Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh là chuyên ngành tổng hợp về lĩnh vực kinh tế, thông qua đề tài Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây các bạn đọc giả sẽ có thêm ý tưởng, tài liệu và nhiều thuật ngữ chuyên ngành từ đó giúp bạn làm bài luận tốt hơn. Đồng thời Bài mẫu Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế ở doanh nghiệp Việt Nam là một trong những mẫu luận văn hay được mình chọn lọc để gửi gắm đến các bạn. Nào, mời các bạn đọc giả cùng tham khảo nhé!
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế đó là một tất yếu, vấn đề đặt ra chỉ còn là chuẩn bị như thế nào để vượt qua những thử thách và tận dụng cơ hội cho doanh nghiệp đặc biệt đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).
Năm 2005, chúng ta đã thực sự tham gia vào sân chơi kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đang bắt đầu phải đối chọi và tận dụng cơ hội do hội nhập kinh thế giơí đem lại. Hiện nay, DNVVN chiếm tỷ trọng trên 90% tổng số doanh nghiệp của Việt Nam. Trong quá trình hoạt động các DNVVN đã bộc lộ một số hạn chế như: quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, trình độ công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm dịch vụ không ổn định, khả năng quản lý về kỹ thuật kinh doanh kém, tập trung quá lớn vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn yếu … Các hạn chế trên càng tăng thêm khi các DNVVN hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh đó, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh đặc biệt nâng cao năng lực cạnh cho các DNVVN là vô cùng cần thiết cả lý luận lẫn thực tiễn.
Xuất phát từ tình hình đó tác giả đã chọn đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong vài năm gần đây, do tính chất cấp thiết và quan trọng của vấn đề Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế đã có một số chương trình nghiên cứu khá quy mô ở cấp Bộ, Ngành và của một số chuyên gia, nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, việc đi sâu vào đối tượng DNVVN là rất ít, không toàn diện. Nếu có đề cập thì cũng chỉ đến một khía cạnh nào đó như lao động, công nghệ, tài chính… Xuất phát từ tình hình nghiên cứu tác giả đã chọn vấn đề nghiên cứu cho đề tài của mình là: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Một mặt không trùng lặp, mặt khác có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu trước đó và đóng góp thêm vào cách nhìn nhận về vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Làm rõ mặt lý luận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đặc biệt là DNVVN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đánh giá năng lực cạnh tranh của các DNVVN của Việt Nam để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNVVN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận: Làm rõ mặt lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh như:
+ Lý thuyết về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh.
+ Những nội dung cơ bản về nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN. Về mặt thực tiễn:
+ Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh và thực trạng về năng lực cạnh tranh của các DNVVN ở Việt Nam.
+ Trên cơ sở đánh giá đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và ở của Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa nhỏ ở Việt Nam gắn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu: tất cả các DNVVN ở Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thông kê, phương pháp điều tra phân tích và so sánh.
7. Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các tài liệu trích dẫn và tham khảo …, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN
Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các DNVVN ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Có thể bạn quan tâm:
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1. Khái niệm DNVVN
Nói đến DNVVN là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên độ lớn hay quy mô của các doanh nghiệp. Việc phân loại DNVVN phụ thuộc vào tiêu thức sử dụng quy định giới hạn các tiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp. Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNVVN giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hoá các tiêu thức ấy thông qua các tiêu chuẩn cụ thể. Mặc dù, có những khác biệt nhất định giữa các nước về quy định tiêu thức phân loại DNVVN, song khái niệm chung nhất về DNVVN như sau: DNVVN là những cơ sở sản xuất – kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức về vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Qua nghiên cứu phân loại ở các nước có thể nhận thấy một số tiêu thức chung, phổ biến nhất thường được sử dụng trên thế giới là:
- Số lao động thường xuyên – Vốn sản xuất
- Doanh thu – Lợi nhuận
- Giá trị gia tăng
Tiêu thức về số lao động và vốn phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá quy mô theo kết quả đầu ra. Mỗi tiêu thức có những mặt tích cực và hạn chế riêng. Như vậy, để phân loại DNVVN có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp, hoặc áp dụng cả hai loại yếu tố đó. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Việc sử dụng các tiêu thức để phân loại DNVVN ở các nước trên thế giới có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Các nước dùng các tiêu thức khác nhau. Trong số các tiêu thức đó, hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô vốn và lao động. Tiêu thức đầu ra ít được sử dụng hơn.
- Số lượng tiêu thức được sử dụng để phân loại cũng không giống nhau. Có nước chỉ dùng một tiêu thức nhưng cũng có nước sử dụng đồng thời hai hoặc nhiều tiêu thức để phân loại
- Lượng hoá các tiêu thức này thành các tiêu chuẩn giới hạn cụ thể ở các nước khác nhau không giống nhau. Độ lớn của các tiêu chuẩn giới hạn phụ thuộc vào trình độ, hoàn cảnh điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp cho DNVVN của mỗi nước. Điều này làm cho số lượng DNVVN có thể rất lớn hoặc nhỏ tuỳ theo giới hạn độ lớn khối lượng vốn và lao động sử dụng.
- Khái niệm DNVVN mang tính chất tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định, nó phụ thuộc vào:
+ Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước. Thông thường các nước có trình độ phát triển cao thì giới hạn quy định chỉ tiêu quy mô lớn hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp.
+ Các giới hạn tiêu chuẩn này được quy định trong những thời kỳ cụ thể và có sự thay đổi theo thời gian để phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội.
+ Giới hạn chỉ tiêu độ lớn của các DNVVN được quy định khác nhau theo những ngành nghề khác nhau. Đa số các nước có sự phân biệt quy mô các tiêu thức vốn, lao động sử dụng riêng cho từng ngành nghề, lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại hoặc dịch vụ. Tuy vậy, vẫn có một số ít các nước dùng chung tiêu thức cho tất cả các ngành.
Từng thời kỳ, các tiêu thức và tiêu chuẩn giới hạn lại có sự thay đổi cho phù hợp với đường lối, chính sách, chiến lược và khả năng hỗ trợ của mỗi quốc gia. Những tiêu thức phân loại DNVVN được dùng làm căn cứ thiết lập những chính sách phát triển, hỗ trợ DNVVN của các Chính phủ.
Việc xác định giới hạn các tiêu thức trên có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là cơ sở để xác định cơ chế quản lý với những chính sách ưu tiên cho phù hợp và xây dựng cơ cấu tổ chức, quản lý có hiệu quả đối với các hệ thống doanh nghiệp này.
Như vậy, DNVVN ở Việt Nam là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động thoả mãn các qui định của chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế
1.1.2. Vị trí, vai trò của các DNVVN ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
DNVVN có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý đến việc hỗ trợ các DNVVN, nhằm huy động tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp quy mô lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Về mặt lý luận và thực tế theo số liệu thống kê cho thấy doanh nghiệp vùa và nhỏ có vị trí khá lớn ở nhiều nước trên thế giới trong đó bao gồm cả các nước phát triển. Vị trí, vai trò của các DNVVN đã được khẳng định thể hiện qua các đặc điểm sau:
- Về số lượng các DNVVN chiếm ưu thế tuyệt đối. Ở Việt Nam các DNVVN chiếm hơn 90%, ở Nhật bản và Đức số DNVVN chiếm tới 99% trong tổng số các doanh nghiệp ở Nhật và ở Đức.
- DNVVN có mặt ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực tồn tại là thực thể không thể thiếu được của mỗi một nền kinh tế. Nó là bộ phận hữu cơ gắn chặt với các doanh nghiệp lớn, có tác dụng hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩy doanh nghiệp lớn phát triển.
- Sự phát triển của các DNVVN góp phần quan trọng trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế xã hội sau đây:
Một là, đóng góp đáng kể vào sự ổn định kinh tế của mỗi nước. Việc phát triển DNVVN đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng nền kinh tế. Đặc biệt đối với những nước mà trình độ phát triển còn thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các DNVVN tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế (Xem Bảng 1.1);
Hai là, cung cấp cho xã hội khối lượng hàng hoá đáng kể;
Ba là, thu hút lao động, tạo việc làm với chi phí đầu tư thấp, giảm thất nghiệp.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của DNVVN ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
1.1.3.1. Trình độ phát triển kinh tế xã hội
Trình độ phát triển kinh tế càng cao thì giới hạn tiêu thức phân loại càng nâng lên. Các nước có trình độ phát triển thấp thì tiêu chuẩn giới hạn về vốn sẽ thấp hơn. Trình độ phát triển kinh tế càng cao thì sự phát triển của doanh nghiệp lớn càng nhiều, tính cạnh tranh càng gay gắt, nhưng thuận lợi là mối quan hệ giữa các loại hình doanh nghiệp càng chặt chẽ, sự hỗ trợ của doanh nghiệp lớn đối với DNVVN ngày càng nhiều. Mối quan hệ tác động qua lại sẽ giúp cho cả doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ phát triển trong mối quan hệ thống nhất, rằng buộc với nhau, khắc phục những hạn chế, phát huy tính tích cực của từng loại hình quy mô. Nhận thức của các bộ phận kinh doanh càng rõ ràng, cụ thể hơn. Các doanh nghiệp tự nhận thấy sự cần thiết phải liên kết, hỗ trợ nhau.
Trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của các DNVVN ổn định hơn, có phương hướng rõ ràng hơn, vững bền hơn.
