Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Nhận thấy được sự quan trọng của môi trường đối với cuộc sống ngày nay. Tác giả đã lựa chọn Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt làm bài Luận văn Thạc sĩ của mình. Hiện nay, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam và đã đang kéo theo một loạt các vấn đề về môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường tác động đến đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là lượng rác thải phát sinh tại các đô thị và các vùng nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân được trình bày chi tiết tại Đề tài: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt thành phố phủ lý –tỉnh hà nam đến năm 2030.

2.1. Cơ sở lý luận.

2.1.1. Nguồn gốc phát sinh CTRSH trong đô thị.

Trong các đô thị nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bao gồm : Từ các khu dân cư, từ các trung tâm thương mại , từ các công sở trường học , công trình công cộng, từ các chợ, bệnh viện .như sơ đồ 2.1 và bảng 2.1. dưới đây.

2.1.2. Thành phần và tính chất CTRSH trong đô thị

  • Thành phần của

Thành phần của CTRSH liên quan tới: vị trí địa lý từng địa phương, đặc điểm khí hậu, điệu kiện kinh tế và các yếu tố khác. Thành phần CTRSH được giới thiệu trong bảng 2.2.

  • Tính chất của CTRSH[11].

Tính chất vật lý học:

Khối lượng riêng phụ thuộc vào các trạng thái và yếu tố: rác để tự nhiên không chứa trong thùng, rác chứa trong thùng và không nén, rác chứa trong thùng và nén; Khối lượng riêng của CTRSH phụ thuộc các yếu tố: vị trí địa lý, khí hậu mùa, thời gian lưu trữ… Mẫu thí nghiệm lấy từ các khu đô thị của thành phố Hà Nội cho ta biết khối lượng riêng của CTRSH: khoảng 297 kg/m3.

Độ ẩm: độ ẩm của CTRSH tính theo phần trăm (%) khối lượng ướt trong khối lượng riêng của CTRSH.

Kích thước và sự phân bố kích thước: kích thước và sự phân bố kích thước của các thành phần có trong CTRSH đóng vai trò quan trọng đối với quá trình thu hồi vật liệu, nhất là khi sử dụng phương pháp cơ học như sang quay và các thiết bị lọc loại từ tính. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Khả năng tích ẩm: là tổng lượng ẩm mà CTRSH có thể tích trữ được. Thông số này xác định được lượng nước rò rỉ sinh ra từ CTRSH tại bãi chôn lấp. Khả năng tích ẩm sẽ thay đổi tùy theo điều kiện nén ép rác và trạng thái phân hủy của chất thải.

Độ thẩm thấu của rác nén: Tính dẫn nước của chất thải đã nén là thong số vật lý quan trọng khống chế sự vận chuyển của chất lỏng và khí trong bãi chôn lấp. Độ thẩm thấu thực chỉ phụ thuộc vào tính chất của CTRSH kể cả sự phân bố kích thước lỗ rỗng, bề mặt và độ xốp. Giá trị độ thẩm thấu đặc trưng đối với CTR đã nén trong một bãi chôn lấp thường dao động trong phương ngang compost hoặc thức ăn gia súc, ngoài thành phần những nguyên tố chính cần phải xác định thành phần các nguyên tố vi lượng.

Những tính chất hóa học cơ bản:

Tính chất cơ bản của thành phần cháy được có trong CTRSH bao gồm: độ ẩm (phần ẩm mất đi khi sấy ở 105 0C trong thời gian 1 giờ); thành phần các chất cháy bay hơi (phần khối lượng mất đi khi nung ở 950OC trong tủ nung kín); thành phần carbon cố định (thành phần có thể cháy được còn lại sau khi thải các chất có thể bay hơi); tro (phần khối lượng còn lại sau khi đốt trong lò hở).

Năng lượng chứa trong các thành phần của CTRSH: xác định bằng các phương pháp như sử dụng lò hơi như một thiết bị đo như một thiết bị đo nhiệt lượng, thiết bị đo nhiệt lượng trong phòng thí nghiệm, tính toán nếu biết thành phần các nguyên tố.

Chất dinh dưỡng và những nguyên tố cần thiết khác: thành phần chất hữu cơ có trong CTRSH được sử dụng làm nguyên liệu sản suất các sản phẩm từ quá trình chuyển hóa sinh học (phân compost,methane, và ethanol).

Tính chất sinh học của CTRSH:

Khả năng phân hủy sinh học của thành phần chất hữu cơ: Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS) được xác định bằng cách nung ở nhiệt độ 5500C, thường được sử dụng để đánh giá khả năng phân hủy sinh học của các chất hữu cơ trong CTRSH.

Sự hình thành mùi: Mùi sinh ra khi tồn trữ CTRSH giữa các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý và phân hủy trong mọi điều kiện thời tiết. Trong quá trình phân hủy, mùi từ CTRSH thu hút các côn trùng dễ truyền nhiễm bệnh cùng với các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh khi bị khử sẽ tạo thành những hợp chất có mùi hôi như methyl mercaptan và aminobutyric acid.

Sinh sản ruồi nhặng: với khí hậu nóng ẩm nhiệt đới gió mùa, sự sinh sản ruồi ở các khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm. Quá trình phát triển từ trứng thành ruồi thường ít hơn 2 tuần kể từ ngày đẻ trứng.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

2.1.1. Các quá trình chuyển hóa của chất thải rắn sinh hoạt . ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Chuyển hóa vật lý.

Những biến đổi lý học cơ bản có thể xảy ra trong quá trình vận hành hệ thống quản lý CTRSH bao gồm phần loại, giảm thể tích cơ học, giảm kích thước cơ học. Những biến đổi lý học không làm chuyển pha ( ví dụ từ pha rắn sang pha khí) như các quá trình biến đổi hóa học và sinh học.

Phân loại chất thải: là quá trình tách riêng các thành phần có trong CTRSH nhằm chuyển chất thải từ dạng hỗn hợp sang dạng tương đối đồng nhất.

Giảm thể tích cơ học: phương pháp nén, ép thường được áp dụng để giảm thể tích chất thải.

Giảm kích thước cơ học: nhằm thu được chất thải có kích thước đồng nhất và nhỏ hơn so với kích thước ban đầu của chúng.

  • Chuyển hóa hóa học.

Biến đổi hóa học CTR bao hàm cả quá trình chuyển pha (từ pha rắn sang pha lỏng, từ pha rắn sang pha khí).

Đốt ( oxy hóa hóa học): đốt là phản ứng hóa học giữa oxy và chất hữu cơ có trong rác thải tạo thành những hợp chất bị oxy hóa cùng với sự phát sáng và tỏa nhiệt.

Nhiệt phân: Vì hầu hết các chất hữu cơ đều không bền nhiệt, chúng có thể bị cắt mạch qua các phản ứng cracking nhiệt và ngưng tụ trong điều kiện không có oxy, tạo thành những phần khí, lỏng và rắn.

Khí hóa: Quá trình khí hóa bao gồm quá trình đốt cháy một phần nhiên liệu carbon để tạo thành khí nhiên liệu cháy được giàu CO, H2 và một số Hydrocacbon no, chủ yếu là CH4.

  • Chuyển hóa sinh học.

Các quá trình chuyển hóa sinh học phần chất hữu cơ có trong CTRSH có thể áp dụng để giảm thể thích và khối lượng chất thải, sản xuất phân vi sinh (compost) dùng để bổ sung dinh dưỡng cho đất và sản xuất khí metan.

Quá trình làm phân compost hiếu khí : Phần chất hữu cơ chứa trong CTRSH sẽ được phân hủy sinh học. Dưới điều kiện môi trường được khống chế thích hợp, rác vườn và phần chất hữu cơ có trong CTRSH được chuyển hóa thành phân compost trong một khoảng thời gian tương đối ngắn ( trung bình từ 4 – 6 tuần).

Quá trình phân hủy kỵ khí: Phần chất hữu cơ chứa trong CTRSH có thể phân hủy sinh học trong điều kiện kỵ khí, khi đó CO2 và CH4 chiếm hơn 99% tổng lượng khí sinh ra. Các khí này có thể tận thu để phục vụ tốt trong đời sống sinh hoạt và sản xuất.

2.1.2. Vai trò của quá trình chuyển hóa chất thải rắn trong công tác quản lý CTRSH ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Các quá trình chuyển hóa lý học, hóa học và sinh học được áp dụng để gia tăng hiệu quả vận hành hệ thống quản lý CTRSH, thu hối các thành phần có khả năng tái chế và tái sử dụng, thu hồi các sản phẩm chuyển hóa và năng lượng.

  • Tăng hiệu quả vận hành hệ thống quản lý chất thải.

Để tăng hiệu quả vận hành hệ thống quản lý CTRSH và giảm nhu cầu về thể tích tồn trữ chất thải ở những khi nhả cao tầng, CTRSH thường được đóng thành kiện. Nếu chất thải được vận chuyển bằng phương pháp thủy lực hoặc khí nên, một số thành phần cần được cắt nhỏ để giảm kích thước. Giảm kích thước cơ học cũng được áp dụng để tăng hiệu quả sử dụng bãi chôn lấp. Phân loại chất thải tại nguồn phát sinh hiện nay được xem là phương pháp hiệu quả để tách một lượng nhỏ chất thải nguy hại có trong CTRSH, nhờ đó bãi chôn lấp được vận hành an toàn hơn. Các quá trình hóa học và sinh học có thể áp dụng để giảm thể tích và khối lượng chất thải cần phải chôn lấp và tạo ra những sản phẩm hữu dụng.

  • Thu hồi nguyên liệu để tái chế và tái sử dụng.

Những thành phần có thể thu hồi được là những thành phần có thị trường tiêu thụ và tồn tại trong rác thải với lượng đủ lớn. Đối với CTRSH, những thành phần có thể thu hồi được bao gồm giấy, carton, nhựa, rác vườn, thủy tinh, kim loại chứa sắt, nhôm, và những kim loại màu khác.

