Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch

Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch là một bài luận nghiên cứu hình thức phục vụ phát triển du lịch. Ngoài ra, lễ hội còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt, có sức hấp dẫn và lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, trở thành một nhu cầu thiết yếu, một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của con người. Đó là loại hình văn hóa phi vật thể nhằm cố kết cộng đồng thêm gắn bó chặt chẽ với nhau, thể hiện những khát khao vươn lên trong đời sống được giữ gìn từ đời này sang đời khác. Dưới đây là Đề tài: Tìm hiểu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở huyện Kiến Thụy – Hải Phòng phục vụ phát triển du lịch, mời các bạn đọc giả tham khảo và cảm nhận!

2.1. Giới thiệu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở huyện Kiến Thụy

2.1.1. Lễ hội đền Mõ

  • Lịch sử hình thành lễ hội

Đền, chùa Mõ là một cụm di tích liền kề thuộc xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng, nằm cách trung tâm huyện khoảng 4km sát ngay bên đường quốc lộ. Đền Mõ thờ Quỳnh Trân công chúa, người đã có công khai hóa mảnh đất này. Tương truyền vào thời Trần (1226 – 1400), công chúa Quỳnh Trân – con gái vua Trần Thánh Tông trước khi quy Tam Bảo đã chọn mảnh đất làng Nghi Dương thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn (nay là thôn Du Lễ, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy) lập điền trang, thái ấp, cấp lương thực, tiền bạc cho người nghèo đói, tập hợp muôn dân trong vùng đến đây làm ăn, sinh sống. Công chúa Quỳnh Trân đã cho lập một mạng lưới truyền tin dân dã, được quy định bằng tiếng mõ. Tiếng mõ là hiệu lệnh xác định giờ giấc sinh hoạt, sản xuất đồng áng, là khẩu lệnh tác chiến khi giặc dã, hỏa hoạn, trộm cướp… nên cảm ơn ân đức của Bà người dân đã gọi công chúa là “Bà chúa Mõ”. Sau đó, dưới sự hiệu triệu của Bà, người dân trong làng đã tụ tập trai tráng mở vật cầu trời cho mưa thuận gió hòa, có nước cho nhà nông cấy trồng, mùa màng tươi tốt, từ đó lễ hội đền Mõ đã ra đời. Theo một truyền thuyết khác, vào một dịp trời hạn hán, có mấy đứa trẻ mục đồng vào chùa xin nước, Bà chúa Mõ nói: “Các cháu thử cùng nhau thi vật xem được thua thế nào, ta sẽ cho nước uống…”. Bọn trẻ vâng lời, vờn tay đấu vật, bà cả mừng ban phép, nghiệm thay trời đổ mưa mát mẻ khắp vùng, nhân đó chùa được đổi tên là chùa Đồng Mục. Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông đã sắc phong Bà là Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, và ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập đền thờ. [6]

Để ghi nhận công lao to lớn của Bà, người dân trong vùng đã lập đền thờ ngày đêm lưu truyền hương khói. Cây gạo người trồng đã 733 năm rồi nhưng mùa tiếp mùa vẫn tốt lá xanh cây, mỗi dịp tháng hai hoa gạo nở đầy, như đón chào quý khách về đây thắp nén hương thơm kính dâng lên Bà chúa Mõ và mừng ngày xuân hội ngộ.

Đền Mõ có từ ngày đó và được lưu giữ đến ngày nay, bốn mùa hương hoa cúng dâng. Cùng với đó, lễ hội đền Mõ cũng được dân làng tổ chức và lưu giữ để tưởng nhớ về công đức của Bà chúa Mõ đối với dân làng. [6] ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

  • Đặc trưng, giá trị của di tích và lễ hội Đền Mõ

Lễ hội diễn ra trong không gian của di tích đền Mõ, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng và được tổ chức từ 12 đến 14/2 âm lịch hàng năm.

Nghi lễ: Cứ đến rạng sáng ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, bà con trong xã cũng như ngoài xã Ngũ Phúc lại có dịp đổ về tham dự lễ tế tại đền Mõ. Lệ tục cầu đảo bắt đầu vào ngày đầu tiên của lễ hội đền Mõ, tức ngày 12-2 âm lịch, sau khi rước bài vị “thánh bà” ra, các cháu trai “đồng tử” tuổi không quá 14, đóng khố để trần, diễn lại tích “mục đồng xin nước” ngày xưa. Ngoài các lễ chính là rước bách linh, Thành Hoàng của các làng về chầu đền, diễn lại tục mục đồng vật cầu đảo, lễ hội còn nhiều hoạt động văn hóa dân gian khác được tổ chức. Điểm độc đáo trong những ngày diễn ra lễ hội đền Mõ là lễ rước Thành Hoàng làng với việc người dân địa phương khênh long đình bát biểu và bài vị của vị phúc thần được thờ trong đền ra trường đảo (đàn cầu mưa) mà dầm mưa dãi nắng. Mục đích chính là để các ngài thấu hiểu nỗi khổ của người nông dân mà ban mưa thuận gió hòa. Thật lạ, năm nào cũng vậy, nhanh thì vài giờ, chậm thì vài ba ngày kể từ khi cầu đảo là trời mưa. [5]

Cùng với các hoạt động tế lễ truyền thống, lễ hội đền Mõ còn hấp dẫn

người dân và du khách với các trò chơi dân gian truyền thống như: hội vật Cầu Đảo, thi đấu cờ tướng, chọi gà truyền thống, thú vị nhất là màn thi đấu cờ người, tổ tôm điếm,… Người dân trong xã, trong huyện và khách thập phương nô nức tới dự hội. Đặc sắc nhất là màn “vật cầu đảo” (cầu mưa) do các em thanh thiếu niên trong xã biểu diễn vô cùng độc đáo.

  • Giá trị kiến trúc của lễ hội

Ngoài lễ hội thì kiến trúc đền Mõ cũng thu hút sự quan tâm của du khách như hệ thống rường, đấu, câu đầu, cốn, bẩy hiên… với nghệ thuật chạm khắc vô cùng đặc sắc. Đền Mõ được xây dựng cạnh chùa tạo thành một quần thể kiến trúc thống nhất. Đền Mõ nằm trong khuôn viên có diện tích 12.724m2, bên cạnh đền là một chùa cổ, (gọi là chùa Mõ) có cây gạo cổ thụ trên 700 năm, cành lá xum xuê tỏa bóng. Từ ngoài vào là con đường nhỏ chạy dài xuyên qua Tam quan gọi là Thần đạo. Theo “thần đạo”, chạy thẳng vào là gian tiền đường (nhân dân quen gọi là cung đệ tam), hai bên là hai tòa giải vũ 5 gian, 2 trái. Kiến trúc của đền gồm 3 tòa nhà, bố cục theo kiểu “Tiền nhất hậu đinh”, gồm 5 gian tiền đường (cung đệ tam), 5 gian đại bái (cung đệ nhị) và 2 gian hậu cung hình chuôi vồ. Các tòa nhà kề sát nhau tạo cho đền mang dáng vẻ thâm nghiêm và trang trọng. Tòa tiền đường xây theo kiểu “tường hồi bổ trụ giật tam cấp”, tạo cho ngôi đền mang dáng vẻ vững chắc. Ba gian trung tâm tòa tiền đường lắp hệ thống cửa gỗ lim kiểu “cửa tùng cung khách” chắc chắn và đẹp. Tượng Quỳnh Trân công chúa được đặt trong khám ở gian hậu cung, nơi trang nghiêm của ngôi đền. Trên các bộ vì của tòa đền chính, hình thức thể hiện rất phong phú như chạm nổi, khắc chìm, chạm bong kênh. Đề tài khá đa dạng và tuy cùng một đề tài nhưng phong cách thể hiện không giống nhau. Bên cạnh những mảng trang trí gắn liền với kiến trúc, di tích còn sử dụng những bộ phận trang trí khác góp phần tô điểm thêm tính chất lộng lẫy, linh thiêng như câu đối, đại tự, y môn, cuốn thư… Do sử dụng nhiều y môn cửa võng, câu đối hình lòng máng sơn son thếp vàng nên tạo cho không gian kiến trúc hình thành nhiều lớp lang như cung điện thời trung cổ, tăng vẻ uy linh cho ngôi đền. Đồ thờ của di tích còn khá nhiều, nghệ thuật trang trí, điêu khắc đạt tới trình độ tuyệt xảo, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật dân tộc một thời [7]. Hơn 700 năm đã trôi qua, lịch sử đã bao bước thăng trầm nhưng đền Mõ vẫn được gìn giữ như thủa ban đầu bằng lòng thành kính của người dân nơi đây.