1.1.3.2. Chính sách và cơ chế quản lý
Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các DNVVN. Một chính sách và cơ chế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để các DNVVN nâng cao được năng lực cạnh tranh. So với các doanh nghiệp lớn, các DNVVN có những bất lợi trong kinh doanh bởi môi trường kinh doanh gay gắt như hiện nay. Khi sự cạnh tranh trên thị trường được quyết định bởi các tập đoàn kinh doanh lớn, thì các tập đoàn này sẽ khống chế thị trường. Vì vậy, hầu hết các nước đều có chính sách ưu tiên hỗ trợ để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển DNVVN. Các DNVVN thường xuyên bị sự đe doạ của các lực lượng cạnh tranh hùng mạnh, to lớn trên thị trường. Nếu không có sự giúp đỡ của Nhà nước sẽ khó có khả năng tồn tại và phát triển do khả năng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ thấp, khả năng marketing ở quy mô nhỏ, thường phụ thuộc rất lớn vào hoạt động, chiến lược của các doanh nghiệp lớn.
Chính sách ưu tiên phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN đã trở thành chính sách phổ biến và được thực tế khẳng định tính đúng đắn của nó qua thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới, kể cả ở các nước công nghiệp phát triển. Chính sách và cơ chế sẽ tạo ra môi trường pháp lý và những điều kiện cụ thể cần thiết để các DNVVN có khả năng tự nâng cao năng lực cạnh tranh, không có sự chèn ép và thiếu công bằng giữa các thành phần. Ngoài ra, chính sách và cơ chế còn tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ trong việc phát triển nền kinh tế mỗi nước. Phát huy sức mạnh tổng thể của toàn bộ nền kinh tế và của từng khu vực. Những chính sách ưu tiên, những cơ chế pháp lý, kể cả những quy định về giới hạn dưới và trên của từng loại hình doanh nghiệp sẽ là cơ sở để đánh giá. Những quy định này ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và khả năng phát triển của các DNVVN. Những ưu tiên về vốn, tín dụng, chế độ thuế, sử dụng công nghệ, rằng buộc mối quan hệ giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các loại quy mô khác nhau kể chính sách chống độc quyền… đều tác động đến hoạt động của các DNVVN. Các chính sách đất đai, lãi suất, đào tạo … tạo ra những điều kiện cần thiết quan trọng hỗ trợ các DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển, thực hiện được những nhiệm vụ kinh tế xã hội đối với khu vực này.
1.1.3.3. Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào những người sáng lập ra chúng. Do đặc thù là số lượng DNVVN nhiều và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường kinh doanh, phản ứng trước những tác động bất lợi do sự phát triển, xu hướng tích tụ và tập trung hoá sản xuất. Sự sáp nhập, giải thể và xuất hiện doanh nghiệp vừa nhỏ thường xuyên diễn ra trong một giai đoạn. Đó là sức ép lớn buộc những người sáng lập và quản lý các DNVVN phải có tính linh hoạt cao trong quản lý điều hành, dám nghĩ, dám làm, chấp nhận mạo hiểm. Chính vì vậy, số lượng và chất lượng đội ngũ các nhà khởi sự doanh nghiệp, dám nghĩ dám làm, chấp nhận rủi ro, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh từ những nguồn vốn hạn hẹp, nhỏ bé có ảnh hưởng đến phương hướng, tốc độ phát triển của các DNVVN trong mỗi quốc gia.
Sự có mặt của đội ngũ các nhà khởi sự doanh nghiệp này cùng với khả năng và trình độ, nhận thức của họ về thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ tác động to lớn đến hoạt động của từng DNVVN. Họ luôn là những người đi đầu trong đổi mới, dám tìm kiếm những phương hướng mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi cho thích ứng với môi trường kinh doanh. Đội ngũ các nhà kinh doanh có khả năng, có kiến thức và có quyết tâm, sẵn sàng, chấp nhận rủi ro tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh. Đối với mỗi quốc gia, sự phát triển kinh tế phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của đội ngũ này.
Việc xây dựng các nhà sáng lập là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia. Đây là một trong những khâu yếu trong chiến lượng phát triển DNVVN trong những năm qua. Phần lớn chủ các doanh nghiệp và nhỏ chưa được đào tạo bài bản về kiến thức kinh doanh và được hỗ trợ những thông tin cần thiết. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bị hạn chế.
1.1.3.4. Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ
Sự phát triển của khoa học công nghệ và đặc biệt là công nghệ thông tin đã mở ra khẳ năng rộng lớn hơn cho sự phát triển của các DNVVN. Một mặt, nó tạo điều kiện và khả năng cho các DNVVN có thể trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, năng động, linh hoạt hơn trong việc lựa chọn đưa vào ứng dụng và khai thác công nghệ mới. Quy mô nhỏ nhưng khả năng sản xuất cao hơn, nhanh hơn, rẻ hơn nhờ công nghệ mới ứng dụng trong DNVVN. Mặt khác, nó còn tạo khả năng liên kết chặt chẽ với nhau hơn, đặc biệt là khả năng nắm bắt thông tin và khả năng điều hành từ xa, từ một trung tâm tới các DNVVN, đến sự thay đổi cơ cấu về tổ chức sản xuất và phương pháp điều hành trong các doanh nghiệp lớn.
Phát triển DNVVN, phân bố rộng khắp ngay tại thị trường tiêu thụ nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một tổ chức thống nhất có cơ cấu lỏng hoặc cứng đã và đang trở thành xu thế phát triển của các ngành hiện nay. Với hình thức tổ chức này sẽ kết hợp được lợi thế của doanh nghiệp lớn có sự tập trung phối hợp các nguồn lực với các DNVVN tạo ra một hệ thống sản xuất linh hoạt, đáp ứng nhanh, kịp thời những đòi hỏi của thị trường. Trình độ và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại của các DNVVN ở Việt Nam có nhiều hạn chế là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng. Ngoài những khó khăn về vốn là một trong những nguyên nhân dẫn đến công nghệ lạc hậu, chậm đổi mới DNVVN ở Việt Nam, còn khó khăn nữa là chưa quan tâm đúng mức tới phát triển công nghệ, thiếu thông tin về công nghệ và trình độ tiếp nhận, khai thác công nghệ mới của đội ngũ lao động còn hạn chế.
1.1.3.5. Tình hình thị trường ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Trước hết, tình hình và tính chất cạnh tranh trên từng thị trường sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động của các DNVVN. Một thị trường cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp lớn là chủ yếu, thêm với là một môi trường luật pháp chưa hoàn hảo sẽ là khó khăn lớn cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa nhỏ. Trong thị trường này nếu có sự liên kết giữa các doanh nghiệp lớn thì khẳ năng hoạt động và cạnh tranh sẽ vô cùng khó khăn, thậm trí không thể tồn tại. Vì vậy, tính chất cạnh tranh trên thị trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp vừa nhỏ. Mặt khác, tính chất, quy mô, nhu cầu sẽ là yếu tố thứ hai trong thị trường tác động trực tiếp tới hoạt động của các DNVVN. Thị trường với nhu cầu đa dạng, thay đổi nhanh chóng, khối lượng nhu cầu không lớn sẽ là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các DNVVN. Ngược lại, thị trường dung lượng lớn, chủng loại ít, tương đối ổn định sẽ là cơ sở cho các doanh nghiệp lớn tham gia tăng cường tính cạnh tranh, làm khó khăn cho các hoạt động của các DNVVN. Với đặc điểm của sự phát triển nhu cầu hiện nay theo hướng nhu cầu ngày càng đa dạng, nhiều chủng loại khối lượng không nhiều nhưng thay đổi nhanh là một thuận lợi lớn cho các DNVVN hoạt động hiệu quả. Thị trường là một trong những vấn đề nan giải và khó khăn nhất cho các DNVVN nước ta, bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Do thị trường nước ta còn ở trình độ chưa cao, nhu cầu còn thấp, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Hơn nữa, sản phẩm lại bị chèn ép bởi các sản phẩm ngoại nhập, thậm chí cả hàng hoá nhập lậu, trốn thuế gây khó khăn không nhỏ cho các hoạt động của DNVVN. Việc quản lý thị trường đầu ra còn nhiều sơ hở, buông lỏng tạo điều kiện cho các đối tượng làm ăn phi pháp phát triển ngày càng tăng và tinh vi, lý do này làm cho các doanh nghiệp vừa nhỏ đầu tư, làm ăn thực sự sẽ gặp vô cùng khó khăn do cạnh tranh không lành mạnh. Thị trường các yếu tố đầu vào đang là thách thức đối với các DNVVN như: đất đai, vốn.
- NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DNVVN
1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, ít có những tranh luận và nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ với hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại mà lại không đề cập đến thuật ngữ năng lực (khả năng hay tính) cạnh tranh (competitiveness). Thuật ngữ này được nhắc nhiều ở Việt Nam, nhất là khi Việt Nam bước vào hội nhập kinh tế quốc tế như: mở cửa và cải cách hệ thống thương mại, cam kết thực hiện CEPT/AFTA với tư cách là thành viên của ASEAN, trở thành thanh viên chính thức của APEC (11/1998), ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (7/2000) và đang nỗ lực đàm phán gia nhập WTO.
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm để chỉ khả năng tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế hay doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum) có chỉ rõ:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia (National competitiveness): là khả năng của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.
- Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (Competitiveness of company, products and services): đó là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
Tổng số năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp của một nước là năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế của quốc gia. Không thể có năng lực cạnh tranh quốc gia cao khi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia được thể hiện qua môi trường kinh doanh, các chính sách kinh tế vĩ mô, những ảnh hưởng của quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
1.2.1.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Theo WEF đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia sử dụng 8 nhóm tiêu chí với 155 chỉ tiêu, được thực hiện theo phương pháp kết hợp điều tra mẫu, và thăm dò ý kiến của 1.500 Công ty trên thế giới. Các nhóm chỉ tiêu mà WEF đánh giá là:
- Độ mở cửa của nền kinh tế (17%);
- Vai trò và hiệu lực của Chính phủ (17%);
- Sự phát triển của hệ thống tài chính – tiền tệ (17%);
- Trình độ phát triển của công nghệ (11%);
- Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng (11%);
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp (6%);
- Số lượng và chất lượng của lao động (15%) và
- Trình độ phát triển của thể chế (6%), bao gồm hiệu lực của cơ quan bảo vệ pháp luật
Theo cách nhìn nhận này, hàng năm diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) sắp xếp thứ hạng cạnh tranh của các quốc gia, số liệu của Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2004, năm 2003 và năm 2002 cho thấy Việt Nam xếp thứ hạng, hạng 53/59 (năm 2000) và 60/75 (năm 2001), 65/80 (năm 2002); 77/104 (năm 2004). Từ năm 2000, do vị trí ngày càng quan trọng của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia có thay đổi lại, nhân tố khoa học công nghệ đã chiếm 1/3 tỷ trọng cân bằng nhau của ba tiêu chí: tính quốc tế hoá, tài chính và sáng tạo khoa học công nghệ. Đề cập đến chỉ tiêu sáng tạo khoa học và công nghệ, các nhà nghiên cứu đã tập trung đánh giá dựa trên một số khía cạnh: trình độ công nghệ (vị trí của công nghệ trong nền kinh tế), đào tạo về toán và khoa học tự nhiên (nội dung và chất lượng đào tạo), chảy máu chất xám (lực lượng lao động tài năng nhất ở lại làm việc trong nước), số lượng internet (/1000 dân), số lượng máy tính cá nhân (/1000 dân), khả năng tiếp cận Quỹ tín dụng, quỹ đầu tư mạo hiểm, tạo lập doanh nghiệp, lợi thế cạnh tranh (dựa trên tính độc đáo và công nghệ), việc ứng dụng công nghệ, kiểu dáng sản phẩm, hoạt động nghiên cứu và phát triển, hợp tác nghiên cứu, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển khu vực tư nhân. Các tiêu thức trên được lượng hoá thông qua các chỉ số:
- Chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (Growth competiveness Index – GCI). Chỉ số này được sử dụng để đo lường các nhân tố đóng góp vào sự tăng trưởng trong tương lai của một nền kinh tế và đo bằng tỷ lệ thay đổi GDP trên đầu người. Những nhân tố này giải thích tại sao một nền kinh tế lại hưng thịnh hơn một nền kinh tế khác.
- Chỉ số cạnh tranh hiện tại (Current competiveness index – CCI). Xác định các nhân tố nền móng tạo ra năng suất hiện tại, được đo bằng mức GDP trên đầu người. Những nhân tố này giúp giải thích tại sao một vài quốc gia lại có thể đảm bảo mức hưng thịnh hơn quốc gia khác. CCI là phương pháp tổng hợp năng lực cạnh tranh vi mô với hai nhóm chỉ số nhỏ: chỉ số về chiến lược và hoạt động của công ty và chỉ số về chất lượng môi trường kinh doanh quốc gia, đánh giá những điều kiện cơ bản xác định mức năng suất hiện tại của các quốc gia. ở cấp độ ngành và cấp Công ty, cạnh tranh được xem xét trên một số nhóm yếu tố sau: số lượng các công ty mới tham gia vào ngành; mức độ sẵn sàng của sản phẩm thay thế; vị thế đàm phán của bên cung; vị thế đàm phán của bên cầu; mức độ hiện diện của các công ty cạnh tranh trong ngành. Để theo đuổi và đáp ứng được với cạnh tranh, từng công ty tuỳ thuộc vào loại hình sản phẩm với nhóm thị trường trọng điểm sẽ khai thác lợi thế so sánh về chi phí sản xuất thấp hiện vẫn được coi là điều kiện căn bản của lợi thế cạnh tranh. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Có nhiều yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng tựu chung vào có hai nhóm nhân tố đó là:
– Nhóm các yếu tố ngoài doanh nghiệp:
+ Sự tham gia của các công ty cạnh tranh trên lĩnh vực kinh doanh và sự xuất hiện công ty mới.
+ Khả năng xuất hiện sản phẩm hay dịch vụ thay thế, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ.
+ Vị thế đàm phán của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ (độc quyền, độc quyền nhóm, có vị thế mạnh về tài chính .v.v.).
+ Vị thế đàm phán của người mua
+ Mức độ cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp trong và ngoài nước
– Các yếu tố do doanh nghiệp chi phối (gồm 6 yếu tố)
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, dựa trên phân tích thị trường, lợi thế so sánh của doanh nghiệp, định hướng vào một mảng thị trường nhất định, tập trung vào những sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh. Do vậy, doanh nghiệp cần đăng ký thương hiệu, có lô gô, và quảng bá thương hiệu của mình đồng thời tôn trọng luật pháp sở hữu trí tuệ.
- Trình độ khoa học công nghệ và khả năng tiếp cận, đổi mới công nghệ hiện có, chi phí cho nghiên cứu và triển khai, số lượng và các bản quyền sáng chế, phát minh, đầu tư về kiểu dáng sản phẩm .v.v. là những yếu tố quyết định hàng đầu về chất lượng và tính năng sản phẩm.
- Sản phẩm: Bên cạnh chất lượng, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, sự nổi bật so với các sản phẩm khác và bao gói sản phẩm.
- Năng suất lao động: bao gồm các yếu tố liên quan đến người lao động, các nhân tố tổng thể về năng suất lao động, vai trò của đào tạo, bồi dưỡng nhân viên, người lao động.
- Chi phí sản xuất và quản lý: bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh và những chi phí quản lý, giao tiếp .v.v.
- Đầu tư cho nghiên cứu, triển khai thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp
1.2.2. Những nội dung cơ bản của việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN
1.2.2.1. Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh cho các DNVVN.
- Phương pháp phân tích theo “Quan điểm quản trị chiến lược”
Quan điểm quản trị chiến lược được thể hiện khá hoàn chỉnh trong những năm 1980 qua các công trình của Porter (1980&1990). Đây là phương pháp phân tích theo cấu trúc các nguồn lực của Doanh nghiệp, và nó là nền tảng cho mô hình “khối kim cương” các yếu tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia. Nội dung phương pháp này gồm 2 công đoạn phân tích chính như sau:
- Phân tích cấu trúc ngành hàng mà doanh nghiệp đang tham gia
- Phân tích lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên cơ sở xác định nguồn lực riêng biệt.
- Phương pháp phân tích theo cấu trúc ngành:
Theo phương pháp phân tích này, đối với mỗi ngành, dù là trong hay ngoài nước, bản chất cạnh tranh nằm trong 5 nhân tố cạnh tranh:
- Sự thâm nhập ngành của các công ty mới ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
- Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế
- Vị thế giao kèo của các nhà cung ứng
- Vị thế giao kèo của ngươi mua
- Sự tranh đua của các công ty đang thực hiện cạnh tranh
Mặc dù cạnh tranh quốc tế có những điểm khác với cạnh tranh trong nước (do những khác biệt về chi phí nhân tố trong sản xuất kinh doanh, về thị trường, về vai trò của Chính phủ, về mục đích, nguồn lực, và khả năng định hướng các nhà cạnh tranh), sự phân tích theo 5 nhân tố trên vẫn giữ được giá trị cho việc đánh giá ngành. Điểm khác ở đây là phải tính đến các nhà cạnh tranh quốc tế, tức là ở một phạm vi rộng hơn khi xem xét cả 5 yếu tố trên đây. Theo Porter, lợi thế cạnh tranh quốc tế là do: lợi thế so sánh về chi phí nhân tố và chất lượng lao động sản xuất một sản phẩm nào đó; giảm phí tổn nhờ mở rộng qui mô; kinh nghiệm quốc tế; sự đa dạng của sản phẩm cùng loại; sử dụng công nghệ thích hợp; và tính linh hoạt trong sản xuất.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh một ngành một cách chuẩn xác cần phải thu thập đủ một lượng thông tin đáng tin cậy cho các tiêu chí được liệt kê dưới đây:
Danh mục các thông tin cần thiết cho sự phân tích cấu trúc ngành
- Các loại sản phẩm.
- Những người mua và hành vi của họ.
- Các sản phẩm bổ xung và/hoặc thay thế.
- Tăng trưởng: + Mức độ
+ Khuynh hướng (theo mua hay chu kỳ)
+ Các yếu tố xác định
- Công nghệ sản xuất: + Cơ cấu chi phí
+ Tiết kiệm phí tổn nhờ qui mô
+ Hậu cần
+ Lao động
- Tiếp thị và bán hàng + Sự phân chia thị trường
+ Thực tiễn tiếp thị
- Các nhà cung ứng
- Các kênh phân phối (gián tiếp)
- Đổi mới, sáng chế: + Loại kiểu
+ Nguồn
+ Mức độ ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
- Các đối thủ cạnh tranh (chiến lược, mục tiêu, sức mạnh, điểm yếu, một số giả định).
- Môi trường pháp lý, xã hội, chính trị
- Môi trường kinh tế vĩ mô
(Nguồn: Porter, ME.,1980. Competitive Strategy: technuques for Analysing Industries and Competitors, the Free Press, New York)
Lợi thế cạnh tranh dựa trên các nguồn lực riêng biệt
Nội dung lý thuyết phân tích tiếp theo của quan điểm quản trị chiến lược được dựa trên lý thuyết về “lợi thế cạnh tranh dựa trên các nguồn lực (hữu hình và vô hình)” do Wesrgen phát triển từ những năm đầu thập kỷ 90. Nền tảng của lý thuyết này là việc thừa nhận các doanh nghiệp trong một chiến lược thích hợp và có thể sử dụng các nguồn lực của mình để thu được các khoản lợi nhuận kiểu bán – tô cao hơn mức bình quân trên thị trường trong một thời gian tương đối dài.
Nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm:
+ Các vốn tài sản, vốn tài chính,
+ Vốn con người, tri thức, thông tin,
+ Các tài sản vô hình (như danh tiếng của doanh nghiệp và địa vị thị trường)
+ Các quá trình ra quyết định và hệ thống phối hợp…
Tuy nhiên, không phải mọi nguồn lực đều sẽ tạo ra được các khoản lợi nhuận kiểu bán-tô, nhất là các nguồn lực mà các đối thủ cạnh tranh cũng sử dụng rộng rãi. Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh dựa trên nguồn lực “riêng biệt” được duy trì nhờ bốn đặc trưng:
Nguồn lực phải thực giá trị, nghĩa là nó có đóng góp tích cực cho việc khai thác vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Nguồn lực phải hiếm hoi; các đối thủ cạnh tranh không thể có được một các dễ ràng, rộng rãi.
- Nguồn lực phải có tính khó bắt chước hay mô phỏng.
- Nguồn lực không dễ dàng bởi nguồn lực khác
Như vậy, để có được lợi thế cạnh tranh, các nguồn lực của doanh nghiệp phải khác biệt, rất khó lưu chuyển và bắt chước.
Trên thực tế, khi áp dụng phương pháp phân tích này, người ta có thể có được hết những thông tin cần thiết và hơn nữa, việc phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược thường bị đánh giá là những giả thiết có thể kiểm định được về mọi mặt thống kê và khó dự báo về lượng những tác động của các chính sách Chính phủ lên tính cạnh tranh của ngành/ công ty. Bởi lẽ, khi đánh giá ngành còn phải xem xét theo sự tiến triển của ngành. Quan trọng nhất là việc tính đến những tác động lên 5 nhân tố cạnh tranh trong phân tích cấu trúc. Thông thường những biến động đó có liên quan đến: dự báo chu kỳ đời sống sản phẩm; mức độ phổ biến công nghệ và tích luỹ kinh nghiệm; chi phí đầu vào; những thay đổi các đặc trưng dân số; về khuynh hướng nhu cầu; về vai trò của các sản phẩm thay thế và bổ sung; chính sách của Chính phủ (về vĩ mô và điều tiết vi mô).
Đánh giá: Phương pháp phân tích “theo quan điểm cổ điển” là phương pháp hay và đã được áp dụng phổ biến trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành hàng hay nhóm sản phẩm. Với cấp độ doanh nghiệp mà đặc biệt là các DNVVN phương pháp này cũng rất mạnh khi phân tích về đặc thù nguồn lực. Tuy nhiên, khi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ dừng lại ở cấu trúc nguồn lực là chưa toàn diện và vì vậy, chúng ta cần phải có phương pháp phân tích mới tốt hơn.
Phương pháp phân tích theo “Quan điểm tân cổ điển” ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống xem xét lợi thế cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm (đồng nhất) qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất.
Phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh theo quan điểm “tân cổ điển” là một phương pháp phân tích định lượng dựa trên các số liệu điều tra thực tế. Các phân tích định lượng phản ánh khả năng cạnh tranh của ngành/ hoặc của doanh nghiệp, quan điểm này hiện vẫn đang được sử dụng rộng rãi. Trước hết, là vì các chỉ số về chi phí sản xuất vẫn còn là một điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh, nhất là đối với các nước đang phát triển và đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Dưới góc độ doanh nghiệp, các chỉ số đó sẽ cho biết công ty có khả năng cạnh tranh và tồn tại hay không trong môi trường giá cả thị trường đã định và cả trong các bối cảnh có sự thay đổi chính sách như (chính sách thương mại)
Phương pháp này sử dụng hệ thống các chỉ số phân tích để đánh giá năng lực cạnh tranh như sau:
Các chỉ số cạnh tranh so sánh giữa các ngành Các chỉ số thường dùng là:
Mức độ (tỷ lệ) bảo hộ hữu hiệu (effective rates of protection – ERP).
ERP là chỉ số đo lường phạm vi mức độ bảo hộ và các can thiệp khác của Chính phủ tác động đến tỷ lệ “bồi hoàn” đối với các nhân tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn (so với khi không bảo hộ và các can thiệp khác của Chính phủ)
Dưới góc độ thực hành, ERP được xem như sự thay đổi tính theo phần trăm của giá trị gia tăng trong điều kiện chính sách hiện hành so với trường hợp thương mại tự do. Điều đó có nghĩa là, nếu một ngành hàng có ERP là 100% thì nó sẽ gây tổn phí tương đương 2 đô la Mỹ cho đầu vào nhân tố (lao động, đất đai, vốn và quản trị) để tiết kiệm được 1 đô la Mỹ do sản xuất trong nước thay vì nhập khẩu.
Lưu ý: khi ERP > 0, giá trị gia tăng của ngành là cao hơn trong trường hợp thương mại tự do. ERP < 0 và nếu VAf > 0, ngành sẽ thuận lợi hơn khi tự do hoá thương mại; còn nếu VAf < 0 thì ngành đang được bảo hộ quá cao. Để tính được chỉ số ERP, các số liệu cần thu thập là:
- Dòng thuế quan: mức thuế áp dụng thực tế và chính thức
- Giá trị nhập khẩu theo mặt hàng: là mức trung bình theo tỷ trọng, theo sản lượng để đánh giá mức độ bảo hộ danh nghĩa.
- Bảng chi phí: “vào – ra” của sản xuất và tiêu thụ trong nước.
Nếu có đủ số liệu để tính toán thì việc xác định chỉ số ERP cho phép dễ dàng so sánh mức độ bảo hộ và hỗ trợ của Chính phủ giữa các ngành, ngoài ra ERP cho phép nhận tính cạnh tranh theo nghĩa ngành có khả năng cạnh tranh hay không khi không còn bảo hộ và các hỗ trợ khác của Chính phủ (thường thì các ngành/ Công ty có ERP cao chẳng hạn trên 50% có thể tồn tại nhờ bảo hộ).
- Lợi thế so sánh biểu hiện (related comparative advange – RCA).
RCA là tỷ trọng của một ngành trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá của một nền kinh tế trên tỷ trọng ngành đó trong tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của thế giới.
Tỷ lệ xuất khẩu ròng của ngành (net export ratio NExR) ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
NexR là giá trị xuất khẩu ròng của ngành (xuất khẩu trừ nhập khẩu) trên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu quốc gia.
Các chỉ số trên cho phép đánh giá mức độ đóng góp của ngành đối với nền kinh tế, ngành nào sẽ có lợi thế và bất lợi thế, đồng thời nó cũng cho thấy ưu thế biểu hiện của một ngành khi nền kinh tế tham gia vào hội nhập quốc tế.
Chỉ số về lợi thế chi phí
Định nghĩa chỉ số về lợi thế chi phí rất đơn giản, chỉ là hiệu số giữa chi phí trên một đơn vị đầu ra của nhà cạnh tranh nước ngoài với nhà sản xuất trong nước.
IC = uc* – uc hay ICA = uc*s – ucs
(dấu * dành cho bên nước ngoài, IC: cạnh tranh thực tế, ICA: cho lợi thế so
Nếu IC>0 (ICA<0) thì nhà sản xuất trong nước có tính cạnh tranh thực tế (có lợi thế so sánh) hơn đối thủ nước ngoài và ngược lại.
Để phân tích định lượng các chỉ số chi phí này đòi hỏi phải điều tra mẫu các doanh nghiệp để có thể thu thập được đầy đủ thông tin tin cậy. Ngoài nét chung về doanh nghiệp, các số liệu cần thiết có liên quan đến sản xuất (đầu ra, đầu vào trung gian) giá cả trong nước, quốc tế, các chỉ số đo mức độ bảo hộ, thuế và trợ cấp, lao động, vốn, năng lực tận dụng của Công ty.
Đánh giá: Cách xem xét theo quan điểm của tân cổ điển có phần phiến diện bởi nó rất yếu về phân tích động thái và hơn thế nữa, việc đo lường chi phí và nhất là năng suất phải dựa trên những giả thiết không hoàn toàn phù hợp thực tế. Theo phươngpháp này có kỹ thuật tính toán khá đơn giản, nhưng khả năng tính toán được rất phức tạp. Khó khăn là ở chỗ phải “tách” được phần thương mại trong những đầu vào không thương mại được; phải tính được (dù là gần đúng hoặc trong khoảng xác định) các loại giá, tỷ giá; và phải có được hệ số bảng vào – ra là không đổi trong điều kiện hiện hành, cũng như trong môi trường thương mại hoàn toàn tự do. Hơn nữa việc tính toán là phải được thực hiện thường xuyên – điều này rất khó khăn bởi khối lượng thông tin đòi hỏi qua điều tra mẫu vốn đã khá lớn, lại cần cập nhật thường xuyên.
Tóm lại, phương pháp này có ưu điểm nổi bật là đưa ra được những phân tích định lượng, tuy nhiên lại phức tạp và khó thực hiện, và điều quan trọng nhất là chúng rất khó ứng dụng được phương pháp này ở cấp độ doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích theo “Quan điểm tổng hợp”
Theo quan điểm tổng hợp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: “Năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước”. Định nghĩa này được xem là nhất quán với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp và hơn thế nữa, nó lại phù hợp với các mục tiêu của chính sách kinh tế và thương mại của Chính phủ.
