Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch

Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch  là một bài luận nghiên cứu hình thức phục vụ phát triển du lịch. Ngoài ra, lễ hội còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt, có sức hấp dẫn và lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, trở thành một nhu cầu thiết yếu, một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của con người. Đó là loại hình văn hóa phi vật thể nhằm cố kết cộng đồng thêm gắn bó chặt chẽ với nhau, thể hiện những khát khao vươn lên trong đời sống được giữ gìn từ đời này sang đời khác. Dưới đây là Đề tài: Tìm hiểu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở huyện Kiến Thụy – Hải Phòng phục vụ phát triển du lịch, mời các bạn đọc giả tham khảo và cảm nhận!

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch dồi dào, đa dạng và phong phú. Nước ta có điều kiện phát triển du lịch mạnh mẽ ở tất cả các loại hình du lịch như: Du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm…, đặc biệt là du lịch văn hóa. Trong loại hình du lịch văn hóa, các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Hầu hết các di tích văn hóa lịch sử đều gắn liền với các lễ hội, các phong tục tập quán của cộng đồng, phản ánh cuộc sống lao động của con người tại các làng quê, gắn liền với việc tái hiện lịch sử đất nước và tôn vinh các danh nhân văn hóa của dân tộc.

Nằm trong xu hướng phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam, du lịch Hải Phòng đang từng ngày khởi sắc. Du khách biết đến Hải Phòng bởi Hải Phòng có nhiều địa điểm du lịch biển nổi tiếng như Đồ Sơn, Cát Bà là những nơi thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Hải Phòng còn có nhiều nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch nhân văn như hệ thống các công trình kiến trúc, làng nghề… và đặc biệt là hệ thống lễ hội truyền thống, trong đó phải kể đến các lễ hội truyền thống ở huyện Kiến Thụy.

Kiến Thụy là vùng đất có lịch sử lâu đời, nơi đây đã từng là nơi khởi phát và hiện vẫn đang còn lưu giữ nhiều dấu tích quan trọng của vương triều nhà Mạc. Không những vậy, huyện còn bảo lưu nhiều lễ hội dân gian truyền thống đặc sắc. Các lễ hội dân gian truyền thống tại huyện Kiến Thụy mang nhiều giá trị văn hóa, giá trị lịch sử cao. Tuy nhiên, những giá trị trên lại chưa được địa phương khai thác hiệu quả cho phát triển hoạt động du lịch. Chính vì vậy, việc khai thác các lễ hội truyền thống tại huyện Kiến Thụy hiện nay là cơ sở giúp địa phương tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, phát triển các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bên cạnh đó góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương.

Với mong muốn đó, người viết đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở huyện Kiến Thụy – Hải Phòng phục vụ phát triển du lịch” cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình, nhằm góp một phần công sức nhỏ bé vào việc giới thiệu, bảo tồn và khai thác những giá trị văn hóa của lễ hội để phát triển du lịch địa phương.

2. Mục đích nghiên cứu ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

Đề tài đi sâu tìm hiểu về một số lễ hội tiêu biểu truyền thống ở huyện Kiến Thụy nhằm tìm ra những giá trị đặc sắc của lễ hội, từ đó góp phần vào việc giới thiệu và bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Mặt khác, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả những lễ hội đó phục vụ phát triển du lịch địa phương.

3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu có thể khai thác nhằm phục vụ hoạt động du lịch ở Kiến Thụy như lễ hội Đền Mõ, lễ hội Minh Thề, lễ hội Vật Cầu Kim Sơn.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trên địa bàn huyện Kiến Thụy

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau như: sách, báo, đài, tivi, tạp chí, mạng internet…, từ đó chọn lọc để có cái nhìn khái quát, những nhận xét và đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu, mà cụ thể ở đây là một số lễ hội truyền thống tiêu biểu của huyện Kiến Thụy
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa : đây là phương pháp nghiên cứu rất cơ bản để khảo sát thực tế, được sử dụng để thu thập số liệu, thông tin chính xác, khách quan về đối tượng nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, kết hợp với việc là quê hương của người viết, nên người viết đã có nhiều cơ hội để thực địa, chứng kiến các lễ hội trên diễn ra hàng năm, từ đó có cái nhìn khách quan, chân thực và cơ sở thực tế để vận dụng phân tích, hệ thống, phát triển cho bài khóa luận của mình.

5. Ý nghĩa của đề tài

Đề tài là một công trình nghiên cứu nhỏ với những dữ liệu tương đối phong phú, thông tin xác thực, là cơ sở giúp cho cơ quan địa phương hiểu hơn về những giá trị văn hóa lễ hội truyền thống của địa phương, đồng thời đưa ra các giải pháp quản lý, bảo tồn phù hợp.

Đề tài sẽ góp phần nâng cao trình đô nhận thức, hiểu biết của người dân trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử các lễ hội truyền thống của địa phương, qua đó góp phần quảng bá về những giá trị văn hóa độc đáo của địa phương, thu hút khách du lịch đến với lễ hội, làm cho hoạt động du lịch được phát triển góp phần nâng cao đời sống của người dân cũng như thúc đẩy việc giao thoa văn hóa vùng miền.

6. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được kết cấu làm ba chương:

  • Chương Cơ sở lý luận về lễ hội, du lịch lễ hội và tổng quan về huyện Kiến Thụy – Hải Phòng
  • Chương Tìm hiểu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở huyện Kiến Thụy và thực trạng khai thác trong du lịch những năm gần đây
  • Chương Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác một số lễ hội truyền thống tiêu biểu phục vụ phát triển du lịch

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI, DU LỊCH LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN KIẾN THỤY – HẢI PHÒNG

1.1. Cơ sở lý luận về Lễ hội ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

1.1.1. Khái niệm lễ hội

Cũng giống như khái niệm “văn hóa”, khái niệm “lễ hội” được rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm, tìm hiểu và đưa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau.

Trong gốc từ Hán Việt, “Lễ hội” được kết hợp từ hai yếu tố, trong đó “lễ” là những qui tắc ứng xử, cách thức cúng tế, nghi thức tôn giáo; “hội” là cuộc vui, đám vui đông người. [1]

Còn trong tiếng La tinh, “lễ hội” xuất xứ từ từ Festum, nghĩa là sự vui chơi, sự vui mừng của công chúng. [1]

Theo tiếng Anh, lễ hội là Festival, chỉ một loại diễn xướng, hoạt động thu hoạch một mùa vụ đặc biệt, hay một khoảng thời gian của một hoạt động có tính thiêng liêng và/hoặc thế tục. [1]

Nhà nghiên cứu Alassandro Falassi đã nhận định rằng: “Lễ hội là hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng nghi lễ và trò chơi truyền thống”. [1]

Ngô Đức Thịnh đã định nghĩa: “Lễ hội là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, được hình thành trên cơ sở một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó, được tiến hành theo định kỳ, mang tính cộng đồng, thường là cộng đồng làng”. [1]

Tác giả Hoàng Phê trong “ Từ điển tiếng Việt” cũng đã đưa ra khái niệm về lễ hội như sau: “Lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống”. [1]

Từ tất cả những quan điểm trên của các tác giả, các nhà nghiên cứu nhìn chung đã đưa ra một khái niệm tổng thể như sau : “Lễ hội là một hệ thống sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của một cộng đồng người, gắn liền với các nghi thức đặc thù và các cuộc vui chung nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người”. [1]

Lễ hội có hai phần chính là phần Lễ và phần Hội.

Phần Lễ (hay còn gọi là nghi lễ): tùy theo tính chất của lễ hội mà nội dung của phần lễ sẽ mang ý nghĩa riêng. Có thể phần lễ mở đầu ngày hội mang tính tưởng niệm hướng về một sự kiện trọng đại, tưởng niệm một vị anh hùng dân tộc; cũng có thể phần lễ là nghi thức thuộc về tín ngưỡng tôn giáo bày tỏ lòng tôn kính đối với các bậc thánh hiền và thần linh cầu mong điều tốt lành trong cuộc sống.

Phần Hội: là cuộc vui được tổ chức chung cho đông đảo người tham dự theo phong tục hay nhân dịp đặc biệt, đem lại lợi ích tinh thần cho các thành viên trong cộng đồng và có nhiều trò vui, trò chơi, giải trí và diễn xướng nghệ thuật. ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

1.1.2. Phân loại lễ hội

Có nhiều quan điểm để phân loại lễ hội, theo mỗi tiêu chí khác nhau sẽ có cách phân loại lễ hội khác nhau. Theo phạm vi không gian và dưới góc độ xã hội, người ta chia lễ hội thành lễ hội mang tính chất quốc gia, dân tộc hay quốc tế. Dưới đây là cách phân loại lễ hội theo mục đích tổ chức và thời gian hình thành, phát triển của lễ hội tại Việt Nam.

  • Căn cứ theo mục đích tổ chức và đối tượng thờ cúng

Ở nước ta lễ hội là sinh hoạt văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng mà lại thường đan xen hòa lẫn vào nhau cả về nội dung và hình thức. Vì vậy, việc phân loại lễ hội càng trở nên cần thiết trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu.

Căn cứ vào đối tượng thờ cúng có thể chia lễ hội thành lễ hội tín ngưỡng và lễ hội tôn giáo.

  • Lễ hội tín ngưỡng bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (thờ tổ nghề, tổ nước), tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Nhiên thần – Thiên thần, tín ngưỡng phồn thực.
  • Lễ hội tôn giáo bao gồm: Lễ hội của Ki tô giáo, lễ hội Phật giáo; lễ hội Bà la môn giáo của người Chăm; lễ hội Phật giáo Hòa Hảo; lễ hội của đạo Cao Đài… [1]

Theo cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm phân loại lễ hội căn cứ vào mục đích, cấu trúc của hệ thống văn hóa, theo đó có thể phân biệt 3 loại lễ hội:

  • Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường tự nhiên như: lễ hội cầu mưa, hội xuống đồng, hội đâm trâu, hội cơm mới, hội cốm, hội đua thuyền, hội đua ghe Ngo…
  • Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường xã hội, được tổ chức nhằm kỷ niệm các anh hùng dựng nước và giữ nước như: hội đền Hùng, hội Gióng, hội Tây Sơn, hội Đống Đa…
  • Lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng, bao gồm các lễ hội tôn giáo và văn hóa như: hội chùa Hương, hội chùa Tây Phương, hội chùa Thầy, hội đền Bắc Lệ, hội đền Dạ Trạch, hội Phủ Dày, hội núi Bà Đen… [4, 153]

Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển của lễ hội

Hiện nay, mỗi khi nhắc đến lễ hội ở nước ta, nhiều người thường nghĩ ngay đến các lễ hội truyền thống đã có từ xa xưa. Tuy nhiên, khi phân loại lễ hội theo thời gian hình thành và phát triển của xã hội người Việt thì có thể chia ra thành lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại.

a, Lễ hội truyền thống:

Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần” – những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại. Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người. Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc… Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc [14]. Điển hình là các lễ hội như: lễ hội chùa Hương (Hà Nội), lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), lễ hội núi Bà Đen (Tây Ninh), lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang), lễ hội mùa xuân hồ Ba Bể (Bắc Kạn)…

Lễ hội truyền thống, theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Chí Bền, còn gọi là lễ hội cổ truyền, nếu giả định như một mô hình thì nó có 4 thành tố cơ bản như sau: Nhân vật phụng thờ, trò diễn, các vật dâng cúng, nghi thức thờ cúng. [12]

Mô hình lễ hội truyền thống Việt Nam có thể minh họa như dưới đây:

– Quy trình của lễ hội truyền thống ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

+ Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn chuẩn bị cho mùa lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần. Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiến hành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phân công, cắt cử mọi việc để đón mùa lễ hội năm sau. Khi ngày hội sắp diễn ra, công việc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng (mộc dục) cùng các đồ tế tự, thay trang phục mũ cho thần… [14]

+ Vào hội: nhiều hoạt động diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghi thức tế lễ, lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui. Đây là toàn bộ những hoạt động chính có ý nghĩa nhất của một lễ hội. Lễ hội thu hút nhiều hay ít đối tượng đến với lễ hội, diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn chi phối bởi các hoạt động trong những ngày này. [14]

+ Kết thúc hội (xuất tịch, giã đám, giã hội): Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa di tích

b, Lễ hội hiện đại:

Là loại lễ hội mang tính kinh tế thương mại cao, được bổ sung thêm nhiều hoạt động mang tính chính trị, mang hơi thở thời đại và sử dụng thành tựu khoa học kĩ thuật; thông thường nội dung gắn với các nhân vật lịch sử, liên quan đến cách mạng và kháng chiến, hoặc là các hoạt động kỷ niệm. Lễ hội hiện đại xuất hiện từ sau năm 1945, lấy thời gian tổ chức theo dương lịch, được tổ chức theo định kỳ trong năm hoặc theo năm chẵn, năm lẻ; do chính quyền các cấp và nhân dân tham gia tổ chức tại các trung tâm đô thị lớn, ít có tính địa phương chủ nghĩa. Lễ hội hiện đại thường diễn ra trong thời gian ngắn (trừ các hội chợ Xuân, hội chợ triển lãm, liên hoan du lịch…). Lễ hội hiện đại chủ yếu gắn liền với nhân vật và sự kiện lịch sử liên quan đến cách mạng. Các sự kiện lịch sử cách mạng đã trở thành tâm điểm cho cảm hứng sáng tạo lễ hội của nhân dân.

[3] Đó là các lễ hội ở các địa phương nhân dịp thành lập Đảng (3/2), ngày Quốc khánh (2/9), ngày giải phóng miền Nam (30/4)…

Ngoài ra, lễ hội văn hóa du lịch, hội chợ cũng được xem là những hình thức chính của lễ hội hiện đại, ví dụ: Festival Huế, Festival hoa Đà Lạt, Carnaval Hạ Long, Lễ hội pháo hoa Đà Nẵng… Đây là những hoạt động mang tính quảng bá hình ảnh du lịch gắn với việc phát triển kinh tế của vùng miền hay ngành nghề, mục đích chủ yếu là khuếch trương quảng bá sản phẩm, hình ảnh, thương hiệu và tôn vinh những giá trị của địa phương.

– Quy trình của lễ hội hiện đại

Thông thường, những lễ hội hiện đại có thể gồm các bước tiến hành theo trình tự sau:

+ Rước lửa truyền thống: Lửa thiêng luôn có vai trò đặc biệt trong đời sống con người. Bởi luôn mang ý nghĩa linh thiêng, cao đẹp về sự phát triển, do vây trong thờ cúng và trong các lễ hội truyền thống không bao giờ thiếu sự có mặt của hương lửa. Trong lễ hội hiện đại lửa cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự thúc đẩy động viên con người vươn tới, đạt được những đỉnh cao mới.

+ Rước cờ tổ quốc, cờ hội: Những lá cờ luôn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong mọi hoạt động của con người từ truyền thống đến hiện đại. Lá cờ biểu trưng cho vị thế, niềm tin, niềm kiêu hãnh và sự tự hào của một quốc gia, một phong trào, một tổ chức…

+ Nghi thức chào cờ, quốc ca: Đây là những nghi thức bắt buộc trong nghi lễ và trở thành thông lệ.

+ Lễ dâng hương: Là một hoạt động truyền thống thể hiện sự tôn kính của cá nhân và cả cộng đồng với các đối tượng được thờ cúng.

