Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh là chuyên ngành tổng hợp về lĩnh vực kinh tế, thông qua đề tài Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây các bạn đọc giả sẽ có thêm ý tưởng, tài liệu và nhiều thuật ngữ chuyên ngành từ đó giúp bạn làm bài luận tốt hơn. Đồng thời Bài mẫu Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế ở doanh nghiệp Việt Nam là một trong những mẫu luận văn hay được mình chọn lọc để gửi gắm đến các bạn. Nào, mời các bạn đọc giả cùng tham khảo nhé!
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
- KHÁI QUÁT LỘ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ NHỮNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DNVVN Ở VIỆT NAM
Sau những tín hiệu khởi phát từ Nghị quyết Trung ương đảng nền kinh tế Việt Nam bắt đầu vận động theo những hình thái mới, trong một cơ chế mở nhằm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, huy động, bổ sung mọi nguồn năng lượng là các thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành công thu được sau 20 năm đổi mới là kết quả của một lộ trình hội nhập kinh tế hợp lý, với bước đi vững chắc, cũng với sự tăng trưởng thực tế của một số ngành, lĩnh vực, theo đó bộ máy cơ chế hành chính được vận hành theo hướng hội nhập, tạo bước đi quan trọng và sàn diễn bình ổn cho phép các doanh nghiệp phát huy khả năng của mình và thể hiện tài nghệ điêu luyện trong việc xử lý linh hoạt, năng động các tình huống kinh doanh trong môi trường cạnh tranh.
- Việt Nam và ASEAN/AFTA
Với điểm mốc lịch sử quan trọng ngày 28-7-1995, Việt Nam đã được kết nạp làm hội viên chính thức của ASEAN. Việc tham gia ASEN của Việt Nam mang lại lợi ích cho cả hai phía: ASEAN trở thành một khối đoàn kết vững chắc hơn, uy tín ASEAN được củng cố và tăng cường trong mối quan hệ quốc tế, tạo điều kiện phát triển ổn định bền vững hơn trong toàn khu vực; đồng thời được sự hậu thuẫn trong khối, Việt Nam có thể có nhiều cơ hội thuận lợi hơn trong việc hợp tác kinh tế quốc tế, thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài, học tập và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về tổ chức nền kinh tế và phát triển, tìm kiếm những mô hình tăng trưởng phù hợp, giảm thiểu sự rủi ro trong định hướng chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân.
Những thành công mà Việt Nam đạt được trong kết quả của quá trình hội nhập kinh tế ASEAN là hệ quả tổng hợp của sự kết hợp các nhân tố nội lực và các yếu tố ngoại lực tạo ra một xu thế xâm nhập mạnh thông qua cơ chế kinh tế mở. Trong gần 6 năm thực hiện CEFT/AFTA, quan hệ thương mại Việt Nam và ASEAN đã tăng đáng kể, kim ngạch buôn bán hai chiều tăng gấp 2 lần. Năm 1995 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt 3,5 tỷ USD, năm 2000 con số này lên đến 7,1 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu năm 1995 đạt 1,1 tỷ, năm 2000 đạt 2,6 tỷ USD (tăng 2,3 lần) chiếm 185 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Với cơ cấu gồm một số mặt hàng chủ yếu: dầu thô, gạo, lạc, đậu, cao su, chè, ngô, hạt điều, tiêu, rau quả tươi, thuỷ sản và đồ thủ công mỹ nghệ, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Xingapo 885 triệu USD (34% tổng kim ngạch xuấtkhẩu sang ASEAN) sau đó là Philippin (478 triệu USD). Lào (66 triệu USD), malaixia (431 triệu USD), Thái Lan (389 triệu USD), Indonexia (248 triệu USD0, Camphuchia(133 triệu USD). Trong tương lại ASEAN vẫn luôn là một đối tác quan trọng của Việt Nam, theo dự báo cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2010 và 2020 vào ASEAN sẽ luôn duy trì ở mức 10%. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và ASEAN được phản ánh qua:
Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, FDI của ASEAN tại Việt Nam chiếm gần 25% tổng vốn đăng ký và 20,6% tổng vốn đầu tư thực hiện, 6 tháng đầu năm 2001 mới thu hút được 17 dự án đầu tư với số vốn đăng ký 27,38 triệu USD. Đến hết năm 2002, đầu tư nước ngoài của ASEAN vẫn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ với 68 dự án (= 9,7% tổng số dự án) 164,6 triệu USD vốn đăng ký (11,7% tổng vốn đăng ký cấp phép cả năm) trong đó có 5/9 nước ASEAN đầu tư vào Việt Nam, dẫn đầu là Xingapo, Thái Lan và Malaixia. Mặc dù hiệu quả đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam chưa cao (vốn thực hiện/ vốn đăng ký mới chỉ đạt 40,4% doanh thu/ vốn thực hiện: 120%; xuất khẩu/ doanh thu 11,1%) do trình độ công nghệ, do hướng đầu tư chưa hợp lý, chủ yếu nhắm vào những hàng hoá thay thế nhập khẩu và một số lĩnh vực khách sạn, du lịch, bất động sản mà Việt Nam chưa đủ điều kiện để phát triển mạnh, nhưng đã cho thấy mức độ ảnh hưởng chi phối của ASEAN đối với nền kinh tế Việt Nam và đây cũng là một phần quan trọng để Việt Nam bước vào kinh tế thế giới. Hội nhập cùng ASEAN, các DNVVN Việt Nam có cơ hội vươn rộng ra thị trường ngoài nước, cũng đồng thời phải giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong tổng thể chiến lược cạnh tranh. Những cam kết gắn với Hiệp định Khu vực mậu địch tự do ASEAN (AFTA) đã xác định rõ những điểm mốc thời gian cho quá trình triển khai thực hiện chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và DNVVN nói riêng.
3.1.1 Cam kết thực hiện AFTA của Việt Nam ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
- Thuế quan và Lịch trình cắt giảm
- Đối với hàng hoá thuộc danh mục loại trừ ngay: mức thuế giảm xuống còn từ 0-5%, cắt giảm theo hai lộ trình: 1996-2006.
- Cắt giảm bình thường: thực hiện chủ yếu đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị, sắp thép: mức thuế cao hơn 20% giảm xuống 2% vào 1-2003 và tiếp tục giảm xuống 0-5% vào 1-2006; mức thuế bằng/ thấp hơn 20% giảm xuống 0-5% vào 2003: 2001-2006.
Cắt giảm nhanh: gồm 15 nhóm sản phẩm như dầu thực vật, hoá phẩm phân bón, cao su, bột giấy, giấy, gỗ, sản phẩm mây đan…; mức thuế cao hơn 20% phải giảm xuống 0-5% vào 1-2003; mức thuế thấp hơn 20% phải giảm xuống 0-5% vào 1-2001: 2001-2003.
- Đối với hàng hoá thuộc danh mục loại trừ tạm thời
- Giảm mức thuế suất xuống còn 0-5%: 1999-2006
- Giảm 20% hàng năm và chuyển sang danh mục loại trừ ngay: 1999-2003
- Đối với danh mục nhạy cảm: giảm mức thuế suất xuống còn 0-5%: 2018
- Đối với các hạng mục hàng hoá thuộc Khuôn khổ hợp tác công nghiệp ASEAN giảm mức thuế suất xuống còn 0-5%: 2015
Đối với các sản phẩm công nghệ thông tin, truyền thông 2003-2008 giảm thuế suất xuống còn 0%.
- Phi thuế quan
- Đối với hàng hoá thuộc danh mục loại trừ ngay và danh mục nhạy cảm các hàng rào phi thuế sau phải được dỡ bỏ: 1996-2006.
- Hạn chế định lượng (quota, giấy phép, cấm nhập khẩu): 1996-2003
- Hạn chế ngoại hối liên quan đến việc chi trả hàng hoá: 1996
- Các khoản phụ thu hải quan dưới thuế: 1996-1999
- Hàng rào phi thuế quan khác: 1996-2006
Đối với các sản phẩm công nghệ thông tin, truyền thông, tất cả các hàng rào phi thuế quan phải được dỡ bỏ: 2003-2008.
Có thể bạn quan tâm:
3.1.2. Chuẩn bị của Việt Nam đối với việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Tổ chức Thương mại thế giới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1995, là sự kế thừa và phát triển của GATT (Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan) – một tổ chức được thành lập từ năm 1948, nhằm thúc đẩy tự do ngoại thương và không áp dụng chính sách phân biệt đối xử trong thương mại.
Với hai nguyên tắc lớn không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại giữa các nước và thực hiện bảo hộ sản xuất bằng thuế quan, WTO đảm nhận các chức năng hoạt động chủ yếu sau: 1) Tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên nhằm thúc đẩy quá trình tự do hoá mậu dịch giữa các quốc gia; 2) Xây dựng các quy tắc quốc tế mới về thương mại và tổ chức thực hiện các quy tắc đó. Các nước đã ký kết và thừa nhận các hiệp định của WTO đều phải thực hiện các quy tắc này. Theo Hiệp định, các nước thành viên của WTO cắt giảm 38% thuế nhập khẩu, đưa mức thuế trung bình toàn cầu từ 5% giảm xuống còn 3% trong 10 năm tới, dự tính đến năm 2005, lượng trao đổi hàng hoá tăng 12% (tương đương 755 tỷ USD) và GDP của thế giới tăng 235 tỷ/năm; 3) Giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp mậu dịch quốc tế; 4) Phát triển kinh tế thị trường.
Tuy nhiên trên thực tế do sự phát triển kinh tế không đồng nhất nên vận dụng các nguyên tắc và quy chế của WTO cũng có sự điều chỉnh thích hợp, đặc biệt là một số ưu đãi dành cho các quốc gia đang phát triển như miễn giảm hoặc bãi bỏ nghĩa vụ và cung cấp những điều kiện thuận lợi khác nhau tuỳ theo mức độ phát triển của mỗi quốc gia như:
- Các nước đang phát triển và kém phát triển được miễn hoặc giảm nghĩa vụ khi thực hiện nghĩa vụ của những hiệp định mới về sở hữu trí tuệ hay các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các nước đang phát triển được kéo dài thời gian thực hiện hơn các nước tiên tiến.
- Các nước đang phát triển có thể được áp dụng mức thuế quan cao hơn mức của các nước phát triển trong các thoả thuận quốc tế về thuế
- WTO áp dụng hệ thống ưu đãi chung cho các nước đang phát triển và hệ thống ưu đãi cho các nước kém phát triển và hệ thống ưu đãi cho các nước kém phát triển. Theo đó các nước phát triển áp dụng mức thuế thấp cho hàng hoá nhập khẩu từ các nước đang phát triển / kém phát triển, thậm chí có trường hợp mức thuế này thấp hơn cả mức thuế theo thuế huệ quốc.
- WTO kế thừa GATT thực hiện nguyên tắc “có đi có lại”, theo đó nước nào có trình độ kinh tế càng thấp thì phải chịu mức độ, phạm vi nghĩa vụ bồi thường càng ít.
Nhận thức tầm quan trọng của quá trình tham gia WTO, từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã làm quan sát viên một phần của tổ chức GATT. Ngày 20-7-1994, Việt Nam là quan sát viên của GATT, tạo điều kiện cho nước ta tham dự tất cả các cuộc hội nghị của tổ chức thương mại quốc tế, tiếp cận thuận lợi hơn với thị trường thế giới thúc đẩy quan hệ buôn bán quốc tế.
Để được thực sự vào hoạt động thương mại thế giới cùng với các thành viên khác và trở thành thành viên của WTO, các thủ tục và tiến trình gia nhập của Việt Nam gồm sáu giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nộp đơn gia nhập
Giai đoạn 2: Gởi “Bị vong lục” tới Ban công tác. Bị vong lục giới thiệu tổng quan về nền kinh tế Việt Nam như: chính sách vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách cùng với thông tin chi tiết về chính sách liên quan đến thương mại hàng hoá dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ.
Giai đoạn 3: Làm rõ chính sách thương mại
Giai đoạn 4: Đưa ra bản chào đầu và tiến hành đàm phán song phương. Các bản chào ban đầu gồm: thuế suất nhập khẩu cho tất cả các mặt hàng ta định cam kết rằng buộc khi là thành viên. Bản chào ban đầu về loại bỏ các hàng rào phi thuế quan như cấm nhập khẩu và các biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu khác. Bản chào ban đầu về dịch vụ: dự kiến những lĩnh vực dịch vụ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia và các điều kiện kinh doanh, mức vốn, số lao động, yêu cầu về bằng cấp…
Giai đoạn 5: Hình thành nghị định thư: Khi mọi thủ tục đã hoàn tất và đơn xin gia nhập được chấp thuận (với sự chấp thuận của 2/3 số nước thành viên) nghị định thư sẽ được đàm phán. Nghị định thư này sẽ quy định các điều kiện về tư cách hội viên. Trong một số trường hợp có thể có các điều kiện đặc biệt.