  • Thu hồi những sản phẩm chuyển hóa năng lượng.

Phần chất hữu cơ có trong CTRSH có thể chuyển hóa thành những sản phẩm hữu dụng và cuối cùng thành năng lượng theo nhiều cách khác nhau, bao gồm đốt cháy tạo thành hơi và điện, nhiệt phân tạo ra khí tổng hợp, nhiên liệu lỏng hoặc nhiên liệu khí, và chất rắn; khí hóa để tạo nhiên liệu tổng hợp; biến đổi sinh học sản xuất phân compost, và phân hủy sinhh học để tạo khí netan và mùn.

2.1.3. Các công nghệ xử lý chất thải rắn. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Mục tiêu của xử lý chất thải rắn sinh hoạt là làm giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải . Phương thức xử lý chất thải rắn sinh hoạt bao gồm:

  • Phương pháp cơ học:

+ Tách kim loại , thuỷ tinh, giấy, chất dẻo ra khỏi chất thải;

+ Đốt chất thải không thu hồi nhiệt;

  • Phương pháp cơ lý:

+ Phân loại vật liệu trong chất thải;

+ Sử dụng chất thải như nhiên liệu;

+ Đúc ép các chất thải để làm vật liệu xây dựng.

  • Phương pháp sinh học:

+ Chế biến phân ủ sinh học;

+ Metan hoá trong các bể thu hồi khí sinh học;

Thực tế công nghệ xử lý   chôn lấp và đốt phần lớn được sử dụng phù hợp với điều kiện kinh tế và kỹ thuật ( hình 2.1) 

  • Quản lý CTRSH bằng phương pháp tổng hợp (3R):

Giải pháp 3R hiện nay được khuyến khích thực hiện ở nhiều nước phát triển trên thế giới như Singapore, Anh, Nhật… vì mang lại rất nhiều hiệu quả không chỉ đối với môi trường. 3R là từ viết tắt ba chữ cái đầu trong tiếng Anh: Reduce ­ Reuse ­ Recycle. Theo nghĩa tiếng Việt là: Giảm thiểu ­ Tái sử dụng ­ Tái chế.

+ Giảm thiểu (Reduce) là việc giảm lượng rác phát sinh thông qua việc thay đổi lối sống, thay đổi trong cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất… Đây là nội dung hiệu quả nhất trong ba giải pháp, là sự tối ưu hóa quá trình sản xuất và tiêu dùng về mặt môi trường.

+ Tái sử dụng (Reuse) là việc sử dụng lại các sản phẩm, hay một phần của sản phẩm cho chính mục đích cũ, hay cho một mục đích khác, sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm. ( hình 2.2)

+ Tái chế (Recycle) là việc sử dụng rác thải, vật liệu thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật chất, các sản phẩm mới có ích, sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Quá trình này giúp ngăn chặn lãng phí nguồn tài nguyên, giảm tiêu thụ nguyên liệu thô cũng như nhiên liệu sử dụng so với quá trình sản xuất cơ bản từ nguyên liệu thô. Tái chế có thể chia thành hai dạng, tái chế ngay tại nguồn từ quy trình sản xuất và tái chế nguyên liệu từ sản phẩm thải. ( hình 2.3)

Hoạt động 3R hiện đã triển khai tại nhiều nước trên thế giới, được khuyến khích phát triển nhằm góp phần sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Chính phủ các nước này đã đưa ra các chính sách tài chính như giảm thuế lợi tức khi đầu tư công nghệ tái chế (Đan Mạch, Mỹ); thành lập Quỹ tái chế chất thải (Đài Loan, Anh) để phát triển hoạt động tái chế chất thải. Các chương trình tái chế chất thải cũng đã huy động sự tham gia hiệu quả của tư nhân và các cộng đồng dân cư.

2.1.4. Cộng đồng và CTRSH. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Sự cần thiết của nghiên cứu xã hội hóa trong công tác quản lý

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, lượng chất thải rắn phát sinh tại các khu đô thị, khu công nghiệp và cả ở vùng nông thôn đang ngày càng gia tăng với nhiều thành phần phức tạp. Lượng phát sinh tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm.

Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% chất thải rắn từ các đô thị, 17% chất thải rắn từ hoạt động sản xuất công nghiệp, chất thải rắn nông thôn, làng nghề và y tế chiếm phần còn lại. Dự báo đến năm 2015, tỷ trọng của chất thải rắn đô thị sẽ tăng lên 51% và chất thải rắn công nghiệp sẽ tăng lên 22%.

Hiện nay, tỷ lệ thu gom chất thải rắn đã tăng lên đáng kể song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, phần lớn chất thải rắn chưa được phân loại tại nguồn mà thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp. Công tác tái chế, xử lý chất thải chưa được đạt yêu cầu.

Vấn đề ô nhiễm môi trường do quản lý chất rắn không tốt, xử lý chất thải rắn không hợp vệ sinh đã gây những tác động tổng hợp tới môi trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế ­ xã hội. Mặc dù, công tác quản lý chất thải rắn đã được triển khai, nhiều giải pháp được đề xuất nhằm ngăn chặn ô nhiễm môi trường do chất thải rắn song công tác quản lý chất thải rắn vẫn còn một số tồn tại như thể chế, chính sách về quản lý chất thải rắn chưa hoàn thiện. Ở hầu hết các địa phương trong cả nước, công tác quản lý CTR hầu hết chỉ do 1 đơn vị phụ trách ( thường là công ty Môi trường đô thị đối với các đô thị lớn), do đó các hoạt động quản lý CTRSH phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngân sách phân bố của địa phương, năng lực và số lượng nhân viên tham gia không đáp ứng được nhu cầu thu gom, vận chuyển, xử lý đo lượng rác thải đô thị ngày càng tăng. Vì vậy, đểnâng cao hiệu quả việc quản lý chất thải rắn sinh hoạtcần nghiên cứu và áp dụng xã hội hóa trong công tác quản lý.

  • Đặc tính cơ bản của công tác quản lý CTRSH theo hướng xã hội hóa.

Đặc tính cơ bản của công tác quản lý CTRSH theo hướng xã hội hóa là có sự tham gia của cộng đồng.

Khái niệm chung về cộng đồng:

Cộng đồng là một hình thức đặc thù của tổ chức xã hội thể hiện mối quan hệ giữa cư dân với địa hạt lãnh thổ. Một cộng đồng có thể được định nghĩa là một nhóm người đặc trưng sống ở một khu vực địa lý được chỉ rõ, có văn hóa và lối sống chung, có sự thống nhất hành động chung để theo đuổi một mục đích.

Đặc trưng về cộng đồng Việt Nam: Đặc thù chung của “cộng đồng” người Việt là quan hệ huyết thống, quan hệ giao tiếp, quan hệ làng xã, quan hệ làm việc, quan hệ cư trú, quan hệ vui chơi giải trí, quan hệ kinh tế,…

Khi cộng đồng có cùng mối quan tâm về CTRSH, quản lý CTRSH, cùng đóng góp nhân lực, vât lực với chính quyền, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động quản lý CTRSH, cùng được hưởng lợi từ công tác này, đó chính là đặc tính cộng đồng của quản lý CTRSH. [11]

Vai trò của cộng đồng:

Cộng đồng ngoài những cá thể người dân còn bao gồm rất nhiều tổ chức và lực lượng, trong đó đáng kể và cần phải quan tâm đặc biệt là các tổ chức phi Chính phủ ( Non Government Organizations, viết tắt là NGOs) . Đây là hình thức tổ chức không định hưởng lợi nhuận, hoạt động dựa trên cơ sở tự nguyện hoạt động của các thành viên, gồm những người có cùng quyền lợi và hoạt động hướng về một mục tiêu nhất định, thực hiện các công việc một cách đa dạng và mang tính nhân đạo cao. Tổ chức này chính là cầu nối giữa nhân dân với các cơ quan nhà nước, truyền tải các vấn đề của người dân đến chính quyền cũng như truyền đạt các chủ trương chính sách của nhà nước đến với người dân, góp phần vào việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân. Đây là một lực lượng rất cần được thu hút tham gia và các kế hoạch phát triển bền vững, chính quyền nhà nước cần có cơ chế chính sách sử dụng một cách tốt nhất khả năng của các tổ chức này, nhất là thu hút họ tham gia vào việc soạn thảo các chính sách và ra quyết định về phát triển bền vững cũng như quản lý bền vững CTRSH. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý CTRSH:

Có rất nhiều hình thức khi cộng đồng người dân tham gia vào công tác quản lý CTRSH nhưng có thể chia thành 3 hình thức sau

  • Tham gia vào các khâu phân loại CTR tại nguồn, thu gom vận chuyển

­Tham gia vào các khâu phân loại CTR tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý.

  • Chỉ tham gia vào khâu xử lý

2.1.5. Quản lý CTRSH theo hướng xã hội hóa

Xã hội hóa công tác quản lý CTRSH được thực hiện dựa trên quan điểm “do dân, vì dân” của Nhà nước ta. Nội dung cơ bản của XHH được thể hiện trong bốn nguyên tắc “dân biết, dân làm, dân kiểm tra”. Đó là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện xã hội hóa công tác quản lý CTRSH.

“Dân biết” bao gồm sự nhận thức, sự hiểu biết, kiến thức mà người dân có được về công tác quản lý CTRSH. Bên cạnh đó, người dân được phổ biến rộng rãi về các chủ trường, chính sách của Nhà nước cũng như thực trạng công tác quản lý CTRSH tại địa phương để từ đó nhận thức rõ được quyền lợi và trách nhiệm của mình.

“Dân bàn” tức là người dân có quyền được tham gia thảo luận để đi tới xây dựng các chủ trương, chiến lược, kế hoạch quản lý CTRSH, phương pháp thực hành quản lý CTRSH, cơ chế chính sách và các quy định xử lý áp dụng tại địa phương mình liên quan đến công tác quản lý CTRSH.

