Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT, dưới đây là một hiện tượng thực tế được tác giả áp dụng ngay trong bài luận văn thạc sĩ của mình. Hiện nay, một số giáo viên thường có xu hướng coi trọng phần đọc – hiểu văn bản mà xem nhẹ hoặc bỏ qua các bài khái quát, các phần mục tìm hiểu tác giả, tác phẩm, hoặc những kiến thức đó nếu có thì cũng chỉ được nhắc đến một cách qua loa, sơ sài, không liên hệ với phần văn bản và cũng không phục vụ cho việc đọc – hiểu văn bản. Dưới đây là bản đầy đủ của Đề tài: Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học lớp 11 luận văn Thạc sĩ.
3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm
3.1.1 Mục đích thực nghiệm
Khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc hiểu văn bản văn học ở trường phổ thông là một việc làm cần thiết nhằm củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học, đồng thời thấy được sự vận động phát triển của lịch sử văn học dân tộc, đồng thời giúp cho việc đọc – hiểu văn bản đựơc định hướng chính xác hơn…Tuy nhiên việc vận dụng những kiến thức ấy vào quá trình giảng dạy các văn bản cụ thể có đảm bảo tính khả thi và hiệu quả hay không là điều mà người viết muốn kiểm nghiệm qua thực tế.
Trong quá trình thực nghiệm vận dụng phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc hiểu văn bản văn học cụ thể, nguời viết có điều kiện một lần nữa thẩm định lại tính đúng đắn, khả năng ứng dụng cũng như mức độ khả thi của đề tài… Chính vì vậy, viêc thực nghiệm không chỉ có ý nghĩa đối với người viết trong quá trình thực hiện đề tài mà còn mang ý nghĩa phương pháp luận đánh giá khả năng ứng dụng của phương pháp khai thác đã nêu. Trong quá trình giảng dạy ở nhà trường phổ thông.
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
- Về chọn địa bàn và học sinh thực nghiệm
- Người viết chọn học sinh của hai trường THPT thuộc hai địa bàn khác nhau
- – Trường THPT DL An Đông – Quận 5 – TPHCM
- – Trường THPT Chu Văn An – Phan Rang Tháp Chàm – Ninh Thuận
Chọn hai trường trên là chọn thực nghiệm trên nhiều đối tượng học sinh ở hai môi trường khác nhau. Đây là những địa bàn mà học sinh có sự chênh lệch về vốn sống, trình độ văn hoá, tâm lý nhận thức, khả năng tư duy và điều kiện học tập,…
Vì chọn thực nghiệm trên những đối tượng học sinh ở hai môi trường khác nhau nên kết quả nhận thức, tiếp thu, giải quyết vấn đề của học sinh cũng khác nhau. Điều này tạo cơ sở để đánh giá tính khả thi, khả năng vận dụng của phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc hiểu văn bản văn học và cho phép rút ra được những kinh nghiệm, nhận xét khách quan.
- Về chọn bài thực nghiệm
Người viết chọn một văn bản thơ nằm trong học kỳ II : Văn bản Hầu Trời của Tản Đà
3.2 Thời gian và tổ chức thực nghiệm
3.2.1 Thời gian thực nghiệm
Thời gian thực nghiệm bắt đầu học kỳ II ở 2 trường THPT nói trên
3.2.2 Tổ chức thực nghiệm
Sau khi liên hệ với hai trường, chúng tôi xây dựng kế hoạch thực nghiệm như sau :
- Người viết luận văn trực tiếp đứng lớp giảng dạy thực nghiệm văn bản đã chọn có dự giờ góp ý của tổ trưởng bộ môn mỗi trường.
- Ở mỗi trường THPT tiến hành thực nghiệm trên hai lớp. Như vậy tổng số lớp sẽ dạy thực nghiệm ở hai trường là bốn lớp, gồm khoảng trên 180 học sinh tham
- Sau tiết dạy thực nghiệm học sinh được kiểm tra trắc nghiệm kiến thức của tiết học. Và để kết quả được khách qua, chính xác hơn, trắc nghiệm này cũng sẽ được tiến hành kiểm tra ở một số lớp không thực nghiệm phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử. Chúng tôi sẽ thu thập, xử lý và đối chiếu kết quả để đánh giá.
