Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT

Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT  dưới đây là bài luận văn thạc sĩ giáo viên đánh giá cao trong quá trình làm bài. Bởi tác giả biết và nhận định Nền Giáo dục – đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người và sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và xã hội học cho rằng giáo dục là nhân tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển xã hội. Đề tài: Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu Thạc sĩ của tác giả.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục đào tạo đã từ lâu là một yếu tố rất quan trọng, thiết yếu trong việc phát triển của một đất nước. Các quốc gia trên thế giới họ đều lấy giáo dục làm quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước. Thực vậy, giáo dục là điều kiện tiên quyết giúp quyết định nền kinh tế của đất nước đó có phát triển hay không, xã hội đó có ổn định hay không, đất nước đó có nhiều nhân tài để phục vụ cho đất nước hay không. Chính vì vậy giáo dục đào tạo đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của đất nước

Mục tiêu của giáo dục là phát triển toàn diện nhân cách của con người về đức, trí, thể, mĩ, kỹ năng nghề nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ. Mục tiêu này sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của toàn xã hội, của gia đình, của mỗi cá nhân vào việc tạo ra những điều kiện cần thiết, tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển giáo dục. Hội nghị lần thứ II – Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của gia đình và mỗi công dân. Kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, người lớn làm gương cho con trẻ noi theo. Phát động phong trào toàn dân học tập, người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít…” [62].

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông (trong đó có giáo dục trung học) là bộ phận tiếp theo của giáo dục mầm non, là nền tảng cho giáo dục đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Có nghĩa là GDPT không chỉ chuẩn bị cho học sinh học tiếp lên cao mà còn chuẩn bị lực lượng lao động có văn hoá cho xã hội.

Giáo dục phổ thông (GDPT) có một vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với ngành giáo dục nói riêng cũng như đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, nhất là trong giai đoạn các quốc gia cần nhiều lực lượng lao động có chất lượng cao, phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hoá (CNH) và hiện đại hoá (HĐH). Trong nền kinh tế toàn cầu của thị trường tự do không ngừng cạnh tranh mãnh liệt, một lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ chất lượng cao là yếu tố sống còn của một nền kinh tế quốc gia để thu hút đầu tư nước ngoài và tạo nên việc làm và của cải cho đất nước.

Kỹ năng và kiến thức thu nhận được trong giai đoạn GDPT giúp cho mọi công dân tham gia đắc lực nhất vào các hoạt động xã hội, kinh tế và chính trị trong cộng đồng. GDPT cũng được xem như là một quyền con người giúp họ thoát khỏi dốt nát và giảm thiểu những tác dụng tệ hại của nghèo nàn, đặc biệt liên quan đến sức khỏe và dinh dưỡng. Phát triển giáo dục phổ thông phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của một đất nước và quốc tế trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, vừa mang tính ổn định ở từng giai đoạn, vừa luôn vận động, đổi mới.

Trong điều kiện nước ta còn nghèo, Đảng và Nhà nước đã không ngừng tăng đầu tư ngân sách cho giáo dục, trong đó có giáo dục phổ thông; nhưng vẫn chưa đủ để giải quyết giữa yêu cầu phát triển quy mô giáo dục ngày càng tăng với chất lượng và hiệu quả giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Bởi vậy, xã hội hóa giáo dục là chủ trương, chiến lược được Đảng và Nhà nước ta xác định ngay từ khi hình thành nền giáo dục cách mạng. Quan điểm đó được Đảng chỉ đạo xuyên suốt qua đường lối phát triển giáo dục và được khẳng định là xây dựng một nền giáo dục Của dân, do dân, vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng.

Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ: Về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, Nghị định số 73/1999/NĐ- CP ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa, đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010, quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục là hành lang pháp lý tạo điều kiện thực hiện xã hội hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là huy động năng lực của toàn xã hội tham gia vào hoạt động giáo dục, đây là quá trình vận động và huy động sự tham gia rộng rãi của nhân dân, toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục tương ứng với sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhân dân. Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Sự tham gia của toàn xã hội trong quá trình làm công tác giáo dục đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả cao. Từ đó, đã xuất hiện nhiều loại hình giáo dục, đào tạo khác nhau với sự tham gia của cả xã hội, các thành phần kinh tế khác nhau trong đó có loại hình tư thục. Điều đó đã góp phần làm cho hoạt động giáo dục đào tạo của cả nước có sự thay đổi cơ bản về hình thức cũng như chất lượng. ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Cùng với sự phát triển đi lên của các tỉnh, thành phố trên cả nước, TP. Hồ Chí Minh đã và đang là trung tâm rất sôi động trong sự phát triển về mọi mặt, trong đó có giáo dục. Có thể khẳng định, với sự chỉ đạo sâu sát và hỗ trợ nhiệt tình của Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lãnh đạo Thành phố, sự quan tâm, tin tưởng và ủng hộ của người dân Thành phố, giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh luôn phát triển không ngừng suốt hơn 40 năm qua (sau năm 1975). Từ 14.992 lớp học với 595 trường, sau 40 năm, đến nay, Thành phố đã có 27.901 lớp học với 938 trường. Qua đó, đảm bảo chỗ học cho 1.122.447 học sinh phổ thông (so với 742.763 học sinh vào năm 1975). Như vậy, số phòng học đã tăng 1,86 lần để theo kịp số học sinh tăng 1,51 lần. Đó là nỗ lực vô cùng lớn của Thành phố Hồ Chí Minh. Nhất là năm 1999, Thành phố chọn là năm Giáo dục, toàn Thành phố đã đẩy mạnh công tác xây dựng trường lớp. Nhờ vậy, đã tăng thêm 427 phòng học khối phổ thông và 461 phòng học mầm non, tạo đà cho sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng trường lớp, đáp ứng nhu cầu người dân Thành phố [128].