“Dân làm” tức là người dân được tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vòa công việc thích hợp trong các khâu của công tác quản lý CTRSH như phân loại CTR tại nguồn, thu gom, vận chuyển hoặc xử lý CTRSH, trong đó việc phân loại CTR tại nguồn là rất quan trọng, cần đảm bảo mọi người dân đều tham gia công tác này.

“Dân kiểm tra” có nghĩa là người dân sẽ trực tiếp đánh giá, kiểm tra, thẩm định công tác quản lý CTRSH ở địa phương, cụ thể gồm có:

  • Việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án và các hoạt động quản lý CTRSH;
  • Việc thực hiện các quy định pháp chế và quy ước của địa phương về quản lý CTRSH;
  • Việc xây dựng, vận hành , duy tu, bảo dưỡng, bảo vệ các công trình phục vụ công tác quản lý CTRSH;
  • Và việc sử dụng và quản lý cá nhân, tài lực, vật lực cho công tác quản lý

2.2. Cơ sở pháp lý.

2.2.1. Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quản lý ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Văn bản pháp quy do chính phủ ban hành.

  • Luật bảo vệ môi trường sô 55/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 23/06/2014: Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã khẳng định BVMT là sự nghiệp của toàn xã hội, là quyền và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động BVMT. Khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp dịch vụ bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực thu gom, tái chế, xử lý chất thải, quan trắc, phân tích môi trường, phát triển chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường, tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường, công nghệ môi trường, giám định về môi trường đối với máy móc, thiết bị, công nghệ, giám định thiệt hại về môi trường và các dịch vụ khác về bảo vệ môi trường .
  • Nghị định số 25/2013/NĐ­CP ngày 29/03/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
  • Nghị định số 67/2011/NĐ­CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
  • Nghị định số 167/2013/NĐ­ CP ngày 12/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Quy định sử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự và an toàn xã hội .
  • Nghị định số 179/2013/NĐ­ CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử lý hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
  • Nghị định số 04/2009/NĐ­ CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường.
  • Nghị định số 38/2015/NĐ­ CP ngày 24/04/2015 về Quản lý chất thải rắn tại mục 2 Điều 14 của Nghị định nêu rõ “ Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư, xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn, các công trình phụ trợ thông qua các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư “.
  • Nghị định số 174/2007/NĐ­ CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn: mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn..
  • Quyết định số 384/2006/QĐ­TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 09/03/2006 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế ­ xã hội tỉnh Phủ Lý đến năm
  • Quyết định số 58/2008/QĐ­TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 29/04/2008 về việc hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách nhà nước nhằm xử lý trệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích.
  • Quyết định số 2149/2009/QĐ­TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17/12/2009 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
  • Quyết định số 445/QĐ­TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 07/04/2009 về việc phê duyệt Điều chỉnh đinh hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2050.
  • Nghị quyết số 41/NQ­TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 15/11/2004 về việc bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
  • Chỉ thị số 23/2005/CT­TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác quản lý CTR tại các khu đô thị và công nghiệp.
  • Thông tư số 13/12/2007/TT­ BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định 59/2007 NĐ­CP ngày 09/04/2007 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý chất thải rắn.
  • Thông tư liên tịch số 114/20006/TTLT­BTC­TNMT ngày 29/12/2006 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường.
  • Quyết định số 23/2006/QĐ­ BTNMT ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại.
  • Quyết định số 1202//QĐ­ TTg ngày 19/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt khoản vay bổ sung cho 06 dự án thuộc hiệp định vay gian đoạn 1 của chương trình tín dụng hỗn hợp Na Uy/ KFW để thực hiện hạng mục tư vấn giám sát.

Văn bản pháp quy do Tỉnh/ Thành phố Phủ Lý banhành.

  • Quyết định số 09/2013/QĐ­ UBND ngày 16/5/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam về việc ban hành quy định quản lý chất thải rắn thông thường tại các khu đô thị và các cụm dân cư tập chung trên địa bàn tỉnh Hà
  • Nghị quyết số 02/2011/NQ­ HĐND ngày 10/8/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Nam về việc sửa đổi bổ sung một số khoản phí vệ sinh, phí nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải.

2.2.2. Chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn tổng hợp đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2149/QĐ­ TTg, ngày 17/12/ 2009. Chiến lược đã nêu rõ mục tiêu cho từng giai đoạn được tóm tắt trong bảng 2.4 sau:

  • Các nhiệm vụ cơ bản của quyết định nêu rõ:
  • Phòng ngừa và giảm thiểu CTR phát sinh, thúc đẩy phân loại CTR tại nguồn.
  • Đẩy mạnh thu gom và vận chuyển CTR, xử lý
  • Các giải pháp thực hiện chiến lược
  • Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và cơ chế chính sách quản lý về quản lý
  • Quy hoạch quản lý
  • Xây dựng nguồn thực hiện chiến lược, thúc đẩy nghiên cứu khoa học để phục vụ hiệu quả quản lý
  • Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và hợp tác quốc tế.

2.2.3. Định hướng phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch chung Thành phố Phủ Lý đến năm 2030 .

Mục tiêu và chiến lược phát triển

Cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế ­ xã hội thành phố Phủ Lý giai đoạn 2013 ­ 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phấn đấu đến năm 2050 trở thành đô thị loại II. Xây dựng và phát triển thành phố Phủ Lý trở thành đô thị phát triển khá trong các đô thị phía Nam, có vị thế và sức hấp dẫn trong hệ thống đô thị Việt Nam. Làm cơ sở để lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, định hướng phát triển không gian kiến trúc đô thị, quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng theo quy định; là cơ sở quan trọng thực hiện việc nâng cấp đô thị thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh Hà Nam.

Quy hoạch phát triển không

  • Tận dụng địa hình tự nhiên , bảo vệ và khai thác không gian mở có mức độ .
  • Xem xét nguy cơ ảnh hưởng từ các nguồn gây ô nhiễm môi trường ; hạn chế phát triển công nghiệp ở khu vực phía tây sông Đáy, một số công nghiệp gây ô nhiễm phải di dời ( nhà máy xi măng Bút Sơn) ; khu vực này chuyển sang khai thác du lịch sinh thái.
  • Hạn chế có mức độ phát triển đô thị kề cận vơi không gian di tích văn hóa, lịch sử.
  • Đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa cao, chuyển đổi các mục đích sử dụng đất sang đất xây dựng đô thị với mức độ cao; đô thị phát triển ở cả 2 bên đường cao tốc.

Quy hoạch phân khu chức năng

Hệ thống công trình hành chính chính trị

  • Khu cơ quan hành chính mới của tỉnh tổ chức ở phía bắc sông Châu (khu đô thị số 1), kết hợp với trung tâm đô thị mới được tổ chức 2 bên trục đường chính đô thị ; tại khu này có trung tâm hội nghị, hội thảo. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )
  • Khu trung tâm hành chính của thành phố được bố trí trong khu đô thị cũ ở phía bắc cầu Hồng Phú, phía đông sông Nhuệ và sông Đáy .
  • Khu các sở ban nghành của tỉnh bố trí ở phía tây sông Đáy thuộc khu đô thị số

Hệ thống công trình văn hóa

  • Tổ chức khu trung tâm văn hóa, hội chợ triển lãm ở khu vực Đông Nam thành phố, phía đông đường cao tốc Bắc Nam cạnh, cạnh trung tâm TDTT thuộc khu đô thị số 6 kết hợp với các khu thương mại, dịch vụ đầu mối.
  • Cải tạo chỉnh trang trung tâm văn hóa thành phố tại khu đô thị số 2 Hệ thống công trình thể dục thể thao

Trung tâm thể dục thể thao cũ của thành phố tại khu đô thị số 3, trung tâm TDTT, sân vận động của tỉnh hiện nay ở khu đô thị số 4 (5,4ha) sẽ chuyển sang phục vụ cấp thành phố .

  • Tổ chức khu liên hợp TDTT cấp vùng , tỉnh ở khu vực phía đông của thành phố thuộc khu đô thị số 6, phía đông nút Liêm Tuyền.

Hệ thống y tế

Tổ chức trung tâm y tế thành phố :

+ Xây dựng bệnh viện đa khoa tỉnh , diện tích 11,5ha ( thuộc khu đô thị số 5)

+ Xây dựng bệnh viện đa khoa thành phố, diện tích 8,2ha ( thuộc khu đô thị số 6)

Ngoài ra xây dựng mới và hoàn thiện các cấp cơ sở ý tế đã có:

+ Bệnh viện đa khoa thành phố Phủ Lý (KĐT số 1)

+ Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam ( KĐT số 2)

+ Trung tâm y tế dự phòng và bệnh viện thực hành ( KĐT số 4) Hệ thống giáo dục đào tạo

  • Khối các trường đại học, cao đẳng đã xây dựng thuộc khu đô thị số 4( đại học công nghiệp Hà Nội , cao đẳng y Hà Nam , cao đẳng sư phạm và công nhân bưu điện , cao đẳng sư phạm Hà Nam , trường Cơ yếu,..)
  • Khu trung tâm giáo dục đào tạo xây dựng mới ở phía Bắc thành phố, phía Tây Bắc nút cao tốc Phú Thứ, thuộc khu đô thị số 7.
  • Ngoài ra còn có trung tâm đào tạo nghề thuộc khu đô thị số 3, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực tại khu đô thị số 6.

Hệ thống hỗn hợp dịch vụ thương mại và việc làm

+ Tổ chức các trung tâm thương mại dịch vũ hỗn hợp trong các khu đô thị của thành phố để đáp ứng được yêu cầu phát triển của đô thị trước mắt và trong tương lai:

+ Tổ chức trung tâm dịch vụ hỗn hợp tại điểm giao cắt giữa trục đường thương mại kinh tế(68m) và đường N1 (42m) tại trung tâm khu đô thị mới Liêm Chính , trung tâm dịch vụ hỗn hợp ga đường sắt trên cao ( năm hai bên trục đường 68m kéo dài, phía tây ga đường sắt cao tốc )

+ Xây dựng trung tâm TMDV hỗn hợp tại các cửa ngõ QL21 và khu trung tâm huyện Thanh Liêm cũ.