Có thể nói, Đền Mõ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, một di tích lịch sử văn hóa thờ Công chúa Thiên Thụy, người có công với quê hương đất nước và đã được các triều đại nhà nước phong kiến trao 12 bản sắc phong. Với những giá trị nổi bật đó, năm 1991 đền Mõ xã Ngũ Phúc được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

  • Giá trị tâm linh của lễ hội

Có thể nói lễ hội Đền Mõ – xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy mang trong mình một giá trị lịch sử và tâm linh to lớn. Lễ hội đền Mõ được tổ chức gắn liền với sự hình thành của ngôi đền, chùa Mõ cùng với vị công chúa có công khai hoang lập ấp, lập ra tổng Nghi Dương (nay là xã Ngũ Phúc). Ngôi đền Mõ được lập ra để tưởng nhớ công ơn Quỳnh Chân công chúa tức là “Bà chúa Mõ” theo cách gọi trìu mến của người dân tổng Nghi Dương. Công chúa Quỳnh Chân đã có công lớn trong việc phát triển đời sống nhân dân lúc bấy giờ, chính vì vậy sau khi bà mất chính là lúc ngôi đền Mõ được hình thành. Và cứ thế hằng năm người dân nơi đây lại tổ chức lễ hội đền Mõ để tưởng nhớ “Bà chúa Mõ”. Lễ hội đền Mõ vẫn được lưu giữ đến ngày nay với những nghi lễ truyền thống và hội vật cầu đảo đặc sắc vừa giữ gìn được nét đẹp lịch sử lại tăng thêm vẻ đẹp văn hóa cho ngôi đền. Lễ hội đền Mõ không chỉ bày tỏ lòng biết ơn đến Quỳnh Chân công chúa mà còn là một cách lưu giữ nét văn hóa truyền thống tươi đẹp mà bà đã để lại. Đồng thời qua lễ hội người dân cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt để người dân có thể yên tâm an cư lạc nghiệp.

Trong khuôn viên đền Mõ có cây gạo cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Theo

tương truyền, cây gạo do công chúa Quỳnh Chân trồng sau một năm bà ở đây lập am tu hành với ước nguyện thóc gạo dồi dào, nhân dân no đủ. Vào tháng 3 âm lịch, hoa gạo nở đỏ rực sân đền. Đặc biệt nhìn từ xa cây gạo rất giống hình ảnh người mẹ đang ôm ấp, vỗ về đứa con nhỏ. Vì thế người dân trong vùng tin rằng, những cặp vợ chồng hiếm muộn con cái, chỉ cần cùng nhau đến chạm vào phần vỏ gốc cây hay khấn xin “Bà chúa Mõ”, lấy một chút vỏ cây về đem gối đầu giường, sẽ nhanh chóng thụ thai như ý.

Điều kỳ lạ nữa là qua hàng trăm năm phát triển, cành lá của cây gạo xum xuê, lại mọc gần chùa, nhưng không có cành nào làm hư hại đến mái chùa, vì cứ vươn gần đến mái thì cành sẽ tự khô héo, mục nát. Cây gạo cổ thụ này được công nhận là cây Di sản Việt Nam và là cây gạo cổ nhất, có tuổi đời cao nhất trong số các cây gạo ở nước ta [9].

2.1.2. Lễ hội Minh Thề Hòa Liễu – Xã Thuận Thiên ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

  • Lịch sử hình thành lễ hội

Lễ hội Minh Thề được tổ chức hằng năm ở làng Hòa Liễu xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Hòa Liễu là một làng nhỏ nằm ở ven đầm cửa phủ Kiến Thụy xưa. Khởi đầu làng mang cái tên nghe rất lạ “Lan Điểu”, người già truyền lại rằng: “Lan Điểu” tức là khu đất hoang đầy lau, sậy, chỉ có chim trời trú ngụ. Theo tiếng thổ ngơi địa phương đọc trạnh là “Lan Niểu”, các văn bản chữ Hán xưa là ấp Lan Niểu thuộc huyện Dương Kinh sau đổi là Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Đến đời vua Lê Dụ Tông (1705-1729) thuộc huyện An Lão, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương [10].

Sang triều Nguyễn, đời vua Minh Mạng (1837) đổi tên là làng Hòa Liễu, thuộc tổng Văn Hòa, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An, nay là làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Cùng với quá trình hình thành vùng đất và con người, nhân dân làng Hòa Liễu xã Thuận Thiên đã xây dựng lên những công trình văn hóa cổ truyền đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo đạo Phật và tín ngưỡng tôn thờ Thành hoàng làng. Đó là đền và chùa Hòa Liễu ngày nay. Cả hai di tích cùng tọa lạc trên một vị trí riêng biệt ở phía tây nam làng xóm, trông ra dải đầm cửa phủ Dương Kinh xưa, vốn là cố hương của vua Mạc Đăng Dung, chùa có tên chữ là Thiên Phúc, trùng tên với ngôi chùa Trà Phương nổi tiếng quê hương công chúa triều Mạc. Đền và chùa xây liền kề song song tạo thành một tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh.

Đền Hòa Liễu là nơi tôn thờ bà Thái Hoàng – Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, một nhân vật lịch sử thời Mạc, người có công với làng trong việc mở mang, xây dựng làng xã, làm việc thiện giúp dân, giúp đời. Theo thế phả họ Mạc, bà Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ là vợ vua Mạc Đăng Dung. Tên tuổi của bà đã xuyên suốt cả đời vua Mạc thịnh trị, tên tuổi của Bà cũng gắn liền với Lễ hội Minh Thề nơi đây. Năm 1993, di tích đền, chùa Hòa Liễu, xã Thuận Thiên đã được xếp hạng là Di tích cấp Quốc gia.[10]

Về nguồn gốc của Minh Thề, sách “Đại việt sử ký toàn thư” cho biết thời Lý, Trần đã có tục tuyên thề trước thần linh

Sách chép dưới triều Trần “Triều đình tuyên bố các điều khoản lễ minh thề, theo như lệ cũ của nhà Lý, hằng năm vào ngày mồng 4 tháng tư… Vua ngự ở cửa Hữu Lang, điện Đại Minh, trăm quan mặc nhung phục, lạy hai lạy rồi lui ra. Ai nấy đều xếp thành đội ngũ, nghi trượng theo hầu ra cửa Tây thành, đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, họp nhau lại uống máu thề rằng: “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề này, thần linh giết chết”. [5]