Kết quả phổ cập giáo dục trung học tiếp tục được đảm bảo. Năm 2002, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Năm 2009, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông (theo chuẩn của Thành phố). Mô hình trường tiên tiến, phù hợp với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế được thí điểm thực hiện tại trường THPT Lê Quý Đôn, THPT Nguyễn Du, THPT Nguyễn Hiền là bước đột phá của Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố đã sớm phát hiện xu thế hội nhập là tất yếu. Mô hình này đã ngày càng khẳng định hiệu quả, được Lãnh đạo Thành phố phê duyệt và dự kiến triển khai thực hiện đại trà trong thời gian tới.

Bên cạnh những kết quả, cũng còn không ít tồn tại, hạn chế trong quản lý, phát triển giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố. Bởi vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố, đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước tạo điều kiện cho loại hình giáo dục này phát triển một cách ổn định là rất cần thiết.

Từ những lý do trên, tác giả chọn Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công của mình, một đề tài có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn đối với Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, với giáo dục cả nước nói chung.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu

Luận án có mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông; trên cơ sở đó vận dụng vào nghiên cứu QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, tác giả phân tích phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố.

  •  Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, Luận án có những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

  • Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án; nhận xét và chỉ ra khoảng trống trong QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.
  • Nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông.
  • Nghiên cứu thực trạng giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.
  • Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh thời gian qua.
  • Phân tích phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

  • Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Phạm vi nghiên cứu
  • Về nội dung: Luận án nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông; trên cơ sở đó luận án tập trung nghiên cứu thực trạng Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
  • Về không gian: địa bàn Thành phố Hồ Chí
  • Về thời gian: khảo sát số liệu từ năm 2005 đến năm 2016 (từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ – CP về đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

  • Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo thời kỳ đổi mới.

  • Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

  • Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu:

Là phương pháp được tác giả sử dụng để thu thập các tài liệu, tư liệu sơ cấp, thứ cấp của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến đề tài Luận án. Thông qua việc thu thập thông tin, tài liệu tác giả đã hệ thống hoá và khái quát hoá các tri thức đã có trong các tài liệu về quan điểm QLNN về giáo dục nói chung, QLNN ở cấp tỉnh đối với giáo dục phổ thông nói riêng của Đảng, Nhà nước. Nghiên cứu các công trình khoa học QLNN về giáo dục trên địa bàn cấp tỉnh trong nước và ngoài nước ở những điều kiện lịch lịch sử cụ thể để đưa ra các luận cứ, lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Trên cơ sở đó, luận án tập trung vào nghiên cứu những vấn đề cần làm sáng rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông, giáo dục trung học phổ thông tư thục.

  • Phương pháp phân tích tài liệu:

Được áp dụng để phân tích các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Tài liệu sơ cấp bao gồm: các văn bản pháp luật và văn kiện của Đảng có liên quan, các công trình khoa học, số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tài liệu thứ cấp bao gồm: các bài báo, tạp chí, kết luận phân tích đã được các tác giả khác thực hiện.

Đây là phương pháp rất quan trọng đối với quá trình nghiên cứu. Trên cơ sở các tài liệu, thông tin và dữ liệu thu thập được, tác giả sẽ phân tích, đánh giá, xem xét trên các khía cạnh khoa học quản lý công. Từ đó, tổng hợp lại để có những kết luận, những đề xuất phù hợp với lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

  • Phương pháp tổng hợp:

Được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu, phỏng vấn, hỏi chuyên gia. Tác giả phân tích nội dung các tài liệu có liên quan đến quản lý nhà nước về giáo dục trung học trong thời gian qua trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Tác giả tổng hợp nội dung đã phân tích để đưa ra các nhận định, kết luận, là kết quả đầu ra của quá trình nghiên cứu.

  • Phương pháp so sánh:

Được sử dụng để so sánh các quan điểm, quan niệm khác nhau liên quan đến nội dung nghiên cứu, so sánh mô hình, kinh nghiệm nước ngoài, từ đó rút ra những giá trị tham khảo, vận dụng phù hợp trong hoàn cảnh, điều kiện ở nước ta.

So sánh một số quan niệm xung quanh vấn đề xã hội hóa giáo dục, các hình thức tổ chức giáo dục để đưa ra các nhận xét, quan điểm của tác giả. Luận án cũng so sánh mục tiêu của các văn bản quy phạm pháp luật với kết quả thực tiễn để đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay.

  • Phương pháp chuyên gia:

Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp chuyên gia, tham khảo các chuyên gia, nhà quản lý có nhiều kinh nghiệm và am hiểu lĩnh vực tổ chức nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương, quản lý hành chính và quản lý giáo dục. Do vậy, khi có ý kiến các chuyên gia, tác giả tập hợp, nghiên cứu theo định hướng hợp lý và khoa học nhất. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý giáo dục cho phù hợp với lý luận khoa học và hiệu quả trên thực tiễn.

  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi:

+ Mục đích điều tra bằng bảng hỏi:

Thu thập thông tin định lượng phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của Luận án. ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

+ Nội dung điều tra bằ bảng hỏi:

Cụ thể là thu thập kết quả hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Thu thập quan điểm đánh giá của công chức quản lý và của thầy, cô giáo một số trường. Thu thập các ý kiến, đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Phươg pháp khảo sát:

Thiết kế các phiếu điều tra để thu thập thông tin thực trạng hoạt động của hệ thống các cơ quan QLNN ở cấp Thành phố đối với giáo dục phổ thông các địa phương và tìm hiểu nhu cầu, định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan này trong triển khai nghiên cứu đề tài luận án.

Tác giả thiết kế 2 mẫu Phiếu xin ý kiến:

  • Phiếu xin ý kiến cán bộ, viên chức quản lý giáo dục [Phụ lục số 1].
  • Phiếu xin ý kiến giáo viên trung học phổ thông tư thục [Phụ lục số 2].