Hệ thống cây xanh, không gian mở ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Khu công viên vui chơi, giải trí của thành phố tổ chức ở phía Đông đường cao tốc Bắc Nam thuộc khu đô thị số 6 .
  • Ngoài ra ở các khu đô thị đều tổ chức khu công viên cây

+ KĐT số 1: Tổ chức khu công viên sinh thái Lam Hạ, khu công viên TDTT, diện tích 18ha, công viên cây xanh tập trung, diện tích 11,9ha.

+KĐT số 2:khu cây xanh quảng trường , diện tích 25,3ha

+ KĐT số 3: Tổ chức khu vui chơi giải trí diện tích 30,8 ha, khu công viên cây xanh, diện tích 25,3ha

+ KĐT số 4: Xây dựng khu công viên cây xanh , diện tích 5,4ha Các khu dân cư

Khu dân cư được quy hoạch đến cấp đơn vị ở. Hình thức tổ chức đơn vị ở được tổ chức thành: Đất ở đô thị tập trung, đất ở đô thị sinh thái hoặc bản đô thị hoá trong đô thị, đất ở nông thôn và nhà vườn, đất dịch vụ chuyển đổi nghề nghiệp (là đất ở kết hợp với các hoạt động dịch vụ sản xuất) đáp ứng nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân mất đất sản xuất do quá trình đô thị hoá..

2.3. Dự báo chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại thành phố Phủ Lý đến năm 2030.

2.3.1. Cơ sở xác định lựa chọn tiêu chuẩn tính toán

+ Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN: 01/2008/BXD;

+ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật QCVN 07: 2010/BXD;

+ Tiêu chuẩn Việt Nam về QHXD, 4449 – 1987­ QHXD Đô thị ­ Tiêu chuẩn thiết kế;

+ Quyết định số 2149/QĐ­TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược quốc gia quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìnđến năm 2050”;

+ Chiến lược quản lý CTR đô thị và khu công nghiệp đến năm 2020 được phê duyệt theo QĐ số 152/1999/QĐ­TTg ngày 10/7/1999;

+ Quyết định số 170/QĐ­TTgngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025

+ Định hướng quy hoạch chất thải rắn trong QH vùng, QH chung xây dựng Thành phố Phủ Lý đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt;

2.3.2. Lựa chọn tiêu chuẩn tính toán và tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại Tp. Phủ Lý. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Căn cứ vào những cơ sở tính toán dựa trên điều kiện tự nhiên – kinh tế ­ văn hóa ­ xã hội của Tp. Phủ Lý. Chọn tiêu chuẩn tính toán và tỷ lệ thu gom CTRSH như sau:

Tỷ lệ tái chế và xử lý CTR sinh hoạt :

Trên cơ sở thực tiễn trong nước và quốc tế; đồng thời tuân thủ Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch chung Tp. Phủ Lý đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Đề xuất tỷ lệ tái chế và xử lý CTRSH như sau:

Tỷ lệ CTRSH được thu hồi tái chế ngay tại nguồn thải và tại trạm trung chuyển như giấy, bìa, các tông, vải, thủy tinh, vỏ hộp, kim loại, cao su … chiếm tỷ lệ khá lớn.

* Dân số tại năm tính toán:

Lượng CTR phát sinh xác định tiêu chuẩn tính toán, tỷ lệ thu gom và số liệu dự báo dân số. Số liệu dự báo dân số theo Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đếnnăm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt được tính toán theo công thức :Pt= P0. (1+s)n (người)

Trong đó: Pt : Dân số tại năm tính toán (2020; 2030; 2050)

P0 : Dân số hiện tại năm 2014

s : Tỷ lệ tăng trưởng dân số của TP. Phủ Lý là 2,4% tức là 0,024 (tăng cơ học là: 1,4%; tăng tự nhiên là: 1,0%)

n : Số năm

Khối lượng CTRSH phát sinh và thu gom trên toàn thành phố được xác định tiêu chuẩn tính toán, tỷ lệ thu gom và số liệu dự báo dân số theo Quy hoạch chung Tp. Phủ Lý đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt được tổng hợp tại bảng sau:

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

2.4. Cơ sở thực tiễn.

2.4.1. Kinh nghiệm các nước trên thế giới. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Quản lý CTR hiệu quả ở bất cứ quốc gia nào đang là trọng tâm của những chính sách phát triển môi trường bền vững. Quản lý kém hiệu quả CTR ở khu vực đô thị là mối đe dọa với sức khỏe cộng đồng, đồng thời làm phát sinh nhiều chi phí tốn kém cả trong hiện tại lẫn về lâu dài. Việc áp dụng các chính sách đặc thù cho mỗi quốc gia để quản lý chất thải là biện pháp hữu hiệu, cần thiết để đối phó với tình trạng này. Tại các nước phát triển, bên cạnh việc vận động và áp dụng các biện pháp, chế tài để giảm thiểu xả thải rác, các chính phủ đã chú trọng đầu tư cho ngành công nghiệp tái chế chất thải. Nhờ đó, môi trường được cải thiện đồng thời tăng nguyên liệu, sản phẩm cho nền kinh tế. Song công nghiệp tái chế chất thải chỉ phát triển được khi có nguồn rác thải được phân loại tốt, vì vậy phân loại rác tại nguồn đã được xác định là giải pháp cần thiết trong chu trình thu gom và xử lý chất thải rắn nói chung và rác thải sinh hoạt đô thị nói riêng.

  • Ở châu Âu

Nhiều quốc gia đã thực hiện quản lý chất thải rắn thông qua phân loại tại nguồn và xử lý tốt, đạt hiệu quả cao về kinh tế và môi trường. Tại các quốc gia như Đan Mạch, Anh, Hà Lan, Đức … việc quản lý chất thải rắn được thực hiện rất chặt chẽ, công tacs phân loại và thu gom đã thành nề nếp và người dân chấp hành rất nghiêm quy định này. Các loại rác thải có thể tái chế được như giấy loại, chai lọ thủy tinh, vỏ đồ hộp… được thu gom vào các thùng chứa riêng. Đặc biệt, rác thải nhà bếp có thành phần hữu cơ dễ phân hủy được yêu cầu phân loại riêng được đựng vào các túi có màu sắc theo đúng quy định thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost. Đối với các loại rác bao bì có thể tái chế người dân mang đến thùng rác đặt cố định trong khu dân cư, hoặc có thể gọi điện để bộ phận chuyên trách mang đi nhưng phải thanh toán phí thông qua việc mua tem dán vào các túi rác này theo trọng lượng. ( Công nghệ xử lý CTR tại các nước trên thế giới xem tại phụ lục 1 )

Đối với chất thải công nghiệp, các công ty đều phải tuân thủ quy định phân loại riêng từng loại chất thải trong sản xuất và chất thải sinh hoạt của nhà máy để thu gom và xử lý riêng biệt. Với các sản phẩm ngay khi sử dụng snh ra nhiều rác, chính quyền yêu cầu các công ty ngay từ giai đoạn thiết kế xây dựng phải dự kiến nơi chứa các sản phẩm thải loại của mình hoặc trong giá bán sản phẩm đã phải tính đến chi phí thu gom và xử lý lượng rác thải.

  • Thu gom và xử lý rác thải ở Pháp

Rác thải tại Pháp được phân loại tại nguồn: Các nhà sản xuất công nghiệp phải nộp 0,6 xu đối với mỗi bao bì do công ty mình phát hành ra cho công ty Eco­ Emballages, công ty này thuộc sự quản lý của nhà nước, có nhiệm vụ giúp các cộng đồng dân cư tổ chức việc phân loại rác tại nhà. Công ty này sẽ chịu 40% chi phí cho việc phân loại và thu gom rác, phần còn lại do các công đồng dân cư và người đóng thuế phải chịu.

Việc thu gom rác được tổ chức theo nhu cầu, tùy theo từng khu vực dân cư căn cứ vào địa điểm tập trung các thùng rác. Tại Paris, mỗi khu vực dân cư được đặt hai thùng rác. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Việc phân loại rác thay đổi tùy theo từng địa phương. Tại nhiều thành phố, người ta thu gom một thùng các loại chai lọ bằng chất dẻo, các đồ hộp, chai hộp các loại nhỏ, bìa các tông. Một thùng khác đựng báo, tạp chí, một thùng đựng đồ thủy tinh, còn thùng thứ tư dành cho các chất thải dễ thối rữa và các loại khác. Tại Paris tất cả các chất thải có thể tái chế trừ thủy tinh đều được cho vào một thùng màu vàng, trong đó có cả các đồ điện gia dụng loại nhỏ.

Tỷ lệ bình quân của rác thải vứt không đúng quy định trong thùng rác để tái chế tại các trung tâm phân loại rác sinh hoạt lên đến 30% năm 2002 so với 22% năm 2000. Để cải thiệm tình hình, công ty Eco­ Emballages đã tung đi các đại sứ về phân loại đến từng gia đình để giải thích cho mọi người biết các quy tắc về phân loại rác. Nhưng cho dù mọi người đều phân loại tốt thì một số loại rác vẫn bị đổ bừa bãi hoặc cho vào lò đốt rác vì thiếu cơ sở tái chế.

Như vậy có thê thấy rằng, ở Pháp đã rất chú trọng đến biện pháp phân loại rác tại nguồn. Tuy nhiên nếu không chú trọng đến giải pháp tái chế thì hiệu quả của việc phân loại cũng bị hạn chế.

