Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế của Trung Quốc tại Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của một nền kinh tế tuần hoàn và lợi ích đem lại đối với một quốc gia và cư dân toàn cầu, tác giả đã lựa chọn đề tài Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế của Trung Quốc tại Việt Nam là đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Trung Quốc là một trong những nước đi đầu trong việc thúc đẩy chuyển đổi nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn và đã đạt nhiều kết quả rất tích cực, chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI KINH TẾ TUẦN HOÀN CỦA TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM

3.1. Nguyên nhân cần chuyển đổi sang Kinh tế tuần hoàn của Việt Nam và thực trạng triển khai Kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

Kinh tế Việt Nam, trong 30 năm trở lại đây, từ khi công cuộc Đổi mới được triển khai vào năm 1986, đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ lệ tăng trưởng GDP trung bình từ 5-6%/năm. GDP bình quân đầu người của Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có GDP tăng trưởng nhanh nhất thế giới, đưa Việt Nam từ nước nghèo trở thành nước có thu nhập trung bình những năm gần đây. Tính đến 2019, quy mô của nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng gần 18 lần, từ 14 tỷ USD năm 1985 lên trên 230 tỷ USD năm 2019, đứng thứ 44 trên thế giới về GDP danh nghĩa và thứ 34 về PPP (GSO, 2019).

Tình hình kinh tế – xã hội trong nước tính đến năm 2019 tiếp tục chuyển biến tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều khó khăn. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (2019) tốc độ tăng GDP cả năm đạt 7,02%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra, thuộc nhóm nước tăng trưởng kinh tế cao hàng đầu khu vực và thế giới. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức 2,79%, thấp nhất trong 3 năm qua. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,9%. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Cũng theo báo cáo này đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 46,1%. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế, theo giá hiện hành năm 2019 ước tính đạt 110,4 triệu đồng/lao động, tương đương 4.791 USD/lao động; theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,2% do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2019 tăng cao. Ngành công nghiệp năm 2019 duy trì tăng trưởng khá với tốc độ tăng giá trị tăng thêm so với năm trước đạt 8,86%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng của toàn ngành với mức tăng 11,29%. Sản xuất và phân phối điện bảo đảm cung cấp đủ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Cả nước có 138,1 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.730,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2% về số doanh nghiệp và tăng 17,1% về vốn đăng ký. Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến 20 tháng 12 năm 2019 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu từ nước ngoài đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2019 ước tính đạt 20,4 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm trước. ( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Bên cạnh những kết quả đạt được, nước ta còn những hạn chế, tồn tại và tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Hạn hán, biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng, ngành chăn nuôi chịu thiệt hại nặng nề, nông sản gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ và giá xuất khẩu, sản xuất công nghiệp có xu hướng chậm lại do lãng phí trong quá trình sản xuất, tỉ lệ quay đầu và tận dụng nguyên liệu giữa các ngành còn hạn chế.

Ngoài ra, dân số Việt Nam đứng thứ 14 trên thế giới và có tỷ lệ người thuộc tầng lớp trung lưu khá cao. Đến năm 2030, dự báo dân số Việt Nam sẽ đạt 104 triệu người trong đó ước tính dân số thuộc tầng lớp trung lưu của Việt Nam sẽ tăng từ 44 triệu người vào năm 2020 lên 95 triệu người đưa Việt Nam trở thành quốc gia có mật độ dân số cao thứ 14 trên thế giới (hiện đang xếp thứ 49), tạo ra một áp lực lớn với trữ lượng tài nguyên thiên nhiên hiện đã rất hạn chế (VNEXPRESS, 2019). Thêm vào đó, quá trình đô thị hóa kèm theo lượng người di cư từ nông thôn ra thành thị dẫn đến áp lực về quản lý môi trường. Người dân sống ở thành thị sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhiều gấp 2-3 lần so với người dân nông thôn.

Sự tăng trưởng kinh tế và dân số ở Việt nam tạo ra nhiều thách thức liên quan đến môi trường. Gia tăng dân số nhanh chóng, công nghiệp hóa, và đô thị hóa đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong phát sinh chất thải, đặc biệt là chất thải rắn đô thị ở Việt Nam. Chất lượng môi trường của không khí, đất đai và nước của Việt Nam đã xuống cấp đáng kể. Ô nhiễm không khí đã đến mức báo động tại các thành phố như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ô nhiễm nước và khan hiếm nước ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là ở khu vực thành thị. Việt Nam là một trong năm quốc gia có lượng chất thải nhiều nhất vào các đại dương. Chính sách và quy định môi trường ở Việt Nam cung cấp một nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xanh (chính sách và quy định được áp dụng), nhưng việc thực thi pháp luật vẫn còn thiếu. Với đường bờ biển dài, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu. Rủi ro lũ lụt và nhiễm mặn các khu vực nông nghiệp, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, là mối lo ngại ngày càng tăng.