- Kết quả thực nghiệm được đánh giá trên cơ sở bài thu hoạch của học sinh và những ý kiến nhận xét, góp ý của giáo viên trong tổ bộ môn của hai trường thực nghiệm.
- Công việc thực nghiệm đuợc tiến hành bắt đầu từ cuối tháng 12, sau khi học sinh thi kết thúc học kỳ Tác phẩm thực nghiệm được dạy ở hai lớp khác nhau của mỗi trường. Các lớp không lựa chọn dạy còn lại ở mỗi trường sẽ làm lớp đối chứng. Nhờ đó, việc đánh giá kiến thức giờ dạy sẽ chính xác và khách quan hơn.
3.3 Giáo án thực nghiệm ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
3.3.1 Yêu cầu chuẩn bị
- Đối với giáo viên
Để tiến hành một giờ dạy văn bản văn học nói chung, giờ dạy văn bản thơ theo phương pháp khai thác nhấn mạnh kiến thức văn học sử nói riêng, người giáo viên phải có một quá trình chuẩn bị công phu, bao gồm hai việc chính : tìm hiểu tác phẩm và soạn giáo án.
Tìm hiểu tác phẩm
Bao gồm các việc sau:
- Tìm hiểu những tư liệu lịch sử – xã hội liên quan đến việc khai thác các kiến thức cần triển khai.
- Tìm đọc những bài viết của những nhà nghiên cứu, phê bình,… có liên quan đến văn bản.
- Tìm hiểu những văn bản cùng thể hiện nội dung cần đề cập của chính tác giả và của các nhà thơ khác.
- Xác định mục đích, yêu cầu và hướng phân tích.
Soạn giáo án
Điều quan trọng nhất đối với giáo viên trước giờ lên lớp là công việc soạn giáo án. Nếu không có giáo án hoặc giáo án có nhưng chuẩn bị sơ sài, giáo viên sẽ lúng túng trong giờ dạy. Giáo án bao giờ cũng thể hiện một cách cụ thể quan điểm dạy học, phương pháp lên lớp, cấu tạo giờ dạy, nội dung kiến thức cần truyền đạt. Một giáo án theo tinh thần đổi mới hiện nay là một giáo án trong đó có sự kết hợp hữu cơ giữa giáo viên và học sinh trên lớp ; sự vận dụng nhuần nhuyễn, hài hoà các phương pháp, biện pháp tiến hành… để từ đó dẫn dắt học sinh tìm tòi, khám phá, hình thành các đơn vị kiến thức của bài.
- Đối với học sinh
Chủ thể học sinh chiếm một vai trò quan trọng trong tiến trình dạy học, cho dù sự chuẩn bị của giáo viên có công phu đến đâu mà học sinh không chuẩn bị thì ý tưởng của giáo viên (mục đích, yêu cầu đặt ra trong bài) khó thành hiện thực. Do vậy, giáo viên phải hướng dẫn học sinh soạn bài trước ở nhà cho tiết học sắp tới thông qua câu hỏi gợi ý của giáo viên và một số câu hỏi hướng dẫn học bài trong SGK. Đây là bước đầu tiên giúp học sinh thâm nhập tác phẩm, chuẩn bị tham gia phân tích và tiếp thu bài giảng trên lớp. Trong quá trình soạn bài, học sinh phải đọc tác phẩm một cách nghiêm túc, tìm hiểu và nắm một số từ ngữ, câu văn cần thiết, trả lời các câu hỏi trong SGK và các câu hỏi do giáo viên yêu cầu thêm. Qua sự chuẩn bị này, học sinh sẽ nắm được một phần nội dung của tác phẩm. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho học sinh khi tham gia phân tích tác phẩm dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. Soạn bài kỹ là điều kiện giúp học sinh tìm hiểu những giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm một cách tốt hơn.
Hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà là điều quan trọng và cần thiết. Nó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy và học, học sinh hiểu bài, nắm vững kiến thức, giáo viên hứng thú say ê, tạo không khí lớp học sinh động, sôi nổi,…và kết quả giờ học sẽ đạt chất lượng cao như mong muốn.
Có thể bạn quan tâm:
3.3.2 Giáo án ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
Dựa vào những lý thuyết của phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử, những yêu cầu đặt ra cũng như cách thức vận dụng chúng vào quá trình đọc hiểu văn bản đã trình bày ở phần trên, thông qua quá trình chuẩn bị tìm hiểu các văn bản trong SGK Ngữ văn 11, người viết chọn văn bản Hầu Trời của Tản Đà để minh hoạ.