Chọn mẫu tại 4 quận lớn : Quận 2, Quận 11, Quận Phú Nhuận và Quận Tân Bình. Đối tượng khảo sát: 1/Công chức ở UBND quận, Thành phố; 2/CBQL trường phổ thông tư thục, một số cá nhân đầu tư – thành lập trường phổ thông tư thục [Phụ lục số 3].

Số phiếu phát ra: 200, số phiếu thu vào: 151, đạt 75,86%.

5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

  • Trong xu thế mở của hội nhập, chủ trương xã hội hóa giáo dục, nhằm thu hút mọi nguồn lực xã hội tham gia vào phát triển giáo dục phổ thông có phải là xu thế tất yếu của cơ chế thị trường ở Việt Nam nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng?
  • Quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả và còn những tồn tại bất cập gì?
  • Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đạt được mục tiêu giáo dục phổ thông thời kỳ đổi mới, mở cửa hội nhập của Thành phố ?

Giả thuyết nghiên cứu

Xã hội hóa giáo dục là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước Việt Nam thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế. Quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả to lớn góp phần thực hiện tốt mục tiêu đào tạo nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thành phố. Bên cạnh đó giáo dục trung học phổ thông tư thục của Thành phố cũng còn một số bất cập, tồn tại cần được làm rõ.

Để hình thành các giải pháp quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, cần phải nghiên cứu thực trạng và các nhân tố tác động đến QLNN về giáo dục phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố. Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục; có những kiến nghị, đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh được tốt hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và của Thành phố.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận

Luận án nghiên cứu tổng quan và bổ sung cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục; vận dụng trong quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thực tiễn

  • Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến giáo dục trung học phổ thông tư thục nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng.
  • Phân tích thực trạng QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.
  • Đánh giá thực trạng QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.
  • Phân tích phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.

7. Những đóng góp mới của luận án

  • Luận án tổng quan những nghiên cứu trong, ngoài nước QLNN về giáo dục phổ thông tư thục, vận dụng trong QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
  • Nghiên cứu, bổ sung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông.
  • Nghiên cứu làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
  • Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
  • Phân tích phương hướng và đề xuất giải pháp QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
  • Kết quả nhiên cứu của Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghên cứu, giảng dạy chuyên ngành quản lý công, trong QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.

8. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung của Luận án được cấu trúc trong 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục

Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Chương 4. Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh./

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TƯ THỤC ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

1.1.1. Những công trình của các tác giả ngoài nước

Giáo dục phổ thông tư thục trên thế giới đã phát triển từ rất sớm và kèm theo đó là nhiều công trình nghiên cứu về loại hình trường này của nhiều tác giả.

Trong cuốn: Public policy and private education in Japan (1988), các tác giả Estelle James, Gail R. Benjamin quan tâm tới hệ thống trường học công lập và tư thục tại Nhật Bản và cách mà các bên tương tác với nhau tạo nên nền giáo dục phổ biến, rộng rãi của Nhật Bản. Do các mục tiêu chính trị nhằm hạn chế quy mô của lĩnh vực công lập và thị trường lao động làm cho giáo dục trở nên thu hút về mặt kinh tế đối với các nhà đầu tư mà khu vực giáo dục tư nhân tại Nhật Bản rất rộng, đặc biệt là cấp Trung học trở lên. Cuốn sách là một nghiên cứu nghiêm túc về những lựa chọn chính sách giáo dục của Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản đã thành công trong việc tạo dựng sự phù hợp giữa khu vực công lập và tư thục trong giáo dục [135].

Với công trình Chuẩn thị trường và chính sách xã hội (Quasi – markets and Social Policy, (1993), Macmillan, London, các tác giả Le Grand, J. & Barlett, W. cho rằng thị trường giáo dục là một thực tế đã được chấp nhận trong giáo dục. Đó là một thị trường đặc biệt, khác với thị trường hàng hóa hoặc thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ khác. Trong thị trường giáo dục, bên cạnh cơ chế cạnh tranh và các nhà cung ứng giáo dục tư nhân, nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục, quản lý chất lượng, bảo vệ quyền lợi người học nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục [142].

Các tác giả Marlaine Lockheed và Emmanuel Jimenez (1994) trong công trình nghiên cứu Public and private secondary schools in developing countries: What are the differences and Why do they persist? (1994) đã tìm hiểu thực trạng về sự cân bằng giữa nhà nước và tư nhân trong giáo dục và những tranh luận chính sách xung quanh vấn đề này. Nghiên cứu trình bày các kết quả so sánh hiệu quả của trường công lập và trường tư thục tại 5 quốc gia đang phát triển, có nền giáo dục đa dạng đó là Colombia, Cộng hòa Dominican, Philippines, Tanzania và Thái Lan; tập trung phân tích khác biệt về đầu vào, quy trình và quản lý trường học theo hai cách: sử dụng các dữ liệu sẵn có và trực tiếp thu thập thông tin chi tiết từ một vài mẫu nhỏ là trường công lập và tư thục tại 5 quốc gia này. Nghiên cứu có sức ảnh hưởng quan trọng tới chính sách giáo dục công lập khi khẳng định các trường công lập có thể đạt được hiệu quả bằng cách áp dụng cách thức quản lý của trường tư thục [138].