Tiếp nối truyền thống ấy vào thế kỷ 16, bà Vũ Thị Ngọc Toàn, người làng Trà Phương, huyện Kiến Thụy, tài sắc vẹn toàn đã mở mang xây dựng làng xã, làm nhiều việc thiện giúp dân giúp đời, xây dựng, tôn tạo nhiều chùa chiền, góp phần chấn hưng đạo pháp trong vùng. Trong thời gian ở Dương Kinh, bà tiếp thu lễ thề của các đời trước, dựng nên hội Minh Thề, bày cho dân làng Hòa Liễu thực hành. ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Như vậy hội Minh Thề ở Hòa Liễu do Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn đề xướng với mục đích răn dạy người dân phải biết dùng của công vào công việc công, việc chung của cộng đồng như tu sửa chùa chiền, hương nhang đèn miếu, lập quỹ nghĩa xướng giúp đỡ người nghèo khó và hội Minh Thề được nhân dân tuân thủ, thực hiện truyền đời đến trước năm 1945. Sau đó do chiến tranh, miếu thờ bản cảnh Thành hoàng (miếu Minh Thề) không còn nên Hội Minh Thề bị mai một. Sau hơn nửa thế kỷ bị gián đoạn, mãi đến năm 1993, khi cụm di tích đền – chùa Hòa Liễu được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, nhân dân địa phương bắt tay vào phục dựng lại lễ hội truyền thống này. Bằng sự cố gắng, tâm huyết, chính quyền và nhân dân Hòa Liễu đã phục dựng hội Minh Thề vào năm 2001. Đến nay lễ hội được duy trì, tổ chức ngày càng bài bản hơn trên nền cốt truyền thống xưa, góp phần phát huy truyền thống văn hóa và phong tục tập quán địa phương. [5]

  • Đặc trưng, giá trị của lễ hội Minh Thề

Lễ hội diễn ra trong không gian của cụm di tích đền – chùa Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Lễ hội truyền thống đền chùa Hòa Liễu được tổ chức trong 3 ngày, từ 14- 16 tháng Giêng, nhưng trước 1 ngày (tức ngày 13) buổi chiều làm lễ mộc dục tại đền, lễ đầu Xuân bên chùa và tổ chức lễ cáo yết do đội tế nữ quan của làng đảm nhiệm. Các nghi thức, nghi lễ cáo yết tương tự các lễ hội truyền thống khác. Lễ cáo yết được tổ chức trước đền thờ Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn trong không khí trang nghiêm và thành kính.

Hội Hoà Liễu kéo dài tới 3 ngày, nhưng nghi thức “Minh thề” được tổ chức ngay buổi khai hội. Xưa kia, trước khi khai mạc “Hội thề”, dân làng tế Thánh tại miếu chính thường có chức dịch hàng tổng, quan lại hàng phủ về dự chứng kiến.

Các nghi lễ được tiến hành trang trọng, chủ lễ và các vị bồi lễ đọc chúc văn lai lịch công đức của Thánh vương. Sau đó làm lễ dâng hương, dâng rượu, dâng nước trong tiếng nhạc bát âm réo rắt. Tế thần xong các bô lão, quan khách và dân làng, chức dịch, quần áo chỉnh tề tập trung quanh sân miếu theo thứ bậc. Chủ tế dùng động tác “chỉ trời vạch đất” mô phỏng theo phép biến trong Kinh dịch rồi vẽ một vòng tròn lớn đường kính khoảng 2m ở giữa sân miếu gọi là Đài thề. Trước Đài thề đặt một bàn thờ hướng về cửa miếu thâm nghiêm.

Ba vị đại diện cho hàng ngũ chức dịch, hội tư văn và bô lão trong làng do ban tổ chức lễ hội thề và hội đồng bô lão tuyển chọn bước lên Đài thề làm lễ thắp hương khấn vái trời đất bách thần. Đại diện tư văn dõng dạc đọc Minh thề có Hịch văn. Mọi người trong làng từ hương chức đến nhân dân, trên là bô lão, dưới từ 18 tuổi trở lên, ai dùng của công dùng vào việc công xin thần linh ủng hộ; ai lấy của công dùng vào việc tư cầu thần linh đả tử; làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin thần linh tru diệt. Sau khi mọi người cùng hô vang câu “y như lời thề” hoặc “y như miệng thề”, vị chủ tế cầm dao bầu cắm mạnh xuống trong vòng tròn Đài thề để biểu thị sự quyết tâm.

Tiếp đến là nghi lễ cắt tiết gà để uống máu ăn thề diễn ra rất cầu kì theo quy định truyền thống từ ngàn đời. Máu gà trống được hòa vào bình rượu lớn, mỗi người chuyền tay nhau uống một ngụm khẳng định sự đoàn kết thực hiện đúng lời thề. Sau lễ hội Minh thề trang nghiêm, dân làng Hòa Liễu như được tiếp thêm sức mạnh, rũ bỏ mọi ưu phiền của một năm cũ để tiếp tục bước vào năm mới, với niềm tin tưởng những điều tốt đẹp đang chờ ở phía trước.[8]

Sau phần lễ là phần hội với việc tổ chức chiếu chèo, hát quan họ sân chùa, các trò chơi dân gian như đấu vật, cờ tướng, cờ người, kéo co,… Trò chơi sau phần nghi lễ vô cùng sôi động. Mỗi một trò chơi được tổ chức tại một diện tích nhất định trong khuôn viên chùa. Đặc biệt là trò đấu vật và trò cờ người thu hút được nhiều sự quan tâm của người dân. Tất cả những trò chơi dân gian này đều được tuân theo quy tắc vốn có như những nơi khác mà ta thường thấy. Các trò chơi được tổ chức liên tiếp 2 ngày còn lại của lễ hội, mang đến những cảm xúc hào hứng, vui nhộn cho du khách thập phương.

– Giá trị lịch sử và văn hóa của lễ hội ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Hội Minh Thề, có lịch sử hình thành lâu đời, trải qua gần 500 năm tồn tại, đã gắn bó mật thiết với lịch sử, văn hóa, phong tục và tâm thức của người dân địa phương.

Với giá trị văn hóa, nhân văn sâu sắc, thông qua lễ hội người dân làng Hòa Liễu bày tỏ sự biết ơn, tấm lòng tri ân đến Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn người đã có công lao với làng xã, xây dựng mở mang chùa chiền trong vùng. Lễ hội được tổ chức hàng năm, đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của người dân, qua đó gửi gắm ước vọng no đủ, hạnh phúc trong cuộc sống. Từ mọi hoạt động của lễ hội phát huy tinh thần cộng đồng gắn bó, đoàn kết, cùng nhau tham gia vào lễ hội, cùng nhau sáng tạo các yếu tố văn hóa mới và bảo tồn, phát huy nét văn hóa truyền thống của ông cha.

Lễ hội Minh Thề góp phần giáo dục, định hướng nhân cách sống, phẩm chất đạo đức trung thực, chí công vô tư, kẻ làm quan không được tham ô, tham nhũng, lấy của công làm của riêng, người dân không tà tâm trộm cắp, trong gia đình phải sống hòa thuận, kính già yêu trẻ, trên dưới yêu thương đùm bọc, trong cuộc sống phải biết giúp đỡ người nghèo khó, hoạn nạn.

Những giá trị nhân văn đặc sắc của lễ hội Minh Thề góp phần làm phát triển văn hóa cộng đồng, giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống lao động sản xuất của quê hương. Lễ hội còn góp phần quảng bá hình ảnh đẹp về cuộc sống, con người của vùng đất Kiến Thụy nói chung và Hòa Liễu nói riêng.

– Giá trị kiến trúc của lễ hội

Đền Hòa Liễu có bố cục kiến trúc kiểu chữ nhị. Tòa tiền đường 5 gian, tường hồi xây bổ trụ giật 3 cấp hồi văn đội đấu, chạy chỉ hoa chanh, trên nóc hoa chanh đắp lưỡng long triều nguyệt. Tòa giữa ở gian hai đầu xây bổ trụ giật 2 cấp hồi văn đội đấu, chạy chỉ đơn, nóc nhà đắp vữa chạy thẳng. Tòa hậu cung gồm một gian hai dĩ với 4 mái đao cong đầu rồng làm bằng gỗ lim. Không gian hậu cung đền có các đồ thờ tự lộng lẫy vàng son, rất cổ kính linh thiêng.

Chùa Hòa Liễu gồm 3 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Bố cục thiết kế xây dựng công trình tưởng chừng như bị phá cách theo lối nhìn truyền thống “Tiền Phật hậu Thánh”. Hậu cung xây kiểu chồng diêm hai tầng mái, mái lợp ngói mũi hài. Không gian kiến trúc bên trong là nơi bài trí các pho tượng Phật.

