Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT, dưới đây là một hiện tượng thực tế được tác giả áp dụng ngay trong bài luận văn thạc sĩ của mình. Hiện nay, một số giáo viên thường có xu hướng coi trọng phần đọc – hiểu văn bản mà xem nhẹ hoặc bỏ qua các bài khái quát, các phần mục tìm hiểu tác giả, tác phẩm, hoặc những kiến thức đó nếu có thì cũng chỉ được nhắc đến một cách qua loa, sơ sài, không liên hệ với phần văn bản và cũng không phục vụ cho việc đọc – hiểu văn bản. Dưới đây là bản đầy đủ của Đề tài: Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học lớp 11 luận văn Thạc sĩ.
2.1 Tình hình giảng dạy các kiến thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT
2.1.1 Tình hình giảng dạy văn học sử nói chung
Bấy lâu nay, kiến thức văn học sử ở trường phổ thông còn nhiều ngộ nhận, chưa quan tâm đúng mực, đặc biệt trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên có thái độ xem nhẹ hoặc bỏ qua chúng. Đa số họ chỉ thích giảng dạy các văn bản tác phẩm có sẵn hơn là giảng dạy những kiến thức liên quan đến văn học sử.
Bình tâm nhìn vào thực trạng giảng dạy văn học của nước nhà hiện nay, chúng ta không thể không thừa nhận một bước tụt hậu khá dài về nhận thức cũng như thực hành sư phạm so với bước đi của một số nước tiên tiến, nhất là so với yêu cầu chiến lược của thời đại công nghệ thông tin hiện nay. Tình trạng đó hình như càng nặng nề hơn trong giảng dạy văn học nói chung.
Đã từ lâu vẫn đang diễn ra tình hình dạy văn chỉ cần biết đến văn bản văn chương, chỉ quan tâm đến nghệ thuật và tài năng khám phá cho sâu chỗ độc đáo của tác phẩm văn chương để rồi tìm ra những thủ pháp hình thức lôi cuốn học sinh cảm thông, đồng điệu với những gì người giáo viên đã tìm tòi phát hiện được mà không cần quan tâm đến những kiến thức ngoài văn bản, “siêu văn bản”.
Văn bản không phải là đối tượng độc nhất cho sự khám phá của giáo viên mà ít ra văn bản ấy phải được đặt trong mối quan hệ tương tác vốn có của nó. Đó là mối quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, giữa tác phẩm với giáo viên và tác phẩm với bạn đọc – học sinh.
Theo thói quen của không ít giáo viên, thường khi dạy các bài khái quát về thời kỳ, giai đoạn và tác gia văn học, họ gần như chỉ biết bám sát vào sách, ít huy động các dẫn chứng bên ngoài, dạy bài nào chỉ biết bài nấy, thiếu minh họa cần thiết để cụ thể hoá những kiến thức khái quát trong bài học, bài giảng, thường sa vào tóm tắt các ý chính trong SGK, ít khi được phân tích minh hoạ thỏa đáng. Điều này dĩ nhiên do thời lượng có hạn nhưng cái chính là do vốn hiểu biết của giáo viên còn hạn chế. Kết quả là các luận đểm, nhận định khoa học về kiến thức văn học sử trở nên giáo điều, khô khan, thiếu thuyết phục, hấp dẫn, khó đọng lại ở người học những gì cần đọng lại sau một bài văn học sử.
Bên cạnh đó, phương pháp dạy rất dễ dãi, chủ yếu thuyết trình và “độc diễn”, giáo viên sẵn sàng yêu cầu học sinh gạch trong sách những chỗ được cho là quan trọng, sau đó lướt nhanh, tập trung vào việc đọc – hiểu văn bản. Tất nhiên, lối dạy này cũng có những mặt tích cực của nó một khi giáo viên có ý muốn nhấn mạnh vào phần văn bản và chỉ phù hợp ở một số tác giả, tác phẩm. Trong khi đó, đa số tác gia được chọn trong chương trình để học là những tên tuổi, tiêu biểu cho từng thời kỳ văn học. Chính vì vậy, chúng ta cần phải chú ý đến cách giảng nhiều hơn để tránh sự sai lầm cứ tuân theo những nguyên tắc chung chung cố định và mang tính áp đặt. Hầu hết, ở mỗi kiểu bài văn học sử đều có những cách dạy riêng. Cụ thể, dạy tiểu sử Nguyễn Trãi sẽ khác cách dạy tiểu sử Nguyễn Du hay tiểu sử Hồ Chí Minh, dạy bài khái quát giai đoạn văn học thế kỷ X – XIX sẽ khác với bài khái quát giai đoạn văn học thế kỷ XX – 1975,… ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Trách nhiệm, lòng nhiệt tình của giáo viên cũng là một nhân tố tác động đến việc tiếp thu môn văn của các em. Hiện nay, nhiều học sinh chán học môn văn là do lời giảng của giáo viên chỉ đơn thuần từ sách vở, chỉ bám sát vào những trang giáo án mà thiếu đi cái nhìn thực tế khách quan cũng như kinh nghiệm cuộc sống của bản thân.
Thực tế giảng dạy bộ môn Văn hiện nay có sự “lệch pha” với môn Sử. Bằng chứng là hầu như năm nào dạy lớp 10 chúng tôi cũng gặp phải tình trạng học sinh sai kiến thức trầm trọng về văn học sử, chỉ hỏi riêng phần bối cảnh lịch sử lại có những câu trả lời như : Ngô Quyền đánh quân Nguyên Mông, Lê Lợi chiến thắng quân Minh trên sông Bạch Đằng, Nguyễn Trãi thay mặt Trần Hưng Đạo viết Bình Ngô đại cáo,…Biết bao nhiêu chuyện “cười ra nước mắt”! Và ngay cả trên chương trình truyền hình cả nước, một giảng viên trường Đại học Sư phạm cũng sai kiến thức trầm trọng khi hỏi về nhóm Tự lực văn đoàn…Còn việc học sinh nhầm lẫn tên thật, quê quán, tên cha, tên mẹ,…của các tác gia được học là chuyện thường ngày, không thể tránh khỏi.
Ở chương trình lớp 12, các em khi học phần văn học 1945 – 1975 rất lúng túng khi diễn đạt ý nghĩa, giá trị của tác phẩm với hiện thực. Hỏi ra mới biết phần lịch sử các em chưa học tới. Tình trạng này làm cho các em học môn văn như bơi trong lời giảng của thầy cô. Nếu chúng ta không khái quát hoàn cảnh lịch sử xã hội thì coi như mảng kiến thức đó bị bỏ trống. Các em không nắm được giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,…nên khi viết văn trình bày lại kiến thức rất lúng túng. Nhiều khi chúng ta dạy văn phải lấn sân sang dạy sử, làm mất thời gian, cháy giáo án. Trong khi đó, số tiết ưu tiên phần kiến thức văn học sử trong sách giáo khoa lại ít. Mỗi lần lên lớp phải cân đo đong đếm dung lượng thời gian cho phù hợp.
Điều đáng nói nữa là hiện nay xã hội hiện đại có tác động không nhỏ đối với học sinh phổ thông. Các em có thể nói vanh vách về tiểu sử một ca sĩ, người mẫu, diễn viên điện ảnh nhưng lại ấp úng khi nói về tiểu sử Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,…Rõ ràng, giữa nội dung môn văn với thực tế cuộc sống cũng có độ chênh khá lớn. Khi các em ra trường hầu như không mấy học sinh vận dụng những điều được giảng để áp dụng vào thực tế cuộc sống, đôi khi có tình trạng phê phán ngược trở lại thầy cô…
Nhìn một cách tổng thể từ quá trình nghiên cứu, biên soạn sách giáo khoa đến quá trình giảng dạy môn Văn nói chung bấy lâu nay, mặc dù đã chỉnh sửa khá nhiều lần nhưng vẫn còn thiếu sót, hạn chế. “Tác phẩm văn chương được trích giảng trong SGK hiện nay hình như thiếu chất văn, thầy còn không cảm thụ nổi huống chi trò” (một độc giả trên mạng). Chương trình, SGK thay đổi nhiều lần gây xáo trộn lớn (mỗi lần thay sách là mỗi lần thay đổi nội dung, cải cách về phương pháp). Thời gian chuyển giao nội dung và phương pháp dù dài hay ngắn đều là thử thách không nhỏ đối với giáo viên. Chương trình chỉ có một và mang tính pháp lệnh, chưa có chương trình phù hợp cho các khu vực đối tượng học sinh, các loại hình trường. “Lẽ ra nên có khung chương trình chuẩn, tuỳ đối tượng, khu vực mà điều chỉnh nội dung giảng dạy cụ thể thì mới mong việc dạy học thật sự hiệu quả” [56, tr.31]
Đã vậy, phương pháp lên lớp của không ít giáo viên còn theo lối mòn, cũ kỹ, thiếu “chất lửa” trong lời giảng, xem học trò như những bình chứa kiến thức. Phần đông giáo viên phổ thông dạy kiến thức văn học sử còn đơn điệu, thiếu khả năng phân tích, so sánh tổng hợp các sự vật ; chỉ bằng lòng với kiến thức ít ỏi, trong SGK, SGV nên hiểu biết nông cạn về tác giả, tác phẩm.
Bên cạnh đó, khi giảng dạy giáo viên chưa có biện pháp giám sát việc chuẩn bị bài, đọc bài, học bài của học sinh. Nhiều giáo viên thường phàn nàn học sinh không đọc tác phẩm, đặc biệt những tác phẩm văn xuôi nhưng họ cũng thú nhận không biết làm cách nào để khích lệ và giám sát việc tự học, tự đọc bài ở nhà của học sinh. Đại đa số giáo viên dạy văn đều có ý thức tạo cho học sinh thói quen và năng lực tự học, tinh thần chủ động tích cực, nuôi dưỡng niềm hứng thú trong học văn. Nhưng nhìn chung họ thường tỏ ra lúng túng, thậm chí bất lực trong việc thực hiện những mong muốn của mình.
2.1.2 Thực tiễn khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học hiện nay ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
- Về phía giáo viên
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia quản lí chất lượng dạy học văn, số đông giáo viên chưa có cách vận dụng các kiến thức văn học sử một cách hợp lí vào quá trình dạy đọc hiểu văn bản, hoặc chưa biết cách vận dụng như thế nào cho thật sự nhuần nhuyễn để tránh đi những sơ sài, đơn điệu, nhàm chán, khô khan, máy móc, thiếu khả năng liên tưởng tưởng tượng, phân tích, so sánh tổng hợp các kiến thức văn học sử đã giảng dạy.
Ví dụ : Khi dạy về “cái tôi” cá nhân trong thơ mới, giáo viên chỉ biết đến thơ mới mà không liên hệ với “cái tôi” trong thơ văn trước đó hay sau này. Hay như khi dạy học các tác phẩm Chí Phèo, Đôi mắt của Nam Cao, phần đông giáo viên thường chủ yếu dừng lại ở việc phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo, nhân vật Hoàng, rồi đưa ra những nhận định đánh giá về giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm…mà không có dẫn chứng cụ thể. Nếu có cách dạy tốt về tác phẩm (khắc họa, nhấn đậm sắc thái văn học sử) thì khi được gợi nhắc, hướng dẫn, học sinh có thể nhớ ra được những kiến thức liên quan về tác giả. Chẳng hạn : từ làng Vũ Đại (Chí Phèo) mà nhớ ra làng Đại Hoàng – quê Nam Cao, từ bi kịch số phận của Chí mà hiểu thêm số phận người nông dân trong sáng tác của ông, từ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo mà nhớ về quan điểm nghệ thuật tiến bộ trong giai đoạn 1930 – 1945…Hay như khi dạy các bài thơ của Tản Đà, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử có trong chương trình, chúng ta phải hướng dẫn học sinh tìm ra những nét đặc sắc tiêu biểu của phong trào thơ mới về đề tài, nội dung cũng như quan điểm nghệ thuật,…đồng thời thấy được sự biểu hiện đa dạng của từng “cái tôi” cá nhân tác giả trong giai đoạn văn học từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945…
Trong thực tế dạy học văn, phần lớn giáo viên chỉ đi sâu tìm hiểu các yếu tố trong văn bản, còn yếu tố ngoài văn bản như : tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bút pháp thể hiện,…thì không được quan tâm đúng mức vì họ nghĩ rằng việc tìm hiểu yếu tố trong văn bản để đọc hiểu văn bản mới quan trọng. Nhận thức này xuất phát từ quan điểm hạn chế của một số người, họ cho rằng, trong đề thi thường hay yêu cầu học sinh phân tích văn bản cụ thể, hiếm khi yêu cầu các em nhận thức hay đánh giá về những nhận định, luận điểm mang tính chất văn học sử…
Hơn nữa, trong quá trình giảng dạy một số giáo viên dạy theo sở thích, sở trường của mình. Một số người thích dạy thơ, số khác thích dạy văn xuôi,…cho nên quá trình vận dụng cũng tùy hứng, không định hướng trước. Ví dụ : Dạy tác phẩm thơ phân tích rất kỹ ngôn ngữ, thể loại nhưng khi dạy tác phẩm văn xuôi thì vấn đề ngôn ngữ không được chú ý quan tâm mà thay vào đó chỉ là những lời nhận xét chung chung khái quát ( ngôn ngữ kể chuyện linh hoạt, đặc sắc ; xây dựng nhân vật tiêu biểu, điển hình,…)
Tất nhiên, chúng ta không thể phủ nhận tài năng của một bộ phận giáo viên khá giỏi, giàu kinh nghiệm, nhiều năm trong nghề, vẫn nuôi được đam mê, tâm huyết với sự nghiệp văn chương và nghề dạy văn chương nghệ thuật. Hầu như tất cả các giờ dạy của họ khá thành công, hiệu quả và hấp dẫn. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
- Về phía học sinh
Đa phần học sinh chưa biết cách vận dụng các kiến thức văn học sử vào quá trình đọc hiểu văn bản. Theo khảo sát và thực tế giảng dạy, phần đông học sinh cho rằng kiến thức văn học sử không mấy quan trọng, cho nên không nhất thiết phải vận dụng chúng vào quá trình đọc hiểu. Hầu như trong quá trình đọc hiểu văn bản các em chỉ đọc hiểu phần “nổi” của văn bản, phần “chìm” thường không đọc được. Trong khi đó, hiểu phần chìm mới quan trọng vì đằng sau lớp ngôn từ, hình tượng là những thông điệp mà người nghệ sĩ muốn gởi đến bạn đọc để cùng đồng cảm chia sẻ và hiểu hơn về thời đại.