Để giải quyết các vấn đề này, chuyển dịch kinh tế theo hướng kinh tế tuần hoàn là nhu cầu tất yếu và là hướng phát triển bển vững mà Việt Nam cần thực hiện. Đây cũng là xu thế tất yếu của thời đại, được đồng thuận toàn cầu và được các nước trên thế giới coi là cuộc cách mạng công nghiệp xanh của thế kỷ 21, là cơ hội để cộng đồng toàn cầu chung tay thực hiện cam kết quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu nhằm mục tiêu phát triển bền vững vì sức khỏe của người dân, môi trường thiên nhiên và Trái đất. Việc triển khai và phát triển kinh tế tuần hoàn cũng giúp Việt Nam tránh lệ thuộc vào nền kinh tế bên ngoài, nhất là về nguyên liệu và nhiên liệu phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam có công nghệ lạc hậu, lỗi thời, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và thiếu nguồn lực đầu tư cho công nghệ tái chế. Vì vậy, thực hiện mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ giúp cho doanh nghiệp Việt Nam thực hiện được mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững. Việc chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn là một cơ hội lớn để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, không chỉ đạt mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, mà còn giúp đạt được các mục tiêu của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Về thực trạng triển khai Kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam, thực tế đến hiện tại, thuật ngữ Kinh tế tuần hoàn chưa được chính thức sử dụng trong các chủ trương của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, nhiều yếu tố của Kinh tế tuần hoàn đã được đề cập. Ngay từ năm 1998, Chỉ thị số 36/CT-TW đã đề cập tới “áp dụng công nghệ sạch, ít phế thải, tiêu hao ít nguyên liệu và năng lượng”, sau đó là Nghị quyết 41 đưa ra các định hướng về “khuyến khích tái chế, sử dụng sản phẩm tái chế”, “thu hồi và xử lý sản phẩm đã qua sử dụng”… Từ các chủ trương đó của Đảng, Nhà nước đã ban hành Luật và các chính sách liên quan tới “khai thác và sử dụng tiết kiệm tài nguyên”, “sử dụng năng lượng tái tạo”, 3R, “thay thế túi ni lông”, “sản xuất và tiêu dùng bền vững”, “chuỗi cung ứng xanh”, “tiêu dùng xanh”… (Hình 3.1).

Việt Nam cũng đã có một số điển hình thành công, như mô hình Vườn-Ao- Chuồng và các biến thể như Rừng-Vườn-Ao-Chuồng, hệ thống trồng cây-nuôi cá kết hợp (Aquaponics) (giúp thu hồi khí thải hoặc tận dụng thức ăn, dinh dưỡng), sáng kiến Không xả thải ra thiên nhiên (Zero Waste to Nature) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI khởi xướng, sáng kiến tái chế nắp bia Tiger thành sắt làm cầu tại Tiền Giang (giúp thu hồi sắt), ống hút làm từ cỏ và gạo thay thế cho ống hút nhựa (giúp giảm phát thải nhựa), một số mô hình Sản xuất sạch hơn…

Đối với cách tiếp cận theo hệ thống nền kinh tế, Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ của UNIDO và Quỹ Môi trường Toàn cầu, hiện nay hình thành 4 khu công nghiệp sinh thái, một mô hình theo kiểu khu công nghiệp tuần hoàn tại Ninh Bình, Đà Nẵng và Cần Thơ, với 72 doanh nghiệp tham gia. Đặc biệt, sự chia sẻ và tuần hoàn nguyên liệu, năng lượng, chất thải và nước của các khu công nghiệp sinh thái này đã giúp tiết kiệm được khoảng 6,5 triệu USD mỗi năm (UNIDO, 2009). Những bài học rút ra được từ 4 khu công nghiệp sinh thái này và kinh nghiệm về các mô hình sản xuất sạch hơn, vốn bắt đầu từ những năm 1990, là cơ sở để hoàn thiện và nhân rộng mô hình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các mô hình khu công nghiệp tuần hoàn, thành phố tuần hoàn cần được được thiết kế, quy hoạch và xây dựng rất thận trọng, tránh chủ quan duy ý chí. Kinh nghiệm của Đan Mạch cho thấy có thể cần tới cả thập kỷ để hoàn thiện một khu công nghiệp tuần hoàn.

3.2. Các điều kiện áp dụng bài học triển khai kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc tại Việt Nam ( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

  • Tiềm năng triển khai nền kinh tế tuần hoàn của Việt Nam 

Qua phân tích thực trạng nền kinh tế tại Việt Nam, có thể thấy Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng rất lớn để triển khai sâu hơn nền kinh tế tuần hoàn.