Trong khu di tích đền và chùa Hòa Liễu, xã Thuận Thiên hiện còn bảo lưu, gìn giữ được nhiều di vật mang phong cách nghệ thuật của nhiều thời kỳ lịch sử. Đặc biệt là các di vật thời Mạc tạc bằng chất liệu đá gồm pho Tam thế, hai pho tượng Phật Quan thế âm và Đại thế chí, đôi sấu đá trước cửa chùa. Ở đền còn có các di vật mang phong cách nghệ thuật thời Mạc rất tiêu biểu như tấm bia đá Thiên Phúc tự dựng vào đời vua Mạc Phúc Nguyên, niên hiệu Quang Bảo năm 1561, tượng bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, cột đá “thạch trụ”…

Qua nghiên cứu các di vật, bia ký, đã cung cấp nguồn tư liệu quí giá về bối cảnh kinh tế xã hội thời Mạc hồi thế kỷ 16. Vào thời gian này, các ông hoàng bà chúa, các vị quận công chức sắc đã công đức khá nhiều tiền của vào việc dựng chùa, tạc tượng, đúc chuông, nhất là ở địa bàn huyện Kiến Thụy, quê hương của vương triều Mạc.

Cùng với di tích Đền – Chùa, Làng Hòa Liễu từ lâu còn nổi tiếng là một địa phương còn gìn giữ được nhiều thuần phong mỹ tục. Trước đây ở Hòa Liễu còn có ngôi miếu thờ vị thần Thành hoàng làng là “Long Vân Thiên Quang Đại Vương”. Ngày lễ của làng, sau lễ cúng thần còn có hội minh thề. Ngoài ra, ở đây còn có phong tục ứng xử cao đẹp với người già. Nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian tại địa phương như tế lễ, giao hiếu, bơi trải, hát đúm vẫn còn được bảo lưu, gìn giữ đến ngày nay.

2.1.3. Lễ hội Vật Cầu Kim Sơn – Xã Tân Trào huyện Kiến Thụy ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

  • Lịch sử hình thành lễ hội

Trong dân gian, Vật cầu là một trò chơi dân dã, lưu truyền sâu rộng và được cải biên theo những nghi lễ riêng biệt của từng vùng. Hội vật cầu Kim Sơn cũng đã mô phỏng các trò chơi cướp cầu của các vùng khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ nhưng khác là ba năm mới tổ chức một lần và cầu được làm từ củ chuối hột. Lễ hội vật cầu Kim Sơn gắn liền với quá trình tồn tại của vùng đất bãi bồi ven sông Văn Úc và công cuộc khai khẩn đất đai tìm ra vùng đất mới. Có nhiều cách lý giải cho việc hình thành lễ hội vật cầu Kim Sơn:

Có ý kiến cho rằng đó là hiện tượng sinh hoạt văn hóa dân gian cầu mùa, cầu nước để làm đồng, cầu cho cây trái tốt tươi.

Bên cạnh đó, tương truyền vật cầu Kim Sơn là môn thể thao do tướng Phạm Ngũ Lão (đời Trần) đặt ra sau chiến thắng quân Nguyên năm 1288 trở về. Ông đã cùng quân sĩ dùng củ chuối hột làm quả cầu và chơi trò vật cầu để rèn luyện sức khỏe, thể hiện sự nhanh nhẹn, dẻo dai. Từ đó, dân làng lấy trò chơi này đưa vào trò chơi đầu năm, đón Xuân mới. Lâu ngày trở thành lễ hội vật cầu truyền thống của Kim Sơn và thường tổ chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng của năm “Phong đăng hoa cốc”, tức ba năm tổ chức một lần.[5]

Đình Kim Sơn ở thôn Kim Sơn, xã Tân Trào (huyện Kiến Thụy) được xây dựng vào thế kỷ 19. Đây là một trong những di tích cách mạng của Hải Phòng được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng sớm nhất (ngày 12-6-1986).

Di tích lịch sử đình Kim Sơn là công trình kiến trúc nổi tiếng thời Nguyễn, kiểu chữ Đinh. Theo các bậc cao niên trong làng, đình thờ Nam Hải Đại Vương là thần thành hoàng làng (tên húy là Thiên quan Vũ Muối (thần Muối), ngày chạp thần là ngày 18 tháng Chạp hằng năm. Trải qua thăng trầm thời gian, biến cố lịch sử dân tộc, hiện nay đình Kim Sơn còn 3 gian hậu cung. Đình bằng gỗ lim, lợp ngói mũ. Đến năm 2005, toàn bộ nền đình và nhà được nâng cấp lên cao 0,7m, phần khuôn viên cây cảnh trên diện tích toàn bộ di tích là 4341m2, trong đó diện tích hiện trạng 3 gian hậu cung đình là 150m2. Đình Kim Sơn hiện là một kiến trúc khá đẹp, duyên dáng giữa làng quê thanh bình. Đình có kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng mái đao cong, lợp ngói mũi, bộ khung làm bằng gỗ lim. Trong đình Kim Sơn còn lưu giữ 17 di vật, hiện vật Mộc đá có từ hàng trăm năm. Trước đây đình Kim Sơn thường hay mở hội lớn thể hiện tính thượng võ, như vật cầu, chọi gà…, vào những ngày đầu tháng Giêng âm lịch.

Trong những năm tháng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 12-7-1945, Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Kiến Thụy chính thức ra mắt nhân dân tại đình làng Kim Sơn. Sau sự kiện lịch sử trọng đại này, đình Kim Sơn là địa điểm diễn ra các cuộc mít tinh, biểu tình, kêu gọi quần chúng nổi dậy chống Nhật, đốt phá kho thóc chia cho dân nghèo. Làng Kim Sơn là nơi đầu tiên châm ngòi cho cuộc cách mạng của huyện Kiến Thụy. Trong đó, ngôi đình Kim Sơn trở thành minh chứng lịch sử cho tinh thần đấu tranh quật cường của nhân dân ta chống phát xít Nhật [11].

Cùng với việc được công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp Quốc gia năm 1986, Đình Kim Sơn trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh, giáo dục truyền thống lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy và thành phố.

  • Đặc trưng, giá trị của lễ hội Vật Cầu Kim Sơn

Lễ hội được diễn ra ở không gian xung quanh đình làng Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Hội vật cầu được tổ chức 3 năm một lần vào ngày mồng 6 tháng Giêng và được chuẩn bị rất chu đáo ngay từ tháng 11 của năm trước. Các cụ già cùng các chức sắc trong làng họp bàn chuẩn bị công tác tổ chức lễ hội. Sáng ngày 30 Tết, nhân dân trong làng nô nức chuẩn bị làm cổng chào, cùng với đó là quá trình làm quả cầu tế được dân làng chuẩn bị cẩn thận. Quả cầu được tạo ra từ củ chuối hột già và lâu năm, cỡ bằng cái thúng khảo (đường kính 30 – 40cm), nặng khoảng 20 kg do trưởng làng đào mang về, đảm bảo tươi, nhẵn và trơn. Quả cầu được bọc bằng giấy hồng điều có gắn hình tứ linh: Long, Ly, Qui, Phụng đặt trên mâm bồng trong kiệu. ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Nghi lễ: Tối 30 Tết, cả làng ra đình làng để tế Thành Hoàng làng. Chiều mùng 5 Tết, người dân tổ chức tế Thành Hoàng và tế quả cầu. Buổi tối tổ chức các hoạt động văn nghệ, sáng ngày 6 tết, từ 7 giờ sáng, các già làng tổ chức làm lễ rước cầu từ trong đình ra ngoài sân đình và ban rượu lộc cho các giai vật cầu. Sau khi làm lễ ban rượu xong thì đoàn rước cầu ra sân vật. Đoàn rước cầu gồm: kiệu rước ảnh Bác Hồ, bát âm, bát biểu, quả cầu biểu tượng, quả cầu vật, đoàn tế nam, tế nữ, tổ múa cờ, múa rồng, tổ trọng tài, cuối cùng là đoàn giai vật cầu.