  • Ở Nhật Bản

Trong 37 đạo luật về bảo vệ môi trường có 7 đạo luật về quản lý và tái chế chất thải rắn. Việc phân loại rác tại nguồn đã được triển khai từ những năm 1970, tỷ lệ tái chế chất thải rắn ở nhật đạt rất cao. Hiện nay tại các thành phố của Nhật chủ yếu sử dụng công nghệ đốt để xử lý phần rác khó phân hủy. Các hộ gia đình được yêu cầu phaan loại rác thành 3 dòng: Rác hữu cơ dễ phân hủy để làm phân hữu cơ sinh học được thu gom hàng ngày đưa đến nhà máy sản xuất phân compost; Rác không cháy được như các laoij vỏ chai, hộp… sẽ được đưa đến nhà máy phân loại để tái chế; Loại rác khó tái chế hoặc hiệu quả không cao nhưng cháy được sẽ đưa đênns nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng. Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư. Công ty vệ sinh môi trường sẽ gom những túi đựng rác đó và vận chuyển đi. Nếu gia đình nào phân loại không đúng sẽ bị đại diện cụm dân cư nhắc nhở hoặc gửi giấy báo phạt tiền. Đối với những loại rác có kích thước lớn như tủ lạnh, máy điều hòa, tivi, giường, bàn ghết… thải loại phải đăng ký và đúng ngày quy định đêm đặt trước cổng, có xe của bộ phận chuyên trách đến chở đi. Điển hình về phân loại rác triệt để là ở thành phố Minamata thuộc tỉnh Kumaoto. Ở đây vào những năm 60­70 thế kỷ trước đã xảy ra thảm họa môi trường khủng khiếp: ô nhiễm nước thải công nghiệm đã gây ra cái chết của trên 13.600 người dân thành phố này. Ngày nay, người dân nơi đây đã có ý thức rất cao về bảo vệ môi trường, rác thải sinh hoạt đã được người dân phân ra 22 loại khác nhau rất thuận tiện cho việc tái chế.

  • Ở Hàn Quốc

Quản lý chất thải rắn đô thị có phần tương tự như của Nhật nhưng cách xử lý hơi khác. Rác hữu cơ nhà bếp một phần được dùng để làm giá thể nuôi trồng nấm thực phẩm, phần lớn hơn được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biogas từ hố chôn lấp cung cấp cho phát điện, sau khi rác tại hố chôn phân hủy hết tiến hành khai thác mùn bãi chôn làm phân bón và tái chôn lấp cho chu kỳ sau.

Như vậy, có thể thấy tại các nước phát triền, quá trình phân loại rác tại nguồn đã diễn ra cách đây trên 30 năm và đến nay về cơ bản là thành công tuy ở các mức độ khác nhau. Ở mức độ thấp, việc tách rác thành 2 dòng hữu cơ dễ phân hủy được thu gom xử lý hàng ngày và các loại khó phân hủy, có thể tái chế hoặc đốt, chôn lấp an toàn được thu gom hàng tuần. Quá trình tái chế rác thực sự diễn ra tại các nhà máy tái chế, công việc tiếp theo ở đây là dùng thiết bị chuyên dụng, kết hợp lao động thủ công để tiếp tục phân loại rác thành nhiều dòng riêng biệt, ví dụ đối với vỏ chai thủy tinh đã phải chia ra 6 laoij khác nhau: laioj có thể làm sạch và sử dụng lại, loại này lại phải chia ra theo mỗi màu sắc và kích thước, thường là 3­4 loại; laoij bị sứt mẻ hoặc không thể sử dụng lại phải nghiền nhỏ để làm nguyên liệu nấu thủy tinh. Ở mức độ thành công cao hơn, rác được tách thành 3 hay nhiều hơn nữa các dòng rác ngay từ hộ gia đình hoặc ở điểm tập kết trong khu dân cư, nhờ đó công tác tái chế rác thải sẽ đạt hiệu quả cao hơn, tốn ít chi phí hơn, thậm chí người dân không phải nộp phí xử lý rác cho chính quyền, mà còn được nhận lại tiền bán phế liệu cho nhà máy tái chế, tuy số tiền không lớn. Người dân thành phố Minamata rất hài lòng và tự hào vì đã đi đầu về bảo vệ môi trường trong việc quản lý chất thải rắn. Hiện ở châu Âu đang vận động phân loại rác thành 9 loại.

Có thể nhận thấy sự thành công của việc sử dụng lại và tái chế chất thải là kết quả của ba yếu tố có liên quan đến hữu cơ, một là quá trình kiên trì vận động, tuyên truyền và cưỡng chế người dân thực hiện phân loại rác tại nguồn; hai là sự đầu tư thỏa đáng của Nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác thải để đủ năng lực tiếp nhận và tiếp tục phân loại, tái chế lượng rác đã phân loại sơ bộ tại nguồn; ba là trình độ phát triển của xã hội cả về mặt kinh tế, nhận thức, sự đầu tư cơ sở vật chất đạt ngưỡng cần thiết để thực hiện xử lý tái chế phần lớn lượng rác thải ra hàng ngày và tiêu dùng các sản phẩm tái tạo từ chất thải. Thiếu một trong ba yếu tố này thì việc tái chế, tái sử dụng chất thải khó thàn công. Tại Hàn Quốc, quá trình vận động phan loại rác tại nguồn diễn ra hàng chục năm và chỉ thành công khi hội đủ ba yếu tố trên và khi đó mức GDP bình quân đầu người đạt trên 7000 USD/năm. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Thu gom rác thải tại Singapore:

Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu quả. VIệc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu. Công ty trúng thầu sẽ được thực hiện công viecj thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm. Singapore có 9 khu vực thu gom rác. Rác thải sinh hoạt được đưa vè một khu vực bãi chứa lớn. Công t thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử ly theo chương trình Tái chế Quốc gia. Trong đó các nhà thầu thu gom rác hiện nay tại Singapore, có bốn nhà thầu thuộc khu vực công, còn lại thuộc khu vực tư nhân. Các nhà thầu tư nhân đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu gom rác thải, khoảng 50% lượng rác thải phát sinh do tư nhân thu gom, chủ yếu là các cơ quan thương mại, công nghiệp và xây dựng. Chất thải của khu vực này đều thuộc loại vô cơ nên không cần thu gom hàng ngày. Nhà nước quản lý các hoạt động này theo luật pháp. Cụ thể, từ năm 1989, chính phủ ban hành các quy định y tế công cộng và môi trường để kiểm soát các nhà thầu tư nhân thông qua việc xét cấp giấy phép. Theo quy định, các nhà thầu tư nhân phải sử dụng xe máy và trang thiết bị không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân, phải tuân thủ các quy định về phân loại rác để đốt hoặc đem chôn để hạn chế lượng rác tại bãi chôn lấp. Quy định các xí nghiệp công nghiệp và thương mại chỉ được thuê mướn các dịch vụ từ các nhà thầu được cấp phép.

Phí cho dịch vụ thu gom rác được cập nhật trên trang Internet công khai để người dân có thể theo dõi. Bộ môi trường quy định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức 6­15 đô la Singapore mỗi tháng tùy theo phương thức phục vụ (15 đô la đối với các dịch vụ thu gom trực tuyến, 6 đô la đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác công cộng ở các chung cư). Đối với các nguồn thải không phải là hộ gia đình, phí thu gom được tính tùy vào khối lượng rác phát sinh có các mức 30­70­175­245 đô la Singapore mỗi tháng. Các phí đổ rác được thu hanggf tháng do ngân hàng PUB đại diện cho Bộ môi trường thực hiện. Thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp của người dân thông qua đường dây điện thoai nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm bảo phát hiện và xứ lý kịp thời tình trạng phát sinh rác và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ.

  • Quản lý rác thải ở Indonesia

Vấn đề rác và môi trường ở Indonesia cũng rất quan tâm và có các biện pháp tích cự để giáo dục mọi người ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng, cụ thể:

Quảng cáo chống xả rác bừa bãi trên các báo, tạp chí trong rạp chiếu bóng và trên truyền hình. Giáo dục người dân bỏ rác và các bịch niloong nhỏ mà họ nhận được ở nơi công cộng và bỏ chúng vào thùng rác

Vận động các tài tử phim ảnh và các ca sĩ cổ vũ cho ý thức giữ gìn vệ sinh

Đặt các thùng đựng rác nhiều màu sắc và dễ nhìn thấy xung quanh TP,

ở những nơi thích hợp . Ở TP Surabaya, các thùng đựng rác còn được hỗ trợ bằng các quảng cáo của hãng thuốc lá Sẩpema

Tổ chức tốt công tác đổ rác hàng ngày và mua sắm thêm xe chở rác khi cần

Tăng cường hiệu lực của các quy định về thu nhặt và xử lý rác Chính phủ tổ chức các thảo luận chuyên đề về vệ sinh sức khỏe

Vận động trẻ em vào phong trào cải thiện và giữ gìn môi trường

Tại Băng Cốc (Thái Lan), việc phân loại rác tại nguồn chí mới thực hiện được tại một số trường học và vài quận trung tâm, để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và quấn nilong rất kĩ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm.

2.4.2. Kinh nghiệm quản lý CTR tại Việt Nam ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

2.4.2.1. Phân loại CTRSH tại nguồn

Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004, ở nước ta các khu đô thị mặc dù chỉ chiếm 25% lượng chất thải sinh hoạt trong cả nước. Trước đây, việc quản lý rác thải ở các đô thị của Việt Nam chỉ đơn thuần theo hình thức thu gom, vận chuyển­ xử lý bằng chôn lấp tại các bãi chông lấp rác thải. Những năm gần đây, ở một số địa phương chu trình quản lý này đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực ở công đoạn cuối, đó là rác thải sinh hoạt đô thi đã được tập trung và xử lý trong nhà máy xử lý rác. Tuy nhiên, số lượng các nhà máy này trong cả nước không nhiều, hiện chỉ vài địa phương có nhà máy xử lý một phần rác đô thị, còn lại hầu hết vẫn phải xử lý theo hình thức chôn lấp. Rác thải không được phân loại tại nguồn đã gây khó khăn trong khâu xử lý không những ở các nhà máy mà còn đối với cả hình thức chôn lấp. Mặt khác, chính vì không được ph6aan loại nên khả năng tận dụng để tái chế, tận thu nguồn nguyên liệu từ rác cũng bị hạn chế và trên hết là nguy cơ ô nhiễm môi trường là điều khó tránh khỏi.