Tooley, James (1999): Công nghiệp giáo dục toàn cầu, những bài học từ giáo dục tư thục ở các nước đang phát triển (The Global Education Industry, Lessons from Private Education in Developing Countries), Institute of Economic Affairs, London. Cuốn sách đã chỉ ra trong quá trình xây dựng một nền giáo dục tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội; tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, mỗi quốc gia có những phương thức và con đường đi khác nhau [143]. Trong công trình nghiên cứu về các chính sách giáo dục tư và công tại các nước Mỹ La tinh: Private Education and Public Policy in Latin America (2005), các tác giả Laurence Wolff, Juan Carlos Navarro và Pablo González đã đánh giá các chính sách công trong khu vực ảnh hưởng tới hoạt động của các trường tư thục. Cuốn sách mô tả thực trạng những chính sách và các mối quan hệ giữa 2 khu vực công và tư trong giáo dục tại 6 nước: Argentina, Chile, Colombia, Guatemala, Peru và Venezula. Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của giáo dục tư thục và khái niệm về “tư nhân hóa” trong giáo dục đã là một khái niệm lỗi thời. Hay nói đúng hơn, sự khác biệt giữa trường công và trường tư không quan trọng bằng những lợi ích cộng đồng đã được thừa nhận của mỗi bên. Với các chính sách đúng đắn, giáo dục công lập chất lượng cao có thể cùng tồn tại với sự phát triển của giáo dục tư thục. Các tác giả cũng chỉ ra rằng, trái với các giả định chung, giáo dục tư thục không chỉ phục vụ cho tầng lớp khá giả mà còn phục vụ cho cả tầng lớp nghèo và thiếu thốn trong xã hội [144].

Đặc biệt hai tác giả nước ngoài nghiên cứu về giáo dục ngoài công lập của Việt Nam đó là tác giả Paul Glewwe và Harry Anthony Patrinos với công trình nghiên cứu The Role of the Private Sector in Education in Vietnam: Evidence from the Vietnam Living Standards Survey (1988). Nghiên cứu đã phân tích thực trạng của Giáo dục ngoài công lập tại Việt Nam và sử dụng dữ liệu từ cuộc Khảo sát năm 1992-1993 về Mức sống ở Việt Nam để thu thập nguyên nhân các hộ gia đình lựa chọn trường học công lập hay tư thục cho con em họ và chi phí cũng như lợi ích của các trường tư thục.

Nghiên cứu có phân tích tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội và địa lý. Các hộ gia đình khá giả của Việt Nam thường ít có xu hướng lựa chọn các trường tư thục, nhưng lại có xu hướng lựa chọn các trường tư thục cho con theo học khi thu nhập của các hộ gia đình tăng có thể dẫn tới mức độ sẵn sàng chi tiền cho giáo dục cũng sẽ tăng. Tôn giáo và tộc người có ảnh hưởng không đáng kể tới việc lựa chọn trường công hay tư. Ngoài ra, về chính sách tiền lương, các cá nhân làm việc cho trường tư sẽ nhận được mức lương cao hơn so với các cá nhân làm việc cho trường công [136].

1.1.2. Những công trình của các tác giả trong nước ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

Việt Nam có những nét đặc thù riêng về thể chế, là nước đang phát triển – tiếp cận nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và đang trong quá trình hội nhập quốc tế. Từ chủ trương đổi mới, qua quá trình XHHGD và phát triển hệ thống trường tư thục cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thị trường dịch vụ giáo dục; mô hình, hoạt động của trường phổ thông tư thục; chính sách và một số lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN có liên quan:

Tác giả Nguyễn Văn Đản chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp Bộ Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng qui chế trường phổ thông ngoài công lập [55]. Đề tài đã chỉ ra những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng quy chế trường phổ thông tư thục như: xuất phát từ quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục và xã hội hóa giáo dục, vai trò của sự tham gia xã hội vào công tác giáo dục, thực trạng tổ chức và hoạt động của các trường phổ thông tư thục trước năm 2000 để làm căn cứ xây dựng quy chế trường phổ thông tư thục.

Đề tài Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế do PGS. TS. Trần Quốc Toản làm chủ nhiệm [122]. Đây là công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước đã nghiên cứu tương đối toàn diện những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa giáo dục và thị trường trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.

Một số nhà khoa học, học giả Việt Nam nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của một số nước như Trung Quốc, Liên bang Nga về nhận thức, quan điểm, phát triển và quản lý hệ thống trường tư thục. Trên cơ sở đó, các tác giả khuyến nghị những giải pháp về phát triển và quản lý hệ thống trường tư thục của Việt Nam.

Có thể kể đến một số công trình của các tác giả :

  • Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI do Vũ Đình Cự chủ biên [48];
  • Từ tình hình phát triển các trường ngoài công lập Liên bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam: thử tìm giải pháp có tính đột phá về lĩnh vực này của Nguyễn Như Ất [4];
  • Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI của các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ [75];
  • Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI – Bảo đảm để dẫn đầu trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa do Nguyễn Quang Kính biên dịch [89].

Liên quan đến giáo dục ngoài công lập, cần nhắc đến đề tài khoa học cấp thành phố năm 2006 của Trương Thị Thảo Anh : Thực trạng và giải pháp củng cố, phát triển các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội [1]. Nội dung đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội từ khi đổi mới đến 2004 và đề xuất các giải pháp củng cố, phát triển chúng. Về thực trạng, đề tài đã nêu ra những kết quả đạt được của các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội như: Sự phát triển về số lượng các trường, số học sinh; sự phát triển về cơ sở vật chất, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục; bên cạnh đó, đề tài chỉ ra những yếu kém như: năng lực quản lý của Hội đồng quản trị, hiệu trưởng, sự thiếu hụt của đội ngũ giảng viên cơ hữu; chất lượng giáo dục; bất cập trong quản lý nhà nước đối với các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Trên cơ sở đó, đề tài đã đề xuất một loạt các giải pháp để củng cố, phát triển chúng: Thành phố có chính sách cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi trong việc các trường thuê đất; đảm bảo sự bình đẳng giữa trường công lập và trường tư thục; nâng cao chất lượng bộ máy làm công tác quản lý trong các trường; đổi mới nội dung quản lý nhà nước đối với các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội.

Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến đã có một số bài viết về đổi mới quản lý giáo dục theo hướng chỉ một nhân tố mới là thị trường giáo dục. Sự xuất hiện của nhân tố này buộc quản lý giáo dục phải có những thay đổi căn bản, đó là việc thay thế mô hình quản lý công truyền thống bằng mô hình QLCM vào trong QLNN cũng như trong tổ chức và hoạt động giáo dục [118, 119, 120].