Thứ nhất, Việt Nam có nền tảng cơ sở rất tốt để triển khai kinh tế tuần hoàn. Năm 2019, Ngân hàng Thế giới (World Bank) đưa ra bảng xếp hạng và Việt Nam xếp thứ 69/190 về môi trường kinh doanh; còn theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 77/140 về năng lực cạnh tranh và Việt Nam đã xếp hạng 54/162 quốc gia lọt vào top 30% quốc gia dẫn đầu về phát triển bền vững và chỉ thua Thái Lan trong ASEAN. Như vậy, so với các nước có cùng trình độ phát triển, thì Việt Nam đang vượt lên trong cuộc đua xanh. Đây là nền tảng tốt cho việc phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

Ngoài ra, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại Việt Nam trung bình khoảng 17 triệu tấn, trong đó vùng đô thị phát sinh đến 6,5 triệu tấn một năm. Trong khi đó, nhu cầu cho nguyên liệu phế thải của Việt Nam gia tăng hàng năm từ 10 -20%, cho thấy tiềm năng rất lớn của ngành công nghiệp tái chế. Tuy nhiên hoạt động tái chế của Việt Nam gần như không có sự hỗ trợ của các ngành công nghiệp phụ trợ. Đa số các thiết bị, máy móc và hoá chất đều là tự chế tạo manh mún hoặc được nhập khẩu từ nước ngoài với chất lượng thấp, không hoặc rất khó kiểm soát, phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài.

Với lượng chất thải bỏ đi lãng phí, mỗi năm Việt Nam đang có hàng chục tỷ đồng mỗi năm bị lãng phí, bởi rác thải phần lớn không được sử dụng lại mà đốt hoặc chôn, gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Ví dụ điển hình là câu chuyện bãi rác Nam Sơn, Hà Nội trong những ngày gần đây. Theo Diễn đàn doanh nghiệp (2019), mỗi đêm ở bãi rác này có khoảng 400-500 người đến mưu sinh nhặt các đồ phế thải nhựa, quần áo cũ… để bán kiếm lời, trung bình một người kiếm được khoảng 300- 500 ngàn đồng/đêm. Như vậy, chỉ sau một đêm 500 người này kiếm được khoảng 150 triệu đồng. Đây là một con số không hề nhỏ và nó kiếm được hoàn toàn thủ công, phát sinh hết sức manh mún. Nếu như toàn bộ khối lượng rác được tái chế thì giá trị kinh tế Việt Nam thu về còn có thể cao hơn rất nhiều.

Thứ hai, Việt Nam có vị trị địa chính trị quan trọng. Việt Nam ở vị trí cửa ngõ trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, là ngã ba đường lên Bắc xuống Nam, qua Đông sang Tây kể cả đường không và đường biển. Đây chính là nơi hội tụ và là nơi xuất phát của mọi yếu tố liên quan đến sự phát triển và tồn tại của toàn khu vực quan trọng này. Chính vì nằm ở vị trí thuận lợi nên Việt Nam thường được ưu tiên đặc biệt, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp xúc gần hơn với những Quốc gia đi đầu và thành công trong phát triển mô hình “kinh tế tuần hoàn”, có cơ hội tham khảo, học tập, nghiên cứu áp dụng lại những mô hình một cách hoàn chỉnh, phù hợp với Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam đã có những doanh nghiệp áp dụng mô hình kinh doanh bền vững từ rất lâu. Tuy chưa phải là “Kinh tế tuần hoàn” nhưng từ trước Việt Nam cũng đã bắt đầu xuất hiện những mô hình gần với kinh tế tuần hoàn từ khá sớm. Cụ thể, dịch vụ thu gom phế liệu, phế thải có giá trị đầu vào cho tái sử dụng, tái chế như sắt thép và kim loại khác đã có từ những năm 80 của thế kỉ XX; Nhà máy tái chế và xử lý chất thải công nghiệp – nguy hại, đây là nhà máy xử lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại tập trung. Đây là cột mốc đánh dấu nỗ lực của thành phố trong việc gia tăng tỷ lệ tái chế chất thải rắn, hướng đến hoàn thiện nền kinh tế tuần hoàn; hoặc như Công ty nhà máy bia Việt Nam đã sử dụng lại chai và tái chế nắp chai cho làm cầu… và nhiều công ty khác không để lãng phí chất thải có thể tái sử dụng, tái chế nhằm mang lại hiệu quả kinh tế.( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Tất cả những yếu tố trên là động lực cũng như là cơ sở để đánh giá rằng Việt Nam có tiềm năng rất lớn để khai thác và xây dựng các mô hình “kinh tế tuần hoàn”, và như đã nói ở trên, việc chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn là một cơ hội lớn để phát triển nhanh và bền vững, là cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển và tạo điều kiện việc làm cho hàng ngàn người lao động, cơ hội để cải thiện môi trường sống, cơ hội để đối phó với biến đổi khí hậu, thiên tai, cạn kiệt tài nguyên.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