Dưới đây là giáo án giảng dạy văn bản Hầu Trời được tiến hành theo cách thức vận dụng khai thác các kiến thức văn học sử, đồng thời cùng kết hợp với một số cách thức (phương pháp) khai thác các kiến thức khác. Đây cũng là giáo án đã được tiến hành giảng dạy thực nghiệm tại trường THPT.
Bài: CHẦU TRỜI – Tản Đà
Mục tiêu cần đạt :
- Học sinh cảm nhận được tâm hồn lãng mạn, độc đáo của thi sĩ Tản Đà (tư tưởng thoát li, ý thức về “cái tôi”, cá tính “ngông”) và những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại của thơ ca Việt Nam vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX (về thể thơ, cảm hứng, tư tưởng).
- Học sinh thấy được giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của thơ Tản Đà trong bước đầu đổi mới thơ ca theo hướng hiện đại.
- Học sinh biết nhận thức bản thân với tư cách chủ thể giữa cõi nhân gian này.
Phương tiện thực hiện :
- Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 11, tập
- Sách thiết kế Ngữ văn 11, tập
- Tài liệu tham khảo :
+ Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Giáo dục, 2000.
+ Tuyển tập Tản Đà, NXB Văn học, Hà Nội, 1986. (Lời giới thiệu của Xuân Diệu)…
Cách thức tiến hành :
Tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp các hình thức : trả lời các câu hỏi, trao đổi, thảo luận theo nhóm…
Tiến trình dạy học :
- Kiểm tra bài cũ : Bài Nghĩa của câu
- Bài mới : Giáo viên có thể giới thiệu về bài thơ Hầu Trời vài nét để gợi cảm hứng cho học ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
Thơ Tản Đà thường hay nói về cảnh trời. Điều đó đã trở thành môtíp nghệ thuật có tính truyền thống trong thơ ông. Ông tự coi mình là một trích tiên, tức là vị tiên trên trời bị đày xuống hạ giới vì tội “ngông”. Có lúc chán đời ông Muốn làm thằng cuội để cùng với chị Hằng “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Có lúc mơ màng ông muốn theo gót Lưu Thần, Nguyễn Triệu Lạc bước vào chốn Thiên thai. Táo bạo hơn, ông còn mơ thấy mình được lên Thiên đình, hội ngộ với những mỹ nhân cổ kim như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Quý Phi ; cùng đàm đạo chuyện văn chương, thế sự với các bậc tiền bối như Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương,…. Ông còn viết thư hỏi Giời và bị Giời mắng…bài Hầu Trời là một khoảnh khắc trong cả chuỗi cảm hứng lãng mạn đó.
– Sau khi đọc xong, cho HS tóm tắt câu chuyện. Đại ý nội dung câu chuyện như sau:
Bài thơ có cấu tứ là một câu chuyện nhỏ. Đó là chuyện thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, Tản Đà lên hầu Trời, đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.Trời và chư tiên tấm tắc khen hay và hỏi chuyện. Tác giả đã đem những chi tiết rất thực về thơ và chuyện cuộc đời mình, đặc biệt là cảnh nghèo khó của người sáng tác văn chương hạ giới kể cho Trời nghe. Trời cảm động, thấu hiểu tình cảnh, nỗi lòng thi sĩ.
– Để hiểu hơn về nội dung thơ văn của Tản Đà, chúng ta đi vào tìm hiểu phần đọc – hiểu văn bản. Cho 1 HS đọc lại khổ thơ thứ nhất và trả lời những câu hỏi:
Câu chuyện xảy ra vào lúc nào ? Và nói về việc gì ?
- Đọc, giải thích tù khó
(Đọc phần chữ to của văn bản và phần chú thích)/ trang 13 → 16)
- Tóm tắt :
(HS tự tóm tắt vào vở)
- Đọc – hiểu văn bản
1.Giới thiệu câu chuyện ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
– Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (Đêm qua chẳng biết có hay không)
🠖 gợi khoảnh khắc yên tĩnh, vắng lặng hiện cái tôi kiểu này…
– Để hiểu hơn về cái tôi cá nhân của nhà thơ, chúng ta đi vào tìm hiểu đoạn thơ thứ 2.