Công trình nghiên cứu của nhóm chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục, các nhà khoa học – nghiên cứu về phát triển giáo dục – đào tạo do bà Nguyễn Thị Bình, nguyên PCT nước CHXHCN Việt Nam làm chủ nhiệm đề tài năm 2008 : Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ đã đưa ra những luận cứ đáng tin cậy cho cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế những thập kỉ đầu thế kỉ XXI [110].

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực QLNN đối với giáo dục nói chung, quản lý đối với hệ thống trường dân lập nói riêng cũng đã có những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như:

Lưu Xuân Mới trong báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học Công tác thanh tra giáo dục đối với trường phổ thông ngoài công lập mà ông là chủ nhiệm đề tài đã nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng, đề xuất những giải pháp thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông tư thục phù hợp, có tính khả thi và có giá trị phổ biến vào thực tiễn QLNN đối với các loại hình trường này nhằm góp phần tích cực vào việc tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục của hệ thống trường phổ thông tư thục. Đề tài đã giải quyết được những vấn đề như:

  • Làm rõ đặc trưng của các loại hình, xu hướng phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục;
  • Cơ sở khoa học của thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông tư thục: cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn;
  • Nghiên cứu thực trạng, phân tích một số mâu thuẫn cơ bản, một số vấn đề bức xúc về tổ chức và quản lý các loại hình trường phổ thông tư thục;
  • Đề xuất được một số giải pháp thanh tra giáo dục đối với hệ thống trường phổ thông tư thục như: đổi mới quan niệm và cách tiến hành thanh tra, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực thanh tra giáo dục phù hợp với thực tiễn XHHGD; tăng cường chỉ đạo và nâng cao nhận thức cho các cấp lãnh đạo – quản lý, thanh tra viên, cán bộ quản lý trường học về vị trí, vai trò của công tác thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông tư thục.

Bên cạnh đó, đề tài chỉ mới đi vào nghiên cứu một lĩnh vực tương đối hẹp trong các chức năng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục, đó là lĩnh vực thanh tra, kiểm tra – kiểm soát của cơ quan QLNN chuyên ngành. Mặt khác, các giải pháp đề ra chỉ mới tập trung vào việc tăng cường chỉ đạo, nâng cao nhận thức, năng lực và kiện toàn bộ máy để thực hiện tốt hơn công tác thanh tra đối với các trường phổ thông tư thục. ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

Đề tài chưa quan tâm phân tích các yếu tố thị trường, sự phát triển xã hội công dân và những yêu cầu cơ bản của đổi mới quản lý giáo dục để chỉ ra được phương thức phù hợp, những giải pháp đổi mới công tác kiểm tra – kiểm soát nhà nước gắn với phát huy vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội tham gia giám sát hoạt động của trường tư thục trong tiến trình XHHGD [101].

Nhiều tác giả nghiên cứu chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển và quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục tư thục như Lê Chi Mai trong Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam [97]; Nguyễn Công Giáp (chủ nhiệm đề tài) trong Nghiên cứu dự báo nhu cầu học phổ thông ngoài công lập từ nay đến 2010 [70].

Nhìn chung, từ tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu của luận án, ở những góc độ và mức độ khác nhau, các đề tài nghiên cứu nêu trên đã làm rõ được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XHHGD; yêu cầu và xu hướng đa dạng hóa loại hình trường, tăng cường thu hút các nguồn lực trong xã hội tham gia phát triển hệ thống giáo dục phổ thông; tình hình phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục ở một số địa bàn, vai trò và vị trí của hệ thống trường phổ thông tư thục; làm rõ yếu tố thị trường dịch vụ giáo dục tư thục và chỉ ra một số bất cập trong cơ chế quản lý giáo dục hiện nay; chỉ ra những tồn tại và khiếm khuyết, những bức bách của công tác QLNN. Ở các cấp độ khác nhau, các đề tài cũng đã nêu được một số hạn chế trong phát triển và hoạt động của hệ thống trường phổ thông tư thục; đề ra một số giải pháp cho phát triển, điều chỉnh chính sách, tăng cường công tác tổ chức và quản lý trường phổ thông tư thục (chủ yếu là quản lý đơn vị sự nghiệp giáo dục).

Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu đi trước vẫn chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu một cách toàn diện hơn về lĩnh vực lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục; chưa đi sâu nghiên cứu thực trạng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục trong điều kiện đặc thù KT – XH như Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn Bá Thái chủ nhiệm đề tài Đánh giá thực trạng công tác quản lí nhà nước trong giáo dục phổ thông ngoài công lập ở Việt Nam hiện nay [114]. Kết quả nghiên cứu đã đạt được đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước trong giáo dục phổ thông ngoài công lập, đề xuất các cơ sở khoa học phục vụ đổi mới công tác quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo sự phát triển bình đẳng và bền vững cho các trường trung học phổ thông ngoài công lập ở Việt Nam. Đề tài làm rõ nội hàm các khái niệm quản lý Nhà nước trong giáo dục ngoài công lập và quản lý Nhà nước trong giáo dục phổ thông ngoài công lập. Bên cạnh đó, đề tài còn phân tích kinh nghiệm một số quốc gia có giáo dục ngoài công lập phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và rút ra bài học cho Việt Nam.

Phạm Quang Sáng với bài báo Giáo dục phổ thông ngoài công lập thành tựu và tồn tại trên tạp chí Thông tin giáo dục số 114/2005 đã nêu lên những thành tựu của giáo dục phổ thông ngoài công lập như: sự phát triển mạnh về số lượng, sự thu hút vốn đầu tư của xã hội vào lĩnh vực giáo dục, tạo ra sự cạnh tranh giữa khu vực công và khu vực tư trong giáo dục, nhiều cơ sở giáo dục phổ thông ngoài dân lập đã tạo được vị trí vững chắc trong xã hội, có chất lượng đào tạo tốt. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra những hạn chế như: nhiều trường có sở vật chất còn nghèo nàn; đội ngũ giáo viên cơ hữu còn thiếu; chất lượng giáo dục chưa cao; thực hiện quy chế chưa nghiêm [111].