3.3 Một số bài học Việt Nam có thể học tập từ kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc

Từ thực tiễn triển khai kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc, có thể rút ra một số bài học Việt Nam có thể tham khảo và vận dụng cho việc triển khai kinh tế tuần hoàn như sau:

Thứ nhất: về pháp luật và quy định: cần thiết lập hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể, phân cấp, phân quyền: Như đã phân tích ở trên, hành lang pháp lý cần phải đủ mạnh để dẫn dắt các chủ thể đi đến mục tiêu nền kinh tế định hướng tuần hoàn, đủ linh hoạt để các chủ thể trong nền kinh tế ấy có thể tuỳ biến phối hợp chặt chẽ trong từng bước đi sao cho phù hợp với thực tế nền kinh thế trong từng giai đoạn.

Từ hệ thống các văn bản luật liên quan đến kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc ta có thể thấy, một nền kinh tế chỉ có thể tiến tới Kinh tế tuần hoàn với điều kiện các hành lang pháp lý như luật và các chính sách, chủ trương phải được thể hiện rõ ràng để giúp việc thực hiện và chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn một cách hệ thống và đồng bộ. Cùng với đó là các hình thức khuyến khích khác như ưu đãi về cơ chế và thủ tục hành chính, về tài chính, về tiếp cận các nguồn lực cùng chế tài rõ ràng, minh bạch. Hành lang pháp lý cần đảm bảo tối thiểu đáp ứng các yêu cầu sau: Có thể hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động tháo gỡ các rào cản pháp lý, tài chính và quản lý ngăn cản sự đổi mới trong khai thác tài nguyên và mô hình kinh doanh; Xây dựng khung pháp lý phải kèm theo bộ quy tắc quy định nghĩa vụ và chi phí tuân thủ pháp luật; Các khái niệm trong hành lang pháp lý như phân loại chất thải cần được nêu chi tiết và chặt chẽ; yêu cầu đảm bảo tính an toàn trong quá trừng thực hiện các bước tiến tới Kinh tế tuần hoàn của từng chủ thể.

Hiện nay, Việt Nam còn thiếu các cơ chế chính sách thúc đẩy kinh tế tuần hoàn phát triển như: Quy định trách nhiệm của doanh nghiệp về thu hồi, phục hồi tài nguyên từ các sản phẩm đã qua sử dụng; các công cụ, chính sách kinh tế như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường…Việt Nam muốn tiến tới được nền Kinh tế tuần hoàn cần phải đặt việc xây dựng hành lang pháp lý lên làm trọng tâm, đây chính là nền tảng cốt lõi để các chủ thể kinh tế có thể vận hành theo mục tiêu Kinh tế tuần hoàn mà Chính phủ đưa ra. Việt Nam có thể xem xét việc xây dựng luật riêng về kinh tế tuần hoàn hoặc hoàn thiện, bổ sung các luật đã có theo hướng hệ thống và cụ thể hơn để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Điều này là do một số yếu tố của nền kinh tế tuần hoàn đã được quy định trong các luật và chính sách hiện hành. Ví dụ như Việt Nam hiện cần sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường; quy định trách nhiệm cụ thể của nhà sản xuất, nhà phân phối trong việc thu hồi, phân loại và tái chế hoặc chi trả chi phí xử lý các sản phẩm thải bỏ dựa trên số lượng sản phẩm bán ra trên thị trường; quản lý dự án theo vòng đời, thiết lập lộ trình xây dựng và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường tương đương với nhóm các nước tiên tiến trong khu vực. Hoặc ở phạm vi một địa phương, có thể đi từ chính quyền thành phố, từ đó định hướng phát triển bắt buộc cho các doanh nghiệp và thay đổi dần ý thức người dân trong phát triển kinh tế tuần hoàn( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Thứ hai, xây dựng lộ trình cụ thể tiến tới Kinh tế tuần hoàn, bao gồm thiết lập được các mục tiêu gắn liền với thời hạn đạt được mục tiêu và có chi tiết thực thi kinh tế tuần hoàn chi tiết cho từng cấp độ trong nền kinh tế. Từ các chiến lược Kế hoạch 5 năm, các dự án “Mười, Trăm, Nghìn” của Trung Quốc cho thấy cần có lộ trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn với những mục tiêu và quy định cụ thể trong từng giai đoạn, gắn với vai trò của các bên liên quan. Lộ trình cần đảm bảo giúp cho Chính phủ và các chủ thể kinh tế có đủ thời gian để thực hiện các kế hoạch, từ đó có các đánh giá, các cải giải pháp cải thiện và chứng minh được kết quả cuối cùng.

