vietnamobile
Vietnamobile, mạng GSM toàn quốc mới nhất, khai trương từ tháng 3 năm 2009 theo Hợp đồng hợp tác Kinh doanh (BCC) giữa Công ty Cổ phần Hanoi Telecom và Hutchison Telecommunications International Limited. Vietnamobile cam kết trở thành mạng di động GSM thuận tiện nhất Việt Nam, mang đến cho người sử dụng những trải nghiệm về một mạng di động tiên tiến, hiện đại, với các gói cước giản tiện, giá cả hợp lý, chất lượng mạng cao thông qua công nghệ GSM mới nhất, và dịch vụ chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp.
Mục tiêu của Công ty là mang đến cho mọi người dân Việt Nam dịch vụ di động GSM thuận tiện nhất, theo ba phương châm: giá cả, chất lượng và sự thuận tiện.
Số thuê bao tính đến tháng 08/2009 là 250.000 thuê bao.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Sử dụng công nghê ̣CDMA và hiện tại đã đạt được giấy phép 3G và đang triển khai dịch vụ đến khách hàng. Số thuê bao di động tính đến tháng 8/2009 là 3,58 triệu.
Mạng di động Beeline
Được thành lập ngày 8/7/2008 trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty Viễn thông Di động Toàn cầu và Tập đoàn VimpelCom– Một trong những Tập đoàn Viễn thông hàng đầu ở Đông Âu và Trung Á, GTEL Mobile là công ty liên doanh chuyên cung cấp các dịch vụ thoại và truyền số liệu trên công nghệ GSM/EDGE. Sự ra đời của GTEL Mobile xuất phát từ thỏa thuận thành lập một liên doanh viễn thông tại Việt Nam được ký kết với tập đoàn VimpelCom vào cuối năm 2007. GTEL Mobile không chỉ là một doanh nghiệp hoạt động vì mục đích kinh tế đơn thuần mà đây còn là sự kết hợp các nhân tố quốc tế nhằm mang lại trào lưu và phong cách truyền thông mới cho người dân Việt Nam.
Để triển khai hệ thống mạng GSM, GTEL Mobile đã hợp tác với rất nhiều công ty viễn thông nổi tiếng. Trong đó, phải kể đến những công ty hàng đầu thế giới như: Alcatel Lucent, Ericsson, Huawei, Comverse, Avaya và IBM. GTEL Mobile sẽ sử dụng thương hiệu “Beeline VN” để ra mắt tại thị trường viễn thông Việt Nam.
Do mới thành lập nên hệ thống phân phối chưa nhiều.
Beeline chính thức hoạt động vào tháng 07/2009 với màn trình diễn quảng cáo bằng hình ảnh những chú gà con ngộ nghĩnh cùng gói cước “vô địch rẻ” mang tên Big Zero: gọi ngoại mạng 1.199 đồng/phút, còn nội mạng gần như miễn phí (chỉ tính cước phút đầu tiên). Beeline là mạng gây được ấn tượng tốt về hình ảnh của mình ngay từ trước khi chính thức cung cấp dịch vụ. Chỉ với một thời gian ngắn, hình ảnh sóc đen vàng đã nhanh chóng được xã hội biết đến. Và cũng là lần đầu tiên, khách hàng có thể mua sim điện thoại “dễ như mua rau” khi mà Beeline triển khai hàng loạt các xe đẩy bán sim lưu động. Các điểm bán lẻ sim Beeline cũng mọc lên như nấm. Khách hàng có thể tiếp cận với Beeline ở mọi góc phố, từ quán tạp hoá truyền thống đến các quầy hàng di động. Đó là điều mà tất cả các mạng di động lớn của Việt Nam trước đó chưa làm được. Hiện tại Beeline đã phủ sóng 50 tỉnh thành bao gồm:
Beeline đã phủ sóng 80%. Số thuê bao tính đến tháng 10/2009 là hơn 1 triệu thuê bao.
1.2.5. Đối thủ tiềm năng
Đối thủ tiềm năng ở đây là các mạng di động ảo. Mạng di động ảo không có băng tần riêng mà phải sử dụng hạ tầng và băng tần của các mạng di động khác. Vì vậy, quan điểm của Bộ TT&TT là không khống chế số lượng doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này. Nếu doanh nghiệp nào đủ điều kiện, Bộ sẽ cấp phép. Hiện tại có 3 nhà cung cấp được bộ cấp phép mạng di động ảo là:
- Mạng di động ảo Đông Dương (được cấp giấy phép tương tự từ tháng 8 năm 2009)
- Mạng di động ảo VTC (Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện (VTC) vừa được Bộ Thông tin – Truyền thông trao giấy phép thiết lập và cung cấp dịch vụ viễn thông trên nền di động mạng 3G của EVNTelecom theo mô hình Nhà cung cấp di động ảo (MVNO) vào chiều 22/6/2010).
- Mạng di động ảo FPT đang chờ cấp giấy phé
2. Đề tài Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE: MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ
- Marketing và bán hàng
2.1.1. Sản phẩm và dịch vụ
Bên cạnh các dịch vụ cơ bản như thoại và nhắn tin, hiện tại công ty đã và đang cung cấp nhiều loại hình dịch vụ giá trị gia tăng hấp dẫn cho khách hàng. Tính đến cuối năm 2009 công ty đã đưa ra hơn 20 loại dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng như chuyển vùng quốc tế, nhạc chuông coloring, báo cuộc gọi nhỡ,… bên cạnh đó công ty còn kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ nội dung để đưa ra ngày càng nhiều tiện ích cho khách hàng của mình. So với các nhà khai thác mạng khác trên thị trường dịch vụ giá trị giá tăng của Vinaphone không hề thua kém thậm chí một số lĩnh vực tiên phong trước như ứng dụng dịch vụ Video Call trên nền công nghệ 3G trong năm 2009.
Đối với dịch vụ thoại trả trước và trả sau, công ty luôn đưa ra các gói cước đa dạng và phù hợp với từng đối tượng khách hàng, không áp dụng một cách đại trà cho từng gói cước nhằm tránh tình trạng khách hàng bị ức chế khi ép buộc sử dụng gói cước ưa thích nhưng lại trả chi phí cao hơn. Bên cạnh dịch vụ thoại và tin nhắn, Vinaphone còn cung cấp các dịch vụ dữ liệu truy cập Internet từ di động hoặc từ máy vi tính rất hấp dẫn tạo lòng tin cho khách hàng về chất lượng phục vụ.