– Goi HS đọc lại đoạn 2, sau đó cho biết:
- Thái độ của thi nhân khi đọc thơ như thế nào ?
-Yêu cầu HS tìm dẫn chứng trong SGK
Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lí lại văn chơi Đương cơn đắc chí đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.
Hai quyển Khối tình văn thuyết lí Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Qua đó, em có nhận xét gì về giọng đọc của tác giả ? Và sự thể hiện cái tôi cá nhân ở đây ?
Thi nhân rất ý thức về tài năng thơ văn của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể.
2.Thi nhân đọc thơ cho Trời và Chư tiên nghe ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
- Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình
- Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc
- Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình:
- Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh, có phần tự đắc…
🠖 Cái tôi cá nhân ý thức về tài
Ông cũng rất “ngông” khi tìm đến tận trời để khẳng định tài năng thơ văn của mình trước Ngọc hoàng Thượng đế và chư tiên. Cái ngông trong văn chương thường biểu hiện thái độ phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách, tâm hồn, không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, sự đơn điêụ, nên thường tự đề cao phóng đại cá tính của mình. Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ.
- Khai thác kiến thức văn học sử. Ở đây ta có thể yêu cầu HS liên hệ, so sánh với tác giả Cao Bá Quát, Nguyễn công Trứ, Trần Tế Xương,… khi nói về cái tôi ngông nghênh, kiêu bạt, hào hoa.
Cái “ngông” của Tản Đà có sự gặp gỡ với cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ (Bài ca ngất ngưởng), của Cao Bá Quát (Sa hành đoản ca). Đặc biệt, cái “ngông” của Tản Đà gặp lại khá nhiều so với Nguyễn Công Trứ, cũng là một ý thức rất cao về tài năng bản thân dám nói tự nhiên với các đối tượng như Trời, Tiên, Bụt ; dám phô bày toàn bộ con người vươn trên cả thiên hạ, như khiêu khích cả thiên hạ. Tuy nhiên, ta vẫn nhận ra những điểm khác : “ngông” của Tản Đà vuợt ra khỏi năng thơ văn của mình (Liên hệ Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương,…) cái bó buộc mình với trách nhiệm vua tôi, vấn đề này dường như không còn là chuyện hệ trọng nữa, mặc dù không phải như thế là sống vô trách nhiệm với xã hội. Cái tài mà nhà thơ muốn khoe không phải là chuyện trị nước bình thiên hạ mà là cái tài văn chương.
Thái độ của người nghe thơ (Trời và Chư tiên) ra sao ?
–Thái độ của Trời: khen: Trời nghe, trời cũng lấy làm hay, tán thưởng: Trời nghe trời cũng bật buồn cười”,khẳng định cái tài của người đọc thơ: Trời lại phê cho văn thật tuyệt/ Văn trần như thế chắc có ít
–Thái độ của chư tiên:
Tâm như nở dạ, cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chúc nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng Đọc xong một bài cùng vỗ tay” “Nở dạ”: mở mang nhận thức được nhiều cái hay.
“Lè lưỡi”: văn hay làm người nghe đến bất ngờ! “Chau đôi mày” văn hay làm người nghe phải suy nghĩ tưởng tượng. Lắng tai đứng: đứng ngây ra để nghe. Tác giả viết tiếp hai câu thơ:
Thái độ của người nghe thơ ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
Thái độ của Trời: khen, tán thưởng và khẳng định tài năng của người đọc thơ.
– Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng.
Kể về cuộc sống:
Cảnh ngèo khó / Trần gian thước đất cũng không có / Văn chương hạ giới rẻ như bèo / Kiếm được đồng lãi thực rất khó / Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều / Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu….
– Khai thác kiến thức văn học sử:
( Liên hệ cuộc đời của nhà văn Nam Cao và cuộc đời thật của Tản Đà)
Từ cách kể chuyện trên, ta thấy được quan niệm tiến bộ, mới mẻ của tác giả về nghề văn lúc bấy giờ:
– Qua đó, GV có thể nói thêm quan niệm của Tản Đà về nghề văn:
🠖 Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội bấy giờ – một cuộc sống cơ cực, tủi hổ, không tấc đất cắm dùi, thân phận rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn
🠖 Tác giả cho người đọc thấy một bức tranh rất chân thực và cảm động về chính cuộc sống của mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác.