Từ lộ trình tổng thể, tất cả các bộ ban ngành và các chủ thể kinh tế như doanh nghiệp, nhà sản xuất, người tiêu dùng theo từng ngành cũng cần phải có một lộ trình riêng dựa trên lộ trình chung mà chính phủ đưa ra cho ngành của mình. Trong mỗi lộ trình cần xác định rõ các yếu tố chính: Thời gian, nhiệm vụ cụ thể, chi phí và hiệu quả dự kiến để có cơ sở nghiệm thu, đánh giá về sau. Khi tất cả các chủ thể kinh tế cùng đi theo một lộ trình thống nhất, việc thực thi nền Kinh tế tuần hoàn sẽ có thể được thực hiện đầy đủ và đúng thời hạn hơn. Đó là cách tiếp cận theo nhóm ngành, sản phẩm, nguyên liệu hoặc vật liệu và cách tiếp cận theo quy mô kinh tế, thành lập các không gian địa lý. Bên cạnh đó, lộ trình cần tiếp tục thực hiện các nội dung khác của kinh tế tuần hoàn như khuyến khích năng lượng tái tạo, thúc đẩy sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, hoàn thiện và phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn đã có tại Việt Nam, thúc đẩy lợi ích của nền kinh tế tuần hoàn trong các chương trình nâng cao nhận thức, đào tạo chuyên môn và giáo dục. Hiện Việt Nam cũng đã hợp tác với Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực. Lộ trình tiến tới Kinh tế tuần hoàn của Việt Nam cần tận dụng được những kinh nghiệm hợp tác quý báu này.

Từ góc độ chia cấp thực hiện Kinh tế tuần hoàn, Việt Nam có thể áp dụng các mô hình “Khu công nghiệp sinh thái”; mô hình du lịch nông nghiệp, Phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao,….

Thứ ba, một trong những bước đầu tiên để triển khai kinh tế tuần hoàn là tập trung vào vấn đề chất thải của sản xuất và tiêu dùng với phương châm: tiết giảm, tái chế, tái sử dụng. Chất thải được phân loại và mỗi loại có cách tiếp cận giải quyết khác nhau. Đây là một kinh nghiệm cần tham khảo. Trong những bước đầu tiên triển khai kinh tế tuần hoàn, Việt Nam cũng nên tập trung vào vấn đề chất thải của cả sản xuất và đời sống, phân loại và có các biện pháp sát thực và phù hợp để giải quyết từng loại chất thải.

Thứ tư, kiến thức và khoa học công nghê là nền tảng vững chắc cho tất cả các chủ thể tham gia nền kinh tế tuần hoàn. Mọi quá trình thực hiện kinh tế tuần hoàn đều đòi hỏi nền tảng cơ sở vật chất, như các hệ thống sản xuất sạch hơn của Trung Quốc, hệ thống EMS, mô hình liên hết giữa các EIP. Khoa học công nghệ càng cao sẽ càng rút ngắn quá trình triển khai kinh tế tuần hoàn. Hiện tại nguồn lực cho việc thực hiện chuyển đối sang phát triển kinh tế tuần hoàn của Việt Nam còn yếu, nên càng cần phải học tập các công nghệ về xử lý xả thải, tái chế,… của Trung Quốc để từ đó cải thiện, áp dụng một cách phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam

3.4 Điều kiện để áp dụng thành công bài học của Trung Quốc ( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Chuyển đổi sang Kinh tế tuần hoàn là giải pháp bền vững đối với các thách thức kinh tế xã hội và môi trường ở Việt Nam hiện nay. Kinh tế tuần hoàn là một khái niệm vẫn còn khá mới và Việt Nam cũng chưa có bất kỳ thuật ngữ cụ thể cũng như khung chính sách về nền kinh tế tuần hoàn mà mới dừng lại ở công đoạn tái sử dụng, tái chế chất thải mang lại lợi ích về tài chính cho cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, lợi ích và sự cần thiết của mô hình kinh tế tuần hoàn và tạo vòng tuần hoàn tài nguyên thiên nhiên đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật và cũng được tìm thấy trong mô hình tái chế và tái sử dụng chất thải như Chỉ thị số 36/CT- TW năm 1998 đã đề cập tới áp dụng công nghệ sạch, ít phế thải, tiêu hao ít nguyên liệu và năng lượng, sau đó là Nghị quyết 41 đưa ra các định hướng về khuyến khích tái chế, sử dụng sản phẩm tái chế, thu hồi và xử lý sản phẩm đã qua sử dụng. Từ các chủ trương đó của Đảng, Nhà nước đã ban hành Luật và các chính sách liên quan tới khai thác và sử dụng tiết kiệm tài nguyên, sử dụng năng lượng tái tạo, 3R, thay thế túi ni lông, sản xuất và tiêu dùng bền vững, chuỗi cung ứng xanh, tiêu dùng xanh.