Giai đoạn 6: Phê chuẩn nghị định thư
Chúng ta đang đặt mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2005 Việt Nam có thể được gia nhập WTO.
3.1.3. Phương hướng, mục tiêu chiến lược phát triển DNVVN Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Sau gần 20 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển dịch tích cực, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1986- 2001 là 6,5%, tỷ trọng cơ cấu công nghiệp và dịch vụ đã gia tăng đáng kể, năm 1986 là 28,88% và 33,06%, năm 2000 là khoảng 36% và 40%, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đã đóng góp rõ rệt vào sự tăng trưởng kinh tế. Hoạt đông xuất nhập khẩu đã có nhiều thay đổi, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã có nhiều thay đổi, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã có nhiếu thay đổi, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 11 lần từ năm 2000/1986 923.400/2.945 triệu USD), cơ chế xuất nhập nkhẩu đang dần định hướng cơ cấu thay thế nhập khẩu. Trong tình hình kinh tế thế giới những năm 2000 với nhiều biến động do sự suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ và Nhập Bản, kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, năm 2001 tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 6,8%. Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001-2010 và Chương trình kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 nêu ra trong Báo cáo của Ban Cấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX [15] “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa” tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng kinh tế đói ngoại” với các chỉ tiêu kinh tế cụ thể:
Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm 2001-2005 là 7,5%, tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp/ công nghiệp và xây dựng/ dịch vụ tương ứng là 20-215/ 38-39%/41-42%. Về định hướng cơ chế chính sách và các giải pháp chủ yếu, Việt Nam chủ trương tiếp tục nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần… tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và công dân đầu tư cá thể, tiểu chủ và tư nhân, hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường, tăng cường hiệu lực của các yếu tố thị trường, tăng cường hiệu lực của các công cụ, chính sách quản lý vĩ mô, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh cải các hành chính, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Những tư tưởng định hướng chiến lược chung cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam là sự khẳng định quan trọng cho đường lối phát triển DNVVN. Trong Báo cáo “Định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNVVN là một bộ phận chiến lược quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của nước ta, vì DNVVN có ưu thế lớn trong việc tạo công ăn việc làm, giải quyết sức ép và gánh nặng xã hội về thất nghiệp, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động, sử dụng tốt hơn nguồn nhân lực dồi dào và sẵn có trong dân, tạo điều kiện để các nhà đầu tư huy động vốn vào sản xuất làm tăng trưởng bền vững của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của cả nước. Sự phát triển và nâng cao năng lực DNVVN phải gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, thể hiện trong một số lĩnh vực như phân công chuyên môn hoá giữa các DNVVN với các doanh nghiệp lớn như hệ thống mắt xích, dây chuyền để tạo sự thông suốt giữa đầu vào và đầu ra của các doanh nghiệp lớn, để đảm bảo chất lượng đồng bộ giữa các công đoạn, các doanh nghiệp lớn có thể hỗ trợ DNVVN về tài chính, đào tạo tay nghề, trao đổi thông tin, kinh nghiệm quản lý và chuyển giao công nghệ; từ đó DNVVN có thể đảm nhận đấu thầu một số phần việc trong hợp đồng lớn. Trong một số ngành nghề và ở một số địa phương, nơi các doanh nghiệp lớn không có lợi thế tham gia, DNVVN cần khai thác triệt để và hiệu quả những cơ hội này. Để tập hợp, mở rộng và nâng cao sức mạnh của mình, các DNVVN cần thực hiện liên kết tạo ra tiếng nói chung có trọng lượng đối với các cơ quan quản lý của Nhà nước, thông qua các hiệp hội, trung tâm, khu công nghiệp dành riêng cho DNVVN.
- MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
3.2.1. Hoạch định và quản lý chương trình triển khai chiến lược phát huy lợi thế cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
3.2.1.1. Phát triển chiến lược khai thác thị trường ngách – một giải pháp khả thi đối với các DNVVN ở Việt Nam
Khái niệm về thị trường ngách đã được nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập đến, đó thường là những khoảng trống/ khe hở nhỏ trên thị trường xuất hiện và tồn tại nhu cầu về một loại hàng hoá nào đó. Nhu cầu này có thể bị các nhà kinh doanh lớn bỏ qua, không muốn đầu tư do không có lợi thế hoặc nhu cầu chưa được phát hiện ra. Ý tưởng phát triển thị trường ngách được nhiều người coi là xuất phát từ “tình yêu cuộc sống” của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong sự cạnh tranh gay gắt vì sự sinh tồn trên thương trường vì DNVVN có quy mô vừa đủ để kinh doanh có lời và phù hợp với nguồn lực không lớn, họ không bị các nhà kinh doanh “dẫn đạo thị trường” để ý đến, hoặc nếu có để ý đến họ cũng bỏ qua và không muốn đầu tư, các Công ty nhỏ tham gia thị trường này có thể tự phòng vệ, chống lại sự tấn công của các đối thủ mạnh hơn nhờ quan hệ thân quen và chung thuỷ với khách hàng. Khi đó Công ty có thể chuyên môn hoá phục vụ một nhóm khách hàng cụ thể, hoặc chuyên môn hoá một. Một vài khâu theo chiều dọc của một chu kỳ sản xuất – phân phối, chuyên môn hoá theo khu vực địa lý, theo mặt hàng và/ hoặc một đặc tính chuyên nghề của một số nhóm sản phẩm.
Các DNVVN, trong điều kiện hạn hẹp về tài chính, khả năng xâm nhập thị trường lớn ít, khả năng điều tiết các mối quan hệ có lợi cho mình về giá cả và số lượng gần như không có, mạng lưới thông tin thị trường không đầy đủ, đầu tư cho khoa học – công nghệ, nghiên cứu và phát triển thấp, nên việc khai thác thị trường ngách trở nên đặc biệt quan trọng. Sự phù hợp trong việc nhắm đích vào thị trường ngách còn thể hiện ở chỗ: với lượng vốn đầu tư nhỏ, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng thấp, DNVVN có thể dễ đầu tư kinh doanh đáp ứng nhóm nhu cầu nhỏ, mức rủi ro thấp, có khả năng kiểm soát dòng vốn thuận tiện. Hơn nữa do có sự gần gũi thị trường, nên những biến động trong nhu cầu dễ được doanh nghiệp phát hiện ra và điều chỉnh cung ứng, thêm vào đó do quy mô nhỏ nên sự chuyển giao công nghệ cũng được tiến hành gọn gàng và ít phức tạp, điều này tạo lợi thế lớn cho các DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh, linh hoạt và năng động, thích ghi nhanh với đòi hỏi của thị trường. Tại một số địa phương, DNVVN thường sử dụng những lao động thuộc chuyên môn làng nghề, hoặc lao động trong thời kỳ nông nhàn và kết hợp chặt chẽ lao động thủ công với công nghệ hiện đại, điều này các doanh nghiệp lớn khó thực hiện do biên chế lớn và bộ máy cồng kềnh. Do có quy mô nhỏ nên chi phí cho bộ máy quản lý, hạ tầng cơ sở và các khoản chi phí hành chính khác cũng đỡ tốn kém hơn, với các khoản chi phí tiết kiệm được, DNVVN có thể tập trung cho sản xuất, nâng cao chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm.
Tại Việt Nam sự hình thành phát triển thị trường có nhiều điểm khác biệt do thể chế kinh tế chính trị, trước những năm 1986 thị trường, chủ yếu là thị trường có tổ chức, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà nước. Từ sau năm 1986 với sự đổi mới cơ chế chính sách, các thành phần kinh tế được huy động tham gia xây dựng phát triển kinh tế, cơ chế quản lý thị trường đã có nhiều thay đổi, thị trường ngày càng được đa dạng hoá và cạnh tranh đã trở thành một động lực quan trọng cho sự phát triển, sự lưu thông trên thị trường trở nên thông suốt hơn, các dạng thị trường được hình thành một cách đồng bộ và vận hành theo đúng những quy luật khách quan của nó. Tuy vậy các doanh nghiệp Việt Nam trước thách thức của quá trình mở cửa và hội nhập vẫn đang gặp không ít khó khăn. Để giải đáp những khó khăn này, khai thác thị trường ngách là lựa chọn hợp lý nhất cho các DNVVN.
Tư tưởng nhất quán trong việc khai thác thị trường này là phải kinh doanh những sản phẩm/ dịch vụ mà khách hàng cần chứ không bị bó chặt vào những năng lực có sẵn của doanh nghiệp, do vậy cần lấy việc tìm hiểu nhu cầu khách hàng làm bước khởi phát cho mọi hoạt động kinh doanh. Đối với các DNVVN, khai thác nắm bắt nhu cầu khách hàng có thể thực hiện dưới nhiều hình thức: hỏi trực tiếp khách hàng, quan sát thị trường và hoạt động kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh, khai thác thông tin từ hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng, hoặc qua các mối quan hệ bạn bè, gia đình. Các chủ doanh nghiệp cần có khả năng nhìn ra những vấn đề mà người khác chưa nhìn ra, nhận ra những nhu cầu tiềm năng mà thậm chí ngay cả khách hàng còn chưa hình dung một cách đầy đủ.
Tiếp đó phải tận dụng mọi thời cơ và nguồn lực cho việc khai thác thị trường, ở điểm này sự cẩn trọng và quyết đoán nhanh là những đức tính cần thiết nhất đối với chủ doanh nghiệp. Chi phí cơ hội phải trả sẽ là rất lớn cho những ai không nắm bắt đúng thời cơ, trong cuộc cạnh tranh gay gắt, phần thắng sẽ thuộc về những ai “biết mình, biết người”, linh hoạt lúc công lúc thủ, biết chọn người để hợp tác và biết giữ chữ tín trong kinh doanh. Với thực lực của mình các DNVVN cần định hướng khu vực thị trường mục tiêu tại những nơi mà đối thủ cạnh tranh lớn bỏ qua, hoặc chưa đáp ứng đủ nhu cầu, phần thị trường có mức cạnh tranh thấp, hoặc nơi mà đối thủ cạnh tranh chính ít quan tâm đổi mới, cải tiến sản phẩm. Khi phán đoán xác định mức cầu tại các thị trường này, doanh nghiệp và vừa nhỏ cần làm rõ cấu trúc của cầu, tỷ trọng thu nhập dân cư và sức mua tiềm năng, sự chuyển biến về quy mô và cơ cấu tiêu dùng thường là thời điểm tốt nhất cho doanh nghiệp và nhỏ nhận ra phần thị trường ngách. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Với vùng thị trường ngách xác định, các DNVVN sẽ phải lựa chọn và quyết định phương án kinh doanh. Một phương án kinh doanh tốt phải có tính khả thi cao, đáp ứng những yêu cầu về kinh tế (doanh thu, lợi nhuận), xã hội (công ăn việc làm, chất lượng cuộc sống, môi trường) và khả năng tồn tại lâu dài. Trong các phương án kinh doanh được lựa chọn, dựa vào đặc trưng của nhóm khách hàng mục tiêu, DNVVN sẽ dự tính các cách thức đáp ứng với các giải pháp marketing hữu hiệu, như thiết kế các sản phẩm đảm bảo các đặc tính, lợi ích tiêu dùng, chất lượng thích hợp, có chính sách định giá hợp lý, thiết kế các kênh phân phối nhằm kiểm soát được sức tiêu thụ của hàng hoá và hỗ trợ bán hàng bằng các hoạt động xúc tiến thương mại (quảng cáo, khuyến mãi, tuyên truyền cổ động…). Trong khi sử dụng các giải pháp marketing, các DNVVN cần nỗ lực xây dựng năng lực chủ chốt của riêng mình làm cơ sở cho sự khác biệt hoá, tạo ra tính đơn nhất của sản phẩm, dịch vụ và danh tiếng uy tín của thương hiệu.
Trong kinh doanh cho dù mọi trù tính có cẩn trọng đến đâu cũng không phải lúc nào cũng thành công như ý muốn, trong những tình thế khó khăn, DNVVN cũng cần lưu ý đến những rủi ro có thể và tính đến đường rút an toàn cho doanh nghiệp. Thông thường việc rút lui cũng vấp phải một số khó khăn do phải thanh lý các tài sản cố định, hoặc mất một số khách hàng quen thuộc, thậm chí ảnh hưởng đến uy tín nhãn hiệu hàng hoá. Nhưng chủ động đối phó vẫn luôn được coi là đơn thuốc trị bệnh hiệu quả hơn và điều quan trọng là nhu cầu thị trường luôn biến động, nếu một phần thị trường này đã bị lấp đầy thì chắc chắn sẽ có những lỗ hổng thị trường khác chưa được đáp ứng, điều này sẽ tạo thêm tự tin và sức hấp dẫn khai phá thị trường.