Quan điểm tổng hợp kết hợp các quan điểm trị chiến lược, tân cổ điển và kinh tế học về tổ chức công nghiệp, nhằm đo lường tính cạnh tranh, đồng thời chỉ ra nhân tố khuyến khích hay ngáng trở tính cạnh tranh. Dưới đây là tập hợp các chỉ số và nhân tố làm cơ sở cho việc đánh giá tính cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp:
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh:
Tiêu chí so sánh năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp:
- Lợi nhuận ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
- Thị phần
Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp:
- Năng suất lao động
- Trình độ công nghệ
- Sản phẩm
- Quy mô; khả năng tài chính; kinh nghiệm quản lý; …
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Nhóm yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp
- Nhóm yếu tố thuộc môi trường bên ngoài của doanh nghiệp
Tiêu chí so sánh năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận = Doanh thu – giá thành
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nó phản ánh tính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ thị trường cạnh tranh gay gắt, do vậy, một phần nào đó chứng tỏ doanh nghiệp cũng có khả năng cạnh tranh không kém gì đối thủ. Nếu chỉ tiêu này cao điều đó doanh nghiệp đang kinh doanh thuận lợi.
+ Nhược điểm: Khó đảm bảo tính chính xác (do khó thu thập được doanh số chính xác)
Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Năng suất lao động
Năng suất lao động là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp. Tiêu chí này thể hiện sự tập trung cao nhất so với nhiều tiêu chí khác như: trình độ công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, khả năng quản lý và tổ chức sản xuất,…
Năng suất lao động được tính bằng số thời gian để hoàn thành một đơn vị sản phẩm/ hoặc trong một đơn vị thời gian doanh nghiệp có được bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Sản phẩm ở đây có thể là hàng hoá hoặc dịch vụ, nên việc tính toán năng suất lao động có thể được áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp sản xuất hay dịch vụ.
Năng suất lao động là chỉ tiêu hoàn toàn có thể tính toán được đối với doanh nghiệp bởi số liệu là tương đối rõ ràng và kỹ thuật tính toán không phức tạp. Ngoài ra, đây là chỉ tiêu định lượng – vì vậy, dựa vào đây có thể đưa ra kết luận chính xác về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, xét trên tiêu chí này là cao hay thấp so với đối thủ cạnh tranh cùng ngành.
Nguồn nhân lực:
Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là lợi thế cạnh tranh riêng biệt của doanh nghiệp. Chúng ta có thể phân loại nguồn nhân lực của doanh nghiệp thành các cấp: cán bộ quản lý cao và trung cấp; đội ngũ công nhân. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Các quản trị viên có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu họ có trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường, có khả năng phân tích và có mối quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh tranh lớn. Đội ngũ quản lý bằng kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý, khả năng quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý, xây dựng môi trường “văn hoá doanh nghiệp” và sự hiểu biết về kinh doanh sẽ là nguồn sức mạnh của doanh nghiệp trong cạnh tranh. Đội ngũ quản lý là nơi chủ yếu phát sinh và thực hiện các ý tưởng kinh doanh sáng tạo, vì đây chính là động cơ cho các cuộc “bứt phá” của doanh nghiệp tới vị trí dẫn đầu cuộc đua trên thương trường.
Đội ngũ công nhân cũng ảnh hưởng tới sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố về năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ… Bởi vì thế các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm cũng như tạo thêm tính yêu việt, độc đáo mới lạ của sản phẩm.
Trình độ công nghệ
Theo quan điểm của các nhà kinh doanh thì công nghệ là những giải pháp và/ hoặc tri thức mà con người sử dụng trong hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích nhất định, như chế tạo sản phẩm, xây dựng một công trình hay thực hiện một dịch vụ. Công nghệ là tổng hợp các phương tiện để tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh, trả lời câu hỏi: biết làm như thế nào (Know how to do). Công nghệ là đối tượng nghiên cứu, phân tích lý giải những thành bại của doanh nghiệp, công nghệ là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường vì vậy được coi là sức mạnh, là tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Các yếu tố cấu thành công nghệ:
- Phần cứng – Technoware (hardware): đó là máy móc thiết bị, công cụ, hạ tầng kỹ thuật,… Đây là hình thái vật chất của công nghệ.
- Con người – Humanware: Kiến thức, kỹ năng công nghệ, kỷ luật lao động, tính sáng tạo.
- Thông tin – inforware: thiết kế, quy trình, phương pháp, công nghệ, số liệu, hướng dẫn kỹ thuật,… thể hiện trong các ấn phẩm, bản vẽ hoặc các phương tiện lưu giữ thông tin khác.
- Tổ chức – orgaware: Cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền của các thành phần trong bộ máy. Cơ cấu điều hành, các chuẩn mực lề lối quan hệ giữa các cơ quan… trong quản lý công nghệ.
Công nghệ là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, đây là tiêu chí quan trọng trong nghiên cứu. Công nghệ tuy chỉ là tiêu chí định tính nhưng viêc so sánh, đánh giá không mấy phức tạp – có thể thấy được sự hơn/ kém ngay nếu đủ thông tin về trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật hiện tại. Trong một số nghiên cứu về năng lực cạnh tranh hiện nay, người ta đã lượng hoá tiêu chí này bằng cách cho điểm cao hay thấp cho công nghệ áp dụng là tiên tiến hay lạc hậu.
Mời bạn tham khảo thêm:
Sản phẩm ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Khi đề cập đến tiêu chí sản phẩm, người ta có thể có được những phân tích sâu sắc bằng việc đánh giá sản phẩm doanh nghiệp trên 3 yếu tố sau:
- Chất lượng sản phẩm: Trên thương trường nếu nhiều hàng hoá có công dụng như nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua hàng hoá nào có chất lượng cao hơn. Do đó, chất lượng sản phẩm đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử dụng để thắng đối thủ cạnh Để có cách nhìn toàn diện về yếu tố này, cần chú ý rằng chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng đơn vị sản xuất, từng ngành, từng vùng và từng quốc gia.
- Giá cả: Hai hàng hoá có cùng công dụng, chất lượng như nhau thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hoá nào rẻ hơn. Giá cả hàng hoá về bản chất được quyết định bởi giá trị hàng hoá. Tuy nhiên việc xây dựng chính sách giá cả lại phụ thuộc nhiều vào bản thân doanh nghiệp trên cơ sở vận dụng các quy luật của thị trường về cung/ cầu, thị hiếu …
- Tính độc đáo của sản phẩm: Mọi sản phẩm xuất hiện trên thương trường đều mang một chu kỳ sống nhất định, đặc biệt vòng đời của nó rút ngắn khi xuất hiện sự cạnh tranh. Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp dùng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp thường xuyên cải tiến mọi mặt sản phẩm , tạo nét độc đáo riêng, liên tiếp tung ra thị trường những sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ. Thương hiệu cũng là một nhân tố tạo nên sự khác biệt của sản phẩm. Việc không ngừng nâng cao chất lượng, xây dựng và củng cố thương hiệu sẽ tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Quy mô; khả năng tài chính; kinh nghiệm quản lý; …
- Quy mô và năng lực sản xuất:
Nếu một doanh nghiệp có quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ có lợi thế hơn nhiều so với các doanh nghiệp có quy mô và năng lực sản xuất nhỏ, vì quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ tạo ra sản phẩm với khối lượng lớn, nhờ đó hạ giá thanh sản phẩm, khi mà sản phẩm đã phù hợp với đông đảo người tiêu dùng thì khối lượng sản phẩm lớn sẽ cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường trên nhiều khu vực khác nhau, tránh sự xâm nhập của các đối thủ cạnh tranh. Quy mô của doanh nghiệp lớn sẽ tạo cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp xúc với khách hàng hơn, nên dễ nắm bắt và thoả mãn nhu cầu của khách hàng, khách hàng càng tín nhiệm doanh nghiệp hơn.
- Nguồn lực về tài chính:
Khả năng về tài chính khẳng định sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Khả năng về tài chính được hiểu là quy mô nguồn tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như: hệ số thu hồi vốn, khả năng thanh toán,… nếu như một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn là lớn sẽ cho doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng về hợp tác đầu tư về liên doanh và liên kết. Tình hình sử dụng vốn sẽ quyết định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
- Trình độ tổ chức quản lý:
Khả năng tổ chức quản lý được thể hiện qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí, đặc biệt là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp.
Nề nếp tổ chức định hướng cho phần lớn công việc trong doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng tới phương thức thông qua quyết định của nhà quản trị, quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp. Nề nếp của tổ chức là tổng hợp các kinh nghiệm, cá tính và bầu không khí làm việc của doanh nghiệp. Nó cũng bao gồm các tiêu chí về hành vi đạo đức hoặc một hệ thống các quy tắc giao tiếp của nhân viên. Do vậy, doanh nghiệp cần phải xây dựng một nề nếp làm việc tốt để khuyến khích nhân viên tạo cho nhân viên các chuẩn mực đạo đức và thái độ làm việc tích cực, tạo ra tính linh hoạt và khuyến khích việc tập trung cao cho công việc, dẫn dắt họ làm việc tích cực hơn nhằm đạt các mục đích đề ra của doanh nghiệp.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhóm các yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp
Ngoài ý nghĩa là nhóm các yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp, nhóm yếu tố này còn có ý nghĩa là các nhân tố mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được. Điều này cho thấy, để nâng cao được sức cạnh tranh, doanh nghiệp có thể chủ động và phải bắt tay vào việc củng cố, nâng cao khả năng của chính mình từ những nhân tố sau:
- Chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thể áp dụng các chiến lược cạnh tranh sau:
+ Chiến lược nhấn mạnh chi phí: tạo ra sản phẩm có giá rẻ. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
+ Chiến lược khác biệt hoá: tạo ra sản phẩm có tính độc đáo
+ Chiến lược trọng tâm hoá: phát huy thế mạnh của doanh nghiệp.