Hiện tại Vinaphone đang cung cấp các loại Sim với mệnh giá đa dạng, thẻ nạp cho đối tượng thuê bao trả trước cũng đa dạng không kém khi cung cấp tất cả các mệnh giá thẻ nạp và thông qua các hình thức nạp thẻ khác nhau như từ ngân hàng, kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ nạp tiền khác như Paynet, M–Service,… Trong thời gian vừa qua, công ty cũng tham gia phân phối sản phẩm máy di động kèm sim (Bộ trọn gói) cho khách hàng để phát triển thuê bao thật sự sử dụng nhanh hơn và đem lại hiệu quả cao hơn khi thuê bao mua máy này sử dụng lâu dài. Thêm nữa, tham gia phân phối sản phẩm iPhone của Apple (nhà sản xuất di động của Mỹ) đã tạo cho khách hàng Vinaphone tin tưởng vào cam kết phục vụ khách hàng tốt hơn của công ty.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
2.1.2. Giá sản phẩm dịch vụ
Trước đây Vinaphone và Mobifone được Bộ xếp vào loại doanh nghiệp có thị phần khống chế, nên giá cước dịch vụ luôn được bán cao hơn vì vậy cũng tạo ra không ít khó khăn trong việc thu hút khách hàng trước sự cạnh tranh về giá ngày cành mạnh mẽ từ các nhà mạng khác trong đó đặc biệt là Viettel. Tuy nhiên, năm 2010, Bộ Thông Tin Truyền Thông đã cho phép doanh nghiệp tự chủ động về giá bán sản phẩm dịch vụ nhưng không được bán dưới giá thành, chính điều này làm cho giá cước Vinaphone giảm mạnh để tăng lợi ích cho khách hàng. Tính từ năm 2009 đến nay Vinaphone đã 2 lần giảm cước với mức giảm lần lược là 30% và 15%, với mức giảm này cước dịch vụ cơ bản như thoại của Vinaphone giảm xuống thấp chỉ khoảng từ 890 đồng đến 1.390 đồng/phút, giá cước này rất cạnh tranh với các nhà mạng khác. Bên cạnh đó cước truyền dữ liệu cũng giảm xuống thấp nhất khi gói cước Mobile VNN có dung lượng sử dụng vượt dung lượng miễn phí chỉ trả có 10 đồng/MB.
2.1.3. Hệ thống phân phối
Hệ thống phân phối chính của công ty là các cửa hàng, bưu cục, đại lý. Các bưu cục chỉ là nơi ký nhận hàng hóa của công ty.
Công ty có hệ thống cửa hàng rộng khắp nước, tính riêng Hà Nội và Tp.HCM có 38 cửa hàng
Hệ thống đại lý của Vinaphone bao gồm khoảng hơn 500 đại lý là hệ thống đại lý một cấp. Tất cả các đại lý đều phải ký kết hợp đồng trực tiếp với công ty và do công ty trực tiếp quản lý. Hệ thống đại lý một cấp có một số ưu nhược điểm sau:
Ưu điểm của hệ thống đại lý một cấp:
- Do không phân cấp nên chế độ hoa hồng cho các đại lý là như Đại lý nào bán được nhiều sẽ được hưởng hoa hồng cao.
- Tránh được tình trạng cạnh tranh nội bộ giữa các đại lý để được làm đại lý cấp cao.
Nhược điểm:
Vì số lượng đại lý bị quản lý quá lớn nên gây rất nhiều khó khăn trong vấn đề quản lý và chăm sóc đại lý. Điều này được thể hiện qua:
- Hoa hồng và khuyến mãi cho các đại lý của Vinaphone luôn thấp hơn các mạng khác.
- Các chính sách khen thưởng, động viên, khuyến khích cho các đại lý còn quá sơ sài. Thường đến cuối năm, Công ty sẽ xem xét và xếp loại đại lý nào là đại lý có doanh thu cao, đại lý thường xuyên, đại lý trung thành. Công ty sẽ có những phần quà dành cho 10 đại lý đứng đầu trong mỗi nhóm. Sự không quan tâm nhiều của Công ty đối với các đại lý sẽ làm lạnh đi mối quan hệ giữa Công ty và các đại lý.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Hiện tại, hệ thống phân phối của Công ty chưa có đội ngũ bán hàng trực tiếp. Đây là một lợi thế rất lớn mà đối thủ cạnh tranh MobiFone đang tận dụng
2.1.4. Chiêu thị
Các hoạt động chiêu thị của công ty Vinaphone thường thực hiện vào những đợt không có chương trình quảng cáo, khuyến mại như vào dịp các đợt lễ lớn 30/4, 1/5, 2/9, Giáng Sinh, Tết Tây, kỷ niệm ngày thành lập Vinaphone (26/6), ngày thành lập ngành Bưu Điện Việt Nam (15/8), ngày cách mạng tháng 8 thành công (18/9)… Đặc biệt, số lượng thuê bao tăng nhanh vào các đợt khuyến mại này. Do đó, Công ty cần có chương trình phát triển thuê bao vào những thời điểm thích hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh ngày càng cao.
Hoạt động quảng cáo của Vinaphone trước đây thường là treo áp phích, bandroll ở các thùng Payphone, bưu điện, cửa hàng Vinaphone, xung quanh bưu điện, phát ấn phẩm, tờ rơi cho các cửa hàng, bưu điện, đại lý.
Hoạt động khuyến mãi, khuyến mại của công ty thường là tăng hoa hồng thẻ cào cho đại lý, tặng thẻ cào, thêm tiền vào tài khoản cho khách hàng mới hòa mạng hay thêm hạn sử dụng cho các thuê bao trả trước bị khóa hai chiều nạp tài khoản mới, các hoạt động bốc thăm trúng thưởng cho khách hàng khi hòa mạng. Điều đáng quan tâm là thông tin của các chương trình khuyến mãi, khuyến mại không được nhiều khách hàng biết đến.
Xem tiếp phần trước tại:
→ Tiểu luận Chiến lược kinh doanh Vinaphone
Vinaphone đã rất chú trọng đến công tác tuyên truyền quảng cáo trên truyền hình. Tuy vậy, hiệu quả của các chương trình hoạt động khuyếch chương chiêu thị vẫn chưa cao. Nguyên nhân là do thông điệp không rõ ràng, các mẫu quảng cáo khá đơn điệu, thiếu tính chuyên nghiệp. Trang web www.vinaphone và www.gpc còn sơ sài về nội dung và hình thức, không cập nhật thông tin thường xuyên và kịp thời.