Vài năm gần đây một số địa phương đã bước đầu thí điểm việc phân loại rác tại nguồn. Tại Hà Nội, chương trình thí điểm phân loiaj rác đã được triển khai thí điểm tại phường Phan Chu Trinh từ năm 2002. Các hộ gia đình trong phường được hướng dẫn cách phân loại rác thành hai túi, một loại có thể làm phân compost và loại còn lại, được phát túi nilong hai màu để phân loại rác tại rác tại nhà. Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình chưa cao, khi dự án kết thúc thì quá trình phân loại cũng chấm dứt. Từ tháng 3/2007, với sự hỗ trợ từ phía Chính phủ Nhật Bản thông qua tổ chức JICA, thành phố Hà Nội đã tiến hành triển khai dự án phân loại rác tại nguồn áp dụng đối với 4 quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình và Đống Đa. Các hộ gia đình trên địa bàn 4 quận sẽ được tuyên truyền nâng cao nhận thức về tác dụng của tái chế rác thải và sự cần thiết phân loại rác tại nhà.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, Dự án “Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn với công nghệ phân loại rác tại nguồn ở quận 5 – VNM 5­20” trong Chương trình ASIA URBS với sự tài trợ của Ủy ban châu Âu đã được triển khai từ năm 2004 và kết thúc vào tháng 9/2006. Mục tiêu của dự án là quản lý rác thải bằng cách tiếp cận và giải quyết trên cả ba mặt kinh tế ­ kỹ thuật, môi trường và xã hội góp phần quan trọng vào việc giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường bức thiết trên địa bàn quận 5 – một trong những quận trung tâm có mật độ dân cư rất cao. Gần đây nhất, tại Long An, Thành Phố Long An đang triển khai chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn dưới sự hỗ trợ của Liên minh châu Âu. Dự án sẽ cung cấp túi nilong cùng thùng đựng rác 2 màu để hỗ trợ người dân tiến hành phân loại rác dễ phân hủy và rác có thể tái chế ngay tại các hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, cơ sở dịch vụ…

2.4.2.2. Thu gom chất thải rắn sinh hoạt

Thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị Việt Nam được tổ chức có hệ thống, hiện tại chủ yếu do các công ty môi trường đô thị do Nhà nước thành lập đảm nhiệm. Có 2 mô hình xã hội hóa áp dụng cho công tác QLCTR là: (1) Thu hút các doanh nghiệp/ đơn vị tư nhân và cộng đồng tham gia vào cả quá trình thu gom vận chuyển – xử lý CTR; (2) Xã hội hóa chia làm 2 giai đoạn thu gom – vận chuyển và xử lý CTR.

Mặc dù hiện nay tại các địa phương trong cả nước chưa có 1 chế độ đãi ngộ hoặc quy định rõ ràng về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các đơn vị/ doanh nghiệp tư nhân khi tham gia vào các hoạt động này nhưng tất cả các đô thị đều có từ 1 đến một vài các công ty như vậy, tùy thuộc vào quy mô và dân số đô thị. Ở một số thành phố và đô thị đã bắt đầu có công ty tư nhân tham gia và xu hướng này đang lan rộng tới nhiều đô thị khác cùng với chủ trương của Nhà nước thu hút sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế trong thu gom và xử lý chất thải đô thị. Ở địa bàn nông thôn (huyện, xã, thôn), một số nơi cũng có tổ chức thu gom và vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn, hoạt động dưới hình thức môi trường xã hoặc tổ, đội vệ sinh môi trường. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Kinh phí cho hoạt động của các tổ chức thu gom và vận chuyển chất thải ở đô thị và nông thôn dựa vào tài trợ của ngân sách của chính quyền địa phương và đóng góp của các hộ gia dân (Mức ­đóng góp do chính quyền địa phương quyết định, thường khoảng 2.500­3000 VND/ người/tháng ở các đô thị lớn; và khoảng 800­1.500 VND/người/tháng ở đô thị nhỏ và địa bàn nông thôn).

Công tác xã hội hóa việc thu gom và vận chuyển chất thải đang được thực hiện rộng rãi ở nhiều nơi. Ở hầu hết các địa phương nói chung và tại các thành phố lớn, công ty môi trường đô thị URENCO (thuộc loại hình doanh nghiệp DN Nhà nước) đảm trách phần lớn việc thu gom và xử lý CTR, phần còn lại là do các công ty cổ phần, hợp tác xã dịch vụ môi trường… thực hiện theo phương thức xã hội hóa. Tuy nhiên, theo khảo sát của Tổng cục Môi trường, khối lượng công việc của các URENCO lớn như vậy nhưng nguồn nhân lực tại các DN này lại chủ yếu là công nhân thu gom và lái xe (chiếm hơn 70% nguồn nhân lực của DN). Trong khi đó, khối DN tư nhân lại đang có những tiến bộ đáng ghi nhận, ví dụ như tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh hiện được đánh giá là những địa phương đi đầu trong công tác xã hội thu gom rác thải.

2.4.2.3. Tổ chức hoạt động thu gom, phân loại rác sinh hoạt trên địa bàn Hà Nội:

Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội là đơn vị trực tiếp thực hiện công tác quản lý chất thải của TP. Hà Nội. Công tác quản lý chất thải của Công ty gồm các giai đoạn sau:

Công tác thu gom: thu gom chất thải sinh hoạt bằng hình thức gõ kẻng thu ở nhà dân, tại các thùng rác vụn quét và nhặt rác trên đường phố chứa trong các xe gom.

Công tác vận chuyển: chất thải sinh hoạt đã được thu gom sẽ được chuyển từ nội thành Hà Nội lên bãi chôn lấp chất thải cách Hà Nội 50 km ở Nam Sơn (Sóc Sơn) bằng xe chuyên dụng.

Công tác xử lý: 100% chất thải sinh hoạt thu gom hiện tại được xử lý bằng phương pháp chôn lấp tại bãi chôn lấp theo quy trình công nghệ chôn lấp được ấn định.

Công tác phân loại: đang diễn ra tự phát và chỉ đối với những chất thải có khả năng hạn chế. Công việc phân loại này do những công nhân thu gom rac, những người bới nhặt phế liệu ở địa phương và từ ngoại tỉnh (Thái Bình, Nam Định v.v…) hoặc ngoại thành Hà Nội ( Triều Khúc) tiến hành.

Ngoài lực lượng chính là Công ty môi trường đô thị, Hà nội cũng đã có một số mô hình XHH thu gom rác thải như các công ty CP: Dịch vụ môi trường Thăng Long, Tây Đô Xanh và HTX Thành Công… và có khoảng gần 30 đơn vị tư nhân và tập thể khác tham gia thực hiện thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt.

Cụ thể HTX Thành Công bắt đầu hoạt động từ năm 2002, phạm vi hoạt động trên địa bàn phường Hạ Đình – quận Thanh Xuân. Đến nay đã mở rộng hoạt động ra 12 phường xã thuộc các quận huyện khác, HTX đã tạo ra thu nhập và giải quyết việc làm cho 547 xã viên, ngoài ra còn được hưởng BHXH, BHYT và bảo hiểm thân thể. HTX đứng ra đầu tư trang thiết bị, đến nay tổng vốn đầu tư lên đến 24 tỷ đồng. Đội xe của HTX có 60 chiếc, trong đó có 20 xe ép rác chuyên dùng, 15 xe vận tải, còn lại là xe tưới nước, rửa đường. Bình quân mỗi ngày HTX thu gom và vận chuyển khoảng 320 tấn rác sinh hoạt và 115 tấn phế thải xây dựng. Ưu điểm của mô hình hoạt động này là có sự góp vốn của các xã viên để đầu tư trang thiết bị phục vụ cho hoạt động chung của HTX. Với phương châm tiết kiệm, HTX đã có điều kiện tích lũy để đầu tư thêm phương tiện và mở rộng quy mô hoạt động. Với điều kiện có đầy đủ phương tiện, HTX đảm nhận cả khâu thu gom và vận chuyển rác trên địa bàn đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp giữa hai khâu trong một quy trình hoạt động, đảm bảo vệ sinh môi trường được tốt hơn. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Ở TP Hồ Chí Minh

Là các đơn vị tư nhân với các nhà máy, dự án quy mô như dự án tái chế rác thải của Công ty Vietstar đạt công suất 1.200 tấn/ngày; dự án Khu liên hợp CTR Đa Phước do Công ty TNHH Xử lý CTR Việt Nam có công suất 3000 tấn/ngày với những hạng mục tái chế rác thành phần compost hiện đại… Các nhà máy xử lý CTR này đều có công nghệ hiện đại, có khả năng tái chế, tái sinh năng lượng và thân thiện với môi trường.

Hồ Chí Minh đang tồn tại song song 2 hệ thống tổ chức thu gom rác sinh hoạt: hệ thống thu gom công lập và hệ thống thu gom dân lập. Hệ thống công lập gồm 22 công ty Dịch vụ công ích của các quận. Hệ thống này đảm nhận toàn bộ việc quét dọn vệ sinh đường phố, thu gom các chợ, rác cơ quan và các công trình công cộng, đồng thời thực hiện dịch vụ thu gom rác sinh hoạt cho khoảng 30% số hộ dân trên địa bàn, sau đó đưa về trạm trung chuyển hoặc đưa thẳng tới bãi rác. Hệ thống thu gom dân lập bao gồm các cá nhân thu gom rác, các nghiệp đoàn thu gom và các Hợp tác xã vệ sinh môi trường. Lực lượng thu gom dân lập chủ yếu thu gom rác hộ dân (thông qua hình thức thỏa thuận hợp đồng dưới sự quản lý của UBND Phường), trên 70% hộ dân trên địa bàn và các công ty gia đình.