3.2.1.2. Một số mô hình phát triển của DNVVN ở Việt Nam Thầu phụ công nghiệp
Thầu phụ công nghiệp là một hình thái tổ chức sản xuất mang tính chuyên môn
hoá ngành nghề giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ, trong đó hệ thống các doanh nghiệp nhỏ hình thành như một tập hợp các vệ tinh chịu trách nhiệm sản xuất các phụ kiện, lắp ráp sản phẩm. Các doanh nghiệp lớn (thầu chính) đảm nhận phần công việc cốt lõi, nghiên cứu cải tiến công nghệ, thiết kế sản phẩm, nắm giữ các bí quyết sản xuất – kinh doanh, chế tạo các cấu kiện chính, tiêu thụ sản phẩm. Việc phân chia công việc giữa các thầu chính và thầu phụ tuỳ thuộc vào đặc trưng ngành nghề, trình độ phát triển công nghệ của các quốc gia, và lợi thế cạnh tranh riêng của từng nhà thầu, nhưng vai trò kiểm soát luôn nằm ở nhà thầu chính. Thông thường một nhà thầu chính có một vài thầu phụ, số lượng và các cấp thầu phụ chủ yếu do sự lớn mạnh của thầu chính. Tại một số quốc gia hệ thống thầu phụ công nghiệp có dạng hình tháp hoặc liên kết theo chiều ngang, ví dụ Tôyôta của Nhật Bản có hơn 36.000 nhà thầu phụ, trong đó có 168 thầu phụ cấp 1,4.700 thầu phụ cấp 2,31.600 thầu phụ cấp 3; trong khi tại các quốc gia phương Tây, mô hình thầu phụ ít tổ chức theo hình tháp, mà có xu hướng một thầu phụ cùng cung cấp cho một vài nhà thầu chính.
Mô hình thầu phụ công nghiệp là một giải pháp phù hợp với các DNVVN, chúng đảm bảo sự phát triển trong tính phụ thuộc và mang hình dạng của “đàn sếu bay”, phát huy thế mạnh của mọi loại hình doanh nghiệp tham gia thầu (chính và phụ). Thông qua thầu phụ công nghiệp có thể giảm yêu cầu tích tụ vốn để đảm bảo kinh doanh hiệu quả của một doanh nghiệp, thực chất thầu phụ công nghiệp là cách gọi vốn của nhiều doanh nghiệp cho từng khâu trong dây chuyền sản xuất – kinh doanh khi họ chấp thuận tham gia hợp tác, thầu phụ, Với con đường này, thầu phụ công nghiệp cho phép nâng cao sức cạnh tranh, khai thác lợi thế cạnh tranh của tất cả các nhà thầu để giảm chi phí, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, và đạt được lợi ích kép nhờ việc gia tăng sức mạnh và quyền lực cho cả thầu chính và thầu phụ, các nhà thầu chính giảm được thế bất lợi với cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt hơn, phản ứng nhạy bén hơn với những thay đổi trong thị trường, còn các nhà thầu phụ- là các DNVVN linh hoạt, có sự năng động cao, có mặt trong mọi không gian, ngành nghề và mọi thành phần kinh tế, thì tránh né được cạnh tranh với các đối thủ lớn, đôi khi lại được nhận sự trợ giúp dưới nhiều hình thức khác nhau của các nhà thầu chính về tài chính, nhân sự, công nghệ, thị trường.
Theo kinh nghiệm thực tế của một số quốc gia, để áp dụng thành công thầu phụ công nghiệp cần phải đảm bảo một số điều kiện:
– Các doanh nghiệp thầu chính phải đủ mạnh để đóng vai trò hỗ trợ các DNVVN ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
- thầu phụ công nghiệp, trên các lĩnh vực về vốn, công nghệ – kỹ thuật, đào tạo và huấn luyện nhân viên, bao tiêu sản phẩm. Sự hỗ trợ này không chỉ ở giai đoạn ngắn mà tồn tại trong suốt quảtình hợp tác lâu dài giữa hai bên.
- Các DNVVN – thầu phụ công nghiệp phải nỗ lực vươn lên, đảm nhận được trình độ kỹ thuật – công nghệ và những kỹ năng lao động cần thiết khác để đáp ứng các yêu cầu căn bản của nhà thầu chính về chất lượng, chi phí và thời gian giao hàng.
- Cần có chính sách hỗ trợ Chính phủ đủ hiệu lực pháp lý để điều hoà quan hệ lợi ích và ràng buộc trách nhiệm giữa các doanh nghiệp độc lập trong mối quan hệ thầu chính – phụ.
- Các doanh nghiệp tham gia thầu chính – phụ cần thống nhất quan điểm kinh doanh với những mục tiêu chung. Trong nhiều trường hợp với các hạng mục đầu tư đòi hỏi thời gian thu hồi vốn lâu dài, các doanh nghiệp phải có chung quan điểm kinh doanh vì lợi ích tương hỗ, để tránh nảy sinh mâu thuẫn trong các giai đoạn khác nhau của dự án.
Tại Việt Nam theo kết quả điều tra của các tổ chức trong và ngoài nước [16], nhận xét chung về đặc điểm của thầu phụ công nghiệp cho thấy, hình thức thầu phụ công nghiệp mới chỉ được áp dụng ở phạm vi hẹp, khoảng 5-19% trong các ngành, kể cả các ngành có điều kiện áp dụng thầu phụ công nghiệp thuận lợi như cơ khí, ôtô, xe máy, điện tử. Một số ngành có truyền thống áp dụng thầu phụ công nghiệp lâu dài và được phát triển mạnh là: phụ tùng xe đạp, may mặc, xây dựng, sơ chế nông – hải sản; một số ngành mới phát triển thầu phụ công nghiệp trong thời gian gần đây là ôtô, xe máy, máy nông nghiệp, điện, điện tử, hoá chất, tuy nhiên mức độ liên kết vẫn chưa chặt chẽ và tốc độ còn chậm so với yêu cầu phát triển.
Hầu hết các thầu phụ mới chỉ tham gia làm những công việc có yêu cầu kỹ thuật đơn giản như sản xuất phụ tùng xe đạp, bao bì, san lấp, cắt kim loại… ngoài một số ít thầu phụ sản xuất sản phẩm công nghiệp có kỹ thuật cao hơn như sản xuất phụ tùng ôtô, xe máy, khuôn đúc cơ khí, quần áo và giày dép xuất khẩu, mối quan hệ giữa các nhà thầu chủ yếu đơn thuần là quan hệ mua bán thương mại, sự chỉ dẫn kỹ thuật chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân viên từ phía các nhà thầu chính còn rất hạn chế. Thậm chí một số nhà thầu chính còn o ép các nhà thầu phụ hoặc gây khó khăn về thanh toán tài chính. Hiện nay hệ thống các DNVVN ở Việt Nam có trình độ thầu phụ công nghiệp rất khác nhau, ngoài một số khu công nghiệp đã hình thành rõ nét và có hiệu quả giữa các nhà thầu chính và thầu phụ, còn lại đại đa số hình thức thầu phụ công nghiệp chưa mấy phát triển hiệu quả.
Nguyên nhân của vấn đề là do nhận thức về sự phân công hợp tác công nghiệp và môi trường thực tiễn của quá trình điều tiết các mối quan hệ hợp tác này tại Việt Nam sau thời gian dài của cơ chế bao cấp, tính tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp bị hạn chế trong các kế hoạch, theo các chỉ tiêu pháp lệnh hoặc chỉ tiêu hướng dẫn.
Hơn nữa, hệ thống các chính sách kinh tế chưa đề cập đầy đủ đến hình thức thầu phụ công nghiệp, quan hệ thầu phụ không được xem xét như một tiêu chuẩn cần có trong các dự án hay trong quá trình tái cơ cấu Công ty. Tất cả những điều này hiện đang làm cho việc lựa chọn DNVVN tham gia quá trình phân công hợp tác với tư cách thầu phụ công nghiệp trở nên khó khăn.
Giải quyết vấn đề này, cần có chương trình trực tiếp xúc tiến thầu phụ công nghiệp theo hướng sử dụng các doanh nghiệp lớn là thầu chính với tư cách là người kiểm soát và hỗ trợ toàn bộ quá trình kinh doanh bao gồm cả các công đoạn thuộc về các DNVVN.
Theo chủ trương sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước cần làm rõ hơn về chương trình cơ cấu các tổng Công ty, thẩm định các dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp thành viên mới, mở rộng hơn việc phi tập trung hoá sản xuất, sử dụng quan hệ thầu phụ công nghiệp như một tiêu chí đánh giá hiệu quả và sức cạnh tranh.
Trong quan hệ của các Hiệp hội nghề nghiệp cần định hướng mục tiêu để xúc tiến các quan hệ thầu phụ công nghiệp. Đồng thời các DNVVN cần khẳng định vị thế và uy tín kinh doanh của mình nhằm giành được chỗ đứng trong quan hệ với các nhà thầu chính, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, và tiến độ công việc. Giải pháp phát triển thầu phụ công nghiệp là một trong những hướng đi nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam, trong đó DNVVN với tư cách thầu phụ công nghiệp, một lần nữa sẽ khẳng định vai trò và sự đóng góp vào quá trình phát triển đất nước.
Làng nghề/ làng nghề truyền thống
Hiện nay cả nước có 1.450 làng nghề, trong đó có khoảng 300 làng nghề truyền thống, thu hút khoảng 4 triệu lao động. Mô hình về sự phát triển thành công về làng nghề Bát Tràng hiện đang là một ví dụ điển hình của sự phát triển kết hợp công nghiệp – nông nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tại các vùng nông nghiệp. Cùng lúc mô hình này đã giải quyết được cả các vấn đề kinh tế và xã hội tại các vùng nông nghiệp, duy trì và phát triển văn hoá, bản sắc dân tộc trong kinh doanh, khôi phục thị trường trong nước và tạo hình ảnh của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Làng nghề Bát Tràng ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Làng sản xuất gốm sứ lâu đời, hiện có 1.245 hộ, chiếm tỷ lệ 83,7%, chỉ có 67 hộ tham gia sản xuất nông nghiệp, những hộ này ngoài sản xuất nông nghiệp vẫn tranh thủ thời gian sản xuất gốm sứ. Số các doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, hợp tác xã, tổ hợp chỉ chiếm 1,6% còn lại 98,4% là cơ sở sản xuất hộ, đã hình thành phân công lao động chuyên môn hoá, một số chuyên chế biến vật tư và cung cấp nguyên liệu, một số khác chuyên tiêu thụ hàng hoá, còn lại phần lớn trực tiếp sản xuất sản phẩm. Lực lượng lao động tại Bát Tràng lúc thời vụ lên đến 4.000 – 6.000 lao động, chủ yếu là lao động phổ thông, tiền công khoảng 20.000 đồng/ngày, một bộ phận khác là lao động kỹ thuật với mức tiền công gấp 1,5 lần lao động phổ thông đảm nhận khâu quyết định về chất lượng và kiểu dáng. Từ cuối năm 1993, Bát Tràng đã có nhiều thay đổi như: cải tiến lò đốt, tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, chuyển mạnh sang xuất khẩu theo yêu cầu của đơn đặt hàng từ nước ngoài, với khách hàng chủ yếu từ các nước và vùng lãnh thổ Hàn Quốc, Đan Mạch, Bỉ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Mỹ, Đài Loan, bình quân doanh thu mỗi năm đạt hàng trăm tỷ đồng, riêng năm 2000, xuất khẩu đạt 18 triệu USD trong đó có 35% số hộ có doanh thu từ 60-100 triệu đồng/năm, 29% số hộ có doanh thu từ 50-60 triệu/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2001 đạt khoảng 10%.