- Sản phẩm
- Công nghệ
- Đào tạo
- Nghiên cứu và phát triển nội bộ (R&D)
- Chi phí
- Liên kết nội bộ và liên kết bên ngoài
Nhóm các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài của doanh nghiệp
Nhóm các yếu tố này lại có thể tiếp tục được chia ra thành 3 nhóm với mục đích giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc xác định những việc có thể làm được để tác động đến môi trường bên ngoài. Đó là nhóm các nhân tố:
- Nhóm các nhân tố mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được phần nào:
+ Giá đầu vào
+ Các điều kiện về cầu
+ Môi trường thương mại quốc tế
- Nhóm các nhân tố do chính phủ kiểm soát:
+ Môi trường kinh doanh (tốc độ tăng trưởng, thuế, lãi suất, tỷ giá)
+ Môi trường chính trị, pháp luật, văn hoá xã hội
+ Chính sách phát triển R&D
+ Đào tạo và giáo dục
+ Liên kết quốc tế
- Nhóm các nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được như Môi trường thiên nhiên
Có thể nói phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp thể hiện đầy đủ cả những phân tích định tính và định lượng và trong cả quá trình vận động của doanh nghiệp. Hiện nay, những nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của các ngành/doanh nghiệp đều thực hiện theo phương pháp này. Tuy nhiên, trên thực tế để nghiên cứu đầy đủ các yêu cầu của phương pháp này cũng không dễ dàng bởi việc nghiên cứu cần sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu và với một lượng thông tin rất lớn trong một thời gian dài. Ngay cả các nghiên cứu quy mô gần đây như: “Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam” của UNDP – Viện chiến lược phát triển (DIS) – Bộ kế hoạch và đầu tư (MPI) năm 1999, hay báo cáo về cạnh tranh độc quyền – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW năm 2000 vẫn bị đánh giá là còn thiếu những phân tích định lượng sâu sắc, hoặc còn bỏ sót một số khía cạnh phân tích định tính quan trọng. Điều này lý giải vì sao một phương pháp nghiên cứu nhiều ưu việt như vậy mà chưa được nhiều doanh nghiệp sử dụng.
Đánh giá: Xét một cách tổng thể, phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp cho phép trả lời ba câu hỏi cơ bản khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh như thế nào?
- Những nhân tố nào thúc đẩy hay đóng góp tích cực, những nhân tố nào hạn chế hay có tác động tiêu cực đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
- Những yêu cầu gì cần đặt ra để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Qua sự trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp là rất thích hợp khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp hay sản phẩm. Với một hệ thống các tiêu chí vừa rất chi tiết vừa mang tính tổng hợp cao; vừa có cả những phân tích định tính, vừa có cả những phân tích định lượng – đã giúp cho người nghiên cứu có được cách nhìn toàn diện và sâu sắc về tất cả các vấn đề liên quan đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp/ sản phẩm. Từ kết quả đó doanh nghiệp có thể có ngay kết quả nghiên cứu, chủ doanh nghiệp hay nhà nghiên cứu có thể trả lời ngay được câu hỏi: phải làm gì và làm như thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hoặc của của sản phẩm.
1.2.2.2. Quy trình nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Khác với các quy trình mang tính kỹ thuật, quy trình nâng cao năng lực cạnh tranh chỉ mang ý nghĩa tương đối nhằm phân định nội dung và các bước công việc thực hiện, các giải pháp cơ bản cho quá trình tiếp cận giải quyết các vấn đề. Theo cách đó, có thể thấy quy trình nâng cao năng lực cạnh tranh bao gồm các bước cơ bản sau:
- Xác lập sứ mạng cho công ty và những mục tiêu phát triển dài hạn;
- Phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới quy trình;
- Hoạch định các phương án có thể;
- Phân tích và lựa chọn phương án tối ưu;
- Chuẩn bị các điều kiện triển khai – thực thi và đánh giá phương án
- Xác lập sứ mạng của công ty
Sứ mạng của công ty được coi như tuyên bố chung của công ty về những điều họ tin tưởng. Sứ mạng của công ty là bức tranh sinh động và hấp dẫn kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai, phản ánh những cam kết có tính truyền thống, kế thừa và đặc biệt là một đảm bảo vươn tới tương lai của một tổ chức. Có bốn khía cạnh cần làm rõ trong sứ mạng của công ty, đó là: những nền tảng giá trị và niềm tin tổ chức; mục đích của tổ chức; tổng kết xúc tích và ngắn gọn những cống hiến của doanh nghiệp; xác định tiêu chí phấn đấu.
Đối với việc xác lập mục tiêu dài hạn cho phát triển, cần lưu ý thêm rằng trên lý thuyết có thể chỉ ra rõ ràng một số những mục tiêu cơ bản về khả năng sinh lời, mở rộng thị phần, gia tăng thế lực và củng cố độ an toàn, tuy nhiên tại từng phân đoạn thị trường khác nhau, việc điều tiết định lượng các mục tiêu đó cần thông qua các chỉ tiêu cụ thể để hiểu rõ họ có thể làm gì và phải làm gì cho mục tiêu chung của công ty.
- Phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài
Khi phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài, có hai vấn đề lớn cần giải quyết. Một là, định hình các nhóm nhân tố và đánh giá tỷ trọng ảnh hưởng của các nhân tố cụ thể, hai là, xác định các kỹ thuật và phương pháp phân tích cần sử dụng để đảm bảo tinh lọc thông tin với độ tin cậy cao cho quá trình ra quyết định
Với diện rộng của các nhóm yếu tố môi trường bên ngoài, khi thực hiện phân tích cần tiến hành xem xét trên hai lớp: nhóm nhân tố ngành và nhóm nhân tố chung, tuỳ thuộc vào tính chất tác động trực tiếp hay gián tiếp của chúng đến tổ chức của công ty. Trong nhóm nhân tố ngành, các biến số ảnh hưởng có quan hệ trực tiếp đến năng lực cạnh tranh do các doanh nghiệp phải cạnh tranh giành lấy quyền lực chi phối dòng vận động hàng hoá/ dịch vụ từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc. Michael Porter, đã đưa ra khuôn khổ xem xét hữu hiệu các nhân tố trong môi trường ngành. Ông đã đưa ra mô hình với 5 lực lượng chi phối khả năng sinh lời của công ty, đó là: quy mô và mức độ cạnh tranh hiện tại giữa các hãng, sự gia nhập của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, sức ép của nhà cung cấp, của khách hàng và khả năng thay thế của sản phẩm/dịch vụ.
Sự cạnh tranh của các hãng: cho chúng ta biết thông số về sự hiện diện của các đối thủ cạnh tranh trong ngành sản xuất hoặc kinh doanh các sản phẩm tương tự với số lượng bao nhiêu, mức độ cạnh tranh theo kiểu “tàn khốc” hay “lịch thiệp”. Thêm vào đó cạnh tranh hiện tại chịu sự chi phối của tăng trưởng công nghiệp, nếu mức tăng trưởng chậm, nhu cầu của khách hàng đã đến mức bão hoà, như vậy việc tăng trưởng của công ty đồng nghĩa với việc phải giành được thị phần của đối thủ của mình, điều này làm cho cạnh tranh thêm gay gắt. Các yếu tố liên quan tới chi phí cố định, lưu kho buộc các chủ doanh nghiệp phải cân nhắc để đạt tới lợi thế quy mô, tăng công suất để đảm bảo tính khả thi về mặt kinh tế. Tình huống này dẫn tới các đối thủ giằng co giảm giá. Ngoài ra, khi đánh giá mức độ cạnh tranh hiện tại giữa các hãng, các điều kiện về chi phí để khác biệt hoá sản phẩm và chuyển đổi sản phẩm, tính đa dạng của loại hình đối thủ cạnh tranh, cũng như đặt cược cao của các đối thủ và sự tồn tại các rào cản gia nhập rút lui khỏi ngành cũng được cân nhắc kỹ lưỡng. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Sự gia nhập của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Để phân tích đầy đủ các nhân tố bên ngoài, chúng ta không chỉ quan tâm đến các đối thủ cạnh tranh hiện tại, mà còn phải dè chừng đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Tuy nhiên, để gia nhập ngành, thực sự cần có một số điều kiện như: vượt qua hàng rào gia nhập, tính toán hiệu quả kinh tế về quy mô, sự bất lợi về chi phí, yêu cầu về vốn, sự khác biệt hoá về sản phẩm, chi phí chuyển đổi, khả năng tiếp cận kênh phân phối, và chính sách của Chính phủ.
Sức ép của nhà cung cấp: nhà cung cấp bao gồm các cơ sở cung cấp các nguồn lực hay đầu vào của quá trình tổ chức sản xuất – kinh doanh của Công ty. Vai trò chi phối của nhà cung cấp tuỳ thuộc vào một số đặc điểm: ưu thế của một số công ty và mức độ tập trung của nhà cung cấp, tính khan hiếm của nguồn cung cấp, mức độ quan trọng của ngành trong hệ thống khách hàng của các nhà cung cấp, mức độ quan trọng của loại đầu vào trong quá trình sản xuất – kinh doanh của ngành và năng lực tài chính của nhà cung cấp. Thông thường, nếu nhà cung cấp có thể triển khai chiến lược tích hợp phía sau và làm những gì công ty đang làm thì khi đó quyền lực của nhà cung cấp trong quan hệ thương lượng sẽ lớn.
Sức ép của khách hàng: Thủ pháp gây sức ép của các dạng khách hàng (người tiêu dùng công nghiệp/ tổ chức hay người tiêu dùng cuối cùng) thường rất khác nhau. Do sức ép của khách hàng, họ đòi mua với giá thấp hơn, dịch vụ tốt hơn và kích thích đối thủ chạy đua để thoả mãn nhu cầu của họ cao hơn. Điều làm cho người mua có nhiều quyền lực là vì họ là khách hàng thường xuyên của công ty và mua hàng với khối lượng lớn. Đối với khách hàng công nghiệp, nếu sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí đầu vào, thì việc dò kiếm một nhà cung cấp sẽ được thực hiện cẩn thận và có tính chuyên nghiệp. Thêm vào đó, nếu sản phẩm mà họ mua là những sản phẩm có tính chuẩn hóa cao, ít tính khác biệt thì người mua có khả năng so sánh giữa các nhà cung cấp để lựa chọn nơi có mức giá thấp nhất. Một yếu tố khác, nếu khách hàng có mức lợi nhuận thấp, họ sẽ thường tìm cách giảm chi phí, trong đó có chi phí mua hàng. Nếu sản phẩm của ngành không mấy ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ của người mua và họ có đủ nguồn lực để tự sản xuất ra sản phẩm giống của công ty thì quyền lực của họ trong quan hệ với công ty ngày càng được gia tăng.