Nhìn chung, hoạt động Marketing của đơn vị bị đánh giá kém hơn so với các đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường hiện nay như Viettel và Mobifone. Tuy đơn vị vẫn rất xem trọng vai trò của hoạt động Marketing và dưới đây là chi phí Marketing của đơn vị qua các năm sau:( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Qua bảng trên, ta nhận thấy chi phí tăng nhanh, điều đó được giải thích bởi các lý do sau:
- Công ty Vinaphone luôn coi trọng công tác Marketing nên chi phí bỏ ra cho nó khá lớn, năm 2009 chi phí Marketing chiếm khoảng 20% trong tổng chi phí toàn công cao.
- Lãng phí quá nhiều chi phí cho công tác Marketing mà không thu được kết quả
2.2. Sản xuất
Công ty có cả một quy trình bán hàng và sau bán hàng để đảm bảo phục vụ cho khách hàng một cách tốt nhất.
Sau bán hàng, công ty luôn chú trọng dịch vụ hậu mãi đối với khách hàng. Khách hàng có thể phản ánh bất cứ điều gì về chất lượng dịch vụ hay có thắc mắc gì thì liên hệ với tổ chăm sóc khách hàng, hệ thống các cửa hàng, đài 19001091 hoặc trang web của GPC. Tuy nhiên, công tác chăm sóc khách hàng của công ty vẫn chưa được thực hiện tốt, còn tồn tại những vấn đề sau:
Đối với hệ thống các cửa hàng, do công việc tại đây thường rất lớn nên các giao dịch viên ít có thời gian để hướng dẫn, giải đáp tường tận cho khách hàng.
Đối với đài 19001091 – dịch vụ chăm sóc khách hàng của GPC, tình trạng nghẽn mạch, không gọi được vào đài trong những giờ cao điểm vẫn diễn ra thường xuyên. Hiện nay, đài đã lắp đặt hộp thư tự động trả lời cho khách hàng. Trong thời điểm các giao dịch viên bận, mọi cuộc gọi của khách hàng đến tổng đài 19001091 sẽ tự động kết nối với hệ thống này.
Trang web của Vinaphone quản lý phần lớn là để giới thiệu về dịch vụ, thông tin không được cập nhật thường xuyên. Trên trang web có mục trả lời câu hỏi của khách hàng, nhưng mỗi lần chỉ trả lời chỉ có hai câu hỏi, không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu tìm hiểu thông tin của khách hàng.
Tại các cửa hàng, vào những giờ cao điểm, do áp lực công việc quá lớn, các giao dịch viên thường có thái độ không vui vẻ với khách hàng.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Chưa có chương trình quản lý nối mạng giữa các cửa hàng nên thông tin khách hàng còn chậm, không kịp thời (trong thời gian sắp tới, Vinaphone sẽ áp dụng chương trình quản lý thuê bao Vinaphone do CDIT viết sẽ đem lại nhiều hiệu quả và thuận lợi cho khách hàng).
Công tác chăm sóc khách hàng của công ty ngoài việc giải quyết thắc mắc, khiếu nại của khách hàng, còn tổ chức hội nghị khách hàng mỗi năm một lần. Các thành phần tham dự hội nghị khách hàng hàng năm bao gồm: những thuê bao trung thành, thuê bao có mức cước sử dụng cao, thuê bao là các doanh nghiệp lớn, các đại lý, các đối tác, khách mời trong và ngoài ngành. Số khách tham dự hội nghị thường trên dưới 1500 người. Chi phí cho mỗi hội nghị hàng năm chiếm gần ¼ kinh phí quảng cáo, khuyến mãi cả năm của công ty. Nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, hội nghị khách hàng hàng năm này cẫn chưa đạt hiệu quả cao.
2.3. Nghiên cứu phát triển
Nghiên cứu và phát triển kỹ thuật công nghệ cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty Vinaphone. Thực tế, hệ thống tổng đài, các trang thiết bị phụ trợ được đầu tư nhiều năm qua và thuộc nhiều chủng loại nên việc triển khai dịch vụ thiếu đồng bộ. Khi tiến hành dự án đầu tư, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các chỉ tiêu tài chính, công nghệ và dịch vụ. Thiết bị khai thác, hệ thống tổng đài do công ty Vinaphone quản lý nên đôi lúc làm cho các đơn vị khác rơi vào thế bị động khi muốn khai thác dịch vụ mới.
Công ty đang chủ động nghiên cứu ứng dụng các phần mềm quản lý công việc hiệu quả hơn, đặc biệt là các phần mềm kế toán và bán hàng tại các đại lý và cửa hàng.
Nghiên cứu các sản phẩm tạo ra khác biệt so với các nhà mạng khác, như tạo ra các dịch vụ có tính khác biệt cao và các gói cước tạo được giá trị cao cho cả công ty và khách hàng.
2.4. Nguồn nhân lực
2.4.1. Phân tích tình hình biến động nhân sự
Lực lượng lao động của công ty không ngừng tăng lên để theo kịp tốc độ phát triển kinh doanh của dịch vụ và đến năm 2009 số lượng lao động là 8.358 người.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
2.4.2. Cơ cấu nhân sự
Hiện nay, công ty Vinaphone có 8.358 nhân viên, trong đó nhân viên nữ chiếm 56% và nhân viên nam chiếm 44%, tỷ lệ nhân viên nữ chiếm tỷ lệ cao hơn do hệ thống mạng đi vào ổn định thì khâu chăm sóc khách hàng cần nhiều nữ hơn.
Trong công ty, số lượng nhân viên có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học là 98%, trên 30% nhân viên đã tốt nghiệp văn bằng hai, 40% nhân viên đang học văn bằng hai.
2.4.3. Công tác tuyển dụng, đào tạo
Công ty Vinaphone rất quan tâm đến việc sử dụng nguồn nhân lực, cho nên việc tuyển dụng luôn gắn liền với nhu cầu của công ty, đảm bảo cho sự phát triển của công ty.
Công ty Vinaphone cũng rất chú trọng đến việc huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho tất cả các nhân viên. Công ty có chương trình đào tạo nhân viên ở nước ngoài nhằm tiếp thu các công nghệ thông tin tiên tiến, từ đó có kế hoạch phù hợp cho sự phát triển công nghệ thông tin ở công ty.
2.4.4. Môi trường làm việc:
Luôn biết rằng môi trường làm việc có ảnh hưởng rất lớn đối với nhân viên nên Vinaphone rất quan tâm đến sự thoáng mát, vệ sinh nơi làm việc, đảm bảo yêu cầu phù hợp với công việc và quan tâm tối đa sức khỏe của các nhân viên.