🢣 Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này.thêm về cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực xuất hiện trong văn học đầu thế kỷ XX so với giai đoạn trước – thời kỳ văn học trung đại và giai đoạn văn học 30 – 45 sau này được thể hiện như thế nào? (nếu có thời gian)
Văn học trung đại, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực chưa thành trào lưu, xu hướng. Trong văn học giai đoạn giao thời (1900 -1930) đã xuất hiện những tác phẩm có tính chất lãng mạn. Đó là Khối tình con của Tản Đà, Giọt lệ thu của Tương Phố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách,…Nhưng phải đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX, hoàn cảnh văn hoá xã hội ở Việt Nam mới đầy đủ những điều kiện chín muồi để chủ nghĩa lãng mạn ra đời. Và phải đến năm 1932, chủ nghĩa lãng mạn mới thục sự xuất hiện trong văn học Việt Nam với những tên tuổi như Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Nguyễn Tuân,…
*Tiểu kết:
- Cái tôi cá nhân biểu hiện trong bài thơ:
+ Hư cấu chuyện hầu Trời để giãi bày cảm xúc cá phóng khoáng+Tự ý thức, không có ai đáng là kẻ tri âm với mình ngoài trời và các chư tiên! Những áng văn của mình chỉ có trời mới hiểu và phê bình được.
+Tự xem mình là một “Trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông!
+Nhận mình là người nhà trời, trời sai xuống để thi hành nhiệm vụ “thiên lương”
Nghệ thuật:
Lối kể dân giã, giọng điệu khôi hài
+ Có nhiều câu chuyện về người trần gặp tiên, nhưng Hầu Trời vẫn có cái mới, cái lạ cuốn hút người đọc, câu chuyện trời nghe thơ!
+ Nhân vật trữ tình với trời và các chư tiên, có quan hệ thân mật. (Chư tiên gọi nhà thơ bằng anh! )
+ Người trời biểu hiện cảm xúc như con người: lè lưỡi, chau đôi mày, lắng tai đứng, vỗ tay, bật buồn cười, tranh nhau dặn…
Cách dùng từ có nhiều thú vị: Từ dùng nôm na như văn nói, phù hợp với sự hư cấu của nhà thơ.
Mời bạn tham khảo thêm:
3. Nghệ thuật ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
– Ngôn ngữ thơ tinh tế chọn lọc, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ, dân giã, giọng điệu khôi hài.
- Cách dùng từ có nhiều thú vị, gần với phong cách sinh hoạt.
- Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.
- Thể thơ thất ngôn trường thiên
Củng cố kiến thức
- Cái “ngông”: thể hiện ý thức cao về tài năng của bản thân, nhất là tài năng về văn chương. Cái “ngông” này góp phần làm nên cái mới, cái hay của bài thơ.
- Tính chất giao thời trong nghệ thuật thơ Tản Đà, tính chất bình dân trong lối kể chuyện; giọng điệu khôi hài; cách dùng từ để làm nổi bật cái tôi tài hoa
– Những nét mới về thi pháp so với thơ ca trung đại.
*Luyện tập
So sánh thái độ “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ và cái “ngông” của Tản Đà.
– Giống nhau:
+ Cả hai tác giả đều ý thức rất cao về tài năng bản thân, coi mình vượt lên trên thiên hạ. Phô bày toàn bộ con người mình trước mặt thiên hạ, như muốn giỡn mặt : thiên hạ. “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” – Nguyễn Công Trứ; “Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống”- Tản Đà.
+ Coi trời, tiên, bụt như con người nên có cách nói giao tiếp như con người.
– Khác nhau:
+ Cái “ngông”của Tản Đà tự do, phóng túng hơn, không vướng bận về “nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung” như Nguyễn Công Trứ.
+ Tản Đà khẳng định cái tài thuộc lĩnh vực văn chương ; Nguyễn Công Trứ muốn “ngất ngưởng” vượt lên trên thiên hạ, muốn hoà mình vào triết lí vô vi trong cách sống coi thường danh lợi, được, mất, khen, chê trong cuộc đời…
* Dặn dò
- Nắm vững, hiểu rõ kiến thức trọng tâm bài học.