Việc chuyển đổi sang nền Kinh tế tuần hoàn, trong đó nguyên vật liệu được sử dụng hiệu quả hơn và chất thải không còn được tạo ra, đòi hỏi sự thay đổi ở cấp độ hệ thống trong các nền kinh tế quốc gia. Để áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn vào Việt Nam cần có một chiến lược tổng thể dài hạn trong đó của nhà nước đóng vai trò kiến tạo và doanh nghiệp là động lực trung tâm. Từ bài học rút ra ở trên, để áp dụng thành công và triển khai chuyển đổi nền kinh tế sang mô hình Kinh tế tuần hoàn một cách bền vững và hiệu quả, Việt Nam cần đảm bảo các điều kiện sau:

Thứ nhất, cần phải có nhận thức đúng và đầy đủ về bản chất của kinh tế tuần hoàn; tính cấp thiết phải chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn của nhà lãnh đạo, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Từ đó, có quyết tâm chính trị của nhà lãnh đạo trong việc đề ra chủ trương, chính sách chuyển đổi, phát triển kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, quá trình này cần có sự tham gia hưởng ứng tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Nhận thức đúng về kinh tế tuần hoàn cần được thực hiện từ việc thiết kế tới triển khai đối với từng ngành, từng lĩnh vực và cần được đồng thuận, thống nhất từ lãnh đạo, các cấp quản lý tới từng doanh nghiệp và người dân.

Thứ hai, đầu tư nghiên cứu khoa học, đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, kinh tế số,… làm nền tảng vững chắc cho sự triển khai bền vững của kinh tế tuần hoàn. Công nghệ mới sẽ giúp việc thực hiện mô hình kinh tế tuần hoàn hiệu quả, giảm thải ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tránh khai thác quá mức tài nguyên; đồng thời, tạo được cơ hội việc làm mới… đảm bảo mục tiêu của mô hình này. Sự phát triển nền tảng kiến thức, giáo dục và tăng cường trao đổi kiến thức liên quan đến kinh tế tuần hoàn là rất cần thiết để thúc đẩy sự chuyển đổi. Đổi mới, cập nhật kiến thức liên tục và tăng cường trao đổi thông tin sẽ giúp làm gìau tư duy của nhiều tầng lớp trong xã hội, qua đó điều chỉnh phương thức vận hành và tiêu dùng. Việc xây dựng nền tảng và phổ biến các kiến thức, thông tin về nền kinh tế tuần hoàn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi. Chính phủ cũng cần đưa nền kinh tế tuần hoàn vào chương trình giáo dục, phân bổ mức độ cho từng cấp bậc từ tiểu học tới đại học.( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Thứ ba, như đã phân tích, cách tiếp cận và chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn ở các nước rất khác nhau, vì vậy, tăng cường trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhất là các quốc gia đã và đang thực hiện thành công kinh tế tuần hoàn, từ đó chuyển giao và áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là một việc làm cần thiết. Bên cạnh đó để phát triển kinh tế tuần hoàn đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia giỏi, để giải quyết tốt các vấn đề, từ khâu đầu đến khâu cuối của cả quá trình; Việt Nam còn thiếu các DN đủ năng lực về công nghệ về tái chế, tái sử dụng các sản phẩm đã qua sử dụng; khó thay đổi ngay thói quen sản xuất và tiêu dùng của toàn xã hội hiện nay đối với nhiều sản phẩm dễ sử dụng như túi nilon, sản phẩm nhựa dùng một lần sang chỉ sử dụng những vật liệu, sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng hoàn toàn; các DN Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ khó khăn trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, do đó việc tăng cường hợp tác học hỏi chuyển giao công nghệ lại càng cấp thiết hơn. Chuỗi giá trị và dòng luân chuyển chất thải hoạt động trên phạm vi toàn cầu, do vậy các biện pháp thúc đẩy chuyển đổi về kinh tế và pháp lý cần phải thiết lập trên phạm vi toàn cầu. Có rất nhiều công ty hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực nước, nông nghiệp, hàng hải, hậu cần, quản trị,… có kinh nghiệm và công nghệ cần thiết cho nền kinh tế tuần hoàn, cũng đang mong muốn tìm kiếm các đối tác hợp tác. Theo đó, chính phủ cần tăng cường xúc tiến thương mại nhằm tạo ra các cơ hội hợp tác và kinh doanh quốc tế cho doanh nghiệp bằng cách tổ chức các phái đoàn thương mại và đưa ra chính sách thúc đẩy ngoại giao kinh tế trong lĩnh vực chất thải và tái chế, tái sử dụng nguyên liệu thô, thiết kế và sản xuất tuần hoàn, đổi mới xã hội và tạo ra giá trị gia tăng thông qua hợp tác chuỗi cung ứng.