Khả năng thay thế của sản phẩm/ dịch vụ: Cách đánh giá tốt nhất với sự đe doạ của sản phẩm thay thế là tư vấn xem có ngành nào khác có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng như chúng ta đang làm hay không? Có nhiều sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của Công ty, cũng có nghĩa là có nhiều bất lợi cho tính sinh lời của sản phẩm Công ty.
Về mặt lô gic, khi phân tích môi trường cạnh tranh ngành công nghiệp được xác định bởi năm yếu tố nêu trên, chúng ta cũng phần nào hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn của Công ty để chuẩn bị đối phó với tình huống nảy sinh.
Cùng với sự chi phối của nhóm các nhân tố trong môi trường bên ngoài ảnh hưởng tương đối trực tiếp đến công ty, còn có hệ thống các nhân tố bên ngoài khác ảnh hưởng gián tiếp đến công ty mà công ty hầu như không có/ hoăc rất ít khả năng kiểm soát được. Những yếu tố này biểu hiện xu thế, hoàn cảnh biến đổi có thể tác động tích cực hay tiêu cực đến công ty. Đó là nhân tố môi trường chung: điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá – xã hội và công nghệ.
- SỰ TỒN TẠI VÀ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC
Sự tồn tại và phát triển của các DNVVN là một tất yếu trong bất kỳ nền kinh tế nước nào, điều đó được phản ánh thông qua các lý do sau:
- Đứng trên góc độ phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hoá lao động, trong nền kinh tế mỗi nước, luôn tồn tại sự phát triển của phân công lao động xã hội không đồng đều giữa các ngành, các lĩnh vực và các vùng. Sự không đồng đều này biểu hiện ra bên ngoài bằng những hình thức tổ chức sản xuất với quy mô khác
- Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những nhược điểm kể cả doanh nghiệp có quy mô lớn. Các doanh nghiệp lớn không thể tồn tại một mình và vươn tới mọi hoạt động để đáp ứng nhu cầu nhu cầu vô cùng đa dạng, phong phú trên thị trường một cách có hiệu quả. Quy luật lợi nhuận và hiệu quả kinh tế làm xuất hiện và yêu cầu bản thân các doanh nghiệp không ngừng tự nâng cao sức cạnh tranh nhằm duy trì khả năng sinh lời tối đa có được. Sự tồn tại song song giữa các doanh nghiệp lớn và DNVVN là mối quan hệ tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau cùng hiệu quả hơn.
- Các DNVVN là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được trong nền kinh tế, nó được sản sinh ra một cách tất yếu để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Doanh nghiệp vừa nhỏ đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và phát triển của mỗi nước. Đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh là một tất yếu khách quan bởi yêu cầu của sự phát triển của cả một nền kinh tế mà trong đó có bản thân nội tại của các
- Do những lợi ích rất lớn của các DNVVN đem lại, đặc biệt trong việc giải quyết các mục tiêu xã hội quan trọng như việc làm, thu nhập, và sự phát triển đồng đều giữa các vùng dân cư. Các DNVVN được sử dụng như một giải pháp phát triển nhằm thực hiện nhiệm vụ đó.
1.4 KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC DNVVN Ở TRÊN THẾ GIỚI ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
1.4.1. Sự phát triển DNVVN tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ
Tại nhiều quốc gia, cả những nước phát triển, những nước đang phát triển, những nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ và những nước kém phát triển, tỷ trọng DNVVN thường là một con số đáng kể. Tại Mỹ, theo Small Businiss FAQ 12-2000 của Cục Quản lý kinh doanh nhỏ Mỹ (SBA) trên 99,7% tổng số hãng kinh doanh có thuê nhân công là doanh nghiệp nhỏ, thu hút 52% lực lượng lao động trong khu vực tư nhân, 51% lực lượng lao động trong khu vực trợ giúp công cộng và 38% trong khu vực công nghệ cao, tạo ra 75% số việc làm mới, sản xuất ra 51% tổng sản phẩm của khu vực tư nhân, chiếm 47% tổng doanh thu bán hàng, 31% doanh thu xuất khẩu hàng hoá và chiếm 96% tổng số các nhà xuất khẩu hàng hoá. Tại Nhật Bản [21], theo số liệu của Cục quản lý và Hợp tác, điều tra về doanh nghiệp Nhật Bản, tính đến năm 1998 có khoảng trên 5 triệu DNVVN (4,48 triệu doanh nghiệp nhỏ) chiếm 99,7% số doanh nghiệp cả nước và thực hiện kinh doanh ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, tập trung lớn nhất là lĩnh vực bán lẻ, dịch vụ và chế tác. Khu vực DNVVN tạo việc làm thường xuyên cho hơn 40 triệu lao động (Chiếm hơn 70% số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp cả nước), tạo ra hơn 40% doanh thu của khu vực doanh nghiệp, trong đó bán lẻ chiếm 55,7%, bán buôn 42,1%. Chế tác và các khu vực khách 37,5% đặc biệt vào khoảng cuối những năm 1990 nền kinh tế Nhật Bản đang dẫm chân tại chỗ, giảm phát và tăng trưởng âm những năm 1999 – 2001, tỷ lệ thất nghiệp hoàn toàn tính đến tháng 10 năm 2002 là 5,5%, thì vai trò của các DNVVN càng trở nên quan trọng, với 99,3% tổng số đơn vị kinh doanh là DNVVN đã tạo ra 51,2% tổng doanh thu trong khu vực chế tạo và chế biến, sử dụng 80,6% lao động (trừ các xí nghiệp kinh doanh nông lâm sản). Tại Đài Loan [20] có trên 1 triệu DNVVN, chiếm 97,73% tổng số doanh nghiệp, giải quyết 78,25% lao động, doanh thu bán hàng đạt 6.095 tổng số thuế giá trị gia tăng.
Tại Thái lan DNVVN chiếm khoảng 95% số doanh nghiệp công nghiệp, tuyển dụng từ 85 – 90% lực lượng lao động, DNVVN đóng góp trên 50 % GDP, có vai trò quan trọng trong việc tạo việc lạm và xuất khẩu, phát triển kinh tế ở các vùng lạc hậu của Thái Lan, và là một kết cấu hạ tầng quan trọng cho các công ty xuyên quốc gia nội địa và nước ngoài hoạt động tại Thái Lan. Tại Hunggari [11], đầu năm 2000 có 801 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động trong đó doanh nghiệp cực nhỏ chiến 96,5%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 2,9% và doanh nghiệp vừa chiêm 0,5%, doanh nghiệp lớm chỉ chiếm chưa đầy 0,1%. Khu vực DNVVN là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Hunggary [36] (luôn chiếm hơn 50% đóng góp của khu vực doanh nghiệp vào GDP của quốc gia), đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá tình tạo việc làm, hiện có 80,2% lao động đang làm việc tại các DNVVN. Với bức tranh hiện tại của DNVVN được chọn mẫu từ các quốc gia giàu, phát triển đến các quốc gia đang phát triển có đặc trưng của nền kinh tế quá độ, nhiều nhà kinh tế lạc quan cho rằng DNVVN là hình ảnh tương lai của kinh tế thế giới. Nhận định đó đặt cho chúng ta nhiều vấn đề cần suy nghĩ về DNVVN của Việt Nam. Việc nghiên cứu và tìm kiếm kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc phát triển DNVVN sẽ có ý nghĩa lớn đối với các DNVVN của Việt Nam. Những kinh nghiệm được rút ra nhằm không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường khả năng phát triển chiến lược cạnh tranh hiệu quả đó là cần phải có giải pháp tiếp cận hệ thống giữa doanh nghiệp với nhà nước và các tổ chức xúc tiến thương mại.