Do học sinh chưa nắm được những kiến thức cơ bản trong các bài giảng văn học sử nên khó vận dụng vào phần đọc hiểu văn bản cụ thể. Nếu có vận dụng thì vận dụng sai, chưa hợp lí, sa đà, lan man. Điều này thể hiện rõ trong quá trình các em làm văn. Ví dụ : khi viết mở bài, có em nêu hết phần tiểu sử của tác giả (tên thật, quê quán, năm sinh năm mất, thậm chí tên cha mẹ tác giả,…), trong khi đó, phần thân bài khi yêu cầu bàn về quan điểm sáng tác của nhà văn thì các em lại viết sơ sài, có em lẫn lộn qua đề tài sáng tác,…
Nhiều em không có khả năng phân tích, so sánh tổng hợp trong quá trình đọc hiểu. Chẳng hạn : khi phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo- Nam Cao) – điển hình cho bi kịch người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đáng ra các em phải biết liên hệ với những tác phẩm đã học cùng viết về đề tài này như Lão Hạc, Lang Rận, Tư cách mõ,… chẳng hạn, nhưng đa phần học sinh chỉ dừng lại ở hình tượng Chí. Hay như phân tích thơ Xuân Diệu chỉ biết đến nhà thơ Xuân Diệu mà không chú ý đến những nhà thơ mới khác trong phong trào thơ mới được học trước đó…
2.2 Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học Ngữ văn lớp 11
Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học trong quan niệm của chúng tôi thực chất là cách thức tiếp cận và vận dụng các kiến thức văn học sử đã học vào quá trình đọc hiểu các thể loại văn bản (có thể khai thác yếu tố thời đại, hoàn cảnh lịch sử, quan điểm sáng tác của tác giả hoặc khai thác các yếu tố liên quan đến đề tài, thể loại ngôn ngữ, nhân vật hoặc cũng có thể các khái niệm, thuật ngữ,…mang tính văn học sử). Cách khai thác kiến thức này sẽ giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức đã học, đồng thời sẽ mở rộng nội dung kiến thức và phạm vi diện đọc, nâng cao tầm hiểu biết và mức độ cảm thụ ở học sinh…
Để khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu các dạng văn bản đạt chất lượng, hiệu quả cao, đòi hỏi người đứng lớp phải chủ động, tích cực và đề ra những phương pháp, biện pháp thật phù hợp với từng thể loại, nội dung bài dạy và từng đối tượng tiếp nhận cũng như môi trường dạy học.
2.2.1 Các kiến thức văn học sử cần được khai thác trong đọc – hiểu văn bản văn học Ngữ văn 11 ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Kiến thức văn học sử trong chương trình phong phú, đa dạng. Nó được thể hiện thông qua các bài học văn học sử và trong các văn bản. Luận văn chủ yếu hướng đến việc khai thác các kiến thức văn học sử trong các văn bản, tất nhiên những kiến thức này có mối liên hệ chặt chẽ với bài học văn học sử vì mỗi bài học văn học sử sẽ là những kiến thức khái quát chung về bối cảnh lịch sử xã hội, về nội dung, hình thức, về thành tựu đặc sắc,…của từng thời kỳ, giai đoạn, từng tác giả, tác phẩm sẽ được triển khai cụ thể trong các văn bản được học sau đó.
Kiến thức văn học sử được khai thác trong văn bản bao gồm : các thuật ngữ, khái niệm (hiện đại hoá, cái tôi cá nhân, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo,…), bút pháp ( lãng mạn, hiện thực,…) liên quan đến giai đoạn văn học đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 ; đề tài được thể hiện ; thể loại, ngôn ngữ ; cách xây dựng hình tượng nhân vật ; quan điểm nghệ thuật
;…Tất cả những kiến thức vừa nêu sẽ được đặt vào tiến trình vận động phát triển của lịch sử văn học dân tộc để làm rõ hơn những đặc điểm của văn bản cần đọc – hiểu.
Có thể bạn quan tâm:
2.2.2 Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học lớp 11
2.2.2.1. Khai thác về vấn đề thuật ngữ, khái niệm mang tính văn học sử
Để khai thác các thuật ngữ, khái niệm mang tính văn học sử trong quá trình đọc – hiểu văn bản, trước hết chúng ta cần định hướng các thuật ngữ, khái niệm cần được khai thác trong văn bản, đồng thời phải nắm rõ những đặc điểm cơ bản, những chi tiết quan trọng, nổi bật trong từng khái niệm, định nghĩa sẽ được triển khai.
Ở bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 1 có nêu ra hàng loạt các khái niệm, thuật ngữ, luận điểm, nhận định mang tính văn học sử. Nổi bật và đặc trưng hơn cả là những khái niệm, thuật ngữ như : hiện đại hóa, cái tôi cá nhân, phong trào thơ mới, chủ nghĩa hiện thực (xu hướng hiện thực), chủ nghĩa lãng mạn (xu hướng lãng mạn),…
Khái niệm hiện đại hoá xuất hiện trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945. Hiện đại hoá văn học là một yêu cầu khách quan của thời đại. Nó là một bộ phận, một phương diện quan trọng của công cuộc hiện đại hoá nền văn hoá Việt Nam nói chung. Hiện đại hoá văn học còn là nhu cầu tinh thần và thẩm mĩ mới của xã hội.
Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 1, trang 83 định nghĩa : Hiện đại hóa là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức văn học phương Tây có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Hiện đại hoá văn học diễn ra trên mọi mặt, ở nhiều phương diện. Trước hết là sự thay đổi quan niệm về văn học : từ văn chương chở đạo, thơ nói chí của thời kỳ văn học trung đại chuyển sang quan niệm văn chương như một hoạt động nghệ thuật đi tìm và sáng tạo cái đẹp : “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa – Nam Cao) ; từ văn chương để “răn đời” sang văn chương để “hiểu đời”, để nhận thức, khám phá hiện thực. Cũng Nam Cao – một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc trong giai đoạn này đã mạnh dạn nêu ra quan điểm sáng tác của mình : người cầm bút không được “trốn tránh” sự thực, mà hãy “cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời…”.
Trong truyện ngắn Trăng sáng, ông lại viết : “Chao ôi ! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”.
Quả thật, đây là những quan điểm nghệ thuật tiến bộ và bắt nguồn từ thực tế cuộc sống cũng như bối cảnh lịch sử xã hội thời bấy giờ. Chính thời đại đã buộc nhà văn Nam Cao và một số nhà văn khác không thể khoanh tay đứng ngoài cuộc, không được phép trốn tránh sự thực. Đó là ý thức, trách nhiệm của người cầm bút đương thời.
Và cũng từ đây, văn học không còn tình trạng “văn sử triết bất phân” như trước nữa, văn học thoát ra khỏi những quan niệm thẩm mĩ và hệ thống thi pháp văn học trung đại (tính quy phạm chặt chẽ, hệ thống ước lệ tượng trưng dày đặc, tính chất sùng cổ, phi ngã,…). Ví như khi miêu tả thiên nhiên, trong thơ xưa hiếm gặp sự nhân cách hoá thiên nhiên, nhưng đến giai đoạn hiện đại 1930 – 1945 – tiêu biểu phong trào thơ mới, thiên nhiên có những cách miêu tả táo bạo, mới lạ. Đặc biệt trong thơ Xuân Diệu, thi nhân đã gán cho thiên nhiên những tâm tư, hành động rất “người” một cách tự nhiên, chân thật, hợp lí :
- Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.
- Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.
(Đây mùa thu tới )
Quá trình hiện đại hoá văn học còn được thể hiện ở sự biến đổi của các thể loại văn học (thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn) và xuất hiện những thể loại văn học mới (kịch nói, phóng sự, phê bình văn học). Chương trình Ngữ văn 11- bộ cơ bản đã tuyển chọn một số tác phẩm thuộc các thể loại mang tính hiện đại như
Về thơ (thơ mới) có các văn bản : Hầu trời (Tản Đà), Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử).
Về truyện ngắn có các văn bản : Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao).
Về tiểu thuyết có văn bản : Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng).
Về kịch có văn bản : Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng)
Việc tuyển chọn một số văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 để thể hiện những nội dung trong bài Khái quát giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945 là tạm ổn, phù hợp với một số luận điểm, khái niệm và thuật ngữ đã nêu trong phần bài trước đó. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, giáo viên đứng lớp phải biết liên hệ, mở rộng thêm một số tác phẩm, và cũng có thể nhắc lại các tác phẩm đã học ở cấp trung học cơ sở viết cùng giai đoạn này. Chẳng hạn, dạy học văn bản Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, ta nên liên hệ với văn bản Lão Hạc hay Tắt đèn của Ngô Tất Tố… vì những tác phẩm này đều thể hiện đề tài về số phận con người, đặc biệt số phận người nông dân Việt Nam trong xã hội thực dân phong kiến thối nát đầy rẫy những áp bức, bất công.
Bên cạnh đó, dạy đọc hiểu các văn bản văn học hiện đại cần phải thấy sự hiện đại hoá về mặt ngôn ngữ. Văn bản Vội vàng của Xuân Diệu là một trong những ví dụ tiêu biểu nhất. Nhà thơ đã đem những cảm xúc tươi nguyên, hạnh phúc gieo vào lòng người với hình ảnh thật ngọt ngào : Tháng giêng ngon như một cặp môi gần,… và kiểu ngôn ngữ đặc biệt mới lạ, có phần táo bạo, phá cách: Ta muốn (tắt, buộc, ôm, riết, say, thâu, cắn)…Xuân Diệu còn khát khao muốn chiếm giữ và đoạt quyền cả tạo hoá (muốn tắt nắng để cho màu đừng nhạt mất, muốn buộc gió để cho hương đừng bay đi)… ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Hiện đại hoá không chỉ là vấn đề về hình thức mà còn là vấn đề về nội dung văn học. Xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 đã đặt ra biết bao vấn đề về đất nước, về cuộc sống, con người và nghệ thuật mà ở những thời kỳ trước đó chưa từng có, đòi hỏi văn học thời kỳ mới phải đáp ứng. Thành ra hiện đại hoá trước hết là chuyện nội dung, bao gồm tư tưởng tình cảm, cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ,… của người nghệ sĩ trước hiện thực đời sống, con người và nghệ thuật. Chính nội dung tư tưởng đã tạo ra những đặc điểm, những dấu ấn riêng và tạo ra sự khác biệt của văn học từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 so với văn học thời kỳ trung đại. Chẳng hạn, cũng nói về đất nước, các nhà thơ thời kỳ trung đại không thể không gắn nước với vua vì chủ nghĩa tôn quân đã trở thành tư tưởng chung của thời đại và thường bị bi phối bởi tư tưởng nho giáo quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Còn thời kỳ văn học này, nước gắn liền với dân : “Dân là dân nước, nước là nước dân” (Phan Bội Châu). Còn khi nói đến con người, văn học thời kỳ trung đại chủ yếu chỉ nói tới con người xã hội, con người công dân vì tinh thần phi ngã, vô ngã đã thành đặc trưng trong quan niệm về con người của thời đại đó. Ở thời kỳ mới này, các nhà văn, nhà thơ không chỉ nói tới con người xã hội, con người công dân mà còn nói tới con người trên tinh thần giai cấp, con người tự nhiên, con người cá nhân cá thể và con người với đời sống tâm linh. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta dễ dàng bắt gặp thế giới con người với đời sống tâm linh hết sức rõ nét, một con người cảm thấy lạc lõng giữa cảnh thực và hư : Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh…(Đây thôn Vĩ Dạ). Còn đối với Xuân Diệu, ta lại bắt gặp con người hết sức tự nhiên trong thơ, luôn dám thổ lộ tất cả nỗi lòng, tình yêu đối với thi nhân là khu vườn đầy màu sắc, đủ mọi cung bật tình cảm, khi thì dịu dàng, đằm thắm, có phần e ấp : Em bước điềm nhiên không vướng chân / Anh đi lững đững chẳng theo gần (Thơ duyên) ; khi thì giục giã, hốt hoảng, vội vàng, lo sợ : Ta muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi…Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua / Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già / Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất ( Vội vàng)…
Nhìn chung, hiện đại hoá diễn ra trên mọi mặt của hoạt động văn học, làm biến đổi toàn diện và sâu sắc diện mạo nền văn học Việt Nam, có thể hoà nhịp với văn học thế giới.
Theo quá trình vận động của lịch sử, văn học cũng có những bước đổi mới không ngừng, đến một thời gian nhất định nào đó cái mới sẽ ra đời thay thế cái cũ lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp. Hiện đại hoá văn học là một quá trình như thế bởi nó chỉ có thể xuất hiện trong giai đoạn văn học này mà không hề xuất hiện trong giai đoạn văn học trước đây.
Thông qua việc chúng ta khai thác một khái niệm tiêu biểu hiện đại hoá được học trong bài Khái quát giai đoạn văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 để vận dụng vào quá trình đọc – hiểu các văn bản cụ thể sẽ làm cho kiến thức văn học sử đã học trước đó được củng cố, mở rộng. Các em sẽ biết được đặc điểm hiện đại hoá trong giai đoạn văn học này có gì đặc sắc, tiêu biểu và chúng được thể hiện như thế nào trong các văn bản được lựa chọn để học về mặt thể loại, ngôn ngữ cũng như các giá trị về mặt nội dung, hình thức khác…Cụ thể hơn, trong khi tìm hiểu văn bản, giáo viên phải chỉ cho học sinh tính hiện đại thể hiện trong các văn bản của các tác giả. Có như vậy, học sinh sẽ nhớ lâu, nhớ kỹ những nội dung kiến thức được học, đồng thời tạo cơ hội để các em trao đổi thảo luận và tự rèn luyện các thao tác, kỹ năng trong việc đọc – hiểu các thể loại văn bản một cách hoàn chỉnh nhất.