- Xem thêm phần luyện tập
- Soạn bài tiếp theo : Nghĩa của câu
3.4 Xử lý kết quả thực nghiệm ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
Bảng 1 : Kết quả kiểm tra bài Hầu Trời – Tản Đà (lớp thực nghiệm)
|
Trường |
Lớp |
Số
bài KT |
Xếp loại | ||||||||||
| G(9- 10) | K (7 – 8) | TB (5 -6) | Y (3 – 4) | K (1 – 2) | |||||||||
| SL | % | SL | % | SL | % | SL | % | SL | % | ||||
| THPT.DL
AN ĐÔNG |
T N |
11A1 | 43 | 3 | 6.9 | 11 | 25.6 | 24 | 55.8 | 4 | 9.3 | 1 | 2.3 |
| 11A2 | 46 | 2 | 4.3 | 17 | 36.9 | 30 | 65.2 | 5 | 10.9 | 2 | 4.3 | ||
| THPT CHU VĂNAN | 11A5 | 48 | 5 | 10.4 | 25 | 52.1 | 16 | 33.3 | 2 | 4.2 | 0 | 0 | |
| 11A6 | 46 | 3 | 6.5 | 22 | 47.8 | 16 | 34.8 | 3 | 6.5 | 2 | 4.3 | ||
3.5 Kết luận chung về thực nghiệm
Kết quả thực nghiệm là căn cứ quan trọng để đánh giá khả năng ứng dụng của đề tài. Do đó việc thực nghệm và đánh giá kết quả thực nghiệm là rất quan trọng. Để đánh giá tính khả thi của đề tài chúng tôi dựa vào việc nhận xét đánh giá kết quả bài kiểm tra của học sinh và việc nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm của giáo viên về giờ dạy thực nghiệm.
Thực nghiệm chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, số lượng có hạn,…cho nên kết luận chưa thể phản ánh hết những đặc điểm, tính chất, nội dung của việc dạy học văn hiện nay.
Chúng tôi không coi trọng thực nghiệm là cơ sở duy nhất để khẳng định tính ưu việt, khả thi của giáo án thực nghiệm nhưng là cơ sở để tham khảo.
Giáo án này sẽ còn phụ thuộc vào năng lực sư phạm của giáo viên cũng như đối tượng học sinh và các phương tiện, môi trường dạy học cụ thể…
3.5.1 Đánh giá từ kết quả kiểm tra kiến thức của học sinh
Nhìn vào 3 bảng so sánh kết quả kiểm tra của học sinh lớp dạy thực nghiệm và lớp đối chứng, ta thấy kết quả bài thực nghiệm hơn hẳn bài đối chứng. Tỉ lệ bài đạt khá giỏi cao hơn 11.1% và tỉ lệ bài yếu kém thấp hơn 9.2%. Với kết quả này, phần nào chứng tỏ giờ dạy học văn bản văn học có vận dụng việc khai thác các kiến thức văn học sử cho kết quả khả quan hơn, góp phần làm cho giờ dạy đạt hiệu quả, chất lượng. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
3.5.2 Đánh giá từ những nhận xét, góp ý của giáo viên về giờ dạy thực nghiệm
- Về phía người dạy :
Người dạy có sự đầu tư, liên hệ, mở rộng các kiến thức cho bài giảng, đã biết dựa trên cơ sở nội dung, mục đích, yêu cầu của tài liệu giảng dạy và đặc điểm của từng đối tượng học sinh để lựa chọn và vận dụng việc khai thác các kiến thức văn học sử trong quá trình tìm hiểu văn bản cụ thể.
Quá trình khai thác các kiến thức văn học sử cùng với việc phối hợp khai thác một số kiến thức khác trong đọc hiểu văn bản có tác dụng tích cực trong vệc giúp học sinh củng cố, khắc sâu các kiến thức văn học sử đã học và hiểu hơn về lịch sử văn học dân tộc trong từng thời kỳ, giai đoạn phát triển.
Giáo viên biết lựa chọn các vấn đề khai thác phù hợp với nội dung kiến thức bài giảng…Biết cách dẫn dắt học sinh vận dụng khai thác các yếu tố văn học sử để hiểu hơn giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản đựơc học.
- Về phía người học :
Do hạn chế thời gian trên lớp nên phần vận dụng khai thác các kiến thức văn học sử ở học sinh có hạn chế, chủ yếu do giáo viên diễn giảng, liên hệ. mở rộng vấn đề. Học sinh có tích cực tham gia vào bài giảng nhưng các em chưa được tranh luận, trình bày những suy nghĩ của mình một cách sôi nổi, quyết liệt.