Những nhân viên có năng lực luôn nhận được sự đề bạt từ mọi phía, giúp họ thấy được sự quan tâm từ các cấp, được đưa đi đào tạo để nâng cao trình độ, từ đó giúp họ gắn bó hơn với công ty, giảm thiểu tối đa tỉ lệ nhân viên rời bỏ công ty.
Qua sự phân tích trên cho thấy nhân viên của công ty có đầy đủ trình độ cũng như năng lực, cộng với sự tận tụy, nhiệt huyết trong công việc của họ sẽ là một lợi thế lớn mà công ty cần tận dụng để đáp ứng với tình hình cạnh tranh gay gắt trên thị trường thông tin di động hiện nay và tương lai.
2.5. Tổ chức
Công ty Vinaphone thực hiện việc đưa ra kế hoạch và kiểm soát kế hoạch để đạt được mục tiêu đề ra. Trên cơ sở đó, công ty sẽ tiến hành phân bổ chỉ tiêu cho các đơn vị thực hiện và gắn với chỉ tiêu sẻ đánh giá thành tích hàng năm của các chi nhánh.
Trước khi đưa ra kế hoạch thì Phòng Kế Hoạch – Chiến Lược sẽ tiến hành đánh giá lại kết quả của năm trước trên cơ sở định hướng của Ban Lãnh Đạo sẽ đưa ra kế hoạch cho năm sắp tới. Kế hoạch này phải được đánh giá và ước lượng tính khả thi để tạo ra động lực thi đua của các khu vực và chi nhánh.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Đứng đầu công ty là giám đốc, tuy nhiên kế hoạch của công ty Vinaphone phải được trao đổi thông qua lãnh đạo tập đoàn VNPT vì Vinaphone là đơn vị trực thuộc. Việc trực thuộc và chịu sự chỉ đạo của VNPT cũng có lợi cho Vinaphone nguồn cung ứng vốn dồi dào và lợi thế về quy mô cũng được phát huy. Tuy nhiên nó cũng có những mặc tiêu cực khi quyền chủ động bị hạn chế và các cơ hội kinh doanh có thể bị mất hoặc hiệu quả không cao.
2.6. Phân tích tình hình kinh doanh Vinaphone
2.6.1. Tình hình phát triển thuê bao
Thuê bao danh nghĩa công ty tăng cao trong giai đoạn từ năm 2005 – 2009 với mức tăng cao nhất lên đến 65% trong năm 2007, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đang có dấu hiệu chậm lại trong năm 2009. Nguyên nhân thuê bao Vinaphone tăng trưởng chậm lại do sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việc thu hút thuê bao của các nhà mạng khác, đáng kể nhất là Viettel, Mobifone và S–Fone. Bên cạnh đó, sự xuất hiện các nhà cung cấp mới trong giai đoạn này như Vietnamobile, Beeline đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động phát triển thuê bao của công ty.
Thuê bao sử dụng dịch vụ cũng tăng trưởng rất cao, mức tăng thấp nhất cũng lên đến 28%(2008). Tỷ lệ thuê bao sử dụng dịch vụ so với thuê bao danh nghĩa đang thể hiện xu hướng giảm, năm 2009 tỷ lệ này là 38%. Nguyên nhân tỷ lệ này giảm do trong thời gian qua các nhà mạng di động chay đua khuyến mãi để thu hút thuê bao vì vậy đã tạo ra một lượng lớn thuê bao không sử dụng ổn định, những thuê bao dạng này thường sử dụng tài khoản khuyến mãi để thay cho việc nạp thẻ để tiết kiệm chi phí sử dụng trong khi lợi ích mang lại cho họ nhiều hơn. Tình trạng thuê bao không sử dụng ổn định và sử dụng khuyến mãi nhiều đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng doanh thu của thị trường di động nói chung và công ty Vinaphone nói riêng.
Sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhà mạng di động khác đã làm cho thị phần thuê bao của Vinaphone giảm sút đáng kể trong thời gian qua, vì vậy cần phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn để hạn chế sự tác động cạnh tranh từ đối thủ để nâng cao thị phần hiện nay.
- Tình hình doanh thu
- Chỉ tiêu doanh thu dịch vụ bình quân 1 thuê bao (ARPU) và doanh thu các loại dịch vụ
Chỉ tiêu ARPU tổng đang giảm mạnh từ mức 193 ngàn đồng/thuê bao năm 2005 đã giảm xuống còn 99,05 ngàn đồng/thuê bao trong năm 2009. Như đã đề cập ở trên, sự cạnh tranh mạnh mẽ của đối thủ cạnh tranh và đi kèm với đó là các hình thức khuyến mãi “khủng” để thu hút khách hàng mới, để duy trì thị phần thì Vinaphone cũng phải chạy theo xu thế này, kết quả là ARPU giảm liên tục trong thời gian qua và chưa có dấu hiệu dừng lại nếu công ty không có chiến lược phù hợp để ngăn chặn sự sụt giảm này.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
ARPU tổng giảm kéo theo sự sụt giảm của các ARPU thành phần dịch vụ, đặc biệt giảm số tuyệt đội lớn ở ARPU dịch vụ thoại và dịch vụ kết nối ngoài mạng trong khi đó dịch vụ giá trị gia tăng giảm ít nhất và có tín hiệu tăng trở lại trong năm 2009.
Tuy doanh thu bình quân một thuê bao (ARPU) giảm ở hầu hết dịch vụ, nhưng doanh thu lại tăng do thuê bao sử dụng dịch vụ tăng. Kết quả trong bảng trên cho thấy, doanh thu tăng ở tất cả các dịch vụ, tổng doanh thu năm 2009 là 9.720 tỷ đồng tăng 98% so với doanh thu năm 2005.
- Cơ cấu doanh thu dịch vụ
Doanh thu dịch vụ thoại vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu của công ty, tuy nhiên tỷ trọng doanh thu thoại đang có chiều hướng giảm dần, số liệu bảng trên cho thấy tỷ trọng doanh thu thoại giảm xuống chỉ còn 39,7% (2009) so với tỷ trọng năm 2005 là 44,5%.
Tỷ trọng doanh thu kết nối ngoài mạng tăng trong giai đoạn 2005 – 2008, tuy nhiên đến 2009 tỷ trọng này giảm xuống chỉ còn 30,2%.
Tỷ trọng dịch vụ tin nhắn và chuyển vùng quốc tế có chiều hướng tăng giảm khác nhau, tuy nhiên mức biến động của của hai dịch vụ này không cao.
Tỷ trọng dịch vụ giá trị gia tăng đang thể hiện chiều hướng tăng, đạt 12,3% (2009) so với mức tỷ trọng 6,5% (2005), và tỷ trọng này trong thời gian tới sẽ tăng khi nhu cầu về hàng công nghệ và dịch vụ dữ liệu tốc độ cao đang ngày càng phổ biến.