Thứ tư, xây dựng Chiến lược truyền thông về kinh tế tuần hoàn nhằm nâng cao nhận thức của các nhà sản xuất và công chúng về trách nhiệm của họ đối với các sản phẩm trong suốt vòng đời của chúng. Cần tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức của người dân về việc phân loại rác thải tại nguồn, tạo điều kiện cho công tác thu gom, vận chuyển đưa vào tái sử dụng, tái chế được thuận lợi và dễ dàng hơn.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

3.5 Một số điểm cần chú ý khi thực hiện triển khai kinh tế tuần hoàn

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, doanh nghiệp phải đóng vai trò chủ đạo làm động lực chính thúc đẩy sự chuyển đổi. Để phát huy được hiệu quả các chính sách trong nền kinh tế tuàn hoàn, nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo và doanh nghiệp là động lực trung tâm. Vai trò kiến tạo của Nhà nước thể hiện trong việc tạo ra một môi trường để kinh tế tuần hoàn phát triển, các Bộ ngành cần phải có sự phối hợp ngang với nhau, tạo điều kiện hỗ trợ đối với các doanh nghiệp trong quá tình chuyển đổi..

Cụ thể với thực trạng hiện nay, việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn của Việt Nam đòi hỏi một loạt các thay đổi về quy định trên nhiều lĩnh vực khác nhau như môi trường, lao động, xã hội, nông nghiệp, lâm nghiệp, năng lượng… Điều quan trọng nhất là Chính Phủ phải có hợp tác, trao đổi với các chủ thể khác như doanh nghiệp, người tiêu dùng…để có thể xây dựng một hành lang pháp lý thực tế, phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp và thực trạng nền kinh tế. Những luật và chính sách mới này cần nhận được sự ủng hộ và phối hợp thực hiện một cách chủ động từ tất cả các chủ thể liên quan. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần tăng cường đối thoại, trao đổi các đoàn chuyên gia để học hỏi kinh nghiệm từ các nước có nền Kinh tế tuần hoàn đang được đánh giá cao như Trung Quốc để tiếp tục thực hiện các hoạt động có tính hiệu quả cao, tránh các hoạt động không hiệu quả.

Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những thách thức nhất định bao gồm: công nghệ (một số đổi mới đòi hỏi một trình độ công nghệ nhất định), hiểu biết về lợi ích kinh tế của nền Kinh tế tuần hoàn và hiểu biết (một số đổi mới khá đơn giản trong quy trình sản xuất có thể mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho doanh nghiệp và đồng thời mang lại lợi ích môi trường cho tất cả mọi người) và các rào cản đối với sự đổi mới (các rào cản về thể chế, chính sách lỗi thời và thói quen tiêu dùng của khách hàng). Cộng đồng doanh nghiệp rất cần những sự hỗ trợ từ Chính phủ để có thể đầu tư nhiều hơn vào nghiên cứu và phát triển để xác định các cơ hội áp dụng nền kinh tế tuần hoàn và thu được lợi ích.( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Đẩy mạnh hoạt động thu hồi vật liệu và hạn chế rác thải khó tái chế: Thu hồi vật liệu đóng vai trò quan trọng trong Kinh tế tuần hoàn. Nền Kinh tế tuần hoàn không chỉ là lưu thông vật chất mà còn là giảm thiểu việc sử dụng các vật liệu không thể tái chế, chẳng hạn như nhựa sử dụng một lần, nhựa siêu nhỏ, và một số hóa chất độc hại,… Có 3 nhóm giải pháp chính để thúc đẩy việc này, đó là: phân loại rác tại nguồn, mở rộng trách nghiệm của nhà sản xuất (EPR) và thúc đẩy các thị trường mới phát triển (gồm thị trường thu hồi và tái chế nhựa, giấy, kim loại. và thị trường cung cấp các sản phẩm tái chế). Đối với việc phát triển các thị trường, vai trò của chi tiêu công xanh (Green Public Procurement) thường có tác động rất lớn, thậm chí tiêu dùng của chính phủ trong nhiều trường hợp có thể định hướng sản xuất và tiêu dùng của thị trường. Các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan phải có tiếng nói chung trong việc thay đổi thói quen, hành vi, thái độ của người tiêu dùng về việc phân loại rác để tạo thuận lợi cho hoạt động thu gom của người tái chế.