Trong quá trình tiếp nhận kiến thức một số học sinh ban đầu còn tỏ ra lúng túng (nhất là khi cho các em thảo luận) nhưng sau đó tỏ ra quen dần. Một số thích thú với kiến thức được giáo viên liên hệ, so sánh, mở rộng.
Với những điều đã đạt được có thể khẳng định tính khả thi, khách quan và khả năng vận dụng khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc hiểu văn bản văn học ở trường THPT là việc làm tích cực, hiệu quả.
KẾT LUẬN
Bên cạnh các kiến thức khác, văn học sử là một trong những kiến thức đáng để chúng ta quan tâm, tìm hiểu trong quá trình giảng dạy văn bản văn học ở trường phổ thông. Những tri thức về lịch sử văn học giúp cho học sinh hiểu quá trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc…Những tri thức văn học sử ở PTCS mới ở mức độ sơ giản, chưa phải nhất loạt sắp xếp theo trình tự lịch sử, chỉ sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với trình độ nhận thức của học Ở PTCS chưa có giờ riêng về tri thức văn học sử. Các tri thức này chỉ được khái quát qua bài ôn tập về văn học sử ở từng giai đoạn. Chương trình văn học sử ở PTTH có nhiệm vụ nâng cao, hệ thống hóa kiến thức văn học sử ở PTCS lên một bước. Chính vì vậy, việc khai thác các kiến thức văn học sử ở bậc THPT cần được chú trọng hơn nhằm góp phần nâng cao, phát triển và hoàn thiện tri thức ở học sinh. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học thực ra chỉ là cách thức vận dụng các kiến thức văn học sử đã và đang học vào quá trình phân tích tác phẩm văn học một cách có hiệu quả, chất lượng.
Bản chất của quá trình phân tích tác phẩm văn chương là cảm thụ tác phẩm, tức là tự mình khám phá, ngẫm nghĩ để thắm thía cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Thông qua các giờ dạy học tác phẩm văn học, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh cách làm một bài văn nghị luận, cách liên tưởng, so sánh, mở rộng vấn đề và rèn luyện khả năng tư duy, khả năng vận dụng các kiến thức,…
Từ những yêu cầu về phương pháp dạy học văn, ta thấy việc khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học là một cách thức khai thác hữu hiệu, phù hợp với yêu cầu đổi mới sách giáo khoa hiện nay cũng như sự đổi mới về phương pháp tiếp nhận văn bản.
Thực tế cho thấy, khi giảng dạy các tác phẩm văn học có nhấn mạnh, khắc sâu các kiến thức văn học sử, giáo viên dễ dàng định hướng, dẫn dắt học sinh tìm tòi, khám phá các giá trị nội dung, nghệ thuật cũng như quan điểm nghệ thuật, phong cách sáng tạo của mỗi tác giả trong từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau.
Khi vận dụng khai thác các kiến thức văn học sử vào quá trình dạy học một văn bản văn học lớp 11, trước hết giáo viên phải nắm thật vững nội dung các kiến thức văn học sử đã giảng dạy trước đó trong các phần bài khái quát về từng thời kỳ, giai đoạn, từng tác giả, tác phẩm, đặc biệt là các thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa, luận điểm đến các đề tài, thể loại, ngôn ngữ, quan điểm nghệ thuật,…tiêu biểu nổi bật. Khi tiến hành đọc – hiểu các văn bản cụ thể, thông qua lời giảng, các câu hỏi, sự gợi ý,…giáo viên sẽ định hướng, dẫn dắt học sinh khai thác từng kiến thức có trong mỗi bài (không nhất thiết phải khai thác hết tất cả các kiến thức văn học sử vì ở mỗi bài luợng kiến thức này không hoàn toàn giống nhau). Tùy vào mỗi văn bản mà giáo viên sẽ cân nhắc để lí giải, phân tích, so sánh, liên hệ, mở rộng các kiến thức văn học sử cho phù hợp.
Qua thực tế giảng dạy, nhất là các giờ dạy thực nghiệm gần đây, nếu chúng ta chú ý khắc sâu các kiến thức văn học sử trong quá trình đọc – hiểu văn bản một cách tích cực sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy (thông qua số liệu thực tế từ kết quả thực nghiệm). Tuy nhiên, ở nhà trường phổ thông đây không phải là kiến thức duy nhất, chủ yếu mà bênh cạnh nó còn có nhiều kiến thức khác cũng cần phối hợp khai thác.