+ Diễn văn, chúc khai mạc: Người có vị trí, địa vị trong xã hội đại diện cho tập thể đọc diễn văn khai mạc bày tỏ tình cảm của tập thể đối với các nhân vật, sự kiện mà lễ hội kỷ niệm.

+ Duyệt binh, Diễu hành, bắn pháo hoa: Hoạt động này chỉ diễn ra trong các lễ hội kỷ niệm trọng thể, có ý nghĩa lớn lao, đánh dấu những thời điểm đặc biệt quan trọng của đất nước hoặc địa phương.

+ Tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật tập thể: Theo một kịch bản đã thống nhất được dàn dựng công phu, tập luyện, sau các nghi lễ là lúc tiến hành các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao thông qua các tiết mục hát múa, các màn đồng diễn thể dục, xếp chữ…

+ Các nghi thức và hoạt động tương ứng tính chất lễ hội: Trong thời gian và không gian diễn ra lễ hội, tùy tình hình thực tế mà các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân, đơn vị có thể có nhiều hoạt động phong phú đa dạng mang đậm nét văn hóa truyền thống và hiện đại. [1]

Có thể bạn quan tâm:

→  DỊCH VỤ NHẬN VIẾT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

1.2. Cơ sở lý luận về Du lịch lễ hội

1.2.1. Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

  • Tác động của lễ hội đối với du lịch

Lễ hội và du lịch luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng tương hỗ nhau phát triển. Sự tác động qua lại này bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực.

* Tác động tích cực của lễ hội đối với du lịch:

Lễ hội làm phong phú, đa dạng và hấp dẫn các chương trình du lịch văn hóa, thu hút đông đảo nhiều đối tượng khách du lịch đến với các công ty du lịch, tăng doanh thu cho các công ty đó. Tính quần thể và mùa vụ của lễ hội và du lịch đã gặp nhau trong cùng thời gian và không gian, chúng sẽ tác động tương hỗ, bổ sung, hoàn thiện và tôn vinh cho nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển, vươn lên đạt được những thành tựu mới.

Đến với lễ hội, du khách được hòa mình vào trong không gian văn hóa đặc sắc, cô đọng của các địa phương, được tắm mình trong tình cảm cộng đồng sâu sắc, thẩm nhận các giá trị văn hóa của mỗi địa phương được chung đúc và kiểm nghiệm qua thời gian.

Đồng thời đưa du khách đến tham dự lễ hội cũng là quá trình đưa họ đến với tính thiêng trong đời sống tâm linh của mỗi người dân, mỗi du khách, vì đó là một nhu cầu không thể thiếu của một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ du khách, đặc biệt là khách du lịch nội địa.

* Tác động tiêu cực của lễ hội đối với du lịch:

Tuy nhiên, lễ hội thường diễn ra vào một khoảng thời gian nhất định, chính điều này đã tạo nên tính mùa vụ trong du lịch lễ hội, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh du lịch. Hơn nữa tại một số lễ hội, do chính quyền địa phương và các ngành chức năng chưa quan tâm kiểm tra, giám sát chặt chẽ nên vẫn để diễn ra hiện tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, đặt nhiều hòm công đức ở nhiều nơi nhằm sinh lợi, dịch vụ khấn thuê, xóc thẻ, bán ấn, chèo kéo khách tham gia trò chơi cá cược, nâng giá dịch vụ tùy tiện… làm ảnh hưởng đến không gian của lễ hội, mất uy tín của ngành du lịch, ảnh hưởng trực tiếp đến du khách.

Tổ chức lễ hội là một nhu cầu tất yếu và cần thiết, song việc tổ chức lễ hội ồ ạt, thiếu chọn lọc sẽ ảnh hưởng đến kinh doanh du lịch, đến hình ảnh của du lịch. Không những vậy, số lượng lễ hội lớn sẽ gây khó khăn trong việc tạo ra sản phẩm du lịch đặc trưng.

  • Tác động của du lịch đối với lễ hội

Lễ hội đã có sự tác động làm cho du lịch phát triển thu hút số lượng lớn khách du lịch, tuy nhiên du lịch cũng có sự tác động trở lại đối với lễ hội như sau:

* Tác động tích cực của du lịch đối với lễ hội

Du lịch đã góp phần phổ biến rộng rãi văn hóa của các địa phương tới mọi miền đất nước, truyền bá văn hóa dân tộc ra thế giới, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế và trong lòng bè bạn thế giới. Du lịch góp phần tạo ra sự giao thoa và đan xen văn hóa, làm giàu kho tàng văn hóa truyền thống của cha ông.

Bên cạnh đó du lịch đem đến cho các địa phương có lễ hội nguồn lợi kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương từ các hoạt động dịch vụ như vận chuyển khách, trông giữ xe, bán hàng hóa – đồ lưu niệm, các dịch vụ lưu trú, dịch vụ phục vụ ăn uống – giải khát… Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng bá hình ảnh về văn hóa, về đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp để giao lưu, học hỏi các tinh hoa văn hóa đem đến từ phía du khách. Điều này góp phần xóa đi sự “khu biệt văn hóa” một cách tương đối vốn có trong đời sống của cư dân các địa phương, đặc biệt là các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vốn chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước.