Ý thức được việc làm trên, chúng ta sẽ loại trừ phần nào khả năng học sinh học bài nào chỉ biết đến bài nấy, thiếu sự suy luận, gắn kết, liên hệ giữa các kiến thức khái quát – cụ thể được học, cũng như sẽ tránh được sự thụ động, khuôn mẫu trong quá trình tìm hiểu văn bản. Quan trọng hơn cả là học sinh sẽ có ý thức đối với tất cả các kiến thức được học ở các dạng bài khái quát mang tính văn học sử trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay…
Bên cạnh đó, khi khai thác chúng ta cũng cần phải chỉ cho học sinh thấy được quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn học dân tộc bằng cách phân tích, giải thích, liên hệ, so sánh, đối chiếu với các sự vật, hiện tượng trước đó và sau này nhằm làm rõ những nội dung được triển khai ; đồng thời củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học cũng như minh họa cho những nội dung kiến thức đã học ở phần bài khái quát.
“Cái tôi” cá nhân cũng là một khái niệm mang tính văn học sử rất rõ trong quá trình tìm hiểu các văn bản ở giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945. Chỉ cần nhìn vào một khái niệm này cũng có thể chỉ cho học sinh thấy được sự vận động phát triển của văn học Việt Nam khi đặt chúng trong mối liên hệ đồng đại và lịch đại, cụ thể trong mối liên hệ so sánh với giai đoạn trước đó và sau này.
Thật ra, cái tôi cá nhân đã manh nha xuất hiện, bắt đầu cựa quậy từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX trong các sáng tác của Phạm Thái, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,…Nhưng do hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ chưa có đủ điều kiện cho nên cái tôi ấy chưa đủ sức phá vỡ được tính quy phạm chặt chẽ của văn chương thời kỳ trung đại. Đến khi Tản Đà xuất hiện, “cái tôi” cá nhân được khẳng định mạnh mẽ hơn qua những vần thơ phóng túng, dạt dào tình cảm, tràn đầy cảm xúc. Khai thác triệt để những thể điệu tự do nhất trong thơ cổ bao gồm cả những điệu hát dân gian như lục bát, ca dao, hát nói, hát xẩm,…hồn thơ phóng khoáng của Tản Đà như muốn bứt khỏi những ràng buộc tù túng của văn chương cổ, tạo nên những vần thơ phóng túng, tự do, nhưng ông vẫn không đủ sức sáng tạo nên một hình thức hoàn toàn mới cho thơ. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Văn bản Hầu Trời của Tản Đà được lựa chọn trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11 để minh hoạ rõ cho một cái tôi “ngông” của người nghệ sĩ, tự ý thức về tài năng, về giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời. Với bài thơ Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến một nguồn gió mới, thổi phòng những ước mơ được vươn cao, vươn xa hơn thoát khỏi vòng giam hãm nặng nề của chế độ thực dân phong kiến đương thời đầy rẫy ngang trái, xót đau. Người trí thức có lương tri không thể chấp nhận nhập cuộc, nhưng chống lại nó thì không phải ai cũng đủ dũng khí để làm. Bất bình nhưng bất lực, người ta chỉ có thể mong ước thoát li, làm thơ để giải sầu. Thơ Tản Đà thời này “đã nói lên đúng cái sầu bàng bạc trong đất nước, tiềm tàng trong tim gan người ta” (Xuân Diệu). Thi nhân đẽ vẽ một bức tranh rất chân thật và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn, nhà thơ khác. Nhưng Tản Đà lại khác người ở chỗ, ngay từ đầu những năm 20 đã dám mạnh dạn thể hiện “cái tôi” của mình với “cái buồn mơ màng, cái xúc cảm chơi vơi” (Xuân Diệu), với khát vọng thiết tha đi tìm một cõi tri âm để có thể khẳng định tài năng, phẩm giá đích thực của mình, bởi chẳng thể nào trông đợi ở “cõi trần nhem nhuốc bao nhiêu sự” này. Cái “ngông” của ông cũng là ở đó.
Cái “ngông” của Tản Đà có sự gặp gỡ với cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ (Bài ca ngất ngưởng), của Cao Bá Quát (Sa hành đoản ca). Đặc biệt, cái “ngông” của Tản Đà gặp lại khá nhiều so với Nguyễn Công Trứ, cũng là một ý thức rất cao về tài năng bản thân dám nói tự nhiên với các đối tượng như Trời, Tiên, Bụt ; dám phô bày toàn bộ con người vươn trên cả thiên hạ, như khiêu khích cả thiên hạ. Tuy nhiên, ta vẫn nhận ra những điểm khác : “ngông” của Tản Đà vượt ra khỏi cái bó buộc mình với trách nhiệm vua tôi, vấn đề này dường như không còn là chuyện hệ trọng nữa, mặc dù không phải như thế là sống vô trách nhiệm với xã hội. Cái tài mà nhà thơ muốn khoe không phải là chuyện trị nước bình thiên hạ mà là cái tài văn chương.
Có thể thấy, Tản Đà đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình giữa lúc thơ phú nhà nho đang đi dần tới dấu chấm hết. Nhìn chung, thơ Tản Đà chưa mới (ở thể loại, ngôn từ, hình ảnh,…) nhưng những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại hoá đã khá đậm nét. Có thể nói, ông đã bắt một nhịp cầu nối hai thời đại thi ca Việt Nam. Bởi thế, tác giả Thi nhân Việt Nam đã mời anh hồn Tản Đà ra để chứng giám Hội Tao đàn của thế kỉ XX.
Đến với văn bản Vội vàng của Xuân Diệu, ta cũng bắt gặp “cái tôi” hoàn toàn mới lạ – một cái tôi của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có cả một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống. Ngay phần mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã khẳng định mạnh mẽ cái tôi cá nhân hết sức táo bạo, như muốn đoạt quyền cả tạo hoá mà đây lại là điều cấm kị nhất trong thơ xưa. Xuân Diệu mê hoặc người đọc bằng cử chỉ của thi sĩ chứ không phải bằng thái độ “ngông”, phóng túng. Nhà thi sĩ cảm nhận thời gian trôi đi bằng ánh sáng, màu sắc, hương thơm khiến cho người đọc cảm nhận được niềm say mê yêu đời, lạc quan của nhà thi sĩ chứ không phải nỗi tuyêt vọng. Cũng chính nội lực mạnh mẽ đó, đã phá vỡ hết những khuôn sáo ước lệ của “thơ cũ”. Không còn đâu là số chữ, số câu, niêm luật nghiêm ngặt của thơ Đường. Những hình ảnh, thanh âm của cuộc sống tràn vào thơ một cách tự nhiên, hồn nhiên như nhịp điệu thời gian :
Của ong bướm này đây tuần tháng mật ; Này đây hoa của đồng nội xanh rì ;
Này đây lá của cành tơ phơ phất ; Của yến anh này đây khúc tình si ;
Có lẽ, sự thèm khát vô biên của Xuân Diệu không chỉ là tận hưởng cuộc sống mà còn hướng đến sự giao cảm với tuổi trẻ nên đại từ “Tôi” chuyển thành đại từ “Ta”. Sự biến hoá ấy dường như diễn ra trong vô thức :
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn ;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều.
Bài thơ Vội vàng được chọn trong chương trình phần nào chứng tỏ Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong phong trào thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. “Đó là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng – giao cảm hết mình với cuộc đời trần thế, với mùa xuân và tuổi trẻ, muốn buộc thời gian ngưng lại những giây phút hiện tại ; thể hiện sự cách tân về thi pháp : coi con người giữa tuổi trẻ là chuẩn mực của cái đẹp” [33, tr.182]. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Bên cạnh Tản Đà, Xuân Diệu, nhà thơ Hàn Mặc Tử, Huy Cận cũng góp phần thể hiện cái tôi của mình qua các bài Đây thôn Vĩ Dạ, Tràng giang. Nói chung, cái tôi cá nhân cá thể của mỗi thi nhân trong phong trào thơ mới đã góp phần đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá văn học nước nhà.
Đến giai đoạn văn học cách mạng, văn học kháng chiến , “cái tôi” như trên không còn xuất hiện, thay vào đó là “cái tôi” của tập thể, cộng đồng – một cái tôi đầy ý thức trách nhiệm trước thời cuộc (Từ ấy, Ta đi tới của Tố Hữu). Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và ‘cái ta” chung của mọi người. Với bài thơ Từ ấy, Tố hữu đã vượt qua giới hạn của “cái tôi” cá nhân để sống chan hoà với mọi người : Tôi buộc lòng tôi với mọi người / Để tình trang trải với trăm nơi…Nhà thơ để tâm hồn mình trải rộng với cuộc đời, đồng cảm sâu xa với những quần chúng lao khổ để phấn đấu vì mục tiêu chung giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Có thể hiểu, khi “cái tôi” chan hoà trong “cái ta”, khi cá nhân hoà mình vào một tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh của mỗi người sẽ được nhân lên gấp bội.
Nhìn chung, Tố Hữu đã đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ, ở đấy nhà thơ tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim. Qua đó, Tố Hữu cũng khẳng định mối quan hệ sâu sắc giữa văn học và cuộc sống, mà chủ yếu là cuộc sống của quần chúng nhân dân.
Việc đưa bài thơ Từ ấy vào chương trình là sự sắp xếp phù hợp, đúng đắn, vì đây là một tác phẩm tiêu biểu của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca cách mạng 1900 – 1945 nói chung. Tương tự việc đưa bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh cũng là một hợp lí. Bài thơ đậm sắc thái cổ điển ở thi tứ “chiều”, “mây”, “chim” nhưng có sắc thái mới là hình ảnh cô gái xóm núi xây ngô, bếp than ửng hồng trong đêm tối thể hiện cái nhìn lạc quan, trân trọng cuộc sống của tác giả., một phong thái ung dung, tự chủ và nghị lực kiên cường vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt, tối tăm. Tính hiện đại thể hiện ở việc miêu tả con người như là trung tâm của bức tranh thiên nhiên, ở mạch thơ vận động hướng về sự sống và ánh sáng.
Rõ ràng, khi khai thác yếu tố “cái tôi” theo dòng lịch sử, ta thấy có sự vận động biến đổi không ngừng. Giai đoạn văn học trung đại “cái tôi” bắt đầu manh nha xuất hiện đấu tranh chống những luân lí, lễ giáo phong kiến cổ hủ để giải phóng cá nhân, giành quyền hưởng hạnh phúc, đặc biệt trong lĩnh vực tình yêu, hôn nhân, gia đình. Nhưng phải đến Tản Đà – bắt đầu bước sang giai đoạn văn học hiện đại, “cái tôi” ấy mới thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết, với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân và khát vọng vượt lên trên cuộc sống thực tại chật chội tù túng, dung tục, tầm thường… “Những năm 30 của thế kỷ này đã chứng kiến một cuộc lột xác văn học : một “thời đại chữ tôi” (chữ của Hoài Thanh) – “cái tôi” bộc lộ tự do, trực tiếp, thành thực thành “chữ tôi”. Cái tôi tự cảm trong thơ mới lãng mạn, cái tôi tự nghiệm trong một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán, và một phần nào đó, cái tôi tự thú trong tự truyện đầu tiên.” [20, tr.148].
Nhưng đến giai đoạn thời kháng chiến (1945 -1975) và trước đổi mới (1975 – 1986) không còn là “cái tôi”cá nhân riêng lẻ mà là “cái tôi” tập thể, cộng đồng, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với dân tộc đồng bào, non sông đất nước…Nhìn chung không phải là một giai đoạn thuận lợi cho sự phát triển dòng văn học khai thác đời sống cá nhân riêng lẻ như giai đoạn trước đó. Điều này có những nguyên nhân của nó. Ở chỗ một thời đại có những biến cố vĩ đại của lịch sử dân tộc không chấp nhận cái tôi đời tư. Cả thế hệ dường như có chung một một số phận, một cuộc đời : sống và chết vì dân tộc,…Thế nên số phận cá nhân, lịch sử nhân cách con người với tư cách là một thực thể duy nhất sẽ không phải là chủ đề được quan tâm cũng như được cổ vũ.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ ác liệt, hoà chung cùng số phận dân tộc, nhà văn Nguyên Ngọc đã viết Rừng xà nu như là tiếng nói của lịch sử và thời đại, gắn liền với những sự vận động, những biến cố có ý nghĩa trọng đại đối với toàn dân. Những bức tranh thiên nhiên hay những hình tượng anh hùng trong tác phẩm, chung quy đều là sự kết tinh cho những lí tưởng cáo quý nhất của cộng đồng. Rừng xà nu không chỉ là biểu tượng của con người ở làng Xô Man hẻo lánh mà nhà văn muốn từ một làng Xô Man cụ thể để vươn tới những khái quát rộng lớn hơn. Do đó, Rừng xà nu có thể là biểu tượng của Tây Nguyên, của cả miền Nam, và hơn nữa của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ chiến đấu chống đế quốc, thực dân đau thương nhưng quyết làm tất cả để giành sự sống cho Tổ quốc mình…. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Bước sang thời kỳ đổi mới (1986 đến nay), khi đất nước trải qua một bước ngoặt lớn, tạo nên những biến động dữ dội trong đời sống và ý thức xã hội, thì kéo theo đó là những thay đổi về mặt nhận thức. Xã hội giao lưu, cơ chế mở cửa, con người được nhìn nhận không chỉ trong quan hệ với cái sống cái chết mà còn trong quan hệ với tất cả những mối quan hệ phức tạp khác của cuộc sống đời thường…thì những nhân vật trên trang sách cũng như chính cái tôi của người nghệ sĩ cũng lên tiếng, được nhìn nhận như một thực thể không trùng lắp với chính mình. Ở thời kỳ này, hoạt động tự nhận thức, tự đánh giá phê bình của con người đã trở thành một chủ đề tập trung, trong đó không thể không nói đến sự nhận thức của chính con người nhà văn. Và đây là một quá trình không bao giờ kết thúc.
Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kỳ đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở đạo đức thế sự. Khi làm cho người đọc ý thức về sự thật, có khả năng nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp, chằng chịt thì văn chương đã ít nhiều đáp ứng được nhu cầu nhìn nhận và hoàn thiện nhiều mặt của nhân cách con người. Truyện Chiếc thuyền ngoài xa là phát hiện về đời sống và con người theo hướng đó. Một người đàn bà bị chồng hành hạ vô lí nhưng không bao giờ muốn từ bỏ kẻ độc ác đấy, những chiến sĩ từng giái phóng miền Nam nhưng không thể giải thoát một người đàn bà bất hạnh,…Đấy là những minh chứng sinh động cho cách nhìn của Nguyễn Minh Châu trong thời kỳ đổi mới. Chính ông từng khẳng định : “Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử” [36, tr.64].
Qua thực tế cho thấy, khai thác sự phát triển của “cái tôi” như một yếu tố văn học sử sẽ giúp cho đọc – hiểu các văn bản cụ thể, rõ ràng, chi tiết và hiệu quả hơn. Học sinh sẽ đến gần với các giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản. Học sinh sẽ không cảm thấy xa lạ với những gì mà các em đã tìm hiểu trước đó. Các em sẽ ý thức được rằng “cái tôi” cá nhân luôn có sự vận động, phát triển. Trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử văn học, “cái tôi” cá nhân của mỗi nghệ sĩ sẽ thể hiện khác nhau, thậm chí ngay trong một tác giả “cái tôi” cũng có sự biến đổi theo từng tâm trạng, cảm xúc cho phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nước nhà. Vì thế khi khai thác yếu tố “cái tôi” như một khái niệm mang tính văn học sử, chúng ta không chỉ tìm hiểu ở sự biểu hiện qua loa, sơ sài mà phải gắn chúng vào từng thời kỳ, giai đoạn phát triển để làm nổi bật những đặc điểm, biểu hiện của chúng…
2.2.2.2. Khai thác về vấn đề bút pháp ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Văn chương lãng mạn ra đời trong khoảng thời gian từ năm 1932 đến năm 1945 đánh dấu một cuộc cách mạng trong văn học Việt Naác phẩm văn học Việt Nam. Ngay cả những nhà thơ lớn như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến,…cũng chỉ nói đến cái tôi một cách sơ sài, mờ nhạt, ước lệ.
Chúng ta có thể tìm thấy mầm mống của xu hướng văn học lãng mạn trong thơ, văn, từ khúc của Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Dương Lâm, Đào Tấn… Trong văn học Việt Nam giai đoạn giao thời (1900 -1930) đã xuất hiện những tác phẩm có tính chất lãng mạn. Đó là Khối tình con của Tản Đà, Giọt lệ thu của Tương Phố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách,…Nhưng phải đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX, hoàn cảnh văn hoá xã hội ở Việt Nam mới đầy đủ những điều kiện chín muồi để chủ nghĩa lãng mạn ra đời. Và phải đến năm 1932, chủ nghĩa lãng mạn mới thực sự xuất hiện trong văn học Việt Nam với những tên tuổi như Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Nguyễn Tuân,…
Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam được viết nghiêng về bút pháp lãng mạn bởi các nhà văn lãng mạn thường tìm kiếm những giá trị cao đẹp trong những cảnh đời bình thường, thậm chí tầm thường, tăm tối ; khám phá cái cao cả ở những con người, những số phận bị ruồng bỏ, chà đạp. Không bị ràng buộc bởi môi trường và hoàn cảnh, các nhà văn lãng mạn tin tưởng vào khả năng vượt qua giới hạn con người. Họ miêu tả cuộc sống trong sự vận động và thấm nhuần khát vọng vươn tới lý tưởng.
Hai đứa trẻ của Thạch Lam miêu tả bức tranh của một phố huyện nhỏ nghèo nàn, tiêu điều, xơ xác. Nơi ấy có biết bao số phận con người như chị Tí, gia đình bác Xẩm, bác phở Siêu, bà cụ Thi và chị em Liên – An,…sống trong cảnh đời tăm tối. Ban ngày, Chị Tí đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước…Chị chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đế đêm. Gia đình bác Xẩm sống lây lất bằng nghề hát xẩm, ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, bácm, thay đổi hệ thống tư tưởng thời phong kiến. Trước kia cái tôi cá nhân không có địa vị trong văn học và xã hội. Cá nhân thể hiện như một hình ảnh tượng trưng và bị hoà tan trong cái chung. Trong nền văn chương trung đại tính cách phi ngã ngự trị hầu hết t chưa hát vì chưa có khách nghe…Bác Siêu bán phở ế ẩm vì món quà của bác là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền đối với người dân phố huyện…Bà cụ Thi – một bà già hơi điên với tiếng cười u uẩn, xót xa,…Gia đình Liên – An do bố mẹ mất việc ở Hà Nội nên phải về quê ở, mẹ giao cho hai chị em trông coi cái của hàng tạp hoá nhỏ xíu,…Mặc dù sống trong những cảnh đời tăm tối, cơ cực, vất vả nhưng ở một góc nhìn, nhà văn Thạch Lam gởi vào tâm hồn hai đứa trẻ những ước mơ, khát vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn tuy còn mơ hồ. Chuyến tàu đêm như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa bác Siêu…”.
Văn chương lãng mạn đã thỏa mãn nhu cầu tự do sáng tác và phát huy bản ngã của người làm văn học nghệ thuật. “Sự xuất hiện ý thức về cái tôi cá nhân là một bước tiến quan trọng trong hành trình tư tưởng và nghệ thuật của nhân loại, bởi vì sáng tạo nghệ thuật mang tính đặc thù”. Cho nên sự giải phóng bản ngã, giải phóng cái tôi của chủ thể sẽ phát huy khả năng sáng tạo của nghệ sĩ, làm xuất hiện nhiều phong cách cá nhân độc đáo.
Về thơ ca có Thế Lữ với hồn thơ rộng mở, Lưu Trọng Lư mơ màng, Huy Thông hùng tráng, Nguyễn Nhược Pháp trong sáng, Huy Cận ảo não, Nguyễn Bính quê mùa, Chế Lan Viên huyền bí và Xuân Diệu tha thiết, rạo rực, băn khoăn…
Thơ Tố Hữu cũng rất lãng mạn nhưng là lãng mạn cách mạng. Thơ ông khẳng định cái tôi cá nhân được giải phóng về mặt tình cảm, cảm xúc và trí tưởng tượng. Nhưng thơ Tố Hữu không bi quan, trái lại luôn thể hiện tinh thần lạc quan chiến thắng với niềm tin chắc thắng ở tương lai tươi sáng của cách mạng… ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Trong văn xuôi, cái tôi khinh bạc, lãng tử thể hiện qua tập Tuỳ bút của Nguyễn Tuân và tập truyện ngắn Vang bóng một thời, tiêu biểu là truyện Chữ người tử tù. Nhân vật người tử tù (Huấn Cao) biết mình sắp chết nhưng tư thế vẫn hiên ngang bất khuất, đồng thời là người có tài (viết chữ đẹp) và có tâm cao thượng trong sáng. Ông là một kẻ tử tù chống lại triều đình, nhưng lại được viên quản ngục nể trọng, kính phục và khát khao có được nét chữ ông Huấn treo trong nhà coi như “báu vật” ở đời,…Thông qua nhân vật này, nhà văn đã bày tỏ thái độ bất hoà sâu sắc với xã hội đương thời, không chịu vứt bỏ lương tâm, chạy theo danh lợi, cố giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn”.
Với những thành tựu to lớn của thời kỳ văn học 1932 – 1945 các nhà văn lãng mạn và những người làm văn học nghệ thuật cùng thời đã tạo được trào lưu văn chương lãng mạn có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam.
Văn chương lãng mạn, văn chương hiện thực dù có những điểm khác nhau về khuynh hướng tư tưởng và cảm hứng, nhưng không nên có sự đối lập tuyệt đối. Có nhiều nhà văn sáng tác theo hai khuynh hướng như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Thanh Tịnh,…Trong thực tế, cả hai xu hướng này luôn ở trong quá trình chuyển hoá, ảnh hưởng qua lại, không đối lập nhau về giá trị. Ở xu hướng văn học nào cũng có những cây bút đầy tài năng và những tác phẩm xuất sắc.
Tiêu biểu cho xu hướng văn học hiện thực phải kể đến tên tuổi của nhà văn Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo được học trong chương trình Ngữ văn 11. Tác phẩm đã phô bày hiện thực xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 đầy rẫy những bất công, thối nát. Một anh Chí hiền lành như đất, khoẻ mạnh, được việc và từng mớ ước có một gia đình nho nhỏ – chồng cày thuê, vợ cuốc mướn,… sau mấy năm ở tù về, trở thành kẻ lưu manh tha hoá, mất nhân hình lẫn nhân tính, một con vật người không hơn không kém, một con quỹ dữ của làng Vũ Đại ai ai cũng xa lánh. Chí ngày càng trượt dài trên dốc cuộc đời trong những cơn say triền miên…Bằng ngòi bút hiện thực, nhà văn Nam Cao đã kết án sâu sắc xã hội bạo tàn phá cả thể xác và linh hồn người nông dân lao động, đồng thời ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện, đẹp đẽ ở họ ngay trong khi họ bị vùi dập tới mất cả hình người, tính người.
Nam Cao thể hiện tài tình và chân thật tâm lí người nông dân cũng như người trí thứ tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám. Cuộc sống của họ ngột ngạt, bế tắc, đói khổ, dằn vặt triền miên. Tâm hồn của họ luôn cuồn cuộn những xung đột bi kịch. Họ khao khát sống có ích, sống có ý nghĩa đích thực của một Con Người. Nhưng xã hội cũ không cho họ quyền sống như vậy. Hoặc họ phải cam chịu (Dì Hảo, Ở hiền,…), hoặc phải dũng cảm, quyết liệt tìm lấy cái chết (Lão Hạc, Chí Phèo, Lang Rận,…). Chí Phèo quyết liệt đòi lại quyền làm người “Tao muốn làm người lương thiện…”.
Trong một xã hội còn bọn cường hào, ác bá như Bá Kiến, Lí Cường, Nghị Hách, Nghị Quế, Nghị Lại thì người lao động khó có thể sống lương thiện, khó có thể mưu cầu được hạnh phúc đích thực và đầy đủ.
Chính những vấn đề sâu sắc mà nhà văn Nam Cao đặt ra trong tác phẩm Chí Phèo và ở một số tác phẩm khác, ta nhận thấy chiều sâu của một ngòi bút nhân đạo chủ nghĩa thật đáng trân trọng, một cái nhìn hiện thực sắc bén, chân thật, một tài năng sáng tạo thật mãnh liệt.
Nam Cao thuộc vào số những nhà văn đã đọc được và nhận ra được cái thâm trầm ở Chekhov, ở Dostoievski. Ngòi bút kể chuyện đời đã không còn dừng lại ở sự mô tả những biểu hiện trái tai gai mắt bề ngoài. Sự bất hòa, sự kết án xã hội đương thời ở Nam Cao đã đi vào nguyên tắc nên có thể bộc lộ ra một cách ôn tồn và nhỏ nhẹ, đẩy tính quyết liệt ẩn sâu vào trong. Ở các trang viết của mình, Nam Cao đã nhìn thấy và chỉ cho người đọc thấy cái xã hội đọng trong nô lệ và lạc hậu xứ mình, cái xã hội đẳng cấp, bất công và phi nhân ấy đã làm tha hoá, biến dạng biến chất con người ta như thế nào.
Viết sau và đi tiếp dòng văn tả thực xã hội của những Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, chủ nghĩa hiện thực ở Nam Cao đã tỉnh táo đến mức không còn ảo tưởng, không còn sự ve vuốt nào hết. Phần lớn các nhân vật nông dân ở tác phẩm của ông đều đã hoặc đang bị bần cùng hóa, lưu manh hóa, suy đồi về nhân tính, nhân cách. Phần lớn đám nhân vật tiểu trí thức ở sáng tác của ông đều đang bị dằng xé giữa sự mưu cầu miếng cơm manh áo và sự bảo vệ phẩm giá con người mình, đều đang day dứt vì thấy đời mình “sẽ mốc lên, sẽ rỉ đi, sẽ mòn ra ” và mình “sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống”. Tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong văn chương Nam Cao không thuộc kiểu một tình thương mênh mông vỗ về, an ủi, mà là một đòi hỏi nghiêm khắc : ở mức thấp, đó là đòi hỏi con người hiểu biết chính mình và hoàn cảnh sống quanh mình, nhận cho ra tình trạng bị tha hóa, biến dạng biến chất, coi sự tự ý thức này là cơ sở cho việc hành động cải tạo hoàn cảnh sống ở mức cao hơn, đó là đòi hỏi việc tạo điều kiện để phát triển “tận độ ”, hết mức những năng lực vốn có ở mỗi con người, coi phát triển năng lực con người là tiền đề của sự hoàn thiện nhân cách. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Bên cạnh hiện thực nông thôn, đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng còn cho ta thấy hiện thực của lối sống thành thị chạy theo đồng tiền, thời thượng, đua đòi, a dua theo lối sống văn minh rởm lố lăng đồi bại đương thời để mà đánh mất đi những tình cảm, đạo đức vốn có của con người. Vì đồng tiền mà đám con cháu mau chóng mong người thân của mình qua đời sớm để được chia gia tài. Cũng vì đồng tiền mà có thể phá vỡ những luân thường đạo lí truyền thống tốt đẹp có từ ngàn đời…Nói tóm lại, sức mạnh của đồng tiền có thể chi phối tất cả.
Tiểu thuyết Số đỏ được viết năm1936. Đây là năm đầu của Mặt trận Dân chủ Đông Dương, không khí đấu tranh dân chủ sôi nổi… Chế độ kiểm duyệt sách báo khắt khe của thực dân tạm thời bãi bỏ. Bối cảnh ấy đã tạo điều kiện cho nhà văn phát huy cao độ những mặt tích cực và đạt được những thành tựu rực rỡ. Số đỏ là tác phẩm tiêu biểu nhất của Vũ Trọng Phụng và được đánh giá vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam, kể từ khi có chữ quốc ngữ., thể hiện trình độ tiểu thuyết già dặn, bút pháp châm biếm đặc biệt sắc sảo. Vũ Trọng Phụng góp một vị trí qua trọng trong tiến trình phát triển lịch sử văn học Việt Nam.