Phần hội:

Đúng 9 giờ quả cầu biểu tượng được mở ra và hội được bắt đầu. Vật cầu có 3 hiệp, mỗi hiệp 15 phút. Sau mỗi hiệp vật cầu là thời gian nghỉ giải lao, trong giờ giải lao có múa cờ, múa rồng xen kẽ. Thể lệ vật cầu như sau: Đội nào mang được quả cầu từ hố cầu cái về hố cầu quân ở giáp mình thì đội đó chiến thắng. Trong làng có 24 dòng họ, chia thành ba giáp, mỗi giáp là 8 dòng họ: Giáp Đượng, giáp Nam và giáp Bắc. Mỗi giáp phải chọn cho mình 6 người trong đó có một người làm tổng cờ, chỉ huy 5 đô vật hay còn gọi là các giai cầu. Đô vật là những thanh niên chưa vợ, khỏe mạnh. Tổng cờ mặc võ phục đầu chít khăn, chân quấn xà cạp, tay cầm cờ đuôi nheo chỉ huy giành giật cầu. Sới vật cầu trên sân đình có hình con nhạn. Lỗ cầu cái đào ở giữa sân chính rốn con nhạn. Quả cầu được đặt vào lỗ cái. Sau tiếng trống vang lên cuộc vật bắt đầu. Vào cuộc, giai cầu nhảy xuống lỗ cầu cái tung lên, quả cầu tròn nhẵn lại rắn, nặng, khó bấu khiến các đội tranh giành rất hào hứng. Cứ mỗi khi giáp nào đưa được quả cầu về sân mình, tiếng reo hò cổ vũ lại vang dậy như sấm. Kết hội, quả cầu được ném xuống hồ bán nguyệt trước cửa đình. Người dân tranh nhau tìm cách vớt cầu vì họ tin rằng nhà nào vớt được quả cầu đem về cho lợn ăn thì lợn sẽ chóng lớn và tránh được các dịch bệnh. Lễ hội Vật Cầu Kim Sơn là lễ hội tiêu biểu của cư dân nông nghiệp, tái hiện cuộc sống lao động vất vả và những ước muốn của người dân nông nghiệp về mùa màng bội thu, chăn nuôi thuận lợi.

Nét đặc sắc của lễ hội: Hội diễn ra rất náo nhiệt vì độ gay gấn cũng như độ khó của việc tranh giành quả cầu nặng tới 20kg, quý khách đến đây sẽ được hòa mình vào bầu không khí sôi động đúng tinh thần thượng võ của người Hải Phòng.

– Giá trị của lễ hội

Lễ hội Vật Cầu Kim Sơn là lễ hội truyền thống của làng Kim Sơn có lịch sử hình thành lâu đời. Lễ hội không chỉ lưu giữ một môn thể thao thú vị có thể rèn luyện sức khỏe, thể hiện sự nhanh nhẹn dẻo dai mà còn là tượng trưng cho nếp sinh hoạt văn hóa dân gian mong cầu được vụ mùa bội thu. Không những vậy lễ hội Vật Cầu Kim Sơn còn gắn liền với quá trình tồn tại của vùng đất bãi bồi sông Văn Úc và công cuộc khai khẩn đất đai tìm ra vùng đất mới. Lễ hội Vật Cầu Kim Sơn đã đáp ứng nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của cộng đồng làng. Mỗi dịp lễ hội rạo rực đến cũng chính là thời gian cho những người con xa quê được hòa vào không khí đoàn tụ, ấm áp của gia đình và tận hưởng khung cảnh bình yên quê nhà, cùng cầu nguyện cho năm mới bình an no đủ. Lễ hội Vật Cầu Kim Sơn đã góp phần tôn vinh những giá trị tinh thần mộc mạc nhưng vô cùng quý giá, đáng trân trọng, giữ gìn nền văn hóa làng xã Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm:

→  DỊCH VỤ NHẬN VIẾT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

2.2. Thực trạng khai thác các lễ hội tiêu biểu của huyện Kiến Thụy những năm gần đây

2.2.1. Thực trạng khai thác lễ hội đền Mõ trong du lịch ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Lễ hội đền Mõ vào ngày khánh hạ 12/2 âm lịch hàng năm từ xa xưa đã trở thành ngày hội truyền thống của dân các xã trong vùng. Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày, các thiện nam tín nữ xa gần nô nức về trảy hội. Tinh thần thượng võ, ý thức cộng đồng, tự tôn dân tộc, nêu cao truyền thống nhân ái, tự cường trong mỗi người dân như được nhân lên. Đất Ngũ Phúc là đất chèo, chiếu chèo sân đình được tổ chức mang đậm nét văn hoá dân gian. Đặc biệt là hội vật cầu đảo ở đền Mõ đã trở nên nổi tiếng trong vùng. Vật cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt. Chẳng biết bắt đầu từ bao giờ, nhưng sự linh nghiệm thì đã có trong lòng người dân được truyền từ đời này qua đời khác.

Lễ hội đền Mõ là một lễ hội đặc sắc, đậm đà văn hóa truyền thống, gắn liền với đời sống của người dân địa phương vì thế mà dân gian còn có câu:

“Dù ai buôn đâu bán đâu 12 mở hội rủ nhau mà về Dù ai buôn bán trăm nghề

Tháng hai mở hội ta về dâng hương”

Lễ hội đền Mõ có ý nghĩa rất lớn đối với người dân làng xã Ngũ Phúc. Vào năm tổ chức lễ hội, mỗi độ xuân về là người dân xã Ngũ Phúc lại háo hức mong đợi, nô nức chuẩn bị cho lễ hội , hòa vào niềm vui chào xuân mới. Đường làng ngõ xóm được quét dọn sạch sẽ. Cách xa cổng làng hàng trăm mét đã có những lá cờ hội phấp phới tung bay báo hiệu một ngày hội lớn rất đẹp mắt.

Ngày xưa việc tổ chức lễ hội chỉ diễn ra trong phạm vi làng. Nhưng ngày nay, được sự quan tâm của các ban ngành, địa phương và chủ trương bảo tồn lễ hội truyền thống của Đảng và nhà nước, lễ hội đền Mõ được chuẩn bị chu đáo và quy mô hơn.

Lễ hội truyền thống Đền Mõ được tổ chức trang trọng theo đúng quy định của pháp luật; thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, phù hợp với thuần phong mỹ tục và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Công tác quản lý nhà nước về lễ hội được phát huy tạo sự chuyển biến mạnh mẽ. Công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội và phòng cháy chữa cháy được đảm bảo tốt, sắp xếp hàng quán khoa học, bố trí bãi đỗ xe hợp lý, bố trí lực lượng trông giữ phương tiện cho du khách, không có hiện tượng ùn tắc giao thông. Vệ sinh môi trường, cảnh quan văn hóa lễ hội ngày một tốt hơn, xây dựng được một khu vệ sinh công cộng phục vụ du khách. Nhiều hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội đã từng bước được khắc phục. ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Công tác quảng bá di tích và lễ hội dưới nhiều hình thức đã đạt kết quả nhất định nên lễ hội bắt đầu thu hút du khách ngày càng đông. Cơ sở hạ tầng, đường xá được quan tâm đầu tư bước đầu đáp ứng được nhu cầu của du khách thiết chế văn hóa của di tích và lễ hội từng bước được bổ sung. Di tích đã có sự đầu tư tôn tạo, tu sửa xây dựng cảnh quan môi trường sạch đẹp, thuận tiện cho du khách tham quan chiêm ngưỡng.