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.2.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

Đặng Thị Thùy Linh, Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại TP. Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sỹ khoa học giáo dục tại Trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Nội dung cơ bản của luận án: thứ nhất, nêu lên được những vấn đề tổng quan như khái niệm, kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT, quản lý kiểm định chất lượng và một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT. Thứ hai, nêu được tổng quan về trường THPT tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh, thực trạng kiểm định và quản lý kiểm định chất lượng cũng như đánh giá tác động của kiểm định chất lượng giáo dục THPT đến việc cải tiến chất lượng giáo dục. Mặt khác, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu. Thứ ba, dựa vào định hướng phát triển kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại TP. Hồ Chí Minh tới năm 2020 luận án đã đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại TP. Hồ Chí Minh trong những năm tới [96].

Nguyễn Hồng Liêu trong bài báo Một số giải pháp trong công tác quản lý trường phổ thông đối với chương trình giáo dục phổ thông tổng thể theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại TP. Hồ Chí Minh [94] đã đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý trường phổ thông tại TP. Hồ Chí Minh để thích ứng với chương trình giáo dục phổ thông tổng thể theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Lưu Xuân Mới chủ nhiệm đề tài cấp Bộ Công tác thanh tra giáo dục đối với trường phổ thông ngoài công lập [101]. Những vấn đề đề tài đã giải quyết được:

  • Làm rõ đặc trưng của các loại hình, xu hướng phát triển hệ thống trường phổ thông ngoài công lập;
  • Cơ sở khoa học của thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông ngoài công lập, cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn;
  • Nghiên cứu thực trạng, phân tích một số mâu thuẫn cơ bản, một số vấn đề bức xúc về tổ chức và quản lý các loại hình trường phổ thông ngoài công lập;
  • Đề xuất được một số giải pháp thanh tra giáo dục đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập như: đổi mới quan niệm và cách tiến hành thanh tra, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực thanh tra giáo dục phù hợp với thực tiễn XHHGD; tăng cường chỉ đạo và nâng cao nhận thức cho các cấp lãnh đạo – quản lý, thanh tra viên, cán bộ quản lý trường học về vị trí, vai trò của công tác thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông ngoài công lập.

Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu đi trước vẫn chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu một cách toàn diện hơn về lĩnh vực lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục; chưa đi sâu nghiên cứu thực trạng QLNN đối với hệ thống trường trung học phổ thông tư thục trong điều kiện đặc thù KT – XH của thành phố Hồ Chí Minh; chưa đề ra được những giải pháp QLNN một cách đồng bộ và khả thi nhằm đảm bảo công bằng xã hội gắn với thực hiện chính sách dân tộc, thực hiện các mục tiêu về phổ cập giáo dục trong quá trình phát triển và QLNN đối với hệ thống trường trung học phổ thông tư thục phù hợp với địa bàn có nhiều đặc thù như Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Cố thể kể đến đề tài của Viện nghiên cứu xã hội TP. Hồ Chí Minh do TS. Dương Kiều Linh làm chủ nhiệm: Giáo dục phổ thông ngoài công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và xu hướng phát triển. Đề tài có mục tiêu làm rõ:

  • Những khái niệm, mạng lưới; lý do ra đời, vai trò và hiệu quả của loại hình trường phổ thông NCL trong thời gian qua và hiện
  • Đánh giá thực trạng hoạt động của các trường phổ thông NCL trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: những mặt được và những mặt chưa được.
  • Dự báo xu hướng phát triển, đề xuất một số giải pháp quản lý hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Đề tài đã giải quyết được:

  • Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử; những đặc điểm về tâm lý xã hội, văn hóa – giáo dục có liên quan đến vấn đề phát triển hệ thống của trường phổ thông tư thục. Hệ thống giáo dục tư thục trong cách nhìn về lịch sử giáo dục của Thành phố Hồ Chí Minh. Điều kiện cho hệ thống trường phổ thông tư thục xuất hiện, hoạt động và phát triển. ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )
  • Nghiên cứu những khái niệm với các hình thức, loại hình, cách hiểu khác nhau về các mô hình trong hệ thống giáo dục tư thục qua từng thời kỳ.
  • Tìm hiểu và hệ thống hóa các văn bản về chủ trương, chính sách XHHGD và sự thay đổi nhận thức của các cơ quan QLNN về vấn đề này. Bao gồm: các nghị quyết, nghị định quan trọng; các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh; những biện pháp quản lý các loại hình trường phổ thông tư thục. Các văn bản mang tính cơ sở lý luận và là chỗ dựa pháp lý được hệ thống, nêu lên được tính kế thừa cũng như những đòi hỏi của thực tế và sự áp dụng vào thực tiễn, những tác động tích cực và những mặt bất cập trong các văn bản đó.
  • Nội dung chính yếu của đề tài là mô tả thực trạng, quá trình hình thành và hoạt động của hệ thống trường phổ thông NCL; nguyên nhân, lý do ra đời, sự vận hành và sự chấp nhận của xã hội.

Đề tài cũng đã làm rõ về các loại hình trường phổ thông tư thục hiện nay ở tên gọi, thực chất hoạt động, quy mô đào tạo, mạng lưới trường lớp; điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; chất lượng và hiệu quả đào tạo, nội dung chương trình; đánh giá và sự chấp nhận của xã hội, dư luận của phụ huynh và học sinh.