Danh tiếng làng nghề Bát Tràng đã khiến Bát Tràng trở thành nơi thu hút khách tham quan du lịch,t ìm hiểu thị trường và ký kết hợp đồng kinh tế. Trong năm 2000 đã có 1.002 lượt đoàn khách với 5.460 lượt khách, 5 tháng đầu năm 2001 đã có 366 lượt
Tại một số tỉnh miền Bắc, như Hà Tây, Bắc Ninh, mô hình làng nghề cũng đang được nhân rộng. Tại Hà Tây thống kê toàn tỉnh có 12/14 huyện (85,7%) đã xây dựng và phát triển làng nghề, có 972 làng (trên tổng số 1.460 làng) chiếm 66,6% được công nhận là làng nghề, trong đó 147 làng nghề đạt tiêu chuẩn của Trung ương, và có 79 làng nghề mới, số hộ của 79 làng nghề mới là 29.885 hộ, với 63.958 lao động, trong đó số hộ kiêm tiểu thủ công nghiệp là 15.958 hộ (53,4%) (35.368 lao động – 55,3%), số hộ làm dịch vụ là 4.124 hộ (13,8%) (9.402 lao động – 14,7%), số hộ thuần nông là 9.803 hộ (32,8%) (19.188 lao động – 30%). Giá trị sản xuất của các làng nghề mới năm 2000 đạt 415,9 tỷ đồng, trong đó sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt 226,9 tỷ đồng (54,6%), kinh doanh dịch vụ 60,5 tỷ đồng (14,5%) và sản xuất nông nghiệp đạt 128,4 tỷ đồng (30,9%). Sự phát triển nhanh chóng các làng nghề của tỉnh Hà Tây đã được đánh dấu với các mốc, năm 1995 toàn tỉnh có 806 làng có nghề công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trong đó có 75 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề theo tiêu chí của tỉnh Hà Tây, đến năm 2000 số lượng làng nghề đã lên đến 972 làng. Sự phát triển các làng nghề kéo theo sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu kinh tế, năm 1995 tỷ trọng cơ cấu công nghiệp – xây dựng là 25%, dịch vụ là 26,3%, nông nghiệp chiếm 48,4%; đến năm 2000, công nghiệp
- xây dựng chiếm tỷ trọng 30,78%, dịch vụ là 28,22% và nông nghiệp chiếm 41% trong tổng số GDP của toàn tỉnh. Tiếp tục theo đuổi đường lối đổi mới, trong chương trình kế hoạch đến năm 2005, tình dự kiến cơ cấu kinh tế công nghiệp – xây dựng sẽ tăng lên 35%, dịch vụ là 30%, nông nghiệp chiếm 35% GDP, mở thêm nhiều làng nghề mới, thu hút nhêìu lao động tạo công ăn việc làm và tạo ra nhiều sản phẩm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đa dạng để phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Một hình ảnh khác về làng nghề cũng được thấy qua việc phát triển cụm công nghiệp đa nghề tại Bắc
Nhìn chung, việc phát triển các làng nghề hiện vẫn còn một số khó khăn, tại các tỉnh, các làng nghề chưa được quy hoạch phát triển dài hạn, chủ yếu vẫn mang tính tự phát, quy mô sản xuất nhỏ bé, phân tán, và chưa được sự quan tâm đúng múc của các cơquan chính quyền địa phương. Cơ sở hạ tầng hiện tại chưa tương xứng với sự phát triển làng nghề, thiếu mặt bằng sản xuất, đường giao thông nông thôn xuống cấp, điện sản xuất không đủ công suất. Vốn cho phát triển làng nghề bị hạn chế, thêm vào đó khi cần vay vốn các thủ tục còn kéo dài, khó huy động các nguồn vốn khác vào sản xuất – kinh doanh. Thiết bị công nghệ tại các làng nghề chủ yếu vẫn là thủ công, nửa cơ khí nên năng suất và chất lượng không cao, vừa chưa đồng đều ảnh hưởng đến sức tiêu thụ của hàng hoá. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng, mẫu mã sản phẩm chậm được cải tiến, khả năng cạnh tranh thấp. Ngoài ra các vấn đề về môi trường cũng chưa được xem xét một cách đầy đủ khi xây dựng phát triển làng nghề. Hệ thống các chính sách quản lý Nhà nước đối với phát triển làng nghề hiện vẫn còn nhiều bất cập.
Bắc Ninh phát triển cụm công nghiệp đa nghề ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Trong năm 2001, Bắc Ninh quy hoạch được 17 cụm công nghiệp đa nghề có tổng diện tích 2.235,31 ha với nguồn vốn đầu tư 20 tỷ đồng/cụm, trong đó ngân sách địa phương hỗ trợ 6 triệu đồng/ha, còn lại huy động vốn của các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp đa nghề. Hiện đã có ba cụm (cụm sản xuất thép Đa Hội – Châu Khê; cụm sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Quang và cụm Tân Hồng – Từ Sơn) tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dự định đến quý II năm 2002 sẽ đi vào hoạt động. Ngoài ra, ngành công nghiệp còn chủ động phối hợp các ban, ngành trong tỉnh đẩy nhanh tiến độ khả thi của các cụm công nghiệp đa nghề, thành lập quỹ khuyến công để khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ứng dụng công nghệ mới vào làng nghề, kết hợp với lao động thủ công của làng nghề cổ truyền, cấy nghề mới và đào tạo nghề ở nông thôn (thên, ren, mây tre đan…). Dự kiến năm 2002 ngành công nghiệp đạt giá trị sản xuất 3.250 tỷ đồng (tăng 26% so với năm 2001), trong đó doanh nghiệp Nhà nước trung ương đạt 686 tỷ đồng (tăng 40%), doanh nghiệp Nhà nước địa phương đạt 1.540 tỷ đồng (tăng 27%), doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.350 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.024 tỷ đồng.
Để tạo thuận lợi cho việc phát triển các làng nghề, ngoài việc trông mong vào chính sách khuyến khích của Nhà nước, các làng nghề nên tập hợp sức mạnh nội lực, thành lập các hiệp hội theo ngành hàng, từng bước quy hoạch phát triển mở rộng thị trường cho làng nghề, giúp nhau về thông tin thị trường, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại qua nhiều mối quan hệ trong và ngoài nước, thành lập các tổ chức chuyên giới thiệu sản phẩm, xây dựng nhãn hiệu hàng hoá của làng nghề.
Đa dạng hoá kết hợp các loại hình sản xuất – thương mại và dịch vụ
Hoạt động thương nghiệp và dịch vụ nói chung có giá trị và tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu GDP, đóng góp gần 40% cho tỷ lệ tăng trưởng GDP. Giá trị gia tăng năm 2001 so với 2000 đạt 6,1%, trong đó các ngành thương nghiệp – khách sạn – nhà hàng; vận tải, bưu điện và du lịch tăng tương ứng là 7,2%, 6,9% và 6,6%. Năm 2002, tốc độ tăng giá trị khu vực dịch vụ là 6,7%.
Thực tế cho thấy trong xu thế hội nhập, các loại hình dịch vụ mà các DNVVN có thể tham gia hiệu quả chủ yếu sử dụng nhiều lao động giản đơn, như các ngành thương mại bán lẻ, nhà hàng, khách sạn, du lịch. DNVVN do năng lực công nghệ thấp, vốn nhỏ nên thường co xu hướng tham gia đầu tư vào các hoạt động thương mại – dịch vụ cần ít vốn, quay vòng nhanh, tỷ suất lợi nhuận cao. Đây cũng là một mô hình có hiệu quả cần quan tâm và tỏ ra rất thích ứng với các chương trình kinh doanh của các DNVVN.
Song Long phát triển theo thế rồng bay ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Hợp tác xã Song Long được thành lập năm 1960, từ chỗ ban đầu chỉ là một xưởng sản xuất nhỏ, công nghệ sản xuất thô sơ, lạc hậu với 15 người và tổng số vốn 300 triệu, đến nay số cán bộ công nhân viên tăng lên gần 600 người với số vốn hàng chục tỷ đồng. Từ 1997-2001 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân của Song Long đạt 210%/năm, doanh số đạt 204%/năm, xuất khẩu đạt 216%/ năm.
Hiện tại Song Long đã đầu tư 6.000m2 nhà xưởng, 90 máy ép phun tự động, 25 dàn máy thổi hiện đại thế hệ mới do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông sản xuất với tổng số vốn 42 tỷ đồng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002. Năm 2002, Song Long đã đầu tư 5 tỷ đồng chomáy phun ép công nghệ Đài Loan nên chỉ trong 9 tháng đầu năm 2002 doanh thu đạt 114 tỷ (đạt 76% kế hoạch cả năm), nộp ngân sách 3,1 tỷ, lương bình quân 950.000 đồng/người/ tháng. Nhãn hiệu Song Long Plastic hiện đang có trên 400 mặt hàng, 3 năm liền (2000-2002) được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao, tiêu thụ trên hệ thống kênh phân phối với 45 tổng đại lý, bán hàng rải rác từ Quảng Nam trở ra Bắc và xuất khẩu sang Lào, Trung Quốc, Mỹ…
Tuy nhiên, trên thực tế một số loại hình dịch vụ vẫn chưa được các DNVVN khai thác hiệu quả do chưa có định hướng chiến lược đúng đắn, ví dụ như các dịch vụ bổ trợ du lịch. Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch, mức chi tiêu trung bình của du khách quốc tế tại Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực (Việt Nam: 75 USD/ngày/người; Campuchia là 90 USD/ngày; Thái Lan là 100 USD/ ngày; Inđônêxia: 118 USD/ngày; Philipin: 137 USD/ngày) một phần của lý do này là các khu vui chơi, giải trí lành mạnh ít và các loại hình nghệ thuật dân tộc không nhiều.
Cùng với việc phát triển các loại hình dịch vụ – một hình ảnh đặc trưng của cách thức khai thác thị trường ngách tại các thành phố, phục vụ các nhóm khách hàng với thói quen mua sắm và lối sống công nghiệp của xã hội tiêu dùng; một số DNVVN đã thành công trong việc đa dạng hoá kết hợp sản xuất – thương mại – dịch vụ, lấy sản xuất làm gốc và mở rộng các dịch vụ bổ sung nhằm tận dụng tối đa nguồn lực hiện có của Công ty. Trong thời gian gần đây một loại hình dịch vụ mới đã xuất hiện và thu hút 159 doanh nghiệp tham gia (trong đó 140 doanh nghiệp Nhà nước) đó là xuất khẩu lao động. “Ngành hàng” này cũng đang dần chiếm ngôi vị lớn trong các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, mỗi năm chuyển về nước 1,25 tỷ USD và là ngành xuất khẩu đứng thứ 5 sau dầu khí, dệt may, da giày và thuỷ sản, giải quyết cho khoảng 300.000 người thuộc 30 nhóm ngành nghề, lao động tại 40 nước.
3.2.2. Hoàn thiện nội dung quy trình nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam
Khi giải quyết các vấn đề nhằm hoàn thiện nội dung quy trình phát triển chiến lược cạnh tranh, không ai có thể phủ nhận một điều hiển nhiên là các nội dung kinh tế luôn tồn tại trong sự tương hỗ, và không thể giải quyết riêng biệt tuyệt đối từng khía cạnh riêng lẻ, nhưng cũng phải thừa nhận rằng trong mỗi hoàn cảnh cụ thể có thể cần ưu tiên tập trung một số điểm yếu hoặc những điểm trọng tâm để nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống. Trong quá trình nhằm hoàn thiện nội dung quy trình phát triển chiến lược cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam, theo chúng ta cần nhấn mạnh đến một số điểm sau:
Xác định mục tiêu phát triển dài hạn cho DNVVN ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Trong môi trường có nhiều biến động hiện nay, việc hoạch định mục tiêu dài hạn là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất đặt lên vai của các nhà quàn trị DNVVN. Mục tiêu dài hạn phải tính đến triển vọng phát triển của thị trường mục tiêu với những đặc trưng tiêu dùng của nhóm khách hàng trọng điểm, ngoài ra phải được lượng hoá để thuận tiện hơn cho quá trình chỉ đạo thực hiện. Thông thường nhóm các chỉ tiêu đo lường mục tiêu và mức độ phát triển của DNVVN bao gồm: doanh số, thị phần, lợi nhuận, mức độ bao phủ thị trường, mức độ phát triển công nghệ và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Mục tiêu dài hạn phản ánh những kết quả mong đợi từ việc theo đuổi chiến lược. Các mục tiêu dài cần cho mọi cấp: Công ty, bộ phận – đơn vị chức năng. Mỗi mục tiêu cũng cần phải gắn với nấc thang thời gian và xác lập các thứ tự ưu tiên, khung thời gian cho việc thực hiện mục tiêu và chiến lược thường khoảng từ 2 đến 5 năm. Mục tiêu dài hạn sẽ định hướng giúp các DNVVN giảm tính không chắc chắn, hạn chế mâu thuẫn, kích thích các nỗ lực, hỗ trợ việc phân bổ nguồn lực và thiết kế công việc. Nếu không có những mục tiêu dài hạn, hoạt động của DNVVN sẽ trôi nổi vô định, không có định hướng đầu tư phát triển, khó nắm bắt được cơ hội. Thành công hiếm khi đến một cách ngẫu nhiên, mà nó thường là kết quả của sự kiên trì, khổ luyện được định hướng vào việc đạt được những mục tiêu nhất định.