Các trò chơi dân gian được phục hồi trong lễ hội đã góp phần phục hưng giá trị tốt đẹp của lễ hội truyền thống, bên cạnh đó còn bổ sung các hình thức vui chơi thể thao như trò chơi kéo co giữa các chi hội phụ nữ và các chi hội nông dân và đoàn thanh niên xã, tạo không khí vui tươi, lành mạnh, hấp dẫn. Ngoài ra ban lễ hội còn tổ chức 2 đêm văn nghệ vào ngày 12 và 13 âm lịch, do câu lạc bộ những người con xa quê và đoàn chèo Hải Phòng biểu diễn.

Việc đặt tiền lễ, tiền giọt dầu cũng được Ban tổ chức lễ hội bố trí lực lượng hướng dẫn nhân dân đặt tiền đúng nơi, đúng chỗ, thu gom kịp thời; bố trí các mâm lễ và người bê lễ phục vụ các đoàn vào dâng hương.

Hiện tượng tiêu cực trong lễ hội đã giảm so với các năm trước, không có ấn phẩm trái phép bày bán tại lễ hội. Tình trạng lợi dụng lễ hội để hoạt động mê tín dị đoan như bói toán, lên đồng, xóc thẻ, khấn thuê, ăn mày, ăn xin, các trò sát phạt ăn tiền đã giảm rõ rệt.

Lễ hội đền Mõ ngày nay được mọi người biết đến nhiều hơn qua hệ thống thông tin truyền thông ti vi, đài, báo. Tuy nhiên việc đưa lễ hội vào khai thác phục vụ du lịch vẫn chưa thực sự được phát triển. Từ khi khai hội cho đến nay chưa có tour du lịch lễ hội đến đây, số lượng khách khi đến với lễ hội chủ yếu là khách ở quanh khu vực huyện Kiến Thụy, một số ít khách đến từ quận huyện khác như Đồ Sơn, Kiến An, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Mục đích chính khi tổ lễ hội vẫn chỉ là để bảo tồn văn hóa địa phương, gìn giữ nét đẹp truyền thống của dân tộc.

2.2.2. Thực trạng khai thác lễ hội Minh Thề trong du lịch

Lễ hội Minh Thề được tổ chức trong khuôn viên cụm di tích đền, chùa Hòa Liễu, lễ hội được tổ chức trong khoảng thời gian 3 ngày từ ngày 14-16 tháng Giêng hằng năm. Lễ hội có lịch sử hình thành lâu đời, từ thời Mạc (thế kỷ 16), được Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn cùng nhân dân Hòa Liễu tạo dựng và thực hành trong đời sống đương thời. Lễ hội được tổ chức trong suốt thời gian dài (hơn 4 thế kỷ) đến năm 1945 sau đó bị mai một. Bằng tâm huyết và tình yêu đối với thuần phong mỹ tục, với những di sản văn hóa tiêu biểu của cha ông, năm 2001, nhân dân Hòa Liễu đã phục hồi và tổ chức lễ hội Minh Thề. Đến nay lễ hội đã được đông đảo người dân và du khách biết đến.

Sau mùng 8 tết, chính quyền địa phương, ban quản lý di tích cùng đại diện nhân dân đã tổ chức họp bàn để chuẩn bị cho các khâu, các hoạt động lễ hội truyền thống như: Thành lập ban tổ chức lễ hội, phân công, phân nhiệm vụ cụ thể cho từng tiểu ban như: công tác vệ sinh môi trường cảnh quan di tích, công tác đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, chuẩn bị nhân lực, vật lực, chọn duyệt đội tế, đội tham gia hành lễ, diễn tập đọc hịch văn Minh Thề… đều được ban tổ chức cùng toàn thể nhân dân, ban quản lý di tích đặc biệt quan tâm và thực hiện nghiêm chỉnh chu đáo. ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Lễ Hội Minh Thề cơ bản giữ được yếu tố cổ truyền. Các nghi thức, nghi lễ diễn ra trong lễ hội, trang phục tế lễ trang nghiêm, thành kính. Trong lễ hội, lễ và hội được gắn kết với nhau trong không gian chung của cụm di tích đền chùa Hòa Liễu. Phần hội vui tươi, náo nhiệt với các trò chơi truyền thống như: đấu vật, chọi gà, cờ tướng… Những trò chơi này đã gắn với lễ hội truyền thống của làng Hòa Liễu từ xưa, đặc biệt về đấu vật, làng Hòa Liễu còn có cả văn tế đấu vật. Những người già ở xã kể lại, hội vật truyền thống của xã đã có lịch sử lâu đời, và được khôi phục những năm gần đây. Hội vật này khác hẳn với hội vật ở làng quê khác, bởi người dân tổ chức hội vật như một hình thức giải trí đơn thuần sau những ngày tết. Theo quy định, các đô vật dự đấu không nhất thiết phải người địa phương, và bất kỳ khán giả nào cũng có thể được lên sới đấu vật. Ngoài giải Cạn dành cho chức vô địch, xã còn dành riêng một khoản tiền thưởng cho tất cả những đô tham gia hội vật. Có thể do điều kiện dự hội khá đơn giản, cứ đến trước ngày mở hội vật, trai tráng khắp nơi theo nhau về xã.

Một trong những nét văn hóa cần được khuyến khích trong Hội Minh Thề

là không có hiện tượng mê tín dị đoan, mua thần bán thánh, không có cảnh chen lấn của những người tham dự lễ hội.

Không gian cảnh quan lễ hội hài hòa, rộng rãi. Khuôn viên di tích có khu vườn riêng để tổ chức hội thi cờ tướng, có sới vật được dựng trên nền đất cũ của ngôi miếu thờ thành hoàng, có bãi riêng tổ chức chọi gà.

Dịch vụ ăn uống, bán hàng lưu niệm, khu vui chơi, giải trí… được bố trí tách biệt với khu di tích để không làm phương hại đến cảnh quan, công trình di tích. Các hoạt động dịch vụ này được quy hoạch phía trước cổng đền, chùa Hòa Liễu, vừa hài hòa vừa đảm bảo an toàn, an ninh trật tự.

Tuy nhiên, việc quảng bá lễ hội Minh Thề vẫn chưa được hiệu quả và rộng rãi, còn rất nhiều du khách thuộc khu vực lân cận chưa biết đến lễ hội, số lượng du khách đến với lễ hội chủ yếu là người dân địa phương và du khách quanh địa bàn huyện Kiến Thụy hoặc là một số ít du khách trong nội thành thành phố Hải Phòng, những người đi ngang qua gặp lễ hội thì vào tham gia chứ chưa có tour du lịch lễ hội nào đến đây. Việc tổ chức lễ hội vẫn chỉ là để bảo tồn văn hóa địa phương, gìn giữ nét đẹp truyền thống của dân tộc.

2.2.3. Thực trạng khai thác lễ hội Vật Cầu Kim Sơn trong du lịch ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Lễ hội vật cầu Kim Sơn   là một lễ hội đặc sắc, đậm đà văn hóa truyền thống. Nó gắn liền với đời sống của người dân địa phương vì thế mà dân gian còn có câu:

“Ba năm không hội vật cầu Làng Kim con gái mang bầu ra đi”

Lễ hội vật cầu có ý nghĩa rất lớn đối với người dân làng Kim Sơn. Lễ hội không chỉ đáp ứng nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng làng mà còn là dịp để những người xa quê cùng tụ tập về với gia đình, họ hàng; để được sống trong không khí đầm ấm, yên vui của làng quê; để nhớ về tổ tiên; để cùng gìn giữ, tôn vinh những giá trị tinh thần mộc mạc nhưng đáng trân trọng của văn hóa làng xã Việt Nam.

Không những vậy, việc tổ chức lễ hội Vật Cầu Kim Sơn còn mang giá trị du lịch to lớn đối với người dân và toàn địa phương. Cứ đều đều như vậy, 3 năm một lần lễ hội được diễn ra tại đình làng Kim Sơn và mỗi lần lễ hội được tổ chức lại thu hút rất nhiều người đến xem hội, tham gia vào lễ hội. Với sự đặc sắc và nét độc đáo riêng, lễ hội Vật Cầu Kim Sơn nhanh chóng thu hút được sự chú ý của các du khách gần xa.