Thúc đẩy phát triển công cụ giám sát, kiểm soát mức độ tiêu thụ và dòng chảy nguyên liệu. Điểm yếu của Việt Nam là việc phối hợp giữa các cơ quan, bộ ngành và việc thực thi các chính sách, kế hoạch đề ra còn rất kém. Điều này thể hiện trong nhiều lĩnh vực chứ không chỉ riêng một lĩnh vực nào. Chính vì thế chúng ta cần xây dựng một bộ công cụ giám sát và kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả. Đây là các dữ liệu quan trọng để phục vụ cho việc quản lý và điều chỉnh việc thực hiện kinh tế tuần hoàn. Tất cả các nước hàng đầu về kinh tế tuần hoàn trên thế giới đều có hệ thống cơ sở dữ liệu rất tốt về, trong khi đó ngay cả những dữ liệu cơ bản như tỷ lệ tái chế chất thải rắn qua các năm thì Việt Nam vẫn chưa thống kê được. Trên thực tế, nhiều sáng kiến tuần hoàn mới có thể xuất hiện từ sự phát triển của công nghệ. Tại Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đài Loan, phần mềm cài trên điện thoại cho phép người dùng tích điểm khi thực hiện thu gom các chất thải tái chế. Sau đó, họ có thể sử dụng các điểm này để mua hàng tại nhiều siêu thị và cửa hàng thay cho tiền mặt. Điều này không chỉ khuyến khích người dân tham gia thu gom và tái chế, mà còn giúp nâng cao nhận thức của người dân.

KẾT LUẬN ( Luận văn Bài học kinh nghiệm triển khai kinh tế )

Kinh tế tuần hoàn đang trở thành một xu hướng diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, khi thực hiện Kinh tế tuần hoàn, chúng ta cần lưu ý rằng Kinh tế tuần hoàn không chỉ là quản lý và tận dụng vật liệu, mà nên được xem xét đầy đủ theo cả 4 giai đoạn gồm: sản xuất, tiêu dùng, quản lý chất thải và cuối cùng là biến chất thải trở lại thành tài nguyên. Đặc biệt, Kinh tế tuần hoàn không phải là một mô hình đồng nhất cho cả nền kinh tế, mà có nhiều mô hình Kinh tế tuần hoàn khác nhau trong nền kinh tế, được xây dựng dựa trên triết lý của tái tạo và khôi phục. Cách tiếp cận thực hiện của các quốc gia cũng có thể khác nhau, nhưng đều dựa trên triết lý cốt lõi đó. Các chính sách Kinh tế tuần hoàn đều nhằm thực hiện vai trò kiến tạo của nhà nước, tạo điều kiện để động lực trung tâm là doanh nghiệp phát triển các mô hình Kinh tế tuần hoàn, từ đó hướng tới thực hiện Kinh tế tuần hoàn trong mọi hoạt động kinh tế và xã hội.

Việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, trong đó nguyên vật liệu được sử dụng hiệu quả hơn và chất thải không còn được tạo ra sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Các nền kinh tế trên thế giới phần lớn hiện nay hoạt động theo nền kinh tế tuyến tính và tạo ra nhiều chất thải và sử dụng năng lượng lãng phí khi sản xuất sản phẩm và dịch vụ. Nền kinh tế tuần hoàn tập trung vào việc tái sử dụng nguyên liệu và tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng thông qua các dịch vụ và giải pháp thông minh sẽ mở ra nhiều cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp tham gia vào quá trình này. Kinh tế tuần hoàn đang trở thành một xu hướng diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới. Chiến lược phát triển nền kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc thu hút nhiều sự quan tâm ở cấp độ quốc tế. Trung Quốc có nhiều điều kiện cần thiết để trở thành một quốc gia hàng đầu về phát triển kinh tế tuần hoàn và thúc đẩy các quốc gia khác chuyển đổi. Từ kinh nghiệm quản lý và điều hành của Trung Quốc, Việt Nam có thể học hỏi cũng như áp dụng rất nhiều những sáng kiến, chính sách quản lý, kinh nghiệm của Trung Quốc vào thực tiễn quy mô nền kinh tế khi mà Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức từ môi trường và dân số.

Việt Nam có tiềm năng to lớn và những lợi ích rõ ràng khi chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn. Nếu thực hiện chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn chúng ta phải có những thay đổi trong cách thức vận hành nền kinh tế không chỉ là quản lý và tận dụng vật liệu, mà phải thay đổi trong các khâu: sản xuất, tiêu dùng, quản lý chất thải và biến chất thải trở lại thành tài nguyên. Đặc biệt, kinh tế tuần hoàn không phải là một mô hình đồng nhất cho cả nền kinh tế, mà có nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn khác nhau trong nền kinh tế, được xây dựng dựa trên triết lý của tái tạo và khôi phục. Việt Nam cần các chính sách, lộ trình đúng đắn, sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và tư để hướng tới một nền kinh tế tuần hoàn, ý chí quyết tâm từ hệ thống chính trị, sự chủ động và trách nhiệm doanh nghiệp và sự hợp tác của người dân.

Xem tiếp phần sau đầu tại:

Luận văn Kinh nghiệm triển khai kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537