1.4.2. Một số bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của DNVVN
Từ thực tiễn của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, tham khảo ý kiến của các chuyên gia và đúc rút ra từ thực trạng phát triển của DNVVN của Việt Nam, tôi thấy về căn bản có ba bài học có thể tham khảo để vận dụng như sau:
Một là: cần khẳng định nhận thức và chỉ đạo hoạt động phát triển DNVVN là một nhiệm vụ chiến lược của nền kinh tế trong điều kiện mở cửa và hội nhập. Đây là một trong những nhân tố cơ bản, tạo nền tảng cho việc xây dựng hệ thống luật pháp và chính sách điều tiết vĩ mô, tạo cơ sở thụân lợi cho việc phân định các yếu tố thời cơ thuận lợi bên ngoài cho DNVVN khi hoạch định và triển khai chiến lược cạnh tranh. Kinh nghiệm của các nước cho thấy sự tồn tại và khả năng đóng góp không nhỏ vào DNVVN đối với nền kinh tế, trong hầu hết các quốc gia, cả các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Đức hay những nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan và những nước đang phát triển như Thái Lan, Inđônêxia…, sự năng động và linh hoạt, khả năng chuyển đổi nhanh của các DNVVN đã làm cho nền kinh tế thêm sinh động. Điều này khẳng định một vấn đề trong xu thế hội nhập và mở cửa, các DNVVN có khả năng hoà nhập thích ứng nhanh, luôn có khả năng nổi trong những thăng trầm của nền kinh tế. Một ví dụ điển hình minh chứng cho vấn đề này có thể thấy ở thời kỳ hậu khủng hoảng. Dưới tác động của khủng hoảng, giá cả và khối lượng mua bánh trong nước và quốc tế biến động rất lớn, lợi nhuận cận biên thu được từ các sản phẩm bị hạn chế, chi phí đầu vào tăng do lạm phát, mức tăng chi phí do nhập khẩu cao hơn mức phá giá trong nước, doanh thu bán hàng giảm, nảy sinh khó khăn về luồng tiền mặt là những gánh nặng đối với những món nợ chưa trả, khó khăn trong việc tiếp cận với những nguồn vay trung và dài hạn của các tổ chức tài chính và ngân hàng. Các DNVVN đã đưa ra các ứng xử chiến lược và sách lược hiệu quả nhằm quản lý rủi ro. Trong biến động của khủng hoảng tài chính Châu á 1997 – 1998 khó khănh lớn nhất của DNVVN là rủi ro tín dụng (do khách hàng không trả nợ đúng hạn) và tỷ giá hối đoái, kéo theo đó là lãi suất sẽ tăng theo tỷ giá do các hoạt động mua bán trước (forward contracts) trả bằng ngoại tệ, đổi tiền, các quyền lựa chọn (options). Để chia sẻ rủi ro, nhiều DNVVN đã bắt đầu tăng mức thu hút các nguồn lực bên ngoài vào sản xuất để giảm chi phí cố định, hạn chế mức đầu tư, giảm ảnh hưởng của những biến động về doanh thu thực hiện và lợi nhuận ròng, bên cạnh đó đẩy mạnh chiến lược đa dạng hoá thị trường trong việc bán hàng và thương lượng các giải pháp nhằm chia sẻ rủi ro, một số DNVVN sẵn sàng hy sinh lợi nhuận để giữ thị trường. Sau khủng hoảng hệ thống DNVVN là thành tố quan trọng hàng đầu nhằm khôi phục lại sức kinh doanh cho nền kinh tế, là nhân tố quan trọng quyết định đối với quá trình cơ cấu ngành, tăng việc làm, tăng trởng xuất khẩu. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Hai là, tăng cường hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách khuyến khích trợ giúp và vai trò quản lý nhà nước đối với DNVVN. Đây là những nhân tố ảnh hưởng trực diện đến các khía cạnh cụ thể trong từng tình huống phát triển, gắn với các điều kiện kinh doanh của các ngành, nghề và những ảnh hưởng của các cơ quan hành chính công đến hoạt động kinh doanh của các DNVVN. Thông thường, sự nhỏ bé về quy mô cũng kéo theo nhiều hạn chế trong việc khai thác các cơ hội kinh doanh, điều này tất yếu dẫn đến những đòi hỏi phải có chính sách khuyến khích, trợ giúp và sự đảm bảo về vai trò quản lý của Nhà nước trong việc hỗ trợ phát triển các DNVVN. Hầu hết tất cả các quốc gia, trong chính sách phát triển kinh tế đều có các quy định cụ thể cho vấn đề này. Ví dụ: ở ôtxtrâylia, các DNVVN là thành viên của các hiệp hội công nghiệp thường xuyên được tổ chức nhằm hỗ trợ, cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau, bao gồm tư vấn, thông tin về thị trường và công nghệ. Ở Thái lan, Phòng Xúc tiến Công nghiệp khuyến khích các doanh nghiệp tự hình thành các nhóm hợp tác nhằm giúp đỡ và tìm kiếm các hoạt động sinh ời cho các thành viên thông qua các khoá đào tạo chuyên biệt, các chuyến khảo sát, tăng cường hợp tác trơh giúp về kỹ thuật, cho vay và đặc ân khác.
Nhìn chung, các chính sách hỗ trợ có thể được thực hiện gián tiếp hoặc trực tiếp, xoay quanh những vấn đề cơ bản như hỗ trợ vốn tín dụng, công nghệ, nghiên cứu và phát triển mạng lưới thông tin thị trường, các hoạt động xúc tiến thương mại. Ví dụ: tại Mỹ, để trợ giúp cong nghệ và đổi mới cho các hoạt động kinh doanh nhỏ, Chính phủ có các chương trình như Chương trình chuyển giao công nghệ kinh doanh nhỏ (STTR) và Chương trình nghiên cứu đổi mới; ngoài ra, tại 50 bang ước tính có tới 500 vườn ươm công nghệ, được xây dựng chủ yếu tại các trường đại học và cơ quan nghiên cứu khoa học nhằm thương mại hoá các công trìnhh nghiên cứu khoa học.
Tại Đài Loan, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới trong báo cáo “ Sự thần kỳ Đông á” đã cho rằng chính sách DNVVN của Đài Loan là chính sách DNVVN tốt nhất trong khu vực Đông á. Hệ thống chính sách và biện pháp trợ giúp DNVVN tương đối toàn diện và có tính ổn định cao, được thể chế bằng văn bản “đại cương các chính sách và biện pháp nhằm vào các DNVVN” do Cục quản lý DNVVN ban hành, trong đố tập trung vào 3 nhóm lớn: (1) Xây dựng môi trường kinh doanh tối ưu, (2) Thúc đẩy sự hợp tác, và (3) thúc đẩy sự tăng trưởng độc lập của các DNVVN.
Tại Việt Nam, sự mở cửa từng bước của thể chế, chính sách đã đem lại màu sắc mới cho sự phát triển doanh nghiệp. Chỉ tính riêng trong năm 2000, sau khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực đã có trên 14.000 doanh nghiệp mới đăng ký với số vốn lên đến tỷ đồng, số doanh nghiệp mới đã tạo ra 300.000 chỗ làm, và đến tháng 10 – 2001 cả nước đã có hơn 23.000 doanh nghiệp mới được thành lập, với số vốn đăng ký hơn 25.000 tỷ đồng [4], trong năm 2001, có hơn 18.000 doanh nghiệp mới thuộc khu vực kinh tế tư nhân được thành lập, với số vốn đăng ký 000 tỷ đồng, đưa tổng đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân cả năm thực hiện là 37.000 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2000. Tuy nhiên, từ phía Nhà nước cũng còn không ít những trở ngại về thủ tục chính sách, kết quả điều tra cuộc điều tra về thái độ của xã hội đối với kinh doanh do Khoa Quản lý kinh tế học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện cho thấy có 41,3% nhóm cán bộ nhân viên và 40,4% nhóm kinh doanh xấu ở nước ta là do Nhà nước. Trên cơ sở thực trạng DNVVN Việt Nam, việc tăng cường hỗ trợ phát triển các DNVVN vẫn là một trong những ưu điểm hàng đầu cần tập trung cụ thể.
- Giảm gánh nặng hành chính đối với các DNVVN.
- Tạo điều kiện thuận lợi về tài chính cho các
- Cần có chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển trong
Theo báo cáo khảo sát của chương trình phát triển dự án Mêkông (MPDF) thực hiện tháng 6 – 2001 [34] đối với các doanh nghiệp mới đăng ký tại Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp mong muốn nhận được sự hỗ trợ của nhà nước trong một số vấn đề chính: đảm bảo sự thuận tiện cho doanh nghiệp trong việc lấy giấy chứng nhận đăng ký và thủ tục hành chính tiếp theo như khắc dấu, lấy số mã thuế, mua hoá đơn chứng từ… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng các nguồn lực đầu vào trong đầu tư và sản xuất kinh doanh (đất đai, hạ tầng, tín dụng, thiết bị công nghệ, thông tin về pháp luật, chính sách mới và thông tin thị trường..) tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp cận các cơ hội thị trường; tạo cơ chế giúp các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo luật khuyến khích đầu tư, tạo cơ chế khuyến khích các cơ quan có thẩm quyền và cán bộ các cơ quan này trong việc hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp; đồng thời ngăn chặn và xử lý các hành vi cửa quyền, tham nhũng của các cán bộ địa phương, có những tác động khích lệ tinh thần kinh doanh và khuyến khích các doanh nghiệp có tinh thần kinh doanh. ( Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế )
Ba là, các DNVVN phải không ngừng phát huy nội lực của mình, kiểm soát tốt chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Yếu tố này được nhiều nhà kinh tế theo “quan điểm về nguồn lực” cho là nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất vì mặc dù với những biến thiên từ bên ngoài tạo ra những cơ hội và thách thức lớn đến bao nhiều thì khả năng thích ứng với môi trường cũng do những nhân tố nội lực của các DNVVN để phát triển chiến lược cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải tự nhìn lại xem họ là ai? Họ đang làm gì? đang phục vụ ai? Sức khoẻ/bệnh tật của họ như thế nào? và họ đang muốn đi đến đâu? những rào cản nào có thể gặp phải trên đường đi, có những cách nào để vượt qua những rào cản đó…
Trong các lĩnh vực khác nhau, những vướng mắc mà các DNVVN phải đối mặt cũng có nhiều giác độ khác nhau, như trong việc tăng vường xuất khẩu, đầu tư ra nước ngoài, nâng cấp, thay đổi cơ cấu ngành hàng, phát triển và mở rộng kinh doanh. DNVVN của các nước công nghiệp phát triển có trình độ công nghệ tiên tiến, thường lo lắng nhiều đến vấn đề bản quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu hàng hoá trong hoạt động xuất khẩu, trong khi DNVVN của các nước đang phát triển thường quan tâm nhiều hơn đến việc thiếu thông tin, định hướng và kinh nghiệm về thương mại và đầu tư ra nước ngoài, ngoài ra còn có vấn đề thiếu lao động có đủ trình độ kỹ năng và ít có khả năng tiếp cận các khoản vay làm giảm khả năng đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm của các DNVVN.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn Thực trạng quá trình cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế ở doanh nghiệp Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