2.6.3. Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận giai đoạn 2005 – 2009
Lợi nhuận tăng từ giai đoạn 2005 – 2007 và sau đó giảm nhẹ, đây là nguyên nhân tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nói chung. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh đầu tư hạ tầng và tăng cường các hoạt động kinh doanh và tiếp thị đến các khu vực vùng nông thôn cũng góp phần làm tăng đáng kể chi phí đầu tư. Trong năm 2009, thực hiện dự án triển khai hạ tầng công nghệ 3G đã làm tăng chi phí đáng kể trong khi doanh thu từ hoạt động đầu tư này chưa cao và cần có thời gian để thu hồi vốn. Từ những nguyên nhân như vậy đã ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh của công ty.
Tỷ suất lợi nhuận đã giảm rõ rệt từ tỷ lệ ROI 69% trong năm 2005 xuống chỉ còn 36% trong năm 2009. Thực tế này cho thấy tình hình kinh doanh sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức trong thời gian tới và điều này cũng đòi hỏi phải thực hiện một chiến lược phù hợp nhằm thích ứng với thị trường hiện nay.
CHƯƠNG 4: HÌNH THÀNH VÀ LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC
1.Tiểu luận Đề tài Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC
1.1 Tổng hợp các yếu tố môi trường bên ngoài – Ma trận EFE
Trong phần trên đã phân tích về môi trường Vi mô và Vĩ mô có ảnh hưởng đến ngành viễn thông di động nói chung và công ty Vinaphone nói riêng. Dựa vào việc tổng hợp các yếu tố bên ngoài đó, công ty Vinaphone sẽ đánh giá được sự hấp dẫn của ngành viễn thông di động.
Trọng số cho biết mức độ quan trọng của các yếu tố sẽ ảnh hưởng tới ngành viễn thông di động và điểm đạt được cho biết phản ứng của công ty đối với các yếu tố tạo nên sự hấp dẫn thị trường.
Điểm đạt được là 1 (mức độ công ty đạt được rất thấp), 2 (mức độ công ty đạt được thấp), 3 (mức độ công ty đạt được trung bình), 4 (mức độ công ty đạt được cao), 5 (mức độ công ty đạt được rất cao).
Tổng giá trị đạt được của công ty Vinaphone là 3,46 nằm trong khoảng từ trung bình tới cao, điều này thể nhận thấy chiến lược công ty hiện tại chưa đem lại hiệu quả cao do chưa tận dụng một cách tốt nhất các tác động từ bên ngoài. Vì vậy cần thiết phải có chiến lược phù hợp hơn trong giai đoạn 2010–2020 để có thể tận dụng được các cơ hội từ bên ngoài nhằm tăng hiệu quả hoạt động của công ty.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
1.2. Tổng hợp các yếu tố môi trường bên trong (nội bộ) – Ma trận IFE
Tương tự như phần tổng hợp các yếu tố bên ngoài, trong phần này công ty sẽ đánh giá các yếu tố môi trường bên trong để có thể xem xét lại chiến lược hiện tại như thế nào.
Tổng số điểm đạt được của công ty là 3 (trong thang đo mưc độ từ 1 – 5) cho thấy khả năng kiểm soát các yếu tố môi trường nội bộ của đơn vị chỉ ở mức trung bình. Số điểm đạt được cho thấy đơn vị chưa hoàn toàn tận dụng được những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu của mình. Tổng điểm đạt được của đơn vị có thể tăng lên nếu đơn vị kiểm soát tốt các yếu tố đặc biệt là các yếu tố Hiệu quả chiêu thị, hệ thống kênh phân phối và khả năng đưa ra sản phẩm dịch vụ mới vì các yếu tố này có trọng số cao. Vì vậy, chiến lược sắp tới của đơn vị cần quan tâm và kiểm soát thật tốt đến các yếu tố này nhằm nâng cao tổng điểm hay nâng cao khả năng tận dụng được những mặt mạnh và khắc phục tối đa những mặt yếu của đơn vị.
Dựa trên số điểm tính toán từ ma trận các yếu tố môi trường bên ngoài và môi trường bên trong, sử dụng công cụ Ma trận GE (General Electric) để thực hiện việc lựa chọn chiến lược cho công ty. Kết quả trong ma trận GE cho thấy Vinaphone phải sử dụng chiến lược đầu tư có chọn lọc.
1.3. Phân tích ma trận SWOT
- Cơ hội:
O1 : Dân số ngày càng tăng về quy mô.
O2 : Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam tăng.
O3 : Chuyển giao công nghệ dễ dàng hơn và hình thức thuê hạ tầng mạng đang bắt đầu xuất hiện.
O4 : Thế giới đang phát triển công nghệ di động mới mạng 4G. O5 : Thói quen tiêu dùng dịch vụ di động của người dân thay đổi.
O6 : Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung đang phát triển mạnh. O7 : Lượng khách hàng tiềm năng còn rất lớn.
O8 : Chính trị trong nước ổn định, chính sách thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi của nhà nước trong việc phát triển lĩnh vực viễn thông.
O9 : Sự kết hợp giữa công nghệ internet và thông tin di động sẽ kéo theo các dịch vụ gia tăng tương ứng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng.
O10 : Các chính sách mở cửa viễn thông giúp tranh thủ công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các tập đoàn viễn thông lớn trên thế giới.
O11 : Việt Nam đã gia nhập nhiều tổ chức thế giới nên thuận lợi cho việc chuyển vùng (Roaming) tới nhiều nước trên thế giới nên mở rộng khả năng sử dụng dịch vụ của khách hàng.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Xem tiếp phần sau tại:
→ Tiểu luận Đánh giá chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE
Nguy cơ:
T1 : Thời kỳ độc quyền trong kinh doanh viễn thông của VNPT đã chấm dứt, công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ trên thị trường cả hiện tại lẫn tiềm năng.
T2 : Thị trường thông tin di động phải chia sẻ, mức độ cạnh tranh cao, ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh ra đời.
T3 : Quản lý nhà nước về viễn thông còn nhiều bất cập. T4 : Đối thủ áp dụng công nghệ mới nhanh.
T5 : Công nghiệp viễn thông trong nước còn phụ thuộc nhiều vào bên ngoài đặc biệt là thiết bị đầu cuối.
T6 : Chuẩn bị phải đối mặt với các tập đoàn viễn thông lớn trên thế giới với tiềm lực tài chính mạnh, công nghệ tiên tiến và nhiều kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực thông tin di động khi nhà nước sẵn sàng cấp phép cho các doanh nghiệp đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính.