Phân tích các điều kiện bên trong và bên ngoài
Phân tích những điều kiện bên trong và bên ngoài đưa đến kết quả là thấy được những điểm yếu/mạnh, nguy cơ/ cơ hội. Cơ hội và nguy cơ là những yếu tố tích cực, thuận lợi hay tiêu cực, bất lợi từ bên ngoài có ảnh hưởng rõ rệt đến kế hoạch kinh doanh của DNVVN, khác với những điểm mạnh/ yếu là những yếu tố thuận lợi/ bất lợi từ bên trong. Sự phân định mạnh/ yếu và cơ hội/ nguy cơ cũng không phải là bất biến, nó còn tuỳ thuộc lớn vào khả năng sử dụng những điểm mạnh khống chế những điểm yếu, vào khả năng nắm bắt, tận dụng cơ hội để giảm tiếu những đe doạ đối với DNVVN. SWOT là phương pháp phân tích chi tiết mọi vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN, như:
- Các vấn đề tài chính: vốn tự có hay vốn vay, tỷ trọng vốn vay và vốn tự có, thu chi tiền mặt, yêu cầu đầu tư, khả năng huy động vốn, khả năng sinh lời (tỷ suất lợi nhuận/ vốn đầu tư), mức độ rủi ro tài chính…
- Khả năng quản lý giám sát và điều hành: tuổi đời/ kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp, kỹ năng sẵn có, hệ thống thông tin liên lạc quản lý, nghệ thuật bán hàng, bí quyết công nghệ, trí thức kỹ thuật…
- Quy trình sản xuất: mức độ ảnh hưởng của quy trình công nghệ sản xuất đến chất lượng của sản phẩm, khả năng sản xuất hàng loạt của sản phẩm, trình độ kỹ thuật của lao động cần có, quy trình sản xuất theo dây chuyền hay riêng lẻ.
- Thị trường và xã hội: đặc điểm của thị trường mục tiêu, chiến lược marketing của các đối thủ cạnh tranh, đặc tính và yêu cầu chất lượng của sản phẩm, đòi hỏi của khách hàng về sản phẩm mới, khả năng đáp ứng nguyên liệu (số lượng/ chất lượng/ tiến độ cung cấp), tương lai của các nguồn nguyên liệu, lạm phát, sở hữu trí tuệ, chính sách ưu đãi, khuyến khích của Chính phủ, định kiến của cộng đồng/ công luận về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp…
Hiện nay các kỹ thuật phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài thường áp dụng dưới dạng cho điểm theo cách đánh giá của chuyên gia. Sau khi liệt kê một số nhân tố cụ thể, các chuyên gia sẽ đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố, rồi đánh giá xếp loại căn cứ vào định hướng hiện tại của doanh nghiệp đối với những nhân tố này. Cuối cùng tổng số điểm của các nhân tố sẽ cho chúng ta thấy khả năng của doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường kinh doanh.
Kết quả phân tích SWOT đồng thời cũng chỉ dẫn cho chúng ta những phương án lựa chọn có thể trong mỗi tình huống, khi có những kết hợp SO, ST, WO và WT trên cơ sở lợi thế/ bất lợi thế cạnh tranh (xem Bảng 3.3).
Chuẩn bị các điều kiện cho việc triển khai thực thi chiến lược
Mọi ý tưởng dù tốt đến đâu cũng mới chỉ là ý tưởng, chúng cần đi tiếp tới đích cùng với sự chuẩn bị chi tiết cho việc tổ chức triển khai thực thi. Đối với chiến lược cạnh tranh của DNVVN, một số điều kiện căn bản được kết nối vào quá trình thực hiện bao gồm: con người, phân bổ nguồn lực, xây dựng cơ chế – chính sách thực hiện. Cơ chế thực hiện được xác lập cho mọi cấp (cấp Công ty và cấp bộ phận) gắn với mọi công việc chức năng (sản xuất, marketing, nhân sự, tài chính…)
Tổ chức triển khai chiến lược cần đến số đông sự tham gia, vận động cùng chiều để hướng đến mục tiêu của Công ty, vì vậy những kế hoạch triển khai phải được thông báo rộng rãi, rõ ràng theo hệ thống thông tin quản lý đến tất cả các cấp và bộ phận chức năng nhằm phối hợp một cách nhịp nhàng, ăn khớp và hiệu quả.
Cuối cùng cần phải nhấn mạnh đến vai trò của các chiến lược/ chủ DNVVN. Bước sang thế kỷ XXI, gánh nặng cạnh tranh càng gây sức ép lớn cả về trọng lượng và áp lực, để đứng vững trên thương trường, ngoài tài năng cần có cả những phẩm chất được rèn luyện để có thêm kinh nghiệm và bản lĩnh.
Mời bạn tham khảo thêm:
3.2.3. Phát triển và hoàn thiện các kỹ năng kinh doanh nhằm khai thác hiệu quả nguồn nội lực, xây dựng và củng cố năng lực cạnh tranh của các DNVVN ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Toàn bộ các kỹ năng kinh doanh của các DNVVN chủ yếu tập trung ở hai nhóm vấn đề chính: tìm ra thị trường (khách hàng) và các cách thức đáp ứng tối ưu đối với các nhóm khách hàng (khách hàng mục tiêu).
3.2.3.1. Tìm kiếm thị trường
Thị trường dưới con mắt của các doanh nghiệp là nơi tồn tại những nhu cầu (hiện tại và tiềm ẩn) để từ đó tìm ra khách hàng và kinh doanh những thứ mà thị trường cần. Đối với các DNVVN, điểm xuất phát cho các hoạt động kinh doanh là nhận ra nhu cầu và chuyển hoá mọi mong muốn của khách hàng thành ý tưởng kinh doanh các loại hình sản phẩm/ dịch vụ.
Ý tưởng kinh doanh thường được xuất phát từ chính khả năng chuyên môn, và cảm nhận kinh doanh của chủ doanh nghiệp, từ việc quan sát các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, từ quan hệ bạn bè, người thân trong gia đình; từ các nguồn thông tin đại chúng, từ kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên các ý tưởng này cần được sàng lọc trong điều kiện khả thi của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp hiện đang kinh doanh, việc tìm kiếm và mở rộng thêm khách hàng có thể thực hiện bằng các cách: mở thêm các điểm bán (cửa hàng, đại lý tiêu thụ), cải tiến kỹ thuật bán hàng (dịch vụ giao hàng tại nhà, thanh toán chậm) phát triển thêm các loại hình sản phẩm, dịch vụ mới; bổ sung những nét độc đáo, khác biệt của sản phẩm, nâng cấp chất lượng sản phẩm.
Để có thể mở rộng khả năng tìm kiếm thị trường, cần thiết lập hệ thống thông tin marketing hữu hiệu tại các doanh nghiệp, với hai dạng chính: thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp. Trong điều kiện cụ thể của DNVVN với nguồn tài chính nhỏ có thể tận dụng xử lý các thông tin thứ cấp là chính, bên cạnh đó khai thác các mối quan hệ xã hội nghề nghiệp để mở rộng nguồn thông tin sơ cấp, nhờ đó có cách nhìn, cách xử lý khách quan hơn với những quyết định kinh doanh của mình.
3.2.3.2. Thực hành các kỹ năng marketing
Thiết kế sản phẩm/ Xác lập danh mục sản phẩm
Sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) là đối tượng và công cụ thực hành trao đổi giữa Công ty và khách hàng. Cần nhớ rằng khách hàng mua sắm sản phẩm và mức độ cảm nhận và sự hài lòng sau mua tuỳ thuộc và chịu ảnh hưởng lớn của rất nhiều nhân tố: văn hoá, xã hội, tâm lý và những nét đặc trưng cá nhân. Do vậy việc thiết kế sản phẩm phải đồng thời quan tâm đến các thông số kỹ thuật và tính mỹ thuật hình thức, bao gói, nhãn hiệu sản phẩm. Sự lựa chọn mua sắm của khách sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ những gì khách hàng hiểu về sản phẩm chứ không phải chỉ phụ thuộc vào những gì Công ty nói về sản phẩm của mình. Do vậy cần đánh giá được mức độ mong đợi của các khách hàng đối với các loại sản phẩm để xác lập cấp độ chất lượng cần thiết cho sản phẩm.
Quá trình thiết kế sản phẩm phải lồng ghép được các yếu tố cấu thành với các lớp sản phẩm: lớp cốt lõi, lớp hiện hữu và lớp bổ sung, bao gồm các biến số về thành phần vật chất và phi vật chất được biểu hiện qua chất lượng, nhãn hiệu bao gói, kiểu dáng, nét nổi trội của sản phẩm, các dịch vụ trước – trong và sau bán, các điều kiện thanh toán, vận chuyển, lắp đặt và hướng dẫn sử dụng… Trong kinh doanh hiện đại, khi tiến bộ khoa học và công nghệ đã có sự phát triển cao, khả năng mua bán, chuyển giao công nghệ được tiến hành nhanh chóng dưới nhiều hình thức, thì khả năng cạnh tranh của các sản phẩm/ dịch vụ cũng hướng được thực hiện bằng các giải pháp phi giá thông qua uy tín, danh tiếng nhãn hiệu sản phẩm và Công ty. Vấn đề này hiện đang nổi lên như một bức xúc mới đối với các DNVVN Việt Nam. Đối với các DNVVN, để khai thác hiệu quả các nguồn lực, sự đa dạng hoá ở phạm vi nhất định sẽ đảm bảo sự an toàn và hiệu quả cho kinh doanh. Danh mục sản phẩm hàng hoá/ dịch vụ là hình ảnh cụ thể chứng minh tính đa dạng hoá đó. Tập hợp đa dạng của các tuyến sản phẩm vừa cho phép Công ty khai thác lợi thế quy mô nhờ giảm chi phí phân bổ trên mỗi đơn vị sản phẩm, đồng thời tạo cơ hội cho khách hàng có sự lựa chọn phong phú hơn phù hợp với nhu cầu cá biệt. Danh mục các tuyến sản phẩm này cũng cần được doanh nghiệp thường xuyên xem xét lại để rút ngắn, loại bỏ những sản phẩm lạc hậu, bị lão hoá và bổ sung thêm những loại hàng hoá có sức tiêu thụ cao. Đối với sản phẩm được sản xuất theo những bí quyết kinh doanh riêng, doanh nghiệp cần có giải pháp gìn giữ bí quyết thông qua con đường pháp lý chính thống như đăng ký quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, biểu tượng, phát minh..), cũng như có những giải pháp riêng để tránh làm nhái, làm giả. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Phát triển thương hiệu của sản phẩm/ dịch vụ:
Thương hiệu là tên gọi, biểu tượng, dấu hiệu của sản phẩm/ dịch vụ của sản phẩm/ dịch vụ giúp cho khách hàng nhận biết ra sản phẩm/ dịch vụ của Công ty. Thương hiệu là phần giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, là biểu trưng văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp. Các DNVVN Việt Nam trong suốt thời gian dài chưa quan tâm thích đáng đến thương hiệu của mình. Một phần vì giá trị của thương hiệu thấp, thêm vào đó là nhận thức của chính các chủ doanh nghiệp cũng chưa đầy đủ cả về chuyên môn và tính pháp lý của thương hiệu. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập nếu không có chính sách phát triển thương hiệu đúng đắn sẽ khó có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và ngay cả với khu vực thị trường trong nước nguy cơ bị mất thị phần là rất rõ rệt.
Để phát triển thương hiệu và nâng cao giá trị/ giá trị thương mại của thương hiệu, cần thực hiện hai nhóm công việc: một là, nhận thức rõ vai trò và vị trí của thương hiệu trong quản trị kinh doanh hiện đại, từ đó có chiến lược, chính sách xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn cách đặt tên, xây dựng biểu tượng (logo) và đăng ký sở hữu công nghiệp đối với thương hiệu của mình; hai là, có chính sách đủ mạnh để nuôi dưỡng và định vị thương hiệu trong tâm trí của các nhóm khách hàng mục tiêu, không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến sản phẩm, đồng thời thực hiện các hoạt động yểm trợ như quảng cáo, xúc tiến thương mại, tuyên truyền cổ động…
Định giá cho sản phẩm:
Giá là nhân tố rất nhạy cảm trong điều kiện kinh doanh cạnh tranh. Nhiều DNVVN vẫn sử dụng giá làm công cụ cạnh tranh hữu hiệu. Giá là nhân tố giúp doanh nghiệp kiểm soát dòng tài chính và tính toán lãi lỗ cụ thể. Thông thường để tính giá cộng dồn chi phí có tính đến giá bình quân, mức giá trần và giá sàn trên thị trường. Tuy nhiên DNVVN có thể bổ sung các dịch vụ trước, trong và sau bán hàng nhằm duy trì độ chung thuỷ của khách hàng.