Không chỉ có vậy du lịch sẽ đem đến cho lễ hội một sắc thái mới, một sức sống mới. Du lịch đem đến cho lễ hội môi trường, điều kiện để được trình bày, phô diễn những giá trị mà lễ hội hàm chứa. Thông qua những hoạt động nội tại của mình, lễ hội được hoạt động du lịch (với các đối tượng khách đa dạng) kiểm chứng, thẩm định…, từ đó các lễ hội (nói đúng hơn, những người tổ chức lễ hội) rút ra các bài học cho mình, để rồi tự đổi mới cho phù hợp với điều kiện mới, ngày càng nâng cao giá trị của lễ hội. [3]

* Tác động tiêu cực của du lịch đối với lễ hội:

Song với không gian hữu hạn của các lễ hội truyền thống vốn chỉ phù hợp với điều kiện riêng của địa phương, thực tế khi khách du lịch tới đông sẽ làm ảnh hưởng, thay đổi, đôi khi đảo lộn các hoạt động bình thường của địa phương nơi có lễ hội. Du khách với nhiều thành phần là những người có điều kiện khác nhau, hoạt động của họ có thể tác động không nhỏ tới tình hình trật tự an toàn xã hội của địa phương, gây ra nhiều lôn xộn trong lễ hội. Hoạt động du lịch có những đặc thù riêng của nó dễ làm cho lễ hội cổ truyền bị biến tướng, thay đổi về bản chất, mất đi giá trị nhân văn. Hay các hiện tượng thương mại hóa lễ hội như lừa đảo, chặt chém du khách để thu lợi nhuận…, sẽ khiến nhiều du khách sụt giảm lòng tin và không bao giờ quay trở lại lễ hội lần thứ hai. Không chỉ vậy hoạt động du lịch còn dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái, cũng như làm phai mờ thậm chí làm mất đi bản sắc văn hóa vùng miền do kết quả của sự giao thoa văn hóa thiếu lành mạnh không thể tránh khỏi đem đến từ bộ phận nhỏ du khách.

1.2.2. Loại hình Du lịch lễ hội ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

*Khái niệm du lịch lễ hội:

Du lịch lễ hội là việc tổ chức các Tour du lịch tới các địa phương trên khắp miền đất nước trong một khoảng thời gian nhất định trong năm mà thời gian đó trùng với thời gian mở hội của địa phương. Hoạt động này giúp cho du khách tìm hiểu và thẩm nhận những giá trị nhiều mặt thông qua hoạt động lễ hội của địa phương gọi là du lịch lễ hội. [3; 274]

*Đặc điểm của loại hình du lịch lễ hội:

Loại hình du lịch lễ hội là hoạt động du lịch gắn với thời gian mở hội. Do vậy cũng giống như lễ hội, nó chỉ diễn ra theo thời gian mùa vụ: hàng năm thường tập trung vào các tháng mùa Xuân và cuối mùa Thu.

Du lịch lễ hội thường diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định nên người tổ chức du lịch phải nắm chắc thời gian và không gian của lễ hội cùng với các nội dung hoạt động của lễ hội đó để khai thác đúng hướng, có hiệu quả.

Du lịch lễ hội thường có lượng du khách đông, nhiều khi vượt kiểm soát của nhà tổ chức, của công ty du lịch. Cho nên yếu tố an ninh cần được chú trọng, đòi hỏi phải được kiểm soát, thẩm định chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và nhà tổ chức. Vì vậy nhà tổ chức cũng cần có những phương án, kế hoạch chu đáo để đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhiều đối tượng du khách.

1.2.3. Tiềm năng khai thác du lịch lễ hội ở Việt Nam

Phải khẳng định rằng: du lịch lễ hội nước ta rất có tiềm năng để phát triển du lịch. Theo thống kê của Cục Văn hoá Thông tin cơ sở thuộc Bộ Văn hoá – thể thao du lịch, cả nước có khoảng 8902 lễ hội trong đó có khoảng 7005 lễ hội dân gian truyền thống, 1399 lễ hội tôn giáo, 409 lễ hội lịch sử cách mạng và 25 lễ hội do du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam. Tức cứ trung bình mỗi ngày tại Việt Nam diễn ra 24 lễ hội các loại, cho thấy sự đa dạng và phong phú trong phong tục tập quán của người dân Việt Nam. Với 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nét văn hoá đặc sắc, thể hiện nét đẹp riêng của dân tộc mình. [16]

Trải khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác, giàu lòng cứu nhân độ thế… Nhìn chung lại thì các lễ hội ngày nay, hay các giá trị văn hóa, tâm linh cần được tôn vinh, bên cạnh phát huy truyền thống văn hóa thì cũng được khuếch trương quảng bá nhằm mục đích thu hút và phát triển du lịch.

1.3. Khái quát chung về huyện Kiến Thụy

1.3.1. Lịch sử hình thành ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

Kiến Thụy xưa là vùng đất của Bộ Thang Tuyền, một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời Hùng Vương. Đây cũng là vùng đất có nhiều nhân vật đi vào lịch sử như Trương Nữu, đại tướng quân thời Phùng Hưng có công chống lại ách đô hộ của nhà Đường; tướng Vũ Hải thời nhà Trần có công chống Nguyên Mông… [13]

Năm 1469, vua Lê Thánh Tông cắt đất huyện An Lão, lập huyện Nghi Dương gồm đất của huyện Kiến Thụy, thị xã Đồ Sơn và quận Kiến An. Năm 1837, vua Minh Mạng lập phủ Kiến Thụy gồm 3 huyện Nghi Dương, An Lão và An Dương. Thời Pháp thuộc, huyện Nghi Dương đổi thành phủ Kiến Thụy, thuộc tỉnh Kiến An. Sau Cách mạng tháng Tám (1945), bỏ cấp phủ, đổi làm huyện Kiến Thụy. Ngày 27 tháng 10 năm 1962, tỉnh Kiến An nhập vào thành phố Hải Phòng, huyện Kiến Thụy thuộc thành phố Hải Phòng, ban đầu gồm 24 xã: Anh Dũng, Bàng La, Đa Phúc, Đại Đồng, Đại Hà, Đại Hợp, Đoàn Xá, Đông Phương, Hòa Nghĩa, Hợp Đức, Hưng Đạo, Hữu Bằng, Kiến Quốc, Minh Tân, Ngọc Hải, Ngũ Đoan, Ngũ Phúc, Tân Phong, Tân Trào, Thanh Sơn, Thuận Thiên, Thụy Hương, Tú Sơn, Vạn Sơn. [13] Tiếp đó địa giới hành chính của Kiến Thụy thường xuyên thay đổi, cụ thể là:

  • Ngày 14 tháng 3 năm 1963, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tách khu vực Đồ Sơn và 2 xã: Vạn Sơn, Ngọc Hải để thành lập thị xã Đồ Sơn. Ngày 7 tháng 4 năm 1966, chuyển xã Bàng La về thị xã Đồ Sơn quản lý.
  • Ngày 4 tháng 4 năm 1969 sáp nhập huyện Kiến Thụy và huyện An Lão thành huyện An Thụy.
  • Ngày 5 tháng 3 năm 1980, chia tách huyện An Thụy, theo đó, sáp nhập 21 xã của huyện An Thụy (toàn bộ địa giới huyện Kiến Thụy cũ) và thị xã Đồ Sơn thành huyện Đồ Sơn.
  • Ngày 14 tháng 2 năm 1987, thành lập thị trấn Núi Đối, thị trấn huyện lị huyện Kiến Thụy.
  • Ngày 23 tháng 4 năm 1988, thành lập 2 xã Hải Thành và Tân Thành tại vùng kinh tế mới đường 14.
  • Ngày 6 tháng 6 năm 1988, chia tách huyện Đồ Sơn thành thị xã Đồ Sơn và huyện Kiến Thụy.
  • Ngày 10 tháng 1 năm 2004, thành lập xã Du Lễ từ một phần xã Kiến Quốc.
  • Ngày 12 tháng 9 năm 2007, tách 6 xã: Anh Dũng, Hưng Đạo, Đa Phúc,

Hòa Nghĩa, Hải Thành, Tân Thành để thành lập quận Dương Kinh và xã Hợp Đức nhập vào thị xã Đồ Sơn để thành lập quận Đồ Sơn.

Sau nhiều lần tách nhập địa giới hành chính, huyện Kiến Thụy ngày nay có 17 xã: Đại Đồng, Đại Hà, Đại Hợp, Đoàn Xá, Đông Phương, Du Lễ, Hữu Bằng, Kiến Quốc, Minh Tân, Ngũ Đoan, Ngũ Phúc, Tân Phong, Tân Trào, Thanh Sơn, Thuận Thiên, Thụy Hương, Tú Sơn và 1 thị trấn Núi Đối (thay đổi theo Nghị định số 145/2007/NĐ-CP ngày 12/9/2007). [13]

1.3.2. Điều kiện tự nhiên ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

*Vị trí địa lý:

Kiến Thụy là một huyện nằm ven đô về phía Đông Nam thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên 164,3km². Phía Bắc và phía Đông giáp quận Dương Kinh và Đồ Sơn, phía Nam giáp huyện Tiên Lãng, phía Tây giáp quận Kiến An và huyện An Lão. Huyện lỵ đóng tại thị trấn Núi Đối. [2]

Huyện được bao bọc bởi gần 27km bờ biển, các con sông Đa Độ và Văn Úc có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế chính trị và quốc phòng an ninh. Sông Đa Độ là sông có ý vị trí hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội không chỉ riêng của Kiến Thụy mà còn của các địa bàn An Lão, Kiến An, Đồ Sơn.

*Địa hình:

Địa hình huyện kiến thụy là đồng bằng ven biển, cao từ 0,3 đến 1,5m, có nhiều ô trũng, cồn cát, với vài ngọn núi: Núi Đối, Núi Chè ở trung tâm huyện. Với diện tích 10.753 ha, huyện Kiến Thụy là vùng đất quy tụ được bốn loại địa hình cơ bản như: đồi, đồng bằng, bờ và đáy biển và được nhóm thành hai nhóm chính là nhóm địa hình lục địa ven bờ và nhóm địa hình bờ – đáy biển. Toàn bộ địa hình cơ bản trên được phân bố trong không gian lục địa – biển của vùng cửa sông châu thổ Văn Úc. Do vậy, địa hình huyện Kiến Thụy khá phong phú về kiểu loại, đa dạng về nguồn gốc:

  • Địa hình lục địa ven bờ: bao gồm toàn bộ địa hình nằm trong đê biển (địa hình đồi, địa hình đồng bằng, hệ thống sông, lạch, hệ thống đê ngăn lũ và ngăn mặn)
  • Địa hình bờ và đáy biển: địa hình bờ biển của huyện Kiến Thụy dài khoảng 4 km thuộc xã Đại Hợp là kiểu bờ tích tụ, thấp, gợn sóng bao gồm các gờ cát kéo dài dọc theo trục lòng dẫn cửa sông Văn Úc và chạy song song hoặc sát bờ ngoài đê biển. Địa hình đáy biển được trải rộng ra đến ngoài đường đẳng sâu (Đường đẳng sâu là đường nối liền các điểm có cùng độ sâu ở biển) 20m của vịnh Bắc Bộ. [2]

Với địa hình có biển, có núi, có sông đã tạo cho Kiến Thụy tiềm năng phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng.

*Khí hậu:

Do ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa, nhất là sự xâm nhập mạnh của khối khí cực đới về mùa đông nên khí hậu của Kiến Thụy phân hóa thành hai mùa chính trong năm là mùa hạ và mùa đông

  • Mùa hạ nóng, nhiệt độ trung bình khoảng từ 28-29 độ C, mùa hạ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 gần trùng với mùa mưa nhiều, lượng mưa tháng ở định trên 100 mm, gió thịnh hành hướng Đông
  • Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mang theo khối khí lạnh nên nhiệt độ hạ thấp, nhiệt độ trung bình khoảng 17-18 độ C, thấp nhất có thể xuống 7 độ C, lượng mưa mùa đông giảm xuống trung bình chỉ còn 30 [2]

*Sông ngòi:

Hệ thống sông ngòi của huyện tương đối đơn giản, trên địa bàn huyện chỉ có hai con sông lớn chảy qua đó là:

  • Sông Văn Úc: chảy qua địa bàn huyện Kiến Thụy dài 14,75 km ( từ đò Sáu xã Ngũ Phúc đến cửa sông giáp biển). Vì nằm ở hạ lưu giáp biển nên nước sông đoạn thuộc địa bàn Kiến Thụy, có độ mặn thường xuyên cao hơn phía thượng lưu thuộc An Lão.
  • Sông Đa Độ: sau khi chảy qua An Lão và phường Bắc Hà quận Kiến An, sông Đa Độ chảy vào Kiến Thụy từ khu vực giáp ranh giữa xã Thuận Thiên và phường Bắc Hà quận Kiến An chảy theo hướng nam rồi đổ ra cửa sông Văn Úc.

1.3.3. Đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

  • Dân cư, văn hóa xã hội

Dân số toàn huyện năm 2011 là 129.506 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,0%. Trong đó dân số nông nghiệp là 46.117 người, chiếm 35,6% tổng dân số, dân số phi nông nghiệp là 83.389 người chiếm 64,4% tổng dân số. [5]

Về mặt văn hóa Kiến Thụy là vùng đất có nhiều công trình kiến trúc văn hóa – lịch sử, tín ngưỡng. Những năm gần đây các công trình này đã được nhân dân các làng xã tu bổ, tôn tạo. Tính đến năm 2009, Kiến Thụy có 102 đình, chùa, nhà thờ, đền miếu, trong đó có 11 di tích được xếp hạng Quốc gia, 21 di tích được xếp hạng cấp thành phố. Được sự giúp đỡ của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, thành phố và huyện đang rất tích cực hoàn tất đề án tôn tạo, phục dựng Dương Kinh nhà Mạc tại xã Ngũ Đoan. Ngoài ra, nhiều công trình văn hóa khác như tượng đài Kim Sơn – Kiến Thụy kháng Nhật (ở thị trấn Núi Đối), khu tưởng niệm nới thành lập Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của huyện ở Tân Phong, công viên Dương Kinh, Nhà truyền thống, Nhà văn hóa thiếu nhi huyện… được xây dựng làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân. [2]

Về mặt xã hội tuy là một huyện nghèo, mức tăng trưởng còn thấp, nhưng Kiến Thụy vẫn là địa phương tương đối ổn định về xã hội, an ninh, quốc phòng, là địa phương có truyền thống học tập, lao động sản xuất, vượt qua khó khăn thử thách để phát triển. [5]

  • Kinh tế

Kiến Thụy có gần 27 km bờ biển, 4.500 bãi triều ngập nước, trong đó có 200 bãi triều cao. Điều kiện môi trường không thuận lợi cho canh tác lúa, nhưng đặc biệt thích hợp cho hoạt động nuôi trồng và phát triển thuỷ, hải – đặc sản. Với những thuận lợi ấy, Kiến Thụy đã xác định nuôi trồng thuỷ sản là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mũi nhọn của huyện. Từ chủ trương đó, huyện đã triển khai xây dựng khu nuôi tôm công nghiệp, các trại sản xuất và dịch vụ tôm giống trên diện tích 175 ha sử dụng 100% thức ăn và phương pháp nuôi trồng công nghiệp. Không những thế, chính quyền địa phương còn khuyến khích người dân nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ theo mô hình kinh tế trang trại tạo bước đột phá trong nuôi trồng thuỷ sản. Hiện nay, Kiến Thụy đã đưa 2.483 ha vào nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 24% diện tích đất canh tác.

Về trồng trọt cũng có khá nhiều động thái và chuyển biến tích cực. Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt kế hoạch đầu tư, cơ chế hỗ trợ nông dân huyện vay vốn ưu đãi mua máy cơ khí phục vụ sản xuất. Ngoài trạm khuyến nông, huyện thí điểm 2 trung tâm học tập cộng đồng thực hiện nhiệm vụ chuyển giao các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, phổ biến kiến thức pháp luật, đồng thời vận động các phong trào, dự định sẽ nhân rộng mô hình này tới tất cả các xã. Với chủ trương tăng cường cơ khí hóa cải tạo ruộng vườn, áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, huyện đã từng bước đưa năng suất lúa lên 8 tấn/ha và hiện nay là 10,7 tấn/ha, đứng hàng thứ 3 về năng suất lúa của thành phố. Ngoài ra, huyện Kiến Thụy còn hình thành những vùng nông sản phục vụ xuất khẩu quy mô nhỏ và một số ngành công nghiệp mũi nhọn như sản xuất giày vải xuất khẩu, dệt may xuất khẩu, nhựa, bao bì và các mặt hàng truyền thống như mây tre đan, dệt thảm, hàng thủ công mỹ nghệ… [5] ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

1.3.4. Tài nguyên du lịch

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên

Kiến Thụy với dòng sông Đa Độ uốn khúc bao quanh các thôn, làng, các cánh đồng lúa bát ngát, đoạn chảy đến núi Đối, núi Trà Phương lòng sông mở rộng ra như mặt hồ tạo nên phong cảnh độc đáo sông nước sơn thủy hữu tình của làng quê Việt Nam. Hướng về phía đông – nam huyện là cả một vùng bãi bồi ven sông rừng ngập mặn, có diện tích khoảng 860 ha là nơi cư trú của các loài chim chóc, thủy hải sản. Kiến Thụy còn có vị trí địa lý gần với khu du lịch Đồ Sơn, có mối quan hệ mật thiết với các tuyến du khảo đồng quê Tiên Lãng, Vĩnh Bảo và gần với các di tích lịch sử văn hóa của tuyến du lịch nội thành.

  • Tài nguyên du lịch nhân văn

Kiến Thụy là mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa, lễ hội truyền thống. Trên địa bàn huyện có tổng số 74 di tích lịch sử văn hóa, trong đó 11 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 21 di tích cấp thành phố.

*Di tích xếp hạng cấp quốc gia: Đình Đại Trà, Chùa Đại Trà, Chùa Lạng Côn, Đền Mõ, Đền Chùa Hòa Liễu, Miếu Đông Du Lễ, Miếu Đoài Du Lễ, Đình Kim Sơn, Chùa Văn Hòa, Chùa Trà Phương. [2]

*Di tích xếp hạng cấp thành phố: Chùa Đoan Xá (Thiên Phúc Tự), Chùa Phương Đôi (Linh Khánh Tự), Chùa Úc Giám (Vĩnh khánh Tự), Chùa Nhân Trai, Chùa Nhân Trai, Chùa Xuân Úc, Chùa Ngọc Liễn, Chùa Cổ Trai, Từ Đường Nguyễn Như Quế, Cánh Đầm Bầu Xã Tân phong, Chùa Kim Sơn, Chùa Ngọc Tỉnh, Đình Chùa Kỳ Sơn, Chùa Nãi Sơn, Chùa Đại Lộc, Đình Chùa Tú Đôi, Chùa Hàm Long, Đình Chùa Cốc Liễn, Chùa Du Lễ, Đền Đồng Mục, Chùa Quế Lâm, Từ Đường họ Nguyễn Sĩ. [2]

1.4. Tiểu kết

Từ bao đời nay, lễ hội đã trở thành hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mang tính tâm linh và có ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Thể hiện truyền thống quý báu của cộng đồng, tôn vinh, tưởng nhớ và tỏ lòng tri ân công đức đối với những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần” – những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại. Đồng thời lễ hội cũng là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người, từ đó kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí… Đến lễ hội có đông đảo quần chúng nhân dân, không phân biệt lứa tuổi với tâm nguyện tốt lành và hướng thiện. Sau một năm bận rộn với những lo toan thường nhật, tham gia trẩy hội ngày xuân, khách hành hương có dịp giải tỏa dãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che để vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn. ( Khóa luận: Đẩy mạnh lễ hội truyền thống tiêu biểu phát triển du lịch )

Trong chương này người viết đã trình bày cơ sở lý luận về lễ hội, cơ sở lý

luận về du lịch lễ hội và giới thiệu chung về huyện Kiến Thụy. Với tài nguyên và tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng, có lợi thế về vị trí địa lý và giao thông thuận lợi và với lòng mến khách, chăm chỉ, cần cù chịu khó của con người vùng đất Kiến Thụy sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với du khách mọi miền đất nước và quốc tế. Đây sẽ là những tiền đề để người viết khai thác một số lễ hội truyền thống tiêu biểu của huyện Kiến Thụy phục vụ phát triển du lịch địa phương, và đây cũng chính là nội dung mà người viết sẽ đề cập trong chương 2 của khóa luận.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Khóa luận: Thực trạng áp dụng lễ hội truyền thống phát triển du lịch

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537