  • Tổ chức thu gom và xử lý rác ở Đà Nẵng:

Việc tổ chức thu gom rác và xử lý chất thải rắn ở Đà Nẵng làm khá tốt, được Ngân hàng thế giới đánh giá là một trong những thành phố trong khu vực làm tốt vệ sinh đô thị. Lượng rác thu gom trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đạt 85%, trong đó nội thành là 100%. Công tác thu gom, giữ vệ sinh đô thị của Đà Nẵng có ưu điểm lớn nhất là ở khâu thu gom rác, đảm bảo các tuyến đường phố luôn sạch sẽ, người dân cơ bản không đổ rác ra đường, không có tụ điểm rác trên lòng, lề đường phố, không có ga rác để lộ thiên gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường và mỹ quan đô thị; bãi rác nằm cachs trung tâm thành phố 15km giữ được vệ sinh khá tốt, ngay tại bãi rác, mùi khó chịu được hạn chế tối đa, ít ảnh hưởng đến môi trường, không gây bức xúc trong nhân dân.

Đạt được kết quả đó là do TP. Đà Nẵng đã có biện pháp thực hiện hiệu quả như:

Thành phố coi trọng thực hiện xã hội hóa việc thu gom rác, phát huy được vai trò sức mạnh của các tổ chức quần chúng và chính quyền các cấp trong công tác thu gom rác; phân cấp xác định trách nhiệm cụ thể, rõ ràng và có quyền, từng tổ chức quần chúng ở các quận, phường, tổ dân phố đều tham gia vào các khâu thu gom rác, giữ gìn vệ sinh đường bộ ngõ phố với nội dung công việc cụ thể. Tổ dân phố tham gia thảo luận điểm đặt thùng rác công cộng và quản lý bảo vệ thùng rác. Các đoàn thể đều tích cực tham gia phong trào Ngày Chủ nhật sạch, xây dựng đoạn đường xanh, sạch đẹp; trong đó , Hội phụ nữ, thanh niên, học sinh làm nòng cốt, vận động các gia đình đều có thùng rác trong nhà, duy trì thường xuyên tổng vệ sinh vào ngày Chủ nhật.

Phí vệ sinh thu được khá tốt, thu theo hộ từ 7.000­15000 đồng và các hộ sản xuất kinh doanh tính theo lượng rác thải. Số kinh phí thu được phân bố lại hợp lý giữa các cấp (thành phố trích 10% cho cơ sở, gồm 2% tổ dân phố, 3% cho phường, 5% cho quận)

Coi trọng và làm khá tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân vừa nâng cao ý thức, vừa tự giác thực hiện giữ vệ sinh đường phố; có thể tái xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định chung. Các hộ kinh doanh phải ký cam kết đảm bảo vệ sinh môi trường, nếu vi phạm sẽ bị rút giấy phép kinh doanh. Những gia đình ở mặt phố, mặt ngõ nếu vứt rác ra đường đều bị Thanh tra Giao thông xử phạt.

Áp dụng phương thức thu gom rác tiên tiến, phù hợp với trang thiết bị cải tiến, công nghệ đơn giản và luôn giữ rác kín trong suốt quá trình thu gom vận chuyển, không có thời gian tạm dồn, dừng trên lòng, lề đường phố, không có ga rác hở, phun xử lý men hóa chất kịp thời, chôn lấp đúng quy trình.

Toàn thành phố được bố trí hơn 4.000 thùng chứa rác cố định và lưu động có khỏa cố định, bình quân cách nhau 100m có đặt thùng chứa rác thải và 5 trạm trung chuyển được khử mùi và ép rác tại chỗ. Các nhà hàng, công sở, xí nghiệp đều có thùng chứa rác. Các thùng chứa rác được thiết kế gọn nhe, thuận tiện cho đổ rác, vận chuyển nhẹ nhàng, được thường xuyên rửa sạch, khi đầy được kịp thời vận chuyển bằng xe chuyên dùng đến các trạm trung chuyển hoặc điểm xe ép rác, đảm bảo không để rác lộ thiên, tập trung trên các đường phố. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Đối với rác thải xây dựng, chủ công tình (cả nhà ở) ký hợp đồng với Công ty Môi trường về việc thu gom. Công ty có phương tiện để chứa và chuyển rác đến nơi quy định hoặc phục vụ san lấp mặt bằng, tránh việc để vôi thầu, cát bừa bãi làm tắc nghẽn hệ thống thoát nước. Khi lấp hồ sơ xây dựng công trình nhất thiết phải có biện pháp thi công đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường.

Trạm trung chuyển rác là nơi tiếp nhận các thùng rác chở đến, phun men, hóa chất xử lý sơ bộ, ép rác vào các conterner kín để xe ô tô chở ra bãi chôn lấp. Trạm được thiết kế xây dựng hợp lý ngay trong nội thành kề cận các nhà dân trên mặt đường phố nhưng đảm bảo kín đáo, biệt lập, có phòng làm việc , điều hành rất hợp vệ sinh, không tỏa mùi khó chịu do có hệ thống phun hóa chất khử mùi, phun nước rửa sạch, quạt đẩy hơi rác lên cao qua hệ thống ống khỏi ra xa, ép và chuyển rác đến khu bãi xử lý chôn lấp tập trung, nên được người dân xung quanh nơi đặt trạm chấp nhận.

Các phương tiện vận chuyển rác được bảo quản luôn sạch sẽ, xe chở rác được rửa sạch khi rời bãi rác, không có loại xe thu gom đẩy tay, để ngổn ngang khắp nơi trên đường phố.

Có cơ chế quản lý nội bộ Công ty Môi trường đô thị khá chặt chẽ, làm tốt việc thanh, kiểm tra, thường xuyên, kịp thời phát hiện các thùng rác đầy, để chuyển đi ngay và thay thùng trống vào đó, nên rác không bị tràn ra đường phố. Có cơ chế khoán cho đội quét dọn. Việc quét dọn rác đường phố được Công ty giao cho tổ dân phố, phường thực hiện chế độ thường xuyên đánh giá, cho điểm làm cơ sở để Công ty nghiệm thu kết quả các đội. Kết quả đạt được của TP. Đà Nẵng trong việc thu gom rác, xử lý chất thải rắn có được do nhiều nguyên nhân. Trong đó có sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo cụ thể của các cấp chính quyền và sự tham gia tích cực, tự giác của các đoàn thể, nhân dân. Đảm bảo đúng quy trình quản lý, thu gom chất thải với cơ chế thanh, kiểm tra và xử phạt nghiêm khắc, kịp thời.

2.4.2.4. Mô hình XHH thu gom rác ở Hải Phòng: ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Quán toan là một phường ven đô thuộc quận Hồng Bàng, Hải Phòng.

Là một đô thị mới hình thành và phát triển.

Trong một thời gian khá dài, Quán Toan là điểm có nhiều bức xúc về vấn đề rác thải, người dân thường có thói quen xả rác tự do, gây tình trạng ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh trầm trọng trong phường, ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe của người dân. Tổ thu gom rác của phường chỉ có vài ba người, phương tiện thu gom cọc cạch, nhân viên thu gom không được đào tạo, hướng dẫn chuyên môn…

Vào thời điểm đó, dự án hỗ trợ cải cách hành chính thí điểm tại thành phố Hải Phòng về XHH dịch vụ công ra đời (VIE/98/0003), phường Quân Toan được lựa chọn thực hiện thí điểm, Công ty Mô trường đo thị Hải Phòng cử một nhóm người đứng ra thiết lập mô hình thí điểm XHH dịch vụ thu gom rác trên địa bàn phường theo quyết định 186/QD­UB ngày 2/2/2000 của UBND TP. Hải Phòng.

Tổ công tác đã tổ chức khảo sát thực tế nhu cầu và đối tượng phục vụ, phối hợp với chính quyền địa phương làm việc với từng tổ, cụm dân cư để xác định khu vực triển khai dịch vụ, số lượng các đối tượng có nhu cầu phục vụ, phân loại đối tượng, khối lượng công việc, xây dựng quy trình thu gom rác, các vị trí tập kết rác và thời điểm thu gom rác; xây dựng quy chế giám sát, kiểm tra dịch vụ công và công khai mức thu phí (theo hình thức khoản thu, khoản chi).

Công tác tuyên truyền được đi trước một bước bằng các chiến dịch tuyên truyền, vận động mọi người dân trong cộng đồng, các cấp chính quyền, các doanh nghiệp đông trên địa bàn hiểu rõ được quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn môi trường sống; các cuộc hội thảo về xây dựng quy trình thu gom rác, kế hoạch triển khai và tiến độ thực hiện dự án; Xác định vai trò, vị trí, trách nhiệm của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương, cụm, tổ dân phố và người dân; Trách nhiệm của người dân trong việc đóng góp phí vệ sinh; quy chế giám sát kiểm tra…

Mặc dù về hình thức tổ chức, thu gom rác Quán Toan trực thuộc Công ty Môi trường đô thị Hải PHòng nhưng về cơ chế, chính sách, tài chính… nó được chủ động như một đơn vị độc lập theo hình thức khoán thu, chỉ với sự huy động tham gia đóng góp của người dân để giải quyết vấn đề rác thải.

Tổ thu gom rác đảm nhận chủ yêu khâu thu gom ở khu vực xóm ngõ, khu tập thể theo hình thức “phường tự quản hoặc rác dân lập”, sau đó chuyển cho doanh nghiệp nhà nước (URENCO Hải Phòng) thu gom ở các khu vực tập trung, vận chuyển ra bãi chôn lấp hoặc tụ điểm rác của thành phố.