Tổ chức bán hàng:
Đội ngũ nhân viên bán hàng cùng các kỹ thuật bán hàng và việc thiết lập các kênh phân phối hiệu quả có thể giúp các Công ty gia tăng năng lực cạnh tranh. Bài học kinh nghiệm của các doanh nhân Trung Quốc về sự thành công trong kinh doanh không chỉ tại thị trường nội địa mà cả ở thị trường ngoài nước đã cho thấy vai trò quan trọng của công tác tổ chức bán hàng. Bán hàng trong điều kiện cạnh tranh hiện nay đã trở thành một nghệ thuật và bí quyết của các doanh nghiệp. Bán hàng không chỉ được coi đơn thuần là bán một sản phẩm mà là cung ứng một giải pháp thoả mãn nhu cầu cho khách hàng, do đó cách bán hàng – tư vấn sẽ giúp cho DNVVN gần gũi hơn với khách hàng. Quy trình thực hiện bán hàng hiện đại với các khâu mát xích: thăm dò – Đánh giá khách hàng; Chuẩn bị tiếp cận; Tiếp cận; Thuyết phục; Xử lý các phản ứng, bán hàng, chăm sóc khách hàng / dịch vụ sau bán hàng cần phải được các DNVVN tuân thủ sao cho mọi thành viên trong doanh nghiệp đều có vai trò thương mại, ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ và định vị hình ảnh của Công ty trong tâm trí khách hàng. Nên nhớ rằng nuôi dưỡng một hình ảnh đẹp thường mất nhiều thời gian, nhưng hình ảnh đó rất nhanh chóng bị phá hỏng nếu không biết trân trọng và giữ gìn nó. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Các hoạt động hỗ trợ nâng cao sức bán cho sản phẩm, và gia tăng uy tín:
Bao gồm các hoạt động quảng cáo, khuyến mại, marketing trực tiếp, tuyên truyền cổ động, các hoạt động phi thương mại vì mục tiêu thương mại như tài trợ cho các hoạt động văn hoá, thể thao, môi trường, nhân đạo, và các hoạt động xã hội và xã hội nghề nghiệp khác. Hiện nay tại thị trường Việt Nam, nhiều DNVVN chưa chú trọng đầy đủ đến hoạt động xúc tiến thương mại mà nguyên nhân gồm có cả nhận thức và nguồn kinh phí. Ví dụ, những chi phí cho quảng cáo, hiện các DNVVN đánh giá là quá cao so với khả năng bán của họ. Tuy nhiên có thể thực hiện công việc này hiệu quả hơn khi thực hiện liên kết quảng cáo hoặc quảng cáo theo hiệp hội/ nhóm ngành hàng. Cùng với quy mô thị trường và sức bán của sản phẩm, các DNVVN có thể điều chỉnh hợp lý nhằm hỗ trợ năng lực thương mại cho hoạt động kinh doanh.
Xây dựng và bảo vệ bản sắc kinh doanh của Công ty: Bản sắc kinh doanh là nhân tố dường như vô hình nhưng luôn hiện hữu trong mọi hành vi kinh doanh của doanh nghiệp, từ phong cách quản lý của chủ doanh nghiệp đến lề lối làm việc của các nhân viên và môi trường văn hoá trong doanh nghiệp. Để tạo dựng từng bước bản sắc kinh doanh của Công ty, DNVVN cần có ý thức định vị nhãn hiệu sản phẩm, tên Công ty, xác lập các biểu tượng, hình thức trong kinh doanh và chất lượng trong công việc từ cách bố trí không gian (nội thất, ngoại thất) tại Công ty, cửa hiệu, biểu tượng, màu sắc đặc trưng và trang phục đồng nhất của các nhân viên đến các cơ chế làm việc và các thông điệp phương ngôn chính thức nhằm khuyến khích mọi nhân viên trong Công ty cùng nhìn về một hướng, bảo vệ thành quả kinh doanh là kết quả tổng lực toàn bộ công sức do mọi thành viên trong Công ty đóng góp.
Để đi đến thành công, người ta cũng có thể có nhiều cách, tại một web site người ta đã tổng kết những sai lầm nguy hiểm của các DNVVN và cảnh báo về khả năng gây hại của chúng. Đây cũng là những bài học quý để các DNVVN suy ngẫm.
3.2.3.3. Thương mại điện tử đối với các DNVVN Việt Nam
Thương mại điện tử là hoạt động sử dụng các giải pháp điện tử trên nền Internet/ Website để thực hiện các quan hệ giao dịch và trao đổi thương mại. Thông thường các quan hệ giao dịch và trao đổi được thực hiện dưới 2 hình thức: Giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C).
Thương mại điện tử là những công cụ hữu hiệu trong thời đại “Kinh doanh thành công nhờ tư duy tốc độ” nó giúp cho cả người mua và người bán có thông tin rộng rãi về các loại hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ, thông tin giá cả, tạo cơ hội cho sự lựa chọn mua sắm hiệu quả của người tiêu dùng. Nhờ có kinh doanh điện tử khách hàng sẽ dễ dàng thực hiện các giao dịch với Công ty, rút ngắn thời gian giao dịch, cải thiện dịch vụ với khách hàng, thoả mãn cao hơn nhu cầu của khách hàng. Các DNVVN có thể cung cấp những thông tin cơ bản về sản phẩm và dịch vụ của mình 24/24 giờ trong suốt 7 ngày/ tuần, đồng thời các doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng truy cập vào trang web của mình để tìm hiểu thêm nhu cầu của khách hàng, về những thói quen và hành vi mua sắm của khách hàng, điều này giúp doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội bán hàng với các loại sản phẩm, đồng thời chủ động tiếp thị các sản phẩm mới. Mặt khác, thương mại điện tử không chỉ giúp Công ty có thêm khách hàng mà còn giúp Công ty có thêm mối quan hệ bạn hàng (lựa chọn nhà cung cấp) tốt hơn nhờ hoạt động mua hàng trực tuyến. Một DNVVN có thể sử dụng thông tin về Internet để so sánh giá hàng của nhiều nhà cung cấp. Cho phép họ thương lượng với những điều kiện tối ưu về giá, và thông qua Internet để đơn giản hoá các thủ tục mua hàng, hoá đơn, giấy biên nhận, hồ sơ đơn đặt hàng. Trong tương lại với sự hỗ trợ thương mại điện tử, các ngành kinh doanh điện toán viễn thông tài chính bán lẻ du lịch và công nghiệp năng lượng sẽ có nhiều thay đổi về phương thức quản lý, kinh doanh, giảm chi phí giao dịch, đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của khách hàng.
Tại Việt Nam, trong một điều tra năm 2001 của Bộ Thương mại tiến hành trên ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
70.000 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cho thấy, chỉ có 3% doanh nghiệp quan tâm đến thương mại điện tử, 7% bắt đầu triển khai thương mại điện tử và 90% doanh nghiệp không có chút khái niệm gì về thương mại điện tử. Theo báo cáo tại Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực về thương mại điện tử trong khu vực sông Mêkông” ngày 8-10-2002 tại thành phố Hồ Chí Minh, hiện chỉ có 2% doanh nghiệp Việt Nam có website, 8% tham gia có tính chất phong trào, còn lại 90% doanh nghiệp chưa tham gia, chưa biết sử dụng.
Sự phát triển của thương mại điện tử là một trong những bước tiến lớn nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, tuy nhiên trong giai đoạn đầu khi chi phí để tổ chức thương mại điện tử vẫn còn cao, kinh nghiệm sử dụng thương mại điện tử chưa nhiều, các DNVVN cần lưu ý một số điểm để nâng cao hiệu quả sử dụng thương mại điện tử. Cụ thể là cần phải nhận thức được vai trò tiềm năng thực sự của Internet và sử dụng chúng vào mục tiêu của doanh nghiệp, không nên khoán trắng cho thông tin viên, mà cần chủ động lựa chọn những công cụ hợp lý, khai thác hiệu quả tiện ích của các phần mềm chuyên dụng, và thông tin hữu ích từ các địa chỉ Internet có liên quan, khi đã có trang web cần duy trì ổn định các công cụ này cả về kỹ thuật và kinh doanh bởi vì không phải có trang web là có tất cả, và thương mại điện tử không chỉ là sở hữu một website hay mua bán trực tuyến, một trang web không đủ để thay thế các phương pháp và kỹ thuật marketing khác.
Việc tăng trưởng thương mại điện tử sẽ thúc đẩy tăng trưởng của thương mại quốc tế và ngược lại, tăng trưởng thương mại quốc tế sẽ đòi hỏi áp dụng thương mại điện tử cấp bách hơn đối với các nước nghèo thông qua quá trình chuyển giao công nghệ có thể tiếp cận công nghệ thông tin mới tuy nhiên những thách thức và khó khăn cũng không ngừng gia tăng.
Tại Việt Nam trở ngại chính cho việc vào mạng của các DNVVN là phí và giá. Do còn tồn tại sự độc quyền tương đối lớn của các nhà cung cấp dịch vụ Internet nên chất lượng cung cấp dịch vụ chưa tốt, giá cao. So với một vài quốc gia trong khu vực, giá thuê bao đường truyền 64KB của Việt Nam cao gấp 1,5 lần so với Thái Lan, 3,1 lần so với Malaixia, 4,2 lần so với Singapore và hiện nay chưa có những khung pháp lý, thể chế, chính sách cho sự tham gia của các thành phần kinh tế vào việc phát triển hạ tầng cơ sở thông tin, thiếu chiến lược thương mại điện tử, ảnh hưởng của sự phá hoại do các tin tặc tiến hành, cũng như sự lây nhiễm virút là rất phổ biến. Ngoài ra ngôn ngữ (tiếng Anh) cũng là một hàng rào cản lớn. Do vậy ngay từ khi thiết kế xây dựng website, các chủ doanh nghiệp cần nắm rõ mục tiêu dài hạn của việc ứng dụng kinh doanh điện tử, phải cân nhắc liệu kinh doanh điện tử có giúp Công ty đạt được mục tiêu một cách hiệu quả không, có ảnh hưởng như thế nào đến tổ chức của Công ty, lợi nhuận có thể mong đợi do áp dụng thương mại điện tử, đồng thời cũng cần quan sát các đối thủ cạnh tranh để đánh giá về ảnh hưởng của dự định áp dụng kinh doanh điện tử trong Công ty mình. Một vấn đề không thể không tính đến là khả năng nguồn lực của Công ty khi triển khai áp dụng thương mại điện tử, cần xem xét về giá truy cập, tốc độ truy cập, số lượng người dùng được kết nối cho một modem mà không phải trả thêm tiền, các dịch vụ hỗ trợ kèm theo, khả năng đáp ứng của Công ty về tài chính và con người cho việc sử dụng thương mại điện tử. Ngoài ra, để kiểm soát sjư thành công của trang web có thể theo dõi các dữ liệu về số lượng người ghé thăm, khả năng trả lời nhanh chóng và đúng đắn những thắc mắc của khán giả, mức độ bổ sung, cập nhật thông tin mới theo định kỳ.
Một vấn đề quan trọng khi sử dụng thương mại điện tử là độ an toàn. Từ phía doanh nghiệp để đảm bảo niềm tin về tính hợp pháp của trang web cho khách hàng cần có tính chuyên môn cao khi sử dụng hình vẽ và văn bản đăng tải trên trang web các nội dung đăng tải phải dễ hiểu phù hợp với tính đa văn hoá, phải chứng minh được cho khách hàng thấy những bằng chứng về chất lượng sản phẩm dịch vụ đã được công nhận của Công ty. Thêm vào đó, cần đảm bảo giao dịch an toàn khi hệ thống của mình sử dụng các phương tiện giao dịch và thanh toán qua mạng và công bố rõ ràng chính sách bảo vệ riêng tư. Những bức tường lửa (file walls) chống xâm nhập trái phép và chống virus cũng là điều phải đặc biệt quan tâm. Thông qua các bức tường lửa Công ty có thể ngăn chặn mọi dịch vụ ngoài mong muốn của mình, có khả năng kiểm tra quyền truy cập hoặc liên kết với khả năng này, tạo điều kiện cho các truy cập công cộng, có khả năng kiểm soát các liên kết mạng và trạng thái qua mạng điện thoại, có khả năng kiểm tra các vụ truy cập và lưu giữ thông tin truy cập. Giao dịch tài chính trên mạng giữa Công ty với khách hàng (B2C) và Công ty với Công ty (B2B) khi tính đến độ an toàn phải đảm bảo cho các giao dịch bằng thẻ tín dụng và chữ ký điện tử.
Thực hiện chương trình điện tử hoá hoạt động kinh doanh từ các DNVVN chỉ có thể đạt hiệu quả cao nếu chiến lược thương mại điện tử của quốc gia được hoàn chỉnh, đây là sự bảo đảm cho nền tảng phát triển hạ tầng cơ sở thông tin, viễn thông với các chính sách khuyến khích hỗ trợ trong đào tạo nguồn nhân lực, khả năng bảo vệ chính đáng về luật pháp quyền lợi của người tiêu dùng và các Công ty.