Trên cơ sở đánh giá vai trò, hiệu quả, tầm quan trọng của việc phát triển trường phổ thông tư thục đúng định hướng để đề xuất giải quyết hai rào cản lớn:

Một là, để mở thêm nhiều trường phổ thông tư thục ở bậc trung học đạt tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng thì hầu như quỹ đất đô thị đã cạn. Trong khi các dự án xin mở trường đều tập trung vào khu vực nội thành hoặc các quận vùng ven – nơi có các khu đô thị lớn;

Hai là, trường phổ thông tư thục nói riêng và hệ thống giáo dục nói chung đang vận hành trong những thay đổi quan trọng với yêu cầu ngày càng gay gắt của xã hội là nguồn lực chưa đáp ứng, tâm lý xã hội xem trọng bằng cấp.

Trong bối cảnh đó, để trường phổ thông tư thục ra đời và vận hành đảm bảo những tiêu chuẩn và quy định của ngành đã khó, nhưng khó hơn là với những tác động của cơ chế thị trường, các trường phổ thông tư thục khó có thể ngay một lúc hoạt động theo một định hướng riêng trước nhiều thách thức.

Bên cạnh đó đề tài chưa làm rõ:

  • Về lý luận, đề tài chỉ mới chủ yếu xem xét các loại hình trường NCL, chưa đi sâu thiết lập bộ công cụ nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu lý luận QLNN nói chung, QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục nói riêng.
  • Thực tiễn hệ thống trường phổ thông tư thục tại TP. Hồ Chí Minh lại có nhiều khác biệt từ điều kiện phát triển của một đô thị lớn. Phần phân tích thực trạng chủ yếu là xem xét xu hướng phát triển và đề ra giải pháp cho phát triển, đề tài chưa có điều kiện đi sâu vào các giải pháp về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục gắn với đặc thù của loại hình, điều kiện thực tiễn và những đặc trưng của vùng – miền [95].

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố do Chu Xuân Thành làm chủ nhiệm đề tài: Thực trạng và đề xuất cơ chế tổ chức quản lý trường phổ thông dân lập, tư thục TP. Hồ Chí Minh. Đề tài đánh giá thực trạng phát triển và hoạt động; tổ chức và quản lý các trường phổ thông dân lập, tư thục hiện nay để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp đổi mới về cơ chế và tổ chức quản lý trường phổ thông dân lập, tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; kiến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo về cơ chế tổ chức và quản lý trường phổ thông ngoài công lập. Đề tài đã nghiên cứu làm rõ:

  • Về lý luận, đề tài đã làm rõ và hệ thống hóa các chủ trương, chính sách, yêu cầu phát triển hệ thống trường phổ thông dân lập, tư thục; làm sáng tỏ sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước để thực hiện
  • Phân tích – đánh giá thực trạng phát triển và hoạt động của hệ thống trường phổ thông dân lập, tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Từ đó, chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế về cơ chế, tổ chức quản lý của trường phổ thông ngoài công lập.
  • Về giải pháp, đề tài đã tập trung hướng nghiên cứu chủ yếu là các giải pháp quản lý của cơ sở giáo dục phổ thông tư thục; trên cơ sở nghiên cứu về cơ chế tổ chức quản lý trường phổ thông và các văn bản hiện hành để đề xuất đổi mới cơ chế tổ chức và quản lý của trường phổ thông dân lập, tư thục.

Bên cạnh đó, những vấn đề đề tài chưa giải quyết được:

  • Chưa đi sâu nghiên cứu lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục, nhất là những vấn đề về sự cần thiết QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục; cơ chế, phương thức QLNN gắn với những vấn đề về thị trường dịch vụ giáo dục; công tác kiểm tra – giám sát của Nhà nước; vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội và cộng đồng.
  • Đề tài cũng chỉ mới quan tâm khảo sát thực tiễn ở góc độ quản lý vi mô, đó là lĩnh vực tổ chức quản lý nhà trường phổ thông tư thục (thuộc về lĩnh vực quản lý của đơn vị sự nghiệp). Chưa xem xét việc phát triển và thực trạng hoạt động QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục.
  • Đề tài đã đề ra các giải pháp nhưng chỉ mới tập trung chủ yếu về cơ cấu tổ chức và lĩnh vực quản lý của nhà trường (quản lý đơn vị sự nghiệp), chưa đề cập đến những giải pháp về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục gắn với đặc trưng của loại hình và điều kiện thực tiễn KT – XH địa phương [117]. ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

Nguyễn Văn Đản trong bài báo Một số vấn đề cấp bách trong công tác tổ chức quản lí các trường phổ thông dân lập đã nêu lên những hạn chế trong công tác quản lý các trường phổ thông tư thục như: sự quan tâm chưa đúng mức của các cơ quan quản lý, hệ thống văn bản pháp luật cho các trường này còn thiếu, chưa rõ, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền còn lỏng lẻo…; những khó khăn của các trường phổ thông dân lập về đất đai, tài chính, đối tượng tuyển sinh, chất lượng giáo viên… Trên cơ sở đó, bài báo đã nêu ra một số vấn đề cần thực hiện như: cần có những quy định cụ thể về trường phổ thông dân lập, có cơ chế cụ thể về đất đai, tài chính cho trường phổ thông ngoài dân lập, tăng cường công tác kiểm tra đối với giáo dục phổ thông tư thục [55].

1.3. KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐI TRƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1. Khái quát kết quả những nghiên cứu đi trước

Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu những công trình khoa học đã trình bày ở trên, tác giả khái quát lại một số kết quả như sau:

  • Những nghiên cứu chung về quản lý Nhà nước trong giáo dục: nêu ra những vấn đề chung của quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo như khái niệm, tính chất, đặc điểm, những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước về GD&ĐT thực trạng, phương hướng đổi mới và quá trình quản lý giáo dục đưa ra các chức năng trong quản lý giáo dục, thông tin trong quản lý giáo dục, hệ thống các nguyên tắc và các phương pháp quản lý, công cụ quản lý giáo dục.

+ Nghiên cứu lý luận về các khái niệm và những vấn đề có tính quy luật đối với giáo dục, về sự phát triển của giáo dục thế giới trong thế kỷ XX, dự báo xu thế phát triển giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI.