Qua một chuỗi vận đỏ của nhân vật Xuân Tóc Đỏ, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện chân thực một hiện tượng phổ biến trong xã hội nhố nhăng đương thời, một kẻ bất tài, bịp bợm cũng có thể trở thành một trí thức, một “anh hùng cứu quốc”, một mụ me Tây dâm đãng cũng có thể được bằng Tiết hạnh khả phong ! Từ đó, người đọc có thể nghĩ tới sân khấu chính trị đương thời vốn không ít những kẻ tai to mặt lớn thực chất chỉ là những Xuân Tóc Đỏ. Và khi nào xã hội còn nhố nhăng, thì khi đó ắt sẽ còn những Xuân Tóc Đỏ. Dĩ nhiên, trong sự đảo lộn quay cuồng ấy, biết bao người có đức, có tài đã gặp số đen. Do đó, nhà văn mặc dù chỉ mới phê phán xã hội thành thị ở phương diện sinh hoạt đạo đức, nhưng Số đỏ có ý nghĩa thời sự và tính chiến đấu khá rõ. Đó cũng là một trong những lí do để tác phẩm này có thể lựa chọn vào chương trình học chính thức, bởi lẽ những gì mà tác giả nêu ra ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Thật ra, các cụm từ văn chương lãng mạn (chủ nghĩa lãng mạn, bút pháp lãng mạn), văn chương hiện thực (chủ nghĩa hiện thực, bút pháp hiện thực) chỉ có trong hệ thống khái niệm lí luận văn học. Nhưng ở một góc độ lịch sử phát triển văn học, nó lại thể hiện tính văn học sử rất rõ. Ở chỗ trong giai đoạn trước đó chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực chưa hình thành các trào lưu, xu hướng rõ rệt, nếu có cũng chưa thể bộc lộ một cách mạnh mẽ quyết liệt được. Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến,… cũng đã từng lên án, phê phán, vạch trần xã hội đương thời. Ví như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhà thơ đã tố cáo xã hội buôn thịt bán người, chạy theo đồng tiền chà đạp nhân phẩm, đạo đức tốt đẹp người phụ nữ (Có ba trăm lạng việc này mới xong) nhưng một mình Nguyễn Du hay Hồ Xuân Hương không thể hình thành những trào lưu, xu hướng được. Chỉ có tốc độ phát triển mau lẹ về số lượng lẫn chất lượng ; chỉ có sự thay đổi bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội ; nhu cầu thưởng thức bạn đọc mở rộng và cũng chỉ có quá trình hiện đại hoá trong giai đoạn văn học đầu thế kỷ XX đến năm 1945… mới bùng nổ các trào lưu, xu hướng văn học cụ thể.
Chính việc khai thác một số vấn đề bút pháp trên sẽ cho chúng ta thấy được tính chất tích hợp giữa kiến thức lí luận và kiến thức văn học sử trong quá trình đọc hiểu văn bản. Sự tích hợp ở đây được hiểu là : trong kiến thức lí luận ta có thể triển khai các kiến thức văn học sử. Và đến lượt mình, kiến thức văn học sử sau khi được phân tích sẽ góp phần làm rõ các khái miệm, thuật ngữ đã được học trước đó (như đã phân tích ở phần trên).
Với việc chúng ta khai thác một số kiến thức liên quan về mặt bút pháp trong quá trình vận động phát triển của lịch sử văn học dân tộc và xem chúng như một yếu tố văn học sử sẽ đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự định hướng đúng giá trị hình thức nghệ thuật của các văn bản. Bên cạnh đó, học sinh sẽ thấy được những cách viết khác nhau của từng tác giả trong từng thời kỳ, giai đoạn…Cùng là bút pháp hiện thực nhưng hiện thực trong cách viết của Nam Cao sẽ khác với hiện thực mà Ngô Tất Tố muốn thể hiện, cùng là bút pháp lãng mạn nhưng lãng mạn trong thơ Xuân Diệu sẽ khác xa với lãng mạn trong thơ Tố Hữu,…
Bấy lâu nay, thường khi khai thác vấn đề về bút pháp, đa phần giáo viên thường chỉ đưa ra những nhận xét chung chung, khái quát kiểu như : Nam Cao là một nhà văn hiện thực bậc thầy ; Vũ Trọng Phụng là một cây bút trào phúng xuất sắc. Tất nhiên những nhận xét kiểu như thế sẽ làm cho quá trình đọc – hiểu không thông suốt, thấu đáo, rõ ràng. Nhưng một khi chúng ta biết cách khai thác chúng xem như một yếu tố văn học sử cần thiết phải triển khai trong các văn bản sẽ làm cho quá trình tiếp thu, cảm nhận của học sinh được nâng cao, mở rộng…
Mời bạn tham khảo thêm:
2.2.2.3. Khai thác về vấn đề đề tài ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Nhiều người cho rằng, đề tài cũng như ngôn ngữ và thể loại trước hết là những khái niệm thuộc lĩnh vực lí luận văn học. Tuy nhiên, trong luận văn này người viết mạnh dạn khai thác tìm hiểu đề tài dưới góc độ mang tính văn học sử để thấy sự vận động phát triển không ngừng trong dòng chảy tiến bộ của lịch sử văn học dân tộc, qua đó, góp phần làm cho hoạt động đọc – hiểu văn bản được định hướng chính xác hơn.
Đề tài – một trong những nội dung thể hiện khá phong phú, đa dạng ở giai đoạn văn học hiện đại. Bài Khái quát giai đoạn văn học đầu thế kỷ XX đến 1945 có nêu : Xu hướng văn học lãng mạn thường tìm đến các đề tài về tình yêu, về thiên nhiên và quá khứ, thể hiện khát vọng vượt lên trên cuộc sống thực tại chật chội tù túng, dung tục, tầm thường. Còn văn học hiện thực tập trung vào việc phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, đồng thời đi sâu phản ánh tình cảnh khốn khổ của các tầng lớp nhân dân bị áp bức bốc lột với một thái độ cảm thông sâu sắc.
Liên quan đến kiến thức về đề tài được nhìn nhận dưới góc độ tri thức văn học sử, khi khai thác chúng ta cũng cần phải chỉ ra những sự đổi mới, khác biệt, những nét đặc sắc trong cách thể hiện ở từng văn bản thuộc mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Đề tài cũng gắn liền với yếu tố lịch sử và thời đại.
Do yếu tố thời đại, lịch sử xã hội,…chi phối nên đề tài văn học ít nhiều cũng bị ảnh hưởng và có sự đổi mới đáng kể theo thời gian, không gian. Nổi bật là sự đổi mới về tư duy và cách viết. Không bị gò bó vào các tư tưởng ý thức hệ phong kiến, không bị chi phối vào khuôn mẫu có sẵn, không phụ thuộc vào thể thơ hay niêm luật,…Các nhà thơ mới có cách sáng tạo riêng trong việc dùng từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, điệu của câu thơ trong mỗi bài, cũng như việc phá vỡ tính ước lệ, phi ngã…
Trong thơ xưa, thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp của con người : Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp / Mây, gió, trăng, hoa, tuyết núi sông. (Hồ Chí Minh). Và hay như Nàng Kiều được Nguyễn Du ví đôi mắt trong như làn nước mùa thu, nét mày thanh như sắc núi mùa xuân ; khiến cho hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Còn cái đẹp phúc hậu của Thuý Vân thì được ví như khuôn trăng đầy dặn, nét ngài nở nang / Hoa cười ngọc thốt đoan trang / Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da. Tuy nhiên, đến với Xuân Diệu, quan niệm chuẩn mực của cái đẹp là thiên nhiên đã được thay thế bởi quan niệm chuẩn mực của cái đẹp là con người. Bằng cặp mắt “xanh non”, “biếc rờn”, Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời và vạn vật có nhiều điểm khác so với các nhà thơ cũ. Thiên nhiên và con người gần gũi bình dị quanh ta bỗng nhiên được ông phát hiện ra biết bao điều mới lạ, đáng yêu, đáng quý.
Liễu là hình ảnh quen thuộc trong thơ trung đại nhưng thường chỉ được miêu tả trong vẻ đẹp mềm mại thướt tha vốn có “Lơ thơ tơ liễu buông mành” ... hoặc được sử dụng như một ước lệ nghệ thuật chỉ những người con gái đẹp “liễu yếu đào tơ” theo quan niệm lấy thiên nhiên làm chuẩn mực vẻ đẹp con người.
Trong cách cảm nhận mới mẻ của Xuân Diệu, khi con người mới thực sự là chuẩn mực cho cái đẹp thì liễu mùa thu hiện lên trong dáng vẻ, tâm trạng của một giai nhân, trong đó, “rặng liễu đìu hiu” là dáng buồn, tơ liễu thướt tha là tóc buồn, lá liễu là ngàn hàng lệ nhỏ… Liễu tựa một người con gái buồn hiu hắt và đẹp kiêu sa. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Mùa thu là mùa buồn, tuy thường là nỗi buồn man mác có cái vẻ đẹp và cái nên thơ riêng của nó. Thực ra đây là một cảm hứng rất tự nhiên và có tính truyền thống về mùa thu của thơ ca nhân loại (Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… cũng như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…). Bài Đây mùa thu tới cũng nằm trong truyền thống, nhưng cảnh thu của thơ Xuân Diệu có cái mới, cái riêng của nó. Ấy là chất trẻ trung tươi mới được phát hiện qua con mắt “xanh non” của tác giả, là sức sống của tuổi trẻ và tình yêu, là cái cảm giác cô đơn “run rẩy” của cái tôi cá nhân biểu hiện niềm khao khát giao cảm với đời.
Hay như việc miêu tả về tình yêu đôi lứa. Đối với Xuân Diệu là phải Mau với chứ vội vàng lên với chứ / Em em ơi tình non sắp già rồi (Vội vàng). Yêu là chết trong lòng một ít (Yêu)…Làm sao sống được mà không yêu / Không nhớ không thương một kẻ nào…
Đối với Nguyễn Bính, bằng cách nói ví von mộc mạc và duyên dáng trữ tình, ông đã thổ lộ tình yêu của mình : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông / Một người chín nhớ mười mong một người / Gió mưa là bệnh của giời / Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. (Tương tư ). Chữ “tôi” xuất hiện trong bài thơ thật đáng yêu. Thôn Đoài với thôn Đông là nơi nhà “Nàng” và nhà “Tôi” đang ở. Cách sử dụng hoán dụ – nhân hoá kết hợp với thành ngữ và nghệ thuật phân hợp số từ – vị ngữ (chín, mười, nhớ mong = chín nhớ mười mong) làm cho lời thơ trở nên bình dị mà hồn nhiên, đằm thắm. Nỗi “chín nhớ mười mong một người” không chỉ đầy ắp, da diết trong lòng chàng trai đa tình mà còn tràn ngập cả xóm thôn, cả thôn Đông lẫn thôn Đoài. Yêu nàng tôi tương tư đã thành “bệnh”, thật đáng thương,… cũng như bệnh nắng mưa của trời vậy. Cách so sánh “bệnh giời” với bệnh tương tư “của tôi yêu nàng”, Nguyễn Bính đã diễn tả một cách hồn nhiên, thú vị về nỗi buồn tương tư trong tình yêu là lẽ tự nhiên, là tất yếu. Yêu thì mong được gần nhau, mà xa thì nhớ; yêu lắm nên nhớ nhiều ; càng nhớ mong thì càng tương tư. Tương tư là một nét đẹp của tình yêu nên khác gì “Nắng mưa là bệnh của giời”….
Còn thi sĩ Hàn Mặc Tử đầy bí ẩn với những vần thơ tình yêu nồng nàn tha thiết nhưng đầy thất vọng bi quan trong cuộc đời trần thế, mọi thứ đều mờ ảo, không phân biệt được đâu là cõi hư, đâu là cõi thực. Sẽ không thể giải thích được đầy đủ hiện tượng Hàn Mặc Tử nếu chỉ vận dụng thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn và ảnh hưởng của Kinh thánh. Chúng ta cần nghiên cứu thêm lý luận của chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực. Trong những bài thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử, người ta không phân biệt được hư và thực, sắc và không, thế gian và xuất thế gian, cái hữu hình và cái vô hình, nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể, thế giới cảm xúc và phi cảm xúc. Mọi giác quan bị trộn lẫn, mọi lôgic bình thường trong tư duy và ngôn ngữ, trong ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn bất ngờ. Nhà thơ đã có những so sánh ví von, những đối chiếu kết hợp lạ kỳ, tạo nên sự độc đáo đầy kinh ngạc và kinh dị đối với người đọc.…
Các nhà văn lãng mạn đã cảm nhận và miêu tả những nỗi niềm, tâm trạng, cảm xúc yêu đương phong phú, tinh vi và chân thực chưa từng có trong những giai đoạn trước đó. Có thể nói, với nguồn cảm hứng đặc biệt dành cho tình yêu, đến văn học lãng mạn, tình yêu mới đích thực là tình yêu trần thế và sự giao cảm tuyệt đối cả thể xác lẫn tâm hồn.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể nhận ra rằng ở bất kỳ một văn bản thơ nào khi đọc – hiểu phải nêu bật được đề tài, nội dung, tư tưởng mà tác giả thể hiện để làm nổi bật phong cách viết từng cá nhân nhà thơ. Cùng là một đề tài nhưng mỗi tác giả sẽ có những cách viết khác nhau. Kiến thức văn học sử trong cách dạy khai thác đề tài là ở điểm này. Đôi lúc, đề tài sẽ gắn liền với tên tuổi của họ. Ví như khi nhắc đến Xuân Diệu, trước tiên chúng ta sẽ nghĩ ngay đến đề tài về tình yêu, hay như Nguyễn Bính sẽ nghĩ đến đề tài về chốn chân quê đơn sơ, mộc mạc,…
Dạy các văn bản thuộc thể văn xuôi cũng cần cho các em thấy đuợc sự đổi khác trong cách thể hiện đề tài.
Chẳng hạn : Cùng viết về đề tài số phận con người trong xã hội, văn học trung đại giai đoạn đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX thường miêu tả số phận bất hạnh của người phụ nữ sống trong lễ giáo phong kiến với những thành kiến, định luật khắt khe, ràng buộc. Họ phải gánh chịu nhiều bất hạnh, đắng cay, sống cô đơn, lẻ loi,… (Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Truyện Kiều – Nguyễn Du, Thơ của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,…).