3.2.4. Hoàn thiện một số chính sách vĩ mô, tăng cường sự trợ giúp từ phía Nhà nước đối với sự phát triển của các DNVVN ở Việt Nam ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một bài toán lớn và phức tạp, nếu quan niệm doanh nghiệp như một cơ thể sống thì để có được sức khoẻ và phát triển thuận lợi, cần có đồng thời cả ba điều kiện căn bản: thiên thời, địa lợi và nhân hoà. Điều đó được nhận ra qua tam giác: Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp. Trong phạm vi nghiên cứu của cuốn sách dưới lăng kính văn hoá Đông Phương chúng tôi muốn đặt trọng tâm nghiên cứu vào ba đỉnh chính của tam giác để phân định ranh giới tương đối cho các mối quan hệ tương tác, làm gia tăng vận tốc thuận chiều cho tiến trình kinh doanh của doanh nghiệp trong xu thế biến động của môi trường, mở rộng vòng tròn đồng tâm phát triển trong thế cân bằng và tiếp cận nhanh hơn tới tiêu điểm của sự hài hoà. Như vậy, ngoài khả năng tự vươn lên của chính các DNVVN, tác động vĩ mô từ phía Nhà nước trong việc hoạch định chiến lược phát triển và xây dựng môi trường kinh doanh ổn định, bền vững là rất quan trọng. Từ phía Nhà nước, cần có chính sách tăng cường hỗ trợ, hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách khuyến khích trợ giúp để nâng cao sức cạnh tranh của DNVVN.
Cạnh tranh đã được thừa nhận là một trong những động lực quan trọng cho quá trình phát triển. Vai trò chính của Nhà nước là tạo dựng môi trường lành mạnh cho các thành phần kinh tế cùng tham gia cạnh tranh. Quá trình này tập trung vào một số nội dung chính sau:
Mức độ kiềm chế quyền tham gia vào thị trường kinh doanh hoặc rút lui khỏi thị trường của các nhà đầu tư.
Kiểm soát mức giá hoặc chi phí sản xuất
Hạn chế chất lượng, mức độ cung ứng, phân phối sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Cung cấp cho một số doanh nghiệp các lợi thế thuận lợi hơn các doanh nghiệp khác.
Xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ nhằm thực hiện vai trò quản lý Nhà nước một cách hiệu quả và đối xử thực sự bình đẳng với các thành phần kinh tế.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cần phải tiếp tục cải cách kinh tế một cách có hệ thống, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của yêu cầu thực tế cuộc sống hiện tại và tương lai, tạo lập môi trường cạnh tranh trong đó Nhà nước là người chèo lái “con thuyền kinh tế”, bằng các chính sách cạnh tranh, thể chế hoá các quy định pháp lý liên quan tới cạnh tranh. Trong quá trình phát triển chính sách khuyến khích trợ giúp DNVVN, cần đảm bảo những nguyên tắc trợ giúp với việc xác định rõ mục tiêu chính sách và phương thức phù hợp.
Về mục tiêu: cần xác định rõ là nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi sự kinh doanh và phát triển trong môi trường thuận lợi chứ không thể can thiệp quá sâu vào các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.
Về phương thức: nên vận dụng cả hai phương thức trực tiếp (đơn giản hoá các thủ tục hành chính không cần thiết, cung cấp thông tin, xây dựng hạ tầng cơ sở kinh doanh thuận lợi, mở rộng các hình thức tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực…) và gián tiếp với các giải pháp và chính sách hiệu quả có hiệu ứng lan truyền rộng như sự đồng bộ các yếu tố của thị trường, ổn định tài chính, tiền tệ, miễn giảm thuế, xây dựng các tổ chức tư vấn hỗ trợ phát triển DNVVN..
Kỹ thuật trợ giúp cần được triển khai thông qua các dự án, chương trình, cơ chế trợ giúp cần có ưu đãi theo mục tiêu. Thông qua các chương trình, DNVVN được trợ giúp về vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… và có thể nhận ưu đãi về miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập, thuế xuất nhập khẩu… ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Tuy nhiên do số lượng các DNVVN quá lớn, nên có thể này sinh vấn đề phân phối ưu đãi, điều này cần cân nhắc đến những ưu tiên theo mục tiêu trong từng thời kỳ phát triển, và có xem xét đến sự cân đối kinh tế – xã hội. Đặc biệt đối với những người mới khởi sự doanh nghiệp, cần hỗ trợ thêm các cách thức triển khai xây dựng dự án kinh doanh khả thi, giải quyết các vấn đề về thị trường, công nghệ….
Trên cơ sở những nguyên tắc trên, định hướng cơ bản cho việc tăng cường hỗ trợ của Nhà nước tập trung cơ bản vào những lĩnh vực sau:
3.2.4.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý, bảo đảm cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều hoạt động bình đẳng
Trước mắt, triển khai thi hành, sửa đổi Luật doanh nghiệp nhằm đảm bảo tháo gỡ những khó khăn, bất ổn trong hoạt động kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí, tăng lòng tin và độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chuyển đổi các hình thức tổ chức hoạt động, chuyển đổi ngành nghề kinh doanh, thu hút vốn đầu tư… lấy Luật doanh nghiệp làm chuẩn pháp lý, sửa đổi, bổ sung một số điều luật… tiến tới chỉ có một Luật doanh nghiệp áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu của AFTA và WTO về phương diện tạo lập một khuôn khổ pháp lý xuất khẩu hợp lý để khai thông con đường hội nhập và phát triển, tăng cường khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Chính sách cơ bản là tạo ra các điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam hình thành các mối quan hệ thương mại trên thương trường quốc tế trong môi trường cạnh tranh thường xuyên biến động. Không nên áp dụng phương pháp “chọn người thắng cuộc” bằng cách chỉ tập trung chú trọng vào các mặt hàng đã được lựa chọn và coi đó là trọng điểm của vấn đề mà bỏ qua cơ hội cho các doanh nghiệp mới khởi sự.
Cần sớm xây dựng đạo luật về khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống giám sát hoạt động của các doanh nghiệp và đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, kiểm tra việc thực thi trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, đảm bảo môi trường hoạt động lành mạnh và công bằng cho mọi doanh nghiệp. Sửa đổi những quy định về cơ chế quản lý và hoạt động cảu doanh nghiệp Nhà nước còn chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường (thủ tục và trách nhiệm về đầu tư và thành lập doanh nghiệp, mở rộng quyền định đoạt và chịu trách nhiệm đối với hoạt động cảu doanh nghiệp, tạo động lực vật chất rõ ràng thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả…). Xác định rõ ràng vai trò của doanh nghiệp Nhà nước, từ đó giới hạn những lĩnh vực mà doanh nghiệp Nhà nước cần giữ vai trò chi phối. Tách bạch mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước theo hiệu quả kinh doanh hay phục vụ có tính chất công ích, để đảm bảo mặt bằng hoạt động chung giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần hoạt động vì hiệu quả kinh doanh. Tiếp tục sắp xếp, giảm bớt đáng kể số lượng đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp Nhà nước. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
3.2.4.2. Đơn giản hoá các quy định hành chính Nhà nước
Điều này để hạn chế, đi đến xoá bỏ dần hàng rào ngăn cản các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề mà Nhà nước không cấm. Thay thế việc cấp phép hoạt động bằng việc xây dựng các tiêu chuẩn điều kiện hành nghề bảo đảm cho mọi doanh nghiệp có đủ điều kiện đều được hành nghề, xoá bỏ sự e ngại của nhà đầu tư về các thủ tục hành chính. Do vậy, không những đơn giản hoá các quy định trong các văn bản luật và thủ tục hành chính mà còn phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong việc thực thi và áp dụng luật, thủ tục hành chính. Ví dụ như cải tiến thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép thành lập doanh nghiệp. Thực tế đang có xu hướng đáng lo ngại là sự phục hồi lại các giấy phép dưới hình thức luật hoá, pháp lệnh hoá, nghị định hoá, nhiều loại giấy phép mới xuất hiện trở lại dưới bóng “điều kiện kinh doanh”. Ví dụ, ngành giao thông vận tải với một số quy định mới về vận tải hành khách công cộng, quy định vận chuyển hành khách bằng taxi; hoặc ngành y tế với những quy định về đăng ký hành nghề… Ngoài ra, còn các biện pháp đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu, bãi bỏ việc áp dụng các mức thuế quan có phân biệt, chuẩn hoá các thủ tục thuế quan, tránh tình trạng trốn, lậu thuế. Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong các hoạt động xuất khẩu, cần phải có những cải tiến trong các thủ tục ký kết hợp đồng quan trọng gia công hàng xuất khẩu để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ động tìm kiếm nguồn nhập khẩu nguyên vật liệu và xuất khẩu thành phẩm một cách thuận lợi và nhanh chóng.
3.2.4.3. Đẩy mạnh thực hiện Luật khuyến khích đầu tư trong nước
Để khai thông một số vướng mắc về hành chính trong việc cấp các ưu đãi cho doanh nghiệp nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào sản xuất kinh doanh, phát huy tác dụng rõ ràng, mạnh mẽ tới sự phát triển nền kinh tế, tạo điều kiện cho chính sách khuyến khích đầu tư trở thành hiện thực và có tác dụng khuyến khích thực sự kinh tế dân doanh. Do đặc trưng quy mô mà phần lớn các DNVVN ở Việt Nam tập trung đầu tư vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ đời sống (chiếm 42%), vì vậy việc khuyến khích đầu tư vào công nghiệp, phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu cần được chú trọng. Nghị định số 51/1999/CP ngày 8-7-1999 của Chính phủ đã đưa ra chính sách khuyến khích đầu tư phát triển trong nước ở những ngành, nghề, vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên trên thực tế, hiệu lực thi hành của Nghị định này còn rất kém, do cách quy định chung chung, không rõ đối tượng hoặc chưa nhất quán với các văn bản quy định khác, ví dụ như vấn đề giảm thuế: trong khi Luật khuyến khích đầu tư trong nước (Điều 21, khoản 1) quy định “được miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 17 của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp”, và tại điểm b, khoản 1, Điều 17 của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định 30/1998 của Chính phủ (ban hành ngày 13-5-1998 – Hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp – giảm 5% số thuế thu nhập phải nộp trong thời hạn 3 năm tiếp theo” nhưng Nghị định 51/NĐ-CP Điều 21, khoản 1 “… được miễn giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp cho hai năm tiếp theo”. Do đó cần rà soát lại toàn bộ chính sách để xoá bỏ những trở ngại trong sản xuất kinh doanh, bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bổ sung những quy định mới có tác dụng khuyến khích mạnh hơn nữa, tiến đến một cơ chế chung cho doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thêm vào đó, việc khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về chính sách thương mại cần tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản như tăng cường mở cửa thị trường để đẩy mạnh xuất khẩu, quản lý tốt việc nhập khẩu và tiếp tục củng cố, tăng cường thị trường trong nước. Tham gia vào hội nhập toàn cầu cần phải có bước đi thích hợp để nâng cao dần năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Vì thế trước hết cần hội nhập với các nước trong khu vực có trình độ phát triển tương đương hoặc không cao hơn ta nhiều như ASEAN, sau đó mở rộng khu vực lớn hơn với các thành viên có trình độ phát triển khác biệt hơn như APEC, rồi tiến tới tham gia vào toàn cầu hoá gia nhập WTO. Mỗi bước đi là một bước mở cửa thêm nữa thị trường cho hàng hoá của chúng ta. Bên cạnh việc khẳng định yếu tố chất lượng sản phẩm là quyết định cho sự thành bại của doanh nghiệp, hàng hoá Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của một số cản trở trong quan hệ thương mại làm cho khả năng cạnh tranh cũng như khả năng xâm nhập thị trường giảm xuống, tác động xấu đến hoạt động của doanh nghiệp.
3.2.4.4. Tiếp tục phát triển đầy đủ các thị trường theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Thị trường đất/ bất động sản (đơn giản hoá các thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất…), thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường ngoại hối, đặc biệt là thị trường chứng khoán, để khai thông luồng vốn đầu tư, tăng khả năng huy động vốn vào hoạt động kinh doanh.