+ Khảo sát, phân tích và phát hiện một số vấn đề từ thực trạng phát triển giáo dục, xác định yêu cầu đối với giáo dục nhằm phục vụ phát triển KT – XH trong giai đoạn mới theo yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

+ Nghiên cứu thực trạng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; chỉ ra những mặt được, những mặt chưa được; phân tích nguyên nhân cơ bản của những bất cập trong lĩnh vực phát triển và QLNN đối với giáo dục Việt Nam, nhất là những vấn đề về phát triển và QLNN đối với giáo dục tư thục.

+ Phân tích cơ hội, thách thức, yêu cầu đang đặt ra đối với giáo dục; thuận lợi, khó khăn đối với phát triển giáo dục. Trong đó, đề tài nghiên cứu đã dành khá nhiều nội dung để phân tích về: cơ chế thị trường, vai trò của Nhà nước và tư nhân, QLNN đối với giáo dục tư thục.

+ Nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm quốc tế về phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa.

+ Bàn luận và đề xuất định hướng, chính sách phát triển giáo dục; yêu cầu và cơ chế quản lý giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường định hướng XHCN. Trong đó, về giáo dục phổ thông, nhiều công trình đã đề ra yêu cầu đổi mới tư duy với quan niệm về phát triển: “Thống nhất trong đa dạng”, công khai và minh bạch phải là yêu cầu quan trọng trong hoạch định chính sách và hoạt động QLNN.

+ Một số công trình đã quan tâm xác định trách nhiệm QLNN của trung ương, các ngành, địa phương các cấp đối với giáo dục theo nguyên tắc quản lý ngành kết hợp với quản lý lãnh thổ – địa phương; nhấn mạnh yêu cầu phải tuân theo quy luật thị trường (quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị) – kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp dưới mọi hình thức; khai thác, huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cho phát triển giáo dục; gắn kết đầu tư phát triển hệ thống giáo dục với phát triển KT – XH. Đề ra các giải pháp chiến lược cho giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới.

Những nghiên cứu về quản lý nhà nước trong giáo dục tại TP. Hồ Chí Minh: các nghiên cứu đã hệ thống thực trạng QLNN đối với trường đại học ngoài công lập hay THPT ngoài công lập. Đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước đối với trường đại học ngoài công lập hay THPT ngoài công lập, đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường sự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, TP. Hồ Chí Minh là một thành phố năng động, phát triển nhanh với những sự thay đổi về kinh tế xã hội khi Việt Nam gia nhập vào các tổ chức kinh tế mới, vì vậy, thực trạng và giải pháp cho cùng một vấn đề này không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay và tương lai gần.

Nhìn chung, từ tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu của luận án, ở những góc độ và mức độ khác nhau, các đề tài nghiên cứu nêu trên đã làm rõ được: chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XHHGD; yêu cầu và xu hướng đa dạng hóa loại hình trường, tăng cường thu hút các nguồn lực trong xã hội tham gia phát triển hệ thống giáo dục phổ thông; tình hình phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục ở một số địa bàn, vai trò và vị trí của hệ thống trường phổ thông tư thục; làm rõ yếu tố thị trường dịch vụ giáo dục tư thục và chỉ ra một số bất cập trong cơ chế quản lý giáo dục hiện nay; chỉ ra những tồn tại và khiếm khuyết, những bức bách của công tác QLNN. Ở các cấp độ khác nhau, các đề tài cũng đã nêu được một số hạn chế trong phát triển và hoạt động của hệ thống trường phổ thông tư thục; đề ra một số giải pháp cho phát triển, điều chỉnh chính sách, tăng cường công tác tổ chức và quản lý trường phổ thông tư thục.

1.3.2. Những vấn đề các công trình chưa giải quyết được ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

  • Các công trình chỉ mới đi vào nghiên cứu một lĩnh vực tương đối hẹp trong các chức năng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục, đó là lĩnh vực thanh tra, kiểm tra – kiểm soát của cơ quan QLNN chuyên ngành. Mặt khác, các giải pháp đề ra chỉ mới tập trung vào việc tăng cường chỉ đạo, nâng cao nhận thức, năng lực và kiện toàn bộ máy để thực hiện tốt hơn công tác thanh tra đối với các trường phổ thông tư thục.
  • Các đề tài chưa quan tâm phân tích các yếu tố thị trường, sự phát triển xã hội công dân và những yêu cầu cơ bản của đổi mới quản lý giáo dục để chỉ ra được phương thức phù hợp, những giải pháp đổi mới công tác kiểm tra – kiểm soát nhà nước gắn với phát huy vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội tham gia giám sát hoạt động của trường tư thục trong tiến trình
  • Đề tài nghiên cứu khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của giáo dục và của các ngành học, bậc học. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là chủ trương, chính sách phát triển hệ thống giáo dục Việt Nam nên chưa có điều kiện đi sâu những vấn đề lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục gắn với phân cấp quản lý và điều kiện thực tiễn về KT – XH của các vùng – miền.
  • Một số nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng, phát hiện vấn đề còn thiên về lĩnh vực giáo dục đại học tư thục là chủ yếu, phần nghiên cứu thực tiễn QLNN đối với giáo dục phổ thông tư thục còn ít.
  • Về giải pháp, nhiều công trình nghiên cứu tập trung đề ra các giải pháp chiến lược có tính chất vĩ mô ở tầm quốc gia đối với nền giáo dục Việt Nam; chưa đi sâu vào những vấn đề QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục, nhất là những vấn đề về vai trò Nhà nước và các cấp QLNN địa phương, yêu cầu QLNN, năng lực QLNN đối với hệ thống trường phổ thông dân lập và những vấn đề về thể chế, chính sách, cơ chế và phương thức QLNN đối với giáo dục phổ thông tư thục gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương có những đặc