Mỗi dịp lễ hội, lượng du khách đến đây lại một đông, càng tăng thêm sự náo nhiệt cho lễ hội, góp phần quảng bá thêm giá trị văn hóa cũng như bề dày lịch sử của lễ hội làng Kim Sơn. Cũng chính vì vậy mà các dịch vụ du lịch vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch được diễn ra phổ biến hơn, nhộn nhịp hơn. Và từ chính những dịch vụ này đã tạo thêm thu nhập cho người dân trong làng. Người thì góp vui trò chơi phi tiêu trúng thưởng, nhà thì mở hàng bán đồ lưu niệm, đồ dùng làng nghề thủ công hay những sản phẩm ẩm thực đặc trưng của làng… Mỗi nhà, mỗi người một việc góp phần làm nên một lễ hội náo nhiệt, thu hút du khách đến thăm lễ hội. Không những vậy mà tại nơi đây còn có dịch vụ giữ xe an toàn, tiện lợi và cùng với sự niềm nở, hiếu khách của người dân đã tạo những ấn tượng sâu sắc cho du khách mỗi lần đến thăm.

Tuy nhiên lượng du khách đa số đến đây vẫn còn hạn chế ở những huyện và tỉnh thành lân cận như Hải Dương, Hà Nội điều này cho thấy việc khai thác phục vụ du lịch vẫn chưa được chú trọng và phát triển. Vì vậy cần có những giải pháp để tuyên truyền quảng bá đến mọi du khách thập phương biết đến lễ hội hơn nữa.

Cũng do kinh phí có hạn nên nhiều hạng mục công trình hiện xuống cấp. Người dân xã Tân Trào mong các cấp, ngành quan tâm đầu tư trùng tu, sửa chữa điểm di tích lịch sử cách mạng quan trọng này, phát huy giá trị nơi đây trở thành thành điểm du lịch thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương.[11]

2.3. Đánh giá chung về thực trạng khai thác du lịch của các lễ hội truyền thống tiêu biểu huyện Kiến Thụy

2.3.1. Tích cực ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

  • Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Hiện nay trên địa bàn huyện có 17 nhà nghỉ, với tổng số 113 phòng và 114 giường, có 14 nhà hàng với những đặc sản đồng quê. Toàn huyện không có khách sạn từ 01 sao trở lên để phục vụ khách tham quan. Nguyên nhân chủ yếu là do thời gian tham quan các điểm du lịch trên địa bàn huyện chỉ mất khoảng 01 ngày nên khách có thể đi về trong ngày, hơn nữa Kiến Thụy chỉ cách trung tâm thành phố 20km nên khách thường quay lại nghỉ tại các khách sạn trong nội thành.[5]

  • Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch

Những năm gần đây hệ thống giao thông, hệ thống lưới điện của huyện được nâng cấp cải tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và kinh doanh cá thể phát triển. Toàn huyện có 3 trục giao thông đường bộ đi qua hầu hết địa bàn 18 xã. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội huyện đến năm 2020, Kiến Thụy sẽ hình thành 3 thị trấn. Đây cũng là điều kiện thuận lợi đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn.

Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Hải Phòng đến năm 2020, đường cao tốc vành đai Hà Nội – Hải Phòng được chính phủ đầu tư đã được triển khai thi công trên địa bàn huyện sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với người dân đang sống quen với nghề nông trong vùng quy hoạch. Vì vậy, xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nằm trong quy hoạch sang phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch nhằm phát huy tiềm năng lợi thế của huyện là nhiệm vụ cấp thiết của Đảng bộ và nhân dân huyện Kiến Thụy.[5]

  • Sản phẩm và loại hình du lịch

Loại hình du lịch chủ yếu hiện nay của Kiến Thụy là du lịch văn hóa, lễ hội và du lịch nghiên cứu khảo sát.

Du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng ở Kiến Thụy vẫn chưa phát triển, mặc dù Kiến Thụy có tiềm năng lớn về loại hình du lịch này. Với 860 ha rừng ngập mặn tại địa bàn xã Đại Hợp, cánh đồng quê đặc trưng vùng đồng bằng sông Hồng và dòng sông Đa Độ trong mát, thơ mộng, quyến rũ nơi đây có đầy đủ điều kiện để hấp dẫn du khách đến nghỉ dưỡng.

Khách du lịch đến Kiến Thụy chủ yếu theo hai tuyến: nội thành Hải Phòng – Kiến Thụy và tuyến Hải Phòng – Đồ Sơn – Kiến Thụy – Vĩnh Bảo. Tham quan các điểm du lịch chủ yếu là: Khu tưởng niệm Vương triều Mạc, Từ đường họ Mạc, đền chùa Hòa Liễu, chùa Trà Phương, Đền Mõ, một số ít tham quan rừng ngập mặn Đại Hợp… Một lượng lớn du khách có nhu cầu đi hành hương đầu năm thường đến Kiến Thụy để tham dự lễ hội khai bút tại Khu tưởng niệm Vương triều Mạc, lễ hội Minh Thề tại đền chùa Hòa Liễu, lễ hội Đền Mõ hay lễ hội Vật Cầu Kim Sơn.[5] ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

  • Tiềm năng du lịch lễ hội

Là địa phương có bề dày truyền thống văn hóa, những năm qua, huyện Kiến Thụy có nhiều hoạt động thiết thực nhằm khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa những lễ hội đặc sắc trên địa bàn, tạo cơ hội để người dân tìm hiểu, tiếp thu tinh hoa văn hóa tâm linh. Đến thời điểm này, một số lễ hội truyền thống của các địa phương vẫn giữ được nét đẹp vốn có.

Với gần 50 lễ hội lớn nhỏ tổ chức định kỳ hằng năm, trong đó, gần chục lễ hội đặc sắc diễn ra vào dịp đầu xuân mới, Kiến Thụy là một trong những miền quê có nhiều lễ hội độc đáo bậc nhất của thành phố. Lễ hội ở Kiến Thụy đa dạng, đặc sắc về thể loại, bao gồm các lễ hội dân gian, lịch sử, văn hóa, thể thao, tôn giáo, mang đến cho người dân sự trải nghiệm, khám phá mới mẻ. Hầu hết lễ hội đều gắn liền với các di tích lịch sử cách mạng, di tích lịch sử danh thắng, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát huy nét đặc sắc trong sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống.

Tiêu biểu như lễ hội Minh Thề ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên được mở vào 14-16 tháng Giêng hằng năm. Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm lịch sử, lễ hội bị gián đoạn thời gian khá dài, được phục dựng vào năm 2001, song lễ hội vẫn lưu giữ hầu hết cái hay và tinh tuý. Ban tổ chức duy trì lễ dâng hương, chủ tế thực hiện nghi lễ “chỉ trời vạch đất” và đọc lời thề chí công, vô tư. Lễ hội trở thành cầu nối những giá trị đạo đức của quá khứ với hiện tại, ngày càng mang tính giáo dục, nhân văn cao.

Từ ngày 12 đến 14 tháng hai, du khách còn được tham dự lễ hội Đền Mõ tại làng Nghi Dương xã Ngũ Phúc các nghi lễ dâng hương tưởng niệm, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt nông nghiệp phát triển đồng thời thể hiện lòng tôn kính đối với người đã có công khai hoang lập ấp mang lại ấm lo cho dân chúng trong vùng.

Cùng với đó, huyện Kiến Thụy có nhiều lễ hội truyền thống vừa mang tính tín ngưỡng vừa là trò chơi dân gian mang tính thể thao, rèn luyện sức khỏe như lễ hội đua thuyền rồng thôn Nam Hải (xã Đoàn Xá), lễ hội đua thuyền rồng trên sông Đa Độ…, tạo nét đẹp văn hóa dân gian đặc trưng đa dạng sắc màu lễ hội.