T7 : Nhu cầu của khách hàng ngày càng cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ, chất lượng phục vụ mà còn ở sự đa dạng hóa các dịch vụ cơ bản cũng như dịch vụ giá trị gia tăng.
T8 : Công nghệ phát triển không ngừng buộc phải tăng cường đầu tư mạng lưới nếu không muốn bị tụt hậu.
T9 : Thị trường đang tiến đến mức bão hòa.
v Điểm mạnh
S1: Đa dạng về dịch vụ và có một khối lượng khách hàng lớn.
S2: Là mạng di động lớn thứ 3 tại Việt Nam, ra đời lâu, có uy tín lớn. S3: Kinh doanh trên thị trường đang phát triển, có khả năng sinh lời cao.
S4: Phủ sóng cả nước, là một trong ba mạng di động có vùng phủ sóng rộng nhất nước.
S5: Cán bộ quản lý có trình độ, có năng lực, kinh nghiệm, tư cách đạo đức tốt, thường xuyên được đào tạo, cập nhật kiến thức.
S6: Trình độ của nhân viên cao, đáp ứng được nhu cầu cạnh tranh trong tình hình mới.
S7: Cơ cấu nhân sự hợp lý, có môi trường văn hóa nội bộ lành mạnh, đoàn kết tốt, kỷ luật cao.
S8: Luôn coi trọng công tác chăm sóc khách hàng.
S9: Nguồn vốn tài chính mạnh đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Điểm yếu
W1: Trình độ nghiệp vụ của các nhân viên bán hàng của các đại lý chưa cao, chưa được đào tạo chuyên nghiệp.
W2: Hệ thống phân phối còn yếu.
W3: Công tác chăm sóc khách hàng vẫn chưa thật hiệu quả.
W4: Chưa thật sự đầu tư mạnh cho các hoạt động chiêu thị như quảng cáo, khuyến mãi, khuyến mại, quan hệ công chúng..
W5: Cơ chế quản lý nội bộ cứng nhắc, phụ thuộc nhiều đơn vị bên trên nên kém linh hoạt trong hoạt động kinh doanh.
W6: Còn phụ thuộc nhiều vào tập đoàn VNPT trong việc triển khai các dịch vụ mới, các đợt khuyến mại, khuyến mãi lớn.
- Chiến lược thâm nhập thị trường: là chiến lược nhằm làm tăng thị phần hiện có cho dịch vụ Vinaphone bằng những nổ lực tiếp thị lớn hơn. Thâm nhập thị trường bao gồm việc tăng số lượng nhân viên bán hàng, tăng chi phí quảng cáo, tăng hoạt động khuyến mại, khuyến mãi một cách rộng rãi hoặc gia tăng các nổ lực quảng cáo….
- Chiến lược đa dạng hóa dịch vụ: phát triển thêm nhiều dịch vụ mới trong thời gian tới, đặc biệt là các dịch vụ giá trị gia tăng nhằm tăng sự lựa chọn cho khách hàng.
- Chiến lược công nghệ: lợi dụng nguồn vốn tài chính mạnh để đầu tư nâng cấp mạng lưới, đầu tư thêm nhiều trạm thu phát sóng, cải tiến công nghệ lên 3G song song vơi việc tin học hóa trong quản lý, nối mạng tại các cửa hàng, đại lý nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
- Chiến lược Marketing: tăng cường các hoạt động Marketing nhằm tăng lượng khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh so với các đối thủ khác.
- Chiến lược phát triển dịch vụ: hoàn thiện chất lượng dịch vụ cả về chất lượng kỹ thuật và chất lượng phục vụ để thu hút thêm nhiều khách hàng, tăng thị phần, đồng thời cũng tăng sức cạnh tranh của dịch vụ trên thị trường thông tin di động.
- Chiến lược nguồn nhân lực: phát triển nhân lực, nâng cao hơn nữa năng lực của đội ngũ cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho các nhân viên bán hàng nhằm nâng cao hoạt động chăm sóc khách hàng và tạo thế đứng vững chắc cho quá trình hoạt động của công ty trong tương
Trong phân tích SWOT trên cho thấy, dưa trên sự kết hợp “Cơ hội”, “Nguy Cơ”, “Mặt mạnh” và “Mặt yếu” hình thành được 6 chiến lược mà công ty có thể thực thi. Một công ty có thể thực hiện đồng thời nhiều chiến lược cùng một lúc vì thực tế có những chiến lược này bổ trợ cho những chiến lược kia, tuy nhiên việc thực hiện chiến lược cần phải dựa vào khả năng và điều kiện môi trường kinh doanh để có thể phát huy tối đa hiệu quả. Trong phần phân tích tổng hợp các yếu tố môi trường bên ngoài và môi trường bên trong cho thấy rằng Vinaphone phải thực hiện việc đầu tư có chọn lọc, điều này đồng nghĩa công ty không thể thực hiện tất cả các chiến lược cùng một lúc mà phải có sự ưu tiên cho chiến lược mình có ưu thế để đêm lại tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư cao nhất.
Chiến lược nào Vinaphone phải lựa chọn trong các chiến lược được liệt kê trên phải căn cứ vào tình hình kinh tế – dân số Việt Nam, Dự báo sự phát triển ngành viễn thông, định hướng phát triển chung của tập đoàn VNPT và các đơn vị kinh doanh chiến lược của Vinaphone như thế nào.
2. Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC THỰC THI
2.1 Cơ sở lựa chọn chiến lược thực thi
2.1.1. Dự báo kinh tế – dân số Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
Quy mô dân số ngày càng tăng, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao, và cơ cấu chi tiêu cho các dịch vụ viễn thông trong độ tuổi này lớn, hơn nữa dân số tập trung chủ yếu tại khu vực nông thôn. Vì vậy Vinaphone có nhiều cơ hội để phát triển thuê bao sử dụng dịch vụ. Theo báo cáo BMI chúng ta có dự báo dân số..
Dự báo kinh tế và dân số của BMI cho thấy triển vọng phát triển của Vinaphone dựa vào điều kiện kinh tế vĩ mô của đất nước là rất khả quan.