Còn số phận con người trong văn học hiện đại trước Cách mạng Tháng Tám, đa phần thường viết về tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ, bị áp bức bốc lột đến tận xương tuỷ, rơi vào những bi kịch không lối thoát. Viết về mảng đề tài này, chủ yếu tập trung vào các thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự,… ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Chí Phèo (Truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao) – bi kịch của người nông bị lưu manh tha hoá…vì nguyên nhân vô cớ bị đẩy vào tù, trở thành tay sai cho kẻ thù, bị kẻ thù lợi dụng mà hắn không hề hay biết. Hắn dần dần rơi vào bi kịch bị tha hoá và bị từ chối, cự tuyệt quyền làm người. Ở hình tượng nhân vật Chí là một chuỗi tình huống cho ta thấy cái hiện thực thảm khốc của đời sống nhân dân nghèo trong xã hội làng Vũ Đại ngày ấy – chính là xã hội thực dân phong kiến thu nhỏ trước cách mạng. Nhưng cũng đồng thời cho thấy sức sống mãnh liệt của nhân tính. Càng bị đẩy vào cảnh nghèo khổ, bế tắc, cùng cực, càng trượt dài trên dốc tha hoá, những người lao động vốn lương thiện như Chí Phèo càng khát khao trở về cuộc sống lương thiện, khao khát được sống cho ra mặt người. Ở đây, sự tha hoá, sự trở về với bản tính lương thiện của Chí điều mang tính quy luật, được nhà văn miêu tả, thể hiện như những quy luật.
Văn bản Chí Phèo được chọn để giảng là phù hợp, tiêu biểu cho đề tài viết về số phận người nông dân trước Cách mạng tháng Tám trong các sáng tác của nhà văn Nam Cao. Đồng thời cũng tiêu biểu cho cách viết không hề trốn tránh sự thực, dám nhìn thẳng vào hiện thực để phơi bày những bất công, thối nát.
Chí Phèo – kết tinh những thành công của Nam Cao trong đề tài nông dân và là một kiệt tác trong nền văn xuôi trước Cách mạng. Khác với đa số truyện ngắn khác, Chí Phèo vừa phản ánh xã hội nông thôn trên bình diện đấu tranh giai cấp vừa thể hiện vấn đề con người bị tha hóa. Qua hình tượng Chí Phèo, một trường hợp nông dân lưu manh hóa, Nam Cao không những đã miêu tả sâu sắc, cảm động chính sách đày đọa của người nông dân bị đè nén bóc lột đến cùng cực, mà còn dõng dạc khẳng định nhân phẩm của họ trong khi họ bị xã hội vùi dập đến mất cả hình người, tính người…
Và phải nói, con người trong văn học hiện đại được thể hiện ở nhiều khía cạnh. Con người với cái tôi cá nhân cá thể, tự ý thức trách nhiệm ; con người với cuộc sống cơm áo gạo tiền ; con người với những tấn bi kịch dai dẳng, bế tắc ; con người với ước mơ, khát khao và hoài bão,…
Nhân vật Hộ (Đời thừa – Nam Cao), được học trong sách Ngữ văn 11, tập 1, chương trình nâng cao cũng nói về số phận con người nhưng là số phận người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng – một đề tài chưa từng xuất hiện trong nền văn học trước đó.
Nếu như ở Truyện Kiều của Nguyễn Du, người đọc gặp bi kịch của kiếp “tài hoa bạc mệnh”. Ở Chí Phèo của Nam Cao là bi kịch của những khát khao lương thiện. Và cũng với Nam Cao ta lại gặp ở Đời thừa tấn bi kịch tinh thần của người tri thức với tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của nhà văn lớn Nam Cao.
Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm con người thì Nam Cao mới viết được những dòng đầy cảm xúc về văn sĩ Hộ. Dường như những day dứt trong cuộc đời ông – cuộc đời văn sĩ khổ ải – đã nhập vào những suy tư của Hộ, đã nhập vào tấn bi kịch tinh thần của Hộ. Có người nói, Hộ chính là hình ảnh của nhà văn Nam Cao thời kì trước Cách mạng. Tôi không hoàn toàn nghĩ thế. Nam Cao đã có thể bị cơm áo ghì chặt nhưng Nam Cao hơn hẳn Hộ ; ông đã biết vượt lên trên những lo toan ấy để biến giấc mơ thành hiện thực. Ông đã viết những lời văn hay nhất, đẹp nhất về cuộc đời những kiếp lầm than và chắc chắn Nam Cao không phải đỏ mặt khi thấy tên mình sau những tác phẩm như Chí Phèo, Đời thừa… Bởi chính đó là giấc mơ văn chương nẩy nở.
Có thể tự tin mà nói rằng với Đời thừa, Nam Cao đã bộc lộ được tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của mình khi viết những dòng bi kịch về Hộ. Kinh nghiệm và vốn sống đã cho ông viết những điều có sức rung động, lay chuyển lòng người. Đó chính là nhờ tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của nhà văn Nam Cao. Nhân đạo ở sự ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ, nhân đạo ở sự cảm thông sâu sắc với người tri thức…
Qua bi kịch tinh thần của Hộ, Nam Cao đã bộc lộ được sự cảm thông, trân trọng bao kiếp người lao khổ trong cuộc đời này. Nam Cao đã kế thừa tư tưởng truyền thống nhân đạo của cha ông. Nhà văn không “phản ánh để phản ánh” mà sau những câu chữ tưởng như lãnh đạm, thờ ơ chính là một trái tim nhiệt thành, sôi nổi – một trái tim của tình nghĩa, một “hiện thực vị hiện thực”.
Khi đọc – hiểu phải khắc sâu yếu tố thời đại, lịch sử để thấy quá trình vận động phát triển không ngừng vươn lên của nền văn học nước nhà, đặc biệt để thấy được sự đổi mới và sự chi phối bởi yếu tố lịch sử, thời đại trong mỗi văn bản.
2.2.2.4. Khai thác về vấn đề thể loại, ngôn ngữ ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Không chỉ có đề tài đổi mới mà ở thể loại, ngôn ngữ cũng có sự cách tân đáng kể trong giai đoạn văn học đầu thế kỷ XX đến 1945 để theo kị với tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc, trong khu vực và trên thế giới.
Nguyễn Đình Chú đã viết: “Lịch sử văn học, xét cho cùng là lịch sử cách tân văn học” Theo quan niệm của ông thì có hai mức độ cách tân : cách tân trong nội bộ một phạm trù văn học và cách tân có ý nghĩa chuyển từ phạm trù văn học này sang phạm trù văn học khác. Sự thay đổi phạm trù văn học là sự cách tân có tính chất đồng bộ, toàn diện về lực lượng sáng tác, về công chúng văn học, về phương diện văn học, về phương thức tồn tại của văn học, về quan niệm nghệ thuật, về đề tài, về ngôn ngữ, về thể loại, thể tài cùng với hệ thống thi pháp. Thực hiện những điều đó không thể trong một thời gian một sớm một chiều mà đòi hỏi phải qua một quá trình khá gay go và phức tạp. Chúng ta có thể xem 30 năm đầu thế kỉ XX là chặng đường đầu của sự cách tân văn học.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy nhất có hiện tượng đan xen hai yếu tố cũ và mới trong sáng tác của một tác giả, có khi trong cùng một tác phẩm. Hai yếu tố cũ và mới ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn và phổ biến trên khắp các thể loại, tạo ra những giá trị đặc biệt, không thể xếp vào kho tàng văn học trung đại mà cũng chưa thể công nhận là một tác phẩm văn học hiện đại. Và đây là một kiến thức văn học sử mà giáo viên cần phải lưu ý trong quá trình tìm hiểu văn bản.
Trước hết, chúng ta thử tìm hiểu trường hợp nội dung mới thể hiện trong những hình thức cũ. Đây là trường hợp phổ biến ở dòng văn học yêu nước và cách mạng. Để đạt mục đích phục vụ cho hoạt động chính trị, các tác giả của dòng văn học này đã tập trung thể hiện những nội dung mới trong những hình thức nghệ thuật chưa có gì thay đổi. Người ta bắt đầu nói tới những tư tưởng yêu nước mới. Yêu nước và trung quân không còn đi đôi với nhau, yêu nước gắn liền với hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo tồn “nòi giống” và phát triển xã hội theo con đường cách mạng dân chủ tư sản. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tư tưởng dân chủ, dân quyền được đưa ra, được khẳng định, được xem là mục tiêu của phong trào cách mạng. Vấn đề xây dựng nền học thuật mới, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng là nội dung hoàn toàn mới mẻ. Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam, chủ nghĩa anh hùng được xác lập phổ biến rộng rãi như giai đoạn này…
Tất cả những nội dung trên đều được thể hiện trong những thể loại văn học của nhà nho trước kia. Chữ Hán là phương tiện phổ biến để chuyển tải các nội dung nói trên. Văn xuôi nặng tính chất biền ngẫu hãy còn thông dụng đối với các nhà chí sĩ cách mạng thời này. Người sáng tác có ý thức đưa vấn đề mới vào văn học với mục đích tuyên truyền vận động cách mạng. Nói cách khác, họ rất chú ý việc đổi mới nội dung nhưng chưa hề quan tâm vào việc đổi mới nghệ thuật (hình thức)
Phan Bội Châu là một tác gia tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn này. Sáng tác của ông biểu hiện vai trò là dấu nối của hai thời đại, hai nền văn học cũ và mới. Ông xuất thân từ một nhà nho, thông thạo lối văn cử tử, từng được mệnh danh “hay chữ nhất nước Nam”. Ông lại là người có vốn kiến thức về văn học dân gian. Nói như thế để thấy rằng ảnh hưởng của văn học cũ đối với ông rất sâu đậm. Khi bước vào hoạt động chính trị, ông đã sáng tác văn chương để phục vụ cho phong trào cách mạng. Đó là những sáng tác có nội dung mới mẻ. Ông cũng là người sáng tác nhiều, lâu dài và liên tục, hiệu quả tuyên truyền cũng cao. Nhưng Phan Bội Châu chỉ dừng lại ở sự cách tân nghệ thuật sáng tác cũ. Là người rất nhiệt tình trong việc lên án văn chương cử tử, cố gắng tìm mọi cách để tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với quần chúng. Ông đã thể nghiệm ngòi bút trên khắp các thể loại, từ văn chương phú lục của nhà nho đến tiểu thuyết, truyện ngắn của nền văn học hiện đại. Phan Bội Châu có ý thức hướng đến nền văn học hiện đại nhưng vì chưa hiểu đầy đủ về nó nên ông không thể tiến xa hơn nữa. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Văn chương của Phan Bội Châu tiêu biểu cho thời kì chuyển biến của văn học, có tính chất giao thời. Sáng tác của ông là sự từ giã cái cũ, tìm đường đến cái mới. Phan Bội Châu chưa vượt qua được truyền thống nghệ thuật của phương Đông. Lí tưởng thẩm mĩ, ngôn ngữ văn học của ông rất dân tộc, rất hợp với công chúng đương thời nhưng cũng sớm trở thành lạc hậu trước sự ra đời và phát triển của nền văn học mới. Phan Bội Châu đã thể hiện những tư tưởng mới trong các hình thức nghệ thuật cũ. Thơ văn ông còn ở tình trạng “bình cũ rượu mới”. Lưu biệt khi xuất dương (Xuất dương lưu biệt) là một ví dụ tiêu biểu. “Đây là bài thơ trực tiếp bộc lộ chí khí, hoài bão của tác giả, ít nhiều gần gũi với loại thơ nói chí phổ biến trong văn học thời trung đại như Chí làm trai của Nguyễn Công Trứ, nhưng tâm hồn và ý chí con người thì đã mang nhiều dấu ấn của thời đại mới. Đó là gan ruột, là tâm huyết mà tác giả muốn gởi gắm cho đời. Ông đã thể nghiệm nó bằng chính cuộc đời mình trước khi biểu hiện trong văn chương”. [35, tr.6].
Không chỉ ở văn học cách mạng mà cả văn học hợp pháp, các hình thức nghệ thuật cũ vẫn được sử dụng trong sáng tác. Đông Hồ, Tương Phố, Hoàng Ngọc Phách đã thổ lộ tình cảm riêng tư, thầm kín của mình bằng những hình ảnh cũ kĩ, thông qua các bài thơ Đường cổ kính, xen giữa những câu văn xuôi, những câu văn biền ngẫu. Họ đã thổi vào văn chương hợp pháp bấy giờ một nỗi buồn mênh mông, da diết. Nó mới so với những nỗi buồn trong thơ trước đây nhưng cũng chưa phải là nỗi buồn của các nhà thơ lãng mạn ở giai đoạn 1930 – 1945. Chất sầu thảm bi thương được gợi lên ở đây và sự tấn công vào thế giới bên trong của con người, trong sáng tác của họ đã chuẩn bị cho sự ra đời của Thơ mới về sau
Ở giai đoạn đầu thế kỉ XX, có một số tác giả do tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây, từ công tác dịch thuật họ đã chuyển dần sang phỏng tác theo các tác phẩm văn học Pháp. Họ đi đến viết tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch. Đó là những thể loại mới – thể loại văn học hiện đại. Họ đã từ bỏ văn chương chữ Hán, tránh dùng những điển cố, điển tích, đưa lời ăn tiếng nói của nhân dân vào trong sáng tác văn học. Họ cố gắng vượt khỏi những ước lệ khắt khe khi xây dựng thế giới nhân vật. Có thể nói rằng, về mặt nghệ thuật, họ đã có những đổi mới đáng kể, mặc dù không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Điều muốn nói ở đây là trong lớp vỏ có phần mới mẻ ấy, họ vẫn tiếp tục thể hiện những nội dung cũ kĩ, thậm chí bị xem là lạc hậu lỗi thời. Trong ba mươi năm đầu thế kỉ, có nhiều nhà tiểu thuyết Nam bộ, có cả những nhà viết kịch ở Bắc bộ tiếp tục thể hiện những vấn đề đạo lí trong sáng tác của mình. Tuy nhiên, đạo lí đó có phần nào vượt ra ngoài quan niệm của Nho giáo và tiến gần đến đạo lí bình dân của người lao động.