Với kho tàng quý về giá trị văn hóa, lịch sử, cùng mật độ lễ hội dày đặc, bên cạnh việc phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử văn hóa, huyện Kiến Thụy dần đưa hoạt động lễ hội vào nền nếp. Trưởng Phòng Văn hóa, Thông tin huyện Kiến Thụy Chử Ngọc Minh cho biết: “Những năm qua, huyện ban hành các nghị quyết cụ thể về việc bảo tồn và phát huy giá trị các văn hóa lễ hội gắn với phát triển du lịch như Nghị quyết số 14 của Ban Thường vụ Huyện ủy Kiến Thụy; Nghị quyết về phát triển du lịch đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Huyện cũng xây dựng Đề án phát triển du lịch từ 2015 đến 2020, định hướng đến 2025, trong đó ưu tiên phát triển văn hóa tâm linh, từng bước phục dựng các lễ hội theo đúng nguyên mẫu, đồng thời khuyến khích người dân đóng góp những hiểu biết của mình để từng bước chuẩn hoá lễ hội”. [15]

Từ năm 2007 đến nay, Kiến Thụy còn phối hợp Sở Văn hóa và Thể thao, Bảo tàng thành phố tổ chức sưu tầm tư liệu và phục dựng thành công một số lễ hội như lễ hội chạy đá, hát đúm, rước lợn Ông Bồ ở làng Kỳ Sơn, lễ hội rước cá Sủ ở làng Ngọc Tỉnh, lễ hội đua thuyền rồng ở Đoàn Xá, lễ hội khai bút đầu xuân, lễ tiến Vua ở Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc…

Các lễ hội này ngày càng đi vào nền nếp, bảo đảm vui tươi, lành mạnh, sôi nổi, trong đó hai lễ hội của huyện là lễ hội Minh Thề và lễ hội tưởng niệm Vương Triều Mạc vừa được quy hoạch là lễ hội cấp thành phố, khẳng định những nỗ lực trong việc bảo tồn, phục dựng lễ hội truyền thống của huyện Kiến Thụy, góp phần xây dựng sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hoá địa phương, từng bước hình thành các điểm đến tham quan du lịch độc đáo, hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước.[15]

2.3.2. Hạn chế ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

  • Tuyên truyền quảng bá du lịch

Hiện nay việc tuyên truyền, quảng bá du lịch trên địa bàn huyện còn yếu, chưa có sự liên kết chặt chẽ với các tổ chức và doanh nghiệp để phát triển du lịch.

Các thị trường du lịch nghèo thông tin, hình ảnh về tiềm năng văn hóa, tài nguyên du lịch của Kiến Thụy. Việc xây dựng hình ảnh biểu trưng (logo), khẩu hiệu cho du lịch Kiến Thụy vẫn chưa được quan tâm đầu tư.

Cụ thể công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch Kiến Thụy hiện nay mới chỉ được giới thiệu qua cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân huyện và trang Mactrieu.vn của Ban quản lý Vương triều Mạc. Do đó, du lịch Kiến Thụy vẫn chưa được nhiều người biết đến. Việc biên tập, sản xuất các loại ấn phẩm giới thiệu về tiềm năng, thế mạnh du lịch huyện Kiến Thụy (như tờ rơi, bản đồ, đĩa CD, bưu ảnh) vẫn chưa có nhiều.

  • Đào tạo nguồn nhân lực du lịch

Do điều kiện phát triển du lịch của huyện còn hạn chế, cơ sở kinh doanh du lịch ít nên lực lượng nhân viên phục vụ du khách không nhiều, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách, phần lớn là chưa được đào tạo qua các khóa đào tạo nghề về du lịch, trình độ về ngoại ngữ còn yếu.

Hiện nay, trên địa bàn huyện lực lượng hướng dẫn viên và thuyết minh viên tại các khu, điểm du lịch còn ít. Việc xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên và thuyết minh viên chưa được quan tâm thích đáng, do đó trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng của du lịch Kiến Thụy.

Lực lượng cán bộ quản lý về du lịch còn thiếu về số lượng, các sản phẩm và chương trình du lịch chưa được chú tâm xây dựng nên chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách. Do đó lượng khách du lịch đến Kiến Thụy còn ít, làm cản trở sự phát triển của du lịch Kiến Thụy nói riêng và du lich Hải Phòng nói chung.

  • Bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn

Vấn đề bảo vệ môi trường tại các khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn huyện còn hạn chế và chưa được quan tâm đầu tư nhiều. ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Bảo vệ môi trường tự nhiên như bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ nguồn nước, không khí hiệu quả chưa cao. Vẫn còn hiện tượng xả rác bừa bãi tại các khu, điểm tham quan, đặc biệt là các hộ dân sống cạnh sông Đa Độ vẫn xả rác, nước thải sinh hoạt trực tiếp xuống sông gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường và cảnh quan nơi đây.

Việc bảo vệ môi trường tự nhiên kết hợp phát triển du lịch bền vững hoàn toàn chưa được quan tâm, chưa có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng trong việc bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch.

Bảo vệ môi trường xã hội và nhân văn: việc đầu tư tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội chưa thực sự được chú trọng. Nhiều di tích lịch sử, văn hóa có giá trị trên địa bàn huyện đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Các lễ hội truyền thống có giá trị vẫn chưa được khôi phục hoặc khôi phục không đúng nguyên gốc, cũng chưa có mục tiêu phát triển phục vụ du lịch, vẫn còn hiện tượng cờ bạc, trò lừa bịp trong các lễ hội.

Việc đầu tư tuyên truyền, giáo dục lòng tự hào dân tộc, bảo vệ phát huy giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội đến với cư dân địa phương chưa được quan tâm. Do đó, người dân chưa hiểu hết được những giá trị to lớn của các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội. Chính vì vậy mà ý thức của họ trong việc giữ gìn bảo vệ không cao.

2.4. Tiểu kết

Kiến Thụy là mảnh đất còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa tâm linh đặc sắc có giá trị lịch sử lâu đời, trong đó các có các lễ hội truyền thống tiêu biểu như lễ hội Đền Mõ, lễ hội Minh Thề, lễ hội Vật Cầu Kim Sơn…

Các lễ hội truyền thống huyện Kiến Thụy mang trong mình nhiều giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo. Thông qua các lễ hội, du khách cảm nhận về mảnh đất con người Kiến Thụy mang đậm tính cách của cư dân nông nghiệp chất phác, thật thà. ( Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch )

Trong những năm qua, mặc dù địa phương đã bước đầu xây dựng và phát triển cho hoạt động du lịch, Phòng văn hóa – thông tin và UBND huyện Kiến Thụy cùng với chính quyền địa phương và ban quản lý các di tích cũng đã qua tâm đến vấn đề phục hồi và duy trì các lễ hội truyền thống, song các hoạt động trên mới chỉ hướng đến việc phục vụ cho đời sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương là chủ yếu. Do đó, việc khai thác các lễ hội truyền thống góp phần phát triển hoạt động du lịch của huyện Kiến Thụy vẫn chưa được quan tâm, phát triển, đúng mức. Các lễ hội truyền thống Kiến Thụy có nhiều tiềm năng để khai thác cho hoạt động du lịch, đồng thời Kiến Thụy còn có nhiều yếu tố hỗ trợ, tác động để thúc đẩy hoạt động du lịch. Tuy nhiên việc khai thác và ứng dụng giá trị của lễ hội truyền thống ở Kiến Thụy cho hoạt động du lịch thiết nghĩ cần đưa ra những định hướng và những giải pháp cụ thể. Đây cũng là nội dung mà người viết đề cập trong chương 3 của khóa luận.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch nhờ lễ hội truyền thống

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537