2.1.2. Thị trường viễn thông
Theo công bố của Bộ Thông Tin và Truyền Thông (MIC), tính đến tháng 10/2009, thị trường viễn thông Việt nam có 106,4 triệu thuê bao điện thoại danh nghĩa, với mật độ là 124,6 máy/100 dân. Trong đó thuê bao điện thoại di động danh nghĩa chiếm khoảng 85% trong tổng số thuê bao điện thoại và qua đó cho thấy thị trường di động đang có lượng thuê bao chi phối.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
2.1.3. Thị trường viễn thông di động
Theo dự báo của Nhóm nghiên cứu Vietnam Report, đến năm 2012 số thuê bao di động sẽ tăng lên đến 124 triệu thuê bao và mật độ thuê bao di động trên 100 dân sẽ tăng vượt mốc 120 triệu. Điều này thể hiện một tốc độ tăng trưởng sẽ rất ấn tượng của thị trường điện thoại di động. Song song với đó, trong thời gian tới với việc 4 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vừa trúng tuyển giấy phép 3G, bao gồm Vinaphone, Mobifone, Viettel, EVN Telecom liên doanh với HT Mobile, dự báo thị trường di động sẽ có chiều hướng cạnh tranh và phát triển rất đáng kể.
- Nhà cung cấp mạng di động
Thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay có 9 mạng di động gồm 5 mạng sử dụng công nghệ GSM (Vinaphone, Mobifone, Viettel, Vietnamobile, Beeline), 2 mạng sử dụng công nghệ CDMA (S–Fone và EVN) và 2 mạng MVNO gồm Đông Dương Telecom và Công ty truyền thông đa phương tiện (VTC), trong đó Đông Dương Telecom được phép chia sẻ sử dụng chung mạng vô tuyến 3G với Viettel và được chuyển vùng trong nước với các mạng viễn thông di động mặt đất công nghệ GSM cho khách hàng Việt Nam và nước ngoài). Trong 4 giấy phép 3G được cấp cho Vinaphone, Mobifone, Viettel, EVN thì EVN dự kiến sẽ hợp tác với Vietnamobile để triển khai dịch vụ 3G.
2.1.3.b. Thị phần
Theo công bố của MIC tính đến tháng 10/2009, thị trường viễn thông di động Việt Nam có khoảng hơn 90 triệu thuê bao danh nghĩa. Các nhà cung cấp GSM vẫn tiếp tục thống lĩnh thị trường khoảng 82% thị phần thuê bao danh nghĩa tích lũy, trong khi các nhà cung cấp CDMA chiếm khoảng 18% thị phần thuê bao danh nghĩa tích lũy. Viettel đã vượt qua Mobifone và Vinaphone để trở thành nhà cung cấp dẫn đầu về mặt thị phần, chiếm khoảng 35% thị phần của thị trường dịch vụ điện thoại di động, và S–Fone chiếm khoảng 12% thị phần.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
- Hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ di động
Gói cước
Năm 2009, trong các nhà khai thác, Viettel triển khai nhiều gói cước mới và tập trung vào nhiều phân khúc khách hàng đặc biệt như gói “Tourist” dành cho khách du lịch (triển khai ngày 19/05/2009), gói cước Sinh Viên, Hi–school và gói VIP. Thêm vào đó Viettel còn triển khai áp dụng gói cước Happy Zone cho tất cả các tỉnh thành trên toàn quốc.
Đặc biệt sự trở lại của Vietnamobile và sự ra đời của Beeline cung cấp nhiều gói cước với nhiều lợi ích hơn cho khách hàng so với các mạng trước đó (gói Big zero của Beeline miễn phí từ phút thứ 2 trở đi cho các cuộc gọi nội mạng, phút đầu tiên tính 1.199 đồng/phút. Giá cước này được áp dụng cho cả các cuộc gọi ngoại mạng).
Vinaphone và Mobifone cũng tung ra các gói cước tập trung cho khách hàng đặc biệt như sinh viên, tuổi teen và có sự kết hợp với handset giá rẻ.
- S–Fone tung ra gói cước mới “Eco999” (ngày 19/03/2009) và gói cước quốc tế giá rẻ IP–talk (tháng 10/2009).
- Ø Dịch vụ nội dung (Dịch vụ giá trị gia tăng)
- S–Fone đi đầu trong cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng (3G) như VOD (Video clip on demand), IOD (Information on demand), Mobile Internet và các loại dịch vụ khác cho khách hàng…
Sau khi nhận giấy phép 3G 2009, thì Vina đã chính thức cung cấp dịch vụ 3G với 6 dịch vụ cơ bản: MI, Video call, Mobile TV, Mobile camera, 3G Portal, Mobile BroadBand. Tiếp theo đó là Viettel và Mobifone lần lượt cung cấp dịch vụ này.
Sự gia tăng mạnh mẽ của các thuê bao di động và thông tin triển khai 3G tại Việt Nam trong năm 2009 đã khiến số lượng nhà cung cấp dịch vụ nội dung trên di động (CP) tăng theo cấp số nhân. Cách đây ba năm, mới chỉ có vài chục CP tham gia thị trường nội dung số thì đến nay, theo con số thống kê không đầy đủ, đã có hơn 200 doanh nghiệp tham gia thị trường này. Theo số liệu điều tra của một nhà mạng, có tới 70% người dùng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ GTGT, 23% trong số này sẵn sàng chi tiền và hiện có khoảng 15% khách hàng thường xuyên dùng các dịch vụ này. Năm 2008, tổng doanh thu của các nhà cung cấp dịch vụ nội dung đạt khoảng 2.500 tỷ, sau khi chia chác với các doanh nghiệp di động còn lại khoảng 1.500 tỷ.
Giá cước
Trong 6 tháng đầu năm 2009, các nhà khai thác đều chính thức giảm giá cước thoại trực tiếp khoảng từ 19% – 30%.
Bên cạnh đó, các nhà mạng tập trung vào việc giữ thuê bao cũ bằng cách áp dụng các hình thức khuyến mãi thẻ nạp phổ biến và thường xuyên hơn. Đây thật sự là một hình thức giảm giá cước.
Các nhà mạng Viettel, Mobifone, Vinafone đã tung ra các gói cước đặc biệt với mức giá cước linh hoạt phù hợp với từng đối tượng và nhu cầu.
Hệ thống mạng của Vinaphone, Mobifone và Viettel đã khá hoàn thiện so với các đối thủ nhỏ hơn, điều này đã tạo ra sự khác biệt trong việc cạnh tranh thu hút thuê bao giữa các mạng có thị phần lớn và thị phần nhỏ.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
👉 Nhận định chung:
- Tình hình thị trường và môi trường kinh doanh đang có tăng trưởng khả quan trong thời gian sắp tới.
- Các doanh nghiệp cạnh tranh mạnh mẽ ở dịch vụ thoại thông qua hình thức khuyến mãi và giảm cước và dự báo dịch vụ này sẽ cạnh tranh rất mạnh trong thời gian tới.