Tiếp cận thị trường đang là những khó khăn chung của doanh nghiệp, đặc biệt là DNVVN. Để thực hiện công việc này cần có nỗ lực từ nhiều phía: từ phía doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, thêm vào đó có những nỗ lực của các tổ chức xúc tiến thương mại, hoặc cơ quan Chính phủ. Trong thời gian gần đây Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp chủ động phát triển các thị trường ngoài nước, giảm bớt các hàng rào quan thuế và phi quan thuế, xoá bỏ mạnh các đầu mối cản trở hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, trong xu thế tự do hoá thương mại, nhiều DNVVN chưa thực sự sẵn sàng mở rộng thị trường, thiếu khả năng tiếp cận nguồn thông tin về các đối tác và bạn hàng ở nước ngoài, thiếu hiểu biết về luật lệ thương mại quốc tế, chưa chú trọng đổi mới quy trình công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, ISO 14000, ISO 18000. Trên thực tế đã xuất hiện một số mô hình DNVVN tự liên kết dưới hình thức các hiệp hội, tổ nhóm công tác để chủ động nâng cao vị thế của mình ở nước ngoài ví dụ như: kẹo dừa Bến Tre, nước mắm Phú Quốc. Việc tìm kiếm mở rộng thị trường là một phần quan trọng nhất của doanh nghiệp, tuy vậy việc hỗ trợ của Nhà nước cần được thực hiện trên giác độ vĩ mô, thông qua việc thiết lập các quan hệ ngoại giao, hiệp định thương mại, các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế, thông qua việc cung cấp thông tin về thị trường. Cần sớm thành lập một tổ chức tiếp thị và xúc tiến thương mại, đầu tư nước ngoài, chỉ định rõ nhiệm vụ hỗ trợ về công nghệ, thị trường, thông tin của các cơ quan Nhà nước cụ thể đối với doanh nghiệp.
Ngoài ra khai thông việc tiếp cận thị trường cũng có thể thuận lợi hơn nếu các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và của từng vùng được thực hiện hiệu quả, với những mục tiêu và chính sách ưu đãi rõ ràng, có sự tham dự của tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Năm 2001, ước đạt 150 nghìn tỷ đồng tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tăng khoảng 16% so với năm 2000, năm 2002 dự kiến tổng vốn cần thiết cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội là 175 nghìn tỷ đồng. Để đảm bảo hiệu quả cao nhất của chương trình, dự án đầu tư cần điều chỉnh được cơ cấu đầu tư vào các ngành, nghề của các doanh nghiệp, phân bổ hợp lý và huy động được các nguồn lực của đất nước, của người dân vào hoạt động kinh doanh.
3.2.4.5. Đồng bộ hoá hệ thống chính sách trợ giúp phát triển DNVVN
Chính sách về vốn: thiếu vốn vẫn là những khó khăn chủ yếu của các, nhưng thực tế số DNVVN được tiếp cận vốn vay của ngân hàng rất hạn chế, chủ yếu tập trung ở các loại hình doanh nghiệp Nhà nước. Nguyên nhân của tình trạng này theo kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu thuộc Học viện quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cho thấy với 56,3% được hỏi ý kiến cho rằng điều kiện và khả năng huy động vốn tín dụng ngân hàng là rất khó khăn, 68,9% cho rằng nguyên nhân là do lãi suất cao, 71,3% do điều kiện thủ tục vay phức tạp. Tình hình này dẫn đến việc phần lớn các DNVVN phải huy động vốn của các tổ chức phi tài chính với lãi suất cao hơn gấp 3-6 lần so với lãi suất chính thức của ngân hàng. Vì vậy, để tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận thuận lợi hơn với vốn tín dụng ngân hàng cần phải có chính sách hạ lãi suất tín dụng, đơng iản hoá các thủ tục cho vay, tạo khung pháp lý cần thiết cho hoạt động tín dụng ngân hàng. Ngoài cần mở rộng các loại hình tín dụng đa dạng: Quỹ bảo lãnh tín dụng, ngân hàng phát triển DNVVN, quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ hỗ trợ DNVVN. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Chính sách về mặt bằng kinh doanh: hiện nay hầu hết các DNVVN đều thiếu mặt bằng kinh doanh, để thành lập cơ sở mới hoặc mở rộng sản xuất. Đó là do các quy định về quyền sử dụng đất thường không rõ ràng, quyền mua bán, thế chấp, chuyển nhượng đất công nghiệp vẫn chưa được thừa nhận. Năm 1997, trong cuộc điều tra 452 dự án đầu tư mới, có 17 dự án thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chỉ có duy nhất 1 dự án được thuê đất, do những khó khăn này nhiều DNVVN thường sử dụng ngaynơi ở của mình để làm cơ sở sản xuất, gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy cần cải tiến chính sách và thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho DNVVN, các thủ tục thuê địa điểm lập doanh nghiệp, giảm bớt những khó khăn về mặt bằng, đồng thời chuyển các doanh nghiệp từ nội thành, nội thị ra ngoại ô để tránh ô nhiễm môi trường.
Chính sách thuế: hiện còn nhiều bất cập về thuế do hệ thống thuế quá phức tạp, thuế suất cao, còn nhiều kẽ hở trong việc quản lý hoạt động thu thuế.
Chính sách công nghệ và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực: trình độ công nghệ hiện nay của các doanh nghiệp được đánh giá lạc hậu hơn so với các nước trên thế giới từ 3- 4 thế hệ. Do công nghệ lạc hậu, những hậu quả kéo theo là chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh kém, thêm vào đó những quy trình công nghệ lạc hậu thường xuyên gây ô nhiễm môi trường ở mức độ cao. Để tăng cường khả năng đổi mới công nghệ cần có các giải pháp đổi mới phương thức thay đổi công nghệ, tạo áp lực cần thiết để doanh nghiệp thay đổi công nghệ (ví dụ quy định thời gian đình chỉ hoạt động đối với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ quá lạc hậu…), và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ (về vốn, thông tin…) nâng cao chất lượng các dự án đầu tư đổi mới công nghệ. Chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, định hướng phát triển công nghệ là một nội dung hết sức quan trọng, song muốn đổi mới công nghệ ngoài việc tăng cường đầu tư phải đặc biệt chú trọng bồi dưỡng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mặt khác, các chính sách về lao động, đào tạo và việc làm cũng cần có những định hướng rõ rệt, nhằm khuyến khích người lao động có kỹ thuật nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng – nghiệp vụ và cải thiện các điều kiện lao động, yên tâm làm việc ở mọi lĩnh vực, hạn chế sự chênh lệch về tính hấp dẫn thu hút nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ giữa các khu vực doanh nghiệp.
Phát triển các tổ chức xã hội nghề nghiệp và mạng lưới các tổ chức tư vấn: Tổ chức xã hội nghề nghiệp như các hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức phi Chính phủ khác (như Phòng Thương mại và Công nghiệp, Liên minh các hợp tác xã…) là một hình thức gia tăng sức mạnh của các doanh nghiệp, tuy nhiên để đảm bảo hoạt động của các tổ chức có hiệu quả cần thống nhất nhận thức và hành động, vì lợi ích cảu cả hệ thống, hợp sức trong việc đấu thầu, đấu giá cung ứng hàng hoá, chống hành vi gian lận, độc quyền, tranh chấp thị trường xâm phạm lợi ích cảu doanh nghiệp. Ngoài ra, hiệp hội có thể cùng nhau thực hiện liên kết, trợ giúp, hợp tác trong sản xuất kinh doanh, giúp nhau xúc tiến thương mại, xác định chiến lược cạnh tranh, tìm kiếm thị trường, trợ giúp vốn, làm các dịch vụ môi giới, tư vấn, giúp nhau kỹ năng quản lý, áp dụng công nghệ mới, đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động. Việc tổ chức hoạt động của các hiệp hội được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, có tính chất liên hiệp của nhiều ngành nghề, thuộc nhiều thành phần kinh tế của các địa phương. Để tạo thuận lợi cho các hiệp hội hoạt động, Nhà nước cần quy định một hành lang pháp lý rõ ràng cho sự thành lập và hoạt động của hiệp hội bằng cách quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của hiệp hội và mối quan hệ của hiệp hội với các cơ quan Nhà nước.
Cùng với việc phát triển các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tư vấn cũng đóng góp vai trò quan trong sự phát triển của doanh nghiệp. Hoạt động tư vấn là loại hình dich vụ cao cấp chủ yếu do các doanh nghiệp yêu cầu, nhằm khai thác chất xám của các chuyên gia trong một số lĩnh vực để giúp đỡ doanh nghiệp giải quyết các vướng mắc trong kinh doanh. Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mở mang ngành dịch vụ tư vấn với việc hình thành khung pháp lý cho các hoạt động dịch vụ tư vấn, nghiên cứu các định chế về hoạt động uỷ quyền, tạo điều kiện cho các Công ty tư vấn tiến hành công việc như một đại diện uỷ quyền có tư cách pháp nhân đầy đủ, đồng thời có chính sách khuyến khích việc đào tạo những người hành nghề tư vấn nâng cao kiến thức nghề nghiệp, tạo điều kiện giao lưu nghề nghiệp trao đổi kinh nghiệm và phát triển mối quan hệ giữa các nhà tư vấn, giúp nhau nâng cao chất lượng tư vấn và đảm bảo khuyến khích hoạt động lành mạnh trong tổ chức tư vấn.
Góp phần tạo dựng tinh thần kinh doanh trong xã hội: Tinh thần kinh doanh là một phần tinh hoa của giá trị văn hoá dân tộc. Chuyển giao từ một nền kinh tế nông nghiệp sang cơ chế thị trường, lấy cạnh tranh làm đòn bẩy phát triển cơ bản, với những quan niệm mới về giá trị, tinh thần kinh doanh được thể hiện dưới những bản lĩnh ứng xử năng động, linh hoạt, năng lực kinh doanh sáng tạo, quan tâm đến lợi ích tương hỗ trong cộng đồng, có tinh thần trách nhiệm đối với xã hội về giá trị sản phẩm hàng hoá mà mình sản xuất và cung ứng, có ý thức và quan hệ nhân văn với người lao động trong doanh nghiệp. Để tạo dựng được tinh thần kinh doanh, cũng cần đến bề dày thời gian và năng lực tiếp thu tri thức nghề nghiệp của các doanh gia, cùng với sự nhìn nhận đúng đắn của công chúng về vai trò của tầng lớp thương gia trong xã hội. ( Luận văn Giải pháp quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Kinh nghiệm cho thấy, quan điểm đúng về vai trò của doanh gia tạo nền móng vững chắc cho phát triển kinh tế. Tại Việt Nam, cứ trung bình 1.200 dân mới có một doanh nghiệp, so với mức bình quân của một số nền kinh tế thị trường (50 dân/ doanh nghiệp; Mỹ 12 dân/ doanh nghiệp; Hồng Kông: 7 dân/ doanh nghiệp) thì mật độ doanh nghiệp của chúng ta vẫn còn rất thấp. Tuy vậy, sự mở cửa từng bước của thể chế, chính sách đã dem lại màu sắc mới cho sự phát triển doanh nghiệp. Với những kết quả này chúng ta cần phải nhìn nhận lại vai trò và vị trí của các doanh gia trong phát triển kinh tế, cần phải cổ vũ và tôn vinh một cách xứng đáng những đóng góp đáng kể của các doanh nghiệp vào thành tựu của quốc gia, làm phồn thịnh nền kinh tế, tăng cường vị thế của Việt Nam ở nước ngoài bằng chính sức mạnh kinh tế của các thương hiệu Việt Nam.
KẾT LUẬN
Sức mạnh quốc gia được hợp thành từ sức mạnh của các doanh nghiệp. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng không ai còn phủ nhận trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập đã và đang là con đường mà chúng ta đi. Hội nhập mang lại cho ta nhiều vận hội nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều thách thức. Vì vậy, việc chuẩn bị và nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực của cạnh tranh để doanh nghiệp khai thác được cơ hội và khắc phục những khó khăn là điều vô cùng cần thiết.
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nói chung và cho DNVVN nói riêng hay cụ thể cho hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam là một trong những vấn đề hết sức bức xúc, trong tình thế kinh doanh mới, sự cạnh tranh không chỉ được xem xét trong từng doanh nghiệp riêng lẻ mà còn được nhìn nhận trên cơ sở toàn ngành, toàn bộ nền kinh tế. Những nội dung xây dựng mối quan hệ hợp tác kinh doanh tương hỗ giữa các doanh nghiệp có cùng lĩnh vực kinh doanh không những góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp của ngành hàng, mà còn đồng thời tăng cường sức mạnh của từng doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh mở cửa và hội nhập. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là một vấn đề hết sức nhạy cảm, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự mình không ngừng phấn nâng cao sức cạnh tranh, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Những đánh giá và phân tích của Luận văn đã phần nào phản ánh đầy đủ khả năng cạnh tranh yếu kém của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung mà phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực tế là như vậy, chúng ta phải làm thế nào, điều quan trọng nhất để giải quyết được vấn đề là chúng ta phải nhận thức đúng vấn đề để qua đó chúng ta đưa ra những giải pháp phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam. Toàn bộ Luận văn đã giúp chúng ta giải quyết những vấn đề đó.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế ở doanh nghiệp Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