Khi viết tiểu thuyết, các tác giả Nam bộ như Nguyễn Chánh Sắt (Nghĩa hiệp kì duyên), Tân Dân Tử (Giọt máu chung tình), đặc biệt là Hồ Biểu Chánh , đều bị chi phối bởi khuynh hướng đạo lí. Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh sở dĩ chiếm lĩnh được đông đảo độc giả là vì đạo lí được ông nói đến là đạo lí ở đời, đạo lí bình dân, truyền thống, vừa tầm. Hơn nữa, vấn đề đạo lí đó lại được thể hiện trong thể loại tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ, có cốt truyện khác hẳn tiểu thuyết cổ điển, lấy đề tài từ trong cuộc sống người lao động. Thế giới nhân vật xuất hiện trong tác phẩm là những con người chân lấm tay bùn, chất phác, hiền lành như Trần Văn Sửu (Cha con nghĩa nặng) ; có thể là những thầy thông, thầy kí hách dịch ham tiền như thầy thông Phong (Thầy thông ngôn) ; cũng có thể là những tên địa chủ gian ác, những hương chức hội tề xấu xa ở địa phương như Vĩnh Thái (Khóc thầm) hay hương quản Sum (Cha con nghĩa nặng)… Không chỉ có con người ở nông thôn mà còn bao gồm cả nhân vật thành thị. Có thể nói rằng, thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông rất đa dạng và phong phú. Đó là một đổi mới đáng kể và cũng là một thành công lớn của Hồ Biểu Chánh.
Hồ Biểu Chánh đã đưa vào trong tác phẩm của mình những chi tiết đời thường và đã sử dụng ngôn ngữ bình dân, giản dị trong sáng tác. Đó là những yếu tố chưa từng xuất hiện trong văn chương trung đại. Mặc dù Hồ Biểu Chánh còn nhiều hạn chế trong nghệ thuật nhưng vẫn có thể khẳng định ông là “cây bút sáng giá” của giai đọan 1912- 1932 bởi ông đã đạt được những tiến bộ về nghệ thuật. Chính ông là người xây nền, tạo móng cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là sự kết hợp những yếu tố cũ (nội dung) với những đổi mới đáng kể (nghệ thuật). Chính vì sự kết hợp này đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới của công chúng đương thời. Bởi vì nó chỉ là hiện tượng của thời kì chuyển tiếp cho nên chỉ sau 20 năm, nó đã trở nên lạc hậu trước sự ra đời của tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, tiểu thuyết của dòng văn học hiện thực phê phán 1930- 1945. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Kịch là một loại hình nghệ thuật sân khấu rất mới, có giá trị văn học, chỉ xuất hiện từ khi có sự du nhập của nền văn hóa phương Tây. Một số tác giả tiêu biểu thời này như Vũ Đình Long, Nam Xương đã dùng thể loại hoàn toàn mới mẻ này để phản ánh hiện thực xã hội đương thời. Đời sống của các gia đình phong kiến bị phá sản, sự hư hỏng của con người trong xã hội tư sản, hiện tượng lai căng mất gốc…Tuy nhiên, mọi vấn đề được các ông đưa lên sân khấu để bóc trần sự thật, để phê phán hay đả kích đều xuất phát từ lập trường đạo lí, nhằm củng cố nền luân lí cổ truyền của dân tộc. Cho nên, chưa thể xem nội dung đó là hoàn toàn mới lạ. Khán giả đương thời hưởng ứng nồng nhiệt bởi những vấn đề hãy còn xưa cũ ấy được thể hiện trong một hình thức rất mới
Sự kết hợp hai yếu tố cũ và mới trong cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật là hiện tượng phổ biến nhất trong văn học giai đoạn đầu thế kỉ XX. Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách là một tác phẩm tiêu biểu mang nhiều yếu tố pha tạp hai giá trị truyền thống và hiện đại. Hoàng Ngọc Phách đã để cho hai nhân vật Tố Tâm và Đạm Thuỷ giằng co giữa hai con đường : chạy theo tình yêu tự do hay chấp nhận lễ giáo phong kiến. Và để cho cả hai đều có những giấc mơ yêu đương, đầy chất lãng mạn…
Trong tác phẩm Tố Tâm, người tuân thủ đạo đức truyền thống đã không có hạnh phúc trong chế độ đại gia đình phong kiến, mà người muốn sống hết mình cho tình yêu tự do cũng không thể đón nhận hạnh phúc trong tình yêu. Cả đôi đường đều không thể trọn vẹn, con người bị lâm vào thế bế tắc. Nguyên nhân bắt nguồn từ trạng thái lưỡng phân, giao thời của xã hội. Hoàng Ngọc Phách đã đem cái tôi tư sản đặt bên cạnh lễ giáo phong kiến và ông chỉ nói đến cái tôi trong thế cạnh tranh với đạo đức phong kiến. Trường hợp của Hoàng Ngọc Phách là trường hợp tiêu biểu và phổ biến ở giai đoạn đầu thế kỉ XX. Tố
Tâm là tác phẩm được sáng tác bằng phương pháp lắp ghép nghệ thuật viết văn của nhà nho (văn biền ngẫu, văn xuôi xen kẽ với văn vần, ngôn ngữ bóng bẩy…) với nghệ thuật sáng tác của người nghệ sĩ hiện đại (văn tiểu thuyết, kết cấu mới, kết thúc không có hậu, khai thác yếu tố đời tư của nhân vật). Chính sự lắp ghép và pha tạp các yếu tố cũ, mới đã làm cho Tố Tâm vừa thể hiện chất hiện đại nhưng vẫn mang dáng dấp truyền thống.
Nhìn chung, văn học giai đoạn này còn rất nhiều tác phẩm, tác giả có sự kết hợp như trên, tạo nên những giá trị văn học có tính chất trung gian giữa truyền thống và hiện đại.
Có thể khẳng định rằng trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy nhất có sự tồn tại đan xen. Các giá trị truyền thống được đặt cạnh một số thành tựu hiện đại và luôn trong thế cạnh tranh nhau. Tuy nhiên, hiện tượng trung gian trong văn học chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn. Do đó, khi dạy đọc – hiểu các văn bản ở giai đoạn giao thời này, giáo viên phải hết sức lưu ý tính đan xen giữa các yếu tố nội dung và hình thức của văn bản để chỉ ra nét đặc sắc, sự khác biệt, cũng như những hạn chế, tích cực của mỗi văn bản…Từ đó, học sinh dễ dàng tìm hiểu văn bản một cách đúng hướng và khách quan hơn.
Văn học giai đoạn 1900 – 1930 có xu hướng tiến gần đến hiện đại. Đối với người cầm bút thời này, văn học hiện đại là khu vườn quyến rũ đầy những hoa thơm cỏ lạ. Phát hiện ra nó là một chuyện, nhưng đến với nó là một chuyện khác. Đối với các nhà văn, nhà thơ thời này, quan niệm thẩm mĩ có thay đổi, thế giới quan và nhân sinh quan đã khác trước nhưng họ chưa được trang bị chu đáo về mặt lí luận. Họ đã đến với văn học hiện đại trong sự nhận thức chưa được trọn vẹn về mọi phương diện. Điều này đã làm hạn chế khả năng sáng tác của họ. Họ không thể bỏ qua sự dung hoà truyền thống và hiện đại. Thói quen cũ và ý thức mới tạo nên những biến dạng trong nghệ thuật sáng tác của rất nhiều tác giả thời này. Nhìn chung, trong 30 năm đầu thế kỉ XX, do tác động của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, các tác giả đã lắp ghép một cách máy móc cái truyền thống và hiện đại khi sáng tác. Hạn chế đó mang tính tất yếu của một giai đoạn chuyển biến trong lịch sử văn học từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại.
Đến giai đoạn văn học 1930 – 1945, các nhà văn, nhà thơ tiếp tục đưa công cuộc cách tân lên một tầm cao mới, có thể nói là chín muồi, đặc biệt trong việc cách tân thể loại và ngôn ngữ. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Xuân Diệu đã tìm đến cách diễn đạt của ngôn ngữ khác với trước đây. Nhà thơ Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp và đổi mới chính ngôn ngữ, lối nói sẵn có của tiếng Việt : Hơn một loài hoa đã rụng cành / Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh / Những luồng run rẩy rung rinh lá / Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.
Có lẽ trước Xuân Diệu không mấy ai nói “hơn một loài”, “sắc đỏ rũa”, “những luồng run rẩy”…Trong tư duy ngôn ngữ của người Việt, “hơn một loài” có thể hiểu là nhiều loài. “Sắc đỏ rũa màu xanh” có thể hiểu là màu đỏ, màu úa vàng của cây lá mùa thu ngày càng nhiều, lấn dần màu xanh, làm cho lá cây màu xanh bị rũa, rụng dần đi từng tí một. Còn Những luồn run rẩy rung rinh lá là một câu thơ chứa đựng nhiều biện pháp tu từ, vừa lặp phụ âm “r”, vừa dùng đảo ngữ, vừa trộn lẫn cảm giác do cách kết hợp trực tiếp loại từ “luồng” với đảo ngữ “run rẩy rung rinh lá” khiến cho người đọc thơ như có thể cảm giác được cả cái run rẩy rùng mình vì ớn lạnh của chính tâm hồn nhà thơ. Xuân Diệu có tài tả rét, trong Nguyệt cầm, trong Lời kỹ nữ… và đặc biệt trong Đây mùa thu tới. Đúng ra thi sĩ có tài cảm nhận cái rét mướt lạnh lẽo theo điệu tâm hồn riêng của mình. Cũng như ở những câu thơ trên, đây là một câu thơ mới mẻ, đầy ấn tượng.
Xuân Diệu là một nhà thơ rất mới về nhiều phương diện nhưng trước hết là phương diện ngôn từ. Nhiều cách đặt câu dùng từ của ông nay đã trở thành quen thuộc và phổ biến đối với người Việt Nam nhưng hồi Xuân Diệu mới xuất hiện, đấy là một cuộc cách tân mạnh dạn…
Truyện ngắn và tiểu thuyết ở giai đoạn này được viết theo lối mới, khác xa với cách viết trong văn học cổ, từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ nghệ thuật. Tiểu thuyết chương hồi hầu như không còn xuất hiện. Các nhà văn thời kỳ này đã khắc họa khá thành công những tính cách điển hình. Chẳng hạn :
Chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố là một nhân vật điển hình của một môi truờng xã hội thực dân phong kiến, của một dân tộc “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) trong gông cùm nô lệ, suốt cuộc đời chỉ sống trong cực khổ không thấy một ngày thậm chí một giờ được hạnh phúc, đó là dân tộc Việt Nam. Một dân tộc luôn đau khổ, luôn bị chèn ép, song ý chí phấn đấu, sức mạnh tự vệ có thể bùng nổ. Chị Dậu dịu dàng chân thật, chỉ biết ban phát tình yêu cho chồng, tình thương vô bờ bến cho con nhưng cũng có thể quật ngã bọn cường hào khi đi đến đường cùng giành sự sống.
Và Chí Phèo, Chí không những là nhân vật điển hình của một xã hội mà Chí còn là điển hình nhân loại. Mâu thuẫn trong tác phẩm giữa cái thiện và cái ác, mâu thuẫn giữa “con quỷ” và “con người”, mâu thuẫn giữa sự tuyệt quyền làm người và khát khao được hoà đồng với con người bình thường, lương thiện… Đó là bi kịch của con người trên trái đất này chứ không dừng lại ở anh Chí Phèo của một làng quê bé nhỏ. Mối tình của Rômêô và Julliet không chỉ là một câu chuyện tình bi ái ở Anh, ở Ý trong tác phẩm Sếchxpia mà đó là giọt lệ đau đớn của nhà văn khóc cho vạn cuộc tình trên đời này, ở đâu đấy trên trái đất này có nhiều, rất nhiều cuộc tình bi thương như thế…
Hơn hẳn các nhà văn trước năm 30, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đã xông xáo, táo bạo, lột mặt nạ dơ dáy của xã hội thực dân nửa phong kiến. Và ông xuất hiện như một khắc tinh của xã hội đồng tiền .
Vũ Trọng Phụng đạt được thành công lớn về nghệ thuật tiểu thuyết phóng sự, là xây dựng được những một số điển hình sinh động bất hủ về xã hội tư sản thành thị Việt Nam lúc bấy giờ. Những sáng tác của ông mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, tuy nhiên sự phê phán đồng tiền trở nên gay gắt trừu tượng, mất đi ý nghĩa, vì không nhằm mục đích chính trị, và đã có ý kiến chỉ trích lối văn của Vũ Trọng Phụng. Có người e ngại lối văn của Vũ Trọng Phụng “miêu tả quá đà nhồi nhét quá mức cảnh dâm uế vào bất cứ đâu làm cho người đọc mù mị trong cân não ghê sợ” hoặc “rung động một cách bệnh hoạn, bi kịch về mặt thú tính của con người”.
Nhất Chi Mai cũng không ngần ngại phê phán Vũ Trọng Phụng “là một nhà văn xã hội kì quặc, nhìn thế giới bằng cặp kính đen có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen nữa”. Nhưng Vũ Trọng Phụng đã không ngần ngại, mạnh mẽ, bảo vệ quan điểm của mình. Ông vạch ra sự khác biệt giữa hai trường phái lãng mạn và hiện thực trong cách nhìn nhận đời sống xã hội, trong cách miêu tả hiện thực và con người. Ông dõng dạc tuyên bố tôi và các nhà văn cùng chí hướng với tôi , muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời, các ông muốn tiểu thuyết tùy thời chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe, nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì đúng sự thật, thành ra nguy hiểm, vì sự thật mất lòng. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Và khẳng định mục đích của văn tả chân : cất tiếng nói khám phá xã hội bất công, mục nát xấu xa phản tiến bộ, trong đó lòng lương thiện thường bị bóc lột, đè nén, bị bần cùng và tha hóa. Bên cạnh đó tầng lớp trên thì ăn chơi trác tán, xa hoa, phè phỡi, lố lăng. Ông cho rằng xã hội đương thời với những vết thương trầm trọng, thối rữa đến tận xương tủy, như thế thì có gì phải giấu giếm ? Phải vạch trần chân tướng xấu xa của nó, phanh phui ung nhọt của nó, chỉ ra sự bất công và nỗi thống khổ tràn lan, dày vò con người. Từ đó làm cho dân chúng căm hờn phỉ nhổ tệ nạn bất công mà đấu tranh cho sự công bình và những điều tốt đẹp đó há phải sứ mệnh cao đẹp của văn chương tả thực hay sao?.