Thật ra, đa số các giáo viên giảng dạy chưa được cung cấp một phương pháp khai thác kiến thức văn học sử phù hợp nên việc khai thác các kiến thức ấy ở nhà trường phổ thông chưa thật sự phổ biến rộng rãi và quan tâm đúng mực. Quả lại, thực tế giảng dạy còn nhiều khó khăn và hạn chế là điều không thể tránh khỏi.
Qua một số lần thăm dò ý kiến, giáo viên thường đề cập đến những khó khăn như sau : thời gian giảng dạy trên lớp hạn chế ; kiến thức bài học quá nhiều ; học sinh học yếu, chậm tiếp thu ; một số giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức, định hướng học sinh ; một số dạy theo sở trường, sở thích,…Chính vì vậy, việc tổ chức, hướng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức văn học sử đã học vào quá trình tìm hiểu văn bản đòi hỏi giáo viên đứng lớp phải có kiến thức và năng lực bao quát, nhất định trong mỗi tiết dạy.
Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay đã phân chia lại cấu trúc chương trình : “ Hệ thống tri thức văn học được cấu trúc một cách hợp lí trên các phương diện lịch sử và loại thể. Trình tự lịch sử văn học dân tộc vẫn được chú ý trong sự đối sánh với văn học nước ngoài. Song tiêu chí loại thể được chú trọng hơn so với chương trình cũ” [34, tr 4]. Rõ ràng, cấu trúc chương trình cải cách lần này có sự thay đổi, lịch sử văn học không còn là cơ sở sắp xếp duy nhất. Vì vậy chúng ta cần phải mạnh dạn khai thác các kiến thức văn học sử một cách hệ thống, khoa học, cụ thể trong quá trình đọc hiểu văn bản để bù đắp cho sự sắp xếp đó. Những kiến thức trong bài khái quát về thời kỳ, giai đoạn, tác gia, tác phẩm là tiền đề tạo cơ sở cho việc đọc hiểu các văn bản. Ngược lại, khi đọc hiểu các văn bản trên tinh thần khắc sâu các kiến thức văn học sử sẽ góp phần làm sáng tỏ các nhận định, luận điểm…trong bài khái quát. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao kiến thức văn học sử Ngữ văn THPT )
Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành đòi hỏi tính kế thừa và tính liên môn, tích hợp. Do đó, việc vận dụng các kiến thức văn học sử vào quá trình đọc – hiểu các tác phẩm văn học cũng cần đảm bảo được điều này. Nghĩa là các nội dung được nêu ra khai thác phải thể hiện được tính kế thừa, liên hệ với những nội dung kiến thức đã học ở các bài trước và ở cả các lớp dưới. Chẳng hạn khi tìm hiểu văn bản Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, giáo viên có thể liên hệ với các tác phẩm đã học lớp dưới như tác phẩm Lão Hạc (Nam Cao), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan),…nhằm giúp học sinh phát hiện ra cái nhìn mới mẻ, khác lạ của Nam Cao khi cùng viết về đề tài người nông dân. Hay như khi nói về cái tôi trong phong trào thơ mới, chúng ta cần cho học sinh liên hệ với giai đoạn trước đó (giai đoạn văn học trung đại thế kỷ XVIII – XIX) để xem cái tôi đó thể hiện, phát triển ra sao trong những điều kiện lịch sử xã hội khác nhau…Mặt khác, các kiến thức được vận dụng khai thác trong giờ dạy đòi hỏi phải biết cân nhắc lựa chọn để đảm bảo tính liên môn, tức cần tích hợp với các kiến thức khác như kiến thức lí luận văn học, tiếng Việt, nghị luận văn học,…Ví dụ khi học xong văn bản Hầu Trời (Tản Đà), chúng ta có thể yêu cầu học sinh viết một đoạn văn ngắn cảm nhận về cái tôi ngông của thi sĩ Tản Đà để rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận, đồng thời rèn luyện kỹ năng lập luận, phân tích, mở rộng, liên hệ các kiến thức đã học…và một lần nữa củng cố, khắc sâu hơn các kiến thức văn học nói chung, văn học sử nói riêng.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