Có sự tham gia của cộng đồng trong công tác thu gom chất thải đã làm cho tình hình vệ sinh được đảm bảo. Mỗi năm tổ thu gom rác thu từ mức đóng góp của người dân để chi lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và một số chi phí có liên quan cho những người thu gom rác. Từ đó tạo được ý thức trách nhiệm của từng người dân, của các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp trên địa bàn phường, đặc biệt là chính quyền phường cũng chung tay giải quyết vấn đề môi trường.

2.4.2.5. Xử lý chất thải rắn sinh hoạt ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Ở Việt Nam, thu hồi và tái chế, tái sử dụng chất thải còn hạn chế, việc xử lý chất thải chủ yếu là chôn lấp. Hiện nay, trong sức ép và thách thức ngày càng gia tăng trong việc xử lý CTR, mặc dù Nhà nước ta chưa ban hành quy định và chính sách đãi ngộ cụ thể nào để thu hút các doanh nghiệp tư nhân tham gia nghiên cứu, hoạt động trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn nhưng một số doanh nghiệp công ty tư nhân đã và đang triển khai nghiên cứu một số công nghệ xử lý chất thải rắn, áp dụng thí điểm tại một số tỉnh thành ở nước ta, bước đầu mang lại hiệu quả đáng kể trong công tác xử lý rác thải, trong đó có 4 công nghệ đã được Bộ Xây dựng cấp giấy chứng nhận bao gồm: (1)

Công ty Môi trường xanh đã nghiên cứu xử lý CTR theo công nghệ Serafin và đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp bằng sáng chế; (2) Công ty Cổ phần Đầu tư­ Phát triển Tâm Sinh Nghĩa (tại TP. HCM) đã nghiên cứu xử lý CTR theo công nghệ An Sinh – ASC; (3) Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thủy lực máy nghiên cứu và chế tạo công nghệ ép CTR thành viên nhiên liệu; (4) và công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng phương pháp đốt của Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Công nghệ và Môi trường.

Công nghệ CTR của Công ty Thủy lực máy đã được áp dụng thử nghiệm tại Thành Phố Sông Công (Thái Nguyên). Công nghệ Seraphin, AST có khả năng xử lý CTR đô thị cho ra các sản phẩm như: phân hữu cơ, nhựa tái chế, thanh nhiên liệu… Lượng CTR còn lại sau xử lý của công nghệ này chỉ chiếm 15% lượng chất thải đầu vào. Công nghệ SERAPHIN, ANSINH – ASC và MBT – CD 08 đã được triển khai áp dụng tại Nhà máy xử lý rác Đông Vinh (Nghệ An), Nhà máy Xử lý rác Sơn Tây (Hà Nội); Nhà máy Xử lý rác Thủy Phương ( Thừa Thiên­ Huế); Nhà máy xử lý rác Đồng Văn (Hà Nam). Tuy nhiên, Nhà máy xử lý rác Sơn Tây (Hà Nội) triển khai công nghệ SERAPHIN đã ngừng hoạt động và thay bằng nhà máy đốt rác năng lượng thấp của Công ty Môi trường Thăng Long với công suất 300 tấn/ngày.

2.4.3. Kinh nghiệm quản lý CTR có thể áp dụng cho TP Phủ Lý

Qua các kinh nghiệm trong công tác quy hoạch quản lý chất thải rắn trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam, phương pháp tiếp cận chung của quy hoạch quản lý chất thải rắn áp dụng cho TP Phủ Lý cũng cần tuân theo hệ thống quản lý chất thải rắn tổng hợp, tích hợp dựa trên nguyên tắc giảm thiểu tại nguồn, tái xử lý, tái tạo, tái chế trước khi bước loại bỏ chất thải cuối cùng là chôn lấp. Chính vì lý do này thang phân cấp cho quản lý cũng như xử lý chất thải rắn phải bắt đầu bằng công tác giảm thiểu – sử dụng hiệu quả và tăng cường tái sử dụng. phương pháp loại bỏ chất thải cuối cùng trong thang phân cấp mới là chôn lấp. ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Về công tác quản lý:

Coi trọng thực hiện xã hội hóa việc thu gom rác, phát huy được vai trò, sức mạnh của các tổ chức quần chúng và chính quyền các cấp trong công tác thu gom rác, phân cấp và xác định trách nghiệm cụ thể, rõ rang cho từng cấp quản lý

Các tổ chức thu gom rác được chủ động theo hình thức khoản thu, chỉ với sự huy động tham gia đóng góp của người dân để giải quyết vấn đề rác thải. có cơ chế giám sát của các đối tượng đượng hưởng dịch vụ, giao cho tổ dân phố, UBND phường làm đầu mối thực hiện chế độ   thường xuyên đánh giá, cho điểm làm cơ sở để nghiệm thu kết quả. Từ đó tạo được ý thức trách nhiệm của từng người dân, của các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp đóng trên địa bàn phường, đặc biệt là chính quyền phường cùng chung tay giải quyết vấn đề môi trường.

Có các quy định cụ thể và các biện pháp chế tài xử lý nghiêm khắc, kịp thời những trường hợp vi phạm để tăng cường hiệu lực.

Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân ý thức tự giác thực hiện giữ vệ sinh đường phố. Việc tuyên truyền phải được thực hiện một cách rộng rãi, đa dạng trên các phương tiện truyền thông và gây được sự chú ý.

Có cơ chế cho tư nhân thầu cung cấp dịch vụ thu gom rác thải ở các khu vực có các điều kiện như:

+ Có thể xác định rõ kết quả đầu ra (xác định được khối lượng rác thải)

+ Có thể giám sát được việc thực hiện;

+ Có cơ chế kiểm tra, giám sát và các biện pháp xử lý vi phạm.

Việc phân loại rác tại nguồn chỉ có thể mang lại hiệu quả nếu đảm bảo thực hiện đồng bộ các khâu: tồn trữ tại nguồn, vận chuyển và xử lý (trong đó cần chú trọng đến các cơ sở tái chế).

  • Về các mô hình XHH:

Mô hình Hợp tác xã thu gom­ vận chuyển rác có sự góp vốn của xã viên để đầu tư phương tiện phục vụ hoạt động chung của Hợp tác xã, tạo điều kiện mở rộng quy mô hoạt động và có sự phối hợp đồng bộ giữa khâu thu gom và vận chuyển rác trong một quy trình thống nhất, đảm bảo vệ sinh môi trường được tốt hơn ( Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Thực hiện cơ chế đấu thầu thu gom, vận chuyển rác ở các nguồn thải quy mô lớn và có tính chất độc lập như các cơ sở thương mại, công nghiệp và xây dựng do có điều kiện thuận lợi trong việc thanh toán chi phí và kiểm soát chất lượng dịch vụ.

  • Về công nghệ xử lý CTRSH:

TP Phủ Lý có thể xem xét, cân nhắc áp dụng các công nghệ trong nước như Serafin, Công nghệ An Sinh­ ASC, Công nghệ tái chế giấy, thủy tinh, nhựa,chôn lấp hợp vệ sinh.

Việc lựa chọn công nghệ tái chế chất thải còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và khả năng ứng dụng các chất thải tái chế trong địa phương. Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ Serafin sẽ góp phần đáng kể trong việc giảm diện tích, áp lực cho các khu xử lý CTR cho Tỉnh và Thành phố đặc biệt là quỹ đất cho bãi chôn lấp.

  • Đối với việc áp dụng các công nghệ xử lý CTR của nước ngoài

Công nghệ khí hóa Plasma biến rác thành điện năng: đây là công nghệ xử lý chất thải hiện đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới. Công nghệ xử lý Plasma đảm bảo an toàn cao cho môi trường, không khói độc hại và các chất lắng cặn độc hại như các lò đốt rác thông thường.

Sản phẩm công nghệ này đem lại khí tổng hợp syngass để sảm xuất điện năng, sản phẩm xỉ tro( thủy tinh Bazan tro) không có độc tố, làm vật liệu xây dựng chống thống tốt.

Tuy nhiên cũng như các công nghệ xử lý khác, công nghệ Plasma quá trình hoạt động thải ra các chất Nox, Sox tuy có thấp hơn các lò đốt khác nhưng cũng cần quan tâm xử lý. Vì là công nghệ sạch nên mức đầu tư cho việc xử lý một tấn rác cao và chi phí vận hành cao.

Công nghệ khí hóa Plasma có thể áp dụng tại các khu xử lý liên tỉnh với công suất 300­500 tấn rác/ngày.

Công nghệ đốt chất thải(EfW) của Singapore cũng nên được cân nhắc áp dụng. Ưu điểm của công nghệ này khá nổi trội, có thể áp dụng để xử lý nhiều dạng chất thải như: Chất thải rắn sinh hoạt ( giảm thiểu 90% rác thải đô thị phát sinh, kéo dài tuổi thọ bãi chôn lấp do chỉ sử dụng cho chôn lấp tro); Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại; Bùn cặn đặc quánh.

Sản phẩm của quá trình xử lý theo công nghệ này là khôi phục, tái tạo năng lượng thông qua quá trình chuyển đổi năng lượng đốt thành điện năng. Mặt khác, tro của quá trình xử lý cũng được tận dụng để làm vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, đây là công nghệ sạch nên đồi hỏi chi phí xây dựng vận hành cao.

Như vậy, với điều kiện về nguồn lực, trong thời gian trước mắt TP Phủ Lý nên ưu tiên áp dụng công nghệ trong nước với chi phí lắp đặt và vận hành rẻ hơn rất nhiều so với công nghệ nhập khẩu, vì thế sẽ mang tính khả thi cao hơn. Nhưng nếu huy động được các nguồn lực các tổ chức nước ngoài với cơ chế đối ứng hợp lý thì các công nghệ hiện đại của nước ngoài hoàn toàn có thể áp dụng trên địa bàn thành phố.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537