- Các doanh nghiệp thuê hạ tầng đang bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam, đây như là một xu thế tất yếu khi hình thức này đã xuất hiện trên thế giới.
- Dịch vụ nội dung càng đang là một trong những hình thức đem lại doanh thu cao cho doanh nghiệp
2.1.4. Mục tiêu chiến lược kinh doanh chung của tập đoàn VNPT
- Mục tiêu tổng quát
Lấy năng suất – chất lượng – hiệu quả là mục tiêu xuyên suốt cả giai đoạn. Tập trung mọi nguồn lực duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, dịch chuyển cơ cấu sản xuất kinh doanh, đầu tư, cơ cấu lao động theo hướng tập đoàn kinh tế kỹ thuật chủ đạo, xây dựng một cơ sở hạ tầng thông tin mạnh, kinh doanh đa dạng với các dịch vụ Bưu chính, Viễn thông và Tin học là nòng cốt. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông có năng lực cạnh tranh và hội nhập có hiệu quả trên thị trường trong và ngoài nước.
2.1.4.b Các chỉ tiêu cơ bản về phát triển Viễn thông( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Giai đoạn 2010 – 2015:
- Tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân đạt 15%.
- Lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản 12%
- Yêu cầu đầu tư hàng năm: 000 tỷ VND
- Nộp ngân sách bình quân tăng 7% / năm
Giai đoạn 2016 – 2020:
- Tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân đạt 17%
- Lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản 13%
- Yêu cầu đầu tư hàng năm: 000 tỷ VND
- Nộp ngân sách bình quân tăng 8,5%/năm
Dự kiến cơ cấu đầu tư cho cả giai đoạn từ 2010 – 2020: yêu cầu đầu tư cho cả giai đoạn là 000 tỷ VND, trong đó:
- Vốn đầu tư trong nước/tổng vốn đầu tư: 40%
- Tỷ trọng vốn trong nước/tổng vốn đầu tư: 35%
- Phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế: 15%
- Ngân sách nhà nước: 3%
- Các nguồn vốn khác: 7%
2.1.5. Phân tích các đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU)
Trong phần phân tích hoạt động kinh doanh Vinaphone trong giai đoạn từ năm 2005 – 2009 cho thấy 3 đơn vị kinh doanh chiến lược của Vinaphone là: Dịch vụ thoại, dịch vụ kết nối ngoại mạng và dịch vụ giá trị gia tăng, dựa vào việc phân tích ma trận thị phần tăng trưởng của BCG (Boston Consulting Group) công ty sẽ lựa chọn chiến lược phù hợp cho các đơn vị kinh doanh chiến lược này nhằm thực hiện được mục tiêu chiến lược chung đề ra.
Trong biểu sơ đồ bên dưới, A ký hiệu cho dịch vụ giá tri gia tăng, B ký hiệu cho dịch vụ kết nối ngoại mạng và C ký hiệu cho dịch vụ thoại.( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Theo như số liệu ngành viễn thông trong những năm qua cho thấy đơn vị kinh doanh chiến lược của Vinaphone đang trong giai đoạn hoàng kim. Đối với dịch vụ giá trị gia tăng, tỷ lệ tăng trưởng thị trường theo ước tính của các tổ chức viễn thông quốc tế khoảng 35%/năm và thị phần tương đối dịch vụ này của Vinaphone khoảng 10%, đối với dịch vụ thoại tỷ lệ tăng trưởng của thị trường đạt 16% trong khi thị phần tương đối dịch vụ thoại của Vinaphone ước tính đạt 20% và dịch vụ kết nối ngoại của thị trường tăng trưởng 19%/năm và thị phần tương đối của Vinaphone ở dịch vụ này khoảng 16%.
Thị phần tương đối (Phần phân chia thị trường)
Từ phân tích các đơn vị kinh doanh chiến lược SBU trên cho thấy cả 3 đơn vị SBU của Vinaphone đều đang trong giai đoạn hoàng kim, tuy thị phần tương đối của dịch vụ thoại và kết nối ngoại mạng cao hơn so với dịch vụ giá trị gia tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng thị trường lại thấp hơn rất nhiều. Đơn vị kinh doanh chiến lược dịch vụ thoại và kết nối ngoại mạng đang dần tiến về vị trí bò sữa, đây là thời kỳ Vinaphone thu hoạch lợi nhuận từ việc đầu tư trước đó và lấy doanh thu này triển khai công nghệ khai thác dịch vụ giá trị gia tăng nơi mà thị trường đang tăng trưởng rất nhanh.
Từ phân tích trên cho thấy chiến lược cụ thể của Vinaphone sau khi phân tích SBU là phải thực hiện chiến lược Marketing mạnh mẽ và tăng cường các hoạt động quảng cáo và khuyến mãi dịch vụ để gia tăng doanh thu và lợi nhuận.
2.2. Lựa chọn chiến lược
Từ việc phân tích môi trường bên ngoại và bên trong, phân tích SWOT, phân tích SBU, công ty Vinaphone xác định chiến lược ưu tiên hàng đầu của mình là Chiến lược đa dạng hóa dịch vụ để tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng đặc biệt là nhu cầu dịch vụ giá trị gia tăng. ( Tiểu luận Phân tích chiến lược kinh doanh Công ty VINAPHONE )
Việc đa dạng hóa dịch vụ sẽ phải đi kèm triển khai các ứng dụng công nghệ phù hợp nhằm khai thác dịch vụ trên nền 3G hiện nay. Các chiến lược khác tuy quan trọng nhưng không phải là ưu tiên hàng đầu vì hiện tại nhà nước đang quản lý thị trưởng khá chặt việc ưu tiên khuyến mãi không có nhiều khác biệt giữa các mạng, thêm nữa việc thị trường đang tiến đến ngưỡng bão hòa thì chiến lược mở rộng thị phần không đem lại kết quả cao vì vậy việc đa dạng hóa dịch vụ để dữ chân thuê bao và khuyến khích thuê bao sử dụng dịch vụ nhiều hơn là quan trọng hơn cả.
Trên cơ sở lựa chọn chiến lược đa dạng hóa dịch vụ, công ty Vinaphone cần tập trung vào việc đa dạng hóa các loại dịch vụ giá trị gia tăng đông thời tăng cường quảng cáo các dịch vụ thoại hấp dẫn như video call để tạo ra nhu cầu ngày càng tăng đối với dịch vụ này.
Mời bạn tham khảo thêm:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Tiểu luận Chiến lược kinh doanh Vinaphone giai đoạn 2010 – 2020