Với quan niệm văn chương nghệ thuât như vậy, Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tiến bộ, có sự đóng góp to lớn cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có thể coi là người đặt nền móng vững chắc cho thể loại phóng sự Việt Nam và không ngừng phát triển về tiểu thuyết .
Với tất cả những gì Vũ Trọng Phụng đóng góp cho văn học Việt Nam, ông xứng đáng là nhà văn tiêu biểu cho thế kỉ XX. Văn học là tiếng kêu khắc khoải của con người trước thực tế đời sống không bao giờ cảm thấy bằng lòng và thật sự không bao giờ hiểu hết.
Về mặt nghệ thuât, với ngòi bút đặc biệt tài năng, một bản lĩnh nghệ thuật kiên cường, Vũ Trọng Phụng đã tiếp bước cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Kế thừa và phát huy những thành tựu của thế hệ đi trước, bắt đầu từ Nguyễn Trọng Quản (Thầy Lazarô Phiền), Hồ Biểu Chánh với hàng loạt tiểu thuyết mang sắc thái Nam Bộ, Tản Đà với những tác phẩm vừa hiện thực vừa lãng mạn, đến Lê Hoằng Lưu, Bửu Đình, Hoàng Ngọc Phách, đây là thế hệ những người đi tiên phong tìm đường cho văn xuôi chữ quốc ngữ. Rồi đến Vũ Trọng Phụng – tác giả của Giông tố, Số đỏ …đã thật sự đưa tiểu thuyết Việt Nam lên một tầm cao mới, đáp ứng được quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà…
Rõ ràng trong những hoàn cảnh lịch sử xã hội khác nhau, thể loại, ngôn ngữ văn học cũng sẽ thay đổi cho phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc. Thời đại buộc các nhà văn, nhà thơ phải viết khác đi, không phải cứ giậm chân như thế mãi. Những truyện ngắn, tiểu thuyết những năm đầu thế kỷ XX của Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách,… sẽ khác xa với truyện ngắn, tiểu thuyết của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,… về mặt hình thức cũng như nội dung tư tưởng. Đó là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử. Bước đi của văn học không thể tách rời lịch sử.
Vì thế khi đọc – hiểu văn bản không phải chỉ căn cứ một cách đơn thuần vào thể loại mà giáo viên còn cần phải xác định : thể loại đó ở giai đoạn lịch sử văn học nào ? Trong giai đoạn đó có gì đặc sắc, nổi bật ?… Từ đó, xác định hướng tìm hiểu văn bản một cách đúng đắn, khách quan và có cơ sở khoa học.
Việc nhận định sai lầm hoặc chưa biết rõ về thể loại của văn bản sẽ dễ dàng dẫn đến việc chúng ta hiểu sai về chúng. Quả thật, đây là điều mà giáo viên đứng lớp hết sức quan tâm lưu ý khi truyền đạt các kiến thức cho học sinh.
2.2.2.5. Khai thác về vấn đề nhân vật
Theo thói quen, không ít giáo viên, khi phân tích tác phẩm văn xuôi thường hay chú ý phân tích hình tượng nhân vật (tác phẩm Chí Phèo phân tích nhân vật Chí, Bá Kiến ; Hai đứa trẻ phân tích nhân vật Liên hay chị em Liên An, Chữ nguời tử tù phân tích nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục,…). Thực tế mà nói, “nhân vật là nơi giải quyết hết thảy các vấn đề trong tác phẩm” (Tô Hoài). Học sinh phổ thông khi học xong tác phẩm mà phân tích được nhân vật chính thì cũng là đáng quý. Nhưng nếu khi nào chúng ta cũng bằng lòng như vậy thì việc dạy học đọc hiểu tác phẩm vốn đặc sắc phong phú trở nên nghèo nàn, đơn điệu, sơ lược. ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Cũng như việc khai thác các thuật ngữ, khái niệm, đề tài, ngôn ngữ, thể loại và một số các kiến thức khác. Người giáo viên đứng lớp nếu có phương pháp dạy tốt về tác phẩm (khai thác nhấn mạnh, khắc họa rõ nét sắc thái văn học sử) trong quá trình đọc hiểu văn bản. Từ việc phân tích hình tượng nhân vật, học sinh sẽ được mở rộng và nhớ ra những kiến thức liên quan về tác giả, thời kỳ, giai đoạn, phong cách sáng tác, quan điểm nghệ thuật,…
Đến với văn bản Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, từ hình tượng nhân vật Huấn Cao, ta lại thấy bóng dáng thấp thoáng của tác giả – một nghệ sĩ suốt đời, đi tìm và ca ngợi cái đẹp. Trong tác phẩm vẻ đẹp của Huấn Cao thể hiện ở nét tính cách tài hoa, khí phách và tâm cao thượng trong sáng. Huấn Cao không chỉ là người có tài mà còn có tâm, có “thiên lương” cao đẹp. Huấn Cao không chỉ có thái độ hiên ngang, bất khuất, không sợ chết, coi khinh tiền bạc mà còn có tấm lòng yêu quý cái thiện, cảm động trước “thiên lương” của viên quản ngục (sẵn lòng cho chữ khi hiểu rõ thiện căn và sở thích cao quý của ông ta) ; biết sợ cái việc thiếu chút nữa mình “phụ mất tấm lòng trong thiên hạ”. Đó là hai mặt thống nhất trong một nhân cách lớn.
Cảm nhận vẻ đẹp của Huấn Cao, chúng ta hiều hơn quan điểm nghệ thuật tiến bộ của ông. Đó là cái tài phải đi đôi với cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau. Đồng thời, cũng ở hình tượng nhân vật Huấn Cao, ta dễ dàng nhận thấy quan niệm của Nguyễn Tuân về con người. Nhất là người có đức, có tài phải giúp nước, đem hết nhiệt tâm của mình để cho đất nước được tự do, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Con người phải biết trân trọng những vẻ đẹp về nhân cách, phẩm giá cũng như tâm hồn. Dù trong hoàn cảnh éo le nhưng vẫn luôn giữ được đức tính cao đẹp, anh dũng, kiên cường, bất khuất. Dù thế nào đi nữa vẫn phải giữ đúng truyền thống của dân tộc…
Với tác phẩm Chí Phèo, từ hình tượng nhân vật Chí mà nhớ ra biết bao số phận người nông dân khác trước Cách mạng tháng Tám 1945 – những số phận hẩm hiu bị áp bức nhiều nhất. Họ càng nhịn nhục, hiền lành thì càng bị chà đạp phũ phàng. Nam Cao đặc biệt đi sâu vào những trường hợp con người bị lăng nhục một cách độc ác, bất công, mà xét đến cùng chẳng qua chỉ vì họ nghèo đói, khốn khổ. Ông bênh vực quyền sống và nhân phẩm của những con người bất hạnh bị xã hội đẩy vào tình cảnh nhục nhã. Bênh cạnh Chí Phèo còn có những Binh Chức, Năm Thọ,…cũng cùng chịu chung số phận như vậy. Chí Phèo chỉ là một hiện tượng mang tính điển hình cho thời đại mà nhà văn muốn thể hiện khi sống dưới chế độ thực dân phong kiến, người nông dân phải chịu một cổ hai tròng (từ khi sinh ra, đi ở tù cho đến lúc chết)…
Nếu như ở Lão Hạc, nhà văn đặt nhân vật vào một tình huống cùng quẫn, buộc phải lựa chọn giữa sinh tồn và nhân cách ; lão Hạc cuối cùng đã lựa chọn cái chết để giữ gìn nhân cách làm cha thì ở Chí Phèo, nhà văn đặt nhân vật vào một tình huống cùng quẫn khác. Sự tiếp nối giữa hai trạng thái tinh thần say và tỉnh, giữa hai chặng của bi kịch số phận : bị tha hoá và bị từ chối quyền làm người ở hình tượng Chí là một chuỗi tình huống cho thấy cái hiện thực thảm khốc của đời sống nông dân nghèo trong xã hội làng Vũ Đại ngày ấy. Như vậy, nếu lão Hạc chấp nhận sự bần cùng và dùng cái chết để giữ lấy phần sống cho con, cùng tư cách làm người của mình, thì Chí Phèo lại bằng sự thức tỉnh nhân tính và bằng cái chết của mình đã cho ta thấy cái giá của nhân cách và lương thiện quí và đắt đến mức nào.
Liên hệ truyện ngắn Tắt đèn – Ngô Tất Tố, chị Dậu vì xuất sưu của chồng và em chồng mà chồng chị bị đánh, bị trói, con chị bị bán, bản thân đi ở vú lại còn chịu bao nỗi tủi nhục đế cuối tác phẩm, tiền đồ vẫn cứ “tối đen như mực”.
Số phận của Chí Phèo, lão Hạc, chị Dậu,…là những số phận điển hình cho tầng lớp nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Hay như dạy đọc hiểu văn bản nước ngoài Người trong bao của Sêkhốp, thông qua hình tượng nhân vật Bêlicốp để hiểu hơn những vấn đề mà nhà văn muốn đặt ra trong xã hội nước Nga bấy giờ. Xã hội đang ngạt thở trong bầu không khí chuyên chế nặng nề cuối thế kỷ XIX. Môi trường xã hội ấy đã đẻ ra lắm kiểu người kỳ quái như vậy. Người trong bao không chỉ cảnh báo tầng lớp trí thức Nga mà còn dành cho nhiều tầng lớp khác trong xã hội. Tác phẩm không chỉ phê phán báo động về thực tại đương thời nước Nga mà còn báo động về một châu Âu bảo thủ, trì trệ, tự mãn với cái đã lỗi thời, lạc hậu…
Nhìn chung, việc khai thác nhân vật trong tác phẩm, nếu nhấn mạnh yếu tố văn học sử sẽ cho người đọc thấy được bóng dáng tác giả, quan điểm nghệ thuật cũng như hoàn cảnh, thời đại…
Tóm lại, để khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc hiểu văn bản văn học cụ thể, trước tiên chúng ta phải xác định các yếu tố văn học sử tiêu biểu cần được khai thác trong mỗi văn bản. Bên cạnh đó, chúng ta phải tạo cho học sinh ghi nhớ các kiến thức văn học sử đã học để vận dụng vào quá trình đọc hiểu văn bản. Đồng thời, trong quá trình khai thác các kiến thức ấy, đòi hỏi phải biết giải thích, phân tích, so sánh, đối chiếu, liên tưởng, mở rộng,…các nội dung đề cập liên quan cả ở giai đoạn trước và sau để nhận biết sự đổi mới, đặc điểm khác biệt của từng tác giả, giai đoạn văn học, đồng thời thấy rõ từng bước đi, nhịp đập của lịch sử văn học dân tộc xuyên suốt trong từng chặng đường phát triển. Và hơn hết là làm sáng tỏ những giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản được khai thác trong chương trình…
2.3 Hiệu quả, tác dụng của phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học ( Luận văn: Thực trạng giảng dạy kiến thức văn học sử THPT )
Với việc vận dụng, khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản cụ thể sẽ giúp học sinh củng cố, ghi nhớ và khắc sâu các kiến thức trong các bài học văn học sử đã học trước đó một cách có hệ thống. Các em sẽ ý thức được quá trình vận động phát triển không ngừng của lịch sử văn học dân tộc trong mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển. Ra đời và phát triển trong những điều kiện lịch sử xã hội rất đặc biệt, dân tộc ta đã tìm ra con đường đi thích hợp để sinh tồn, phát triển theo những quy luật riêng để dân tộc hoá, dân chủ hoá, hiện đại hoá và thành công một cách đẹp đẽ.
Mỗi tác phẩm được học sẽ mang những đặc trưng tiêu biểu cho từng thời kỳ văn học nên công việc khai thác các kiến thức văn học sử ở đây là để minh hoạ cho những nội dung trong phần bài khái quát đã nêu ra có thật phù hợp, khoa học hay còn có những điều cần thảo luận, chỉnh sửa. Kiến thức văn học sử luôn luôn được lĩnh hội như một sự kết hợp giữa nhận định khái quát và tư liệu minh hoạ khả năng khái quát. Yêu cầu minh hoạ của văn học sử là chọn những dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu và toàn diện.
Bên cạnh đó, khai thác các kiến thức văn học sử còn giúp học sinh có nhiều khả năng rèn luyện kỹ năng tư duy : phân tích – tổng hợp, so sánh, liên tưởng, đối chiếu, cụ thể hoá, khái quát hoá, ghi nhớ và suy luận,…Tập cho các em tìm hiểu, phân tích những sự kiện của thời đại làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá các sự kiện văn học.
- Kết luận :
Giai đoạn văn học từ đầu thế kỷ XX – 1945 là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ với nhiều tên tuổi tác giả nổi tiếng, nhiều tác phẩm có giá trị. Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, văn học trong giai đoạn này cũng có những bước chuyển mình đáng kể và luôn gắn liền với sự đổi thay của thời đại. Điều này thật đúng với ý kiến của một nhà nghiên cứu Trung Quốc – Tào Đạo Hoành : “Lịch sử văn học là một bộ phận, một khía cạnh của lịch sử xã hội. Quá trình phát triển của lịch sử văn học có mối liên hệ gắn chặt không thể tách rời với toàn bộ lịch sử xã hội”…Chính vì thế, khi đọc – hiểu văn bản chúng ta cần chú ý đến sự vận động phát triển của văn học trong từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau để thấy từng bước đi, nhịp đâp của lịch sử. Và hơn hết là để chỉ cho học sinh nhận thức rõ các giá trị của các kiến thức văn học sử hiện diện trong các văn bản được lựa chọn để học có gì đặc sắc, tiêu biểu cần phải khai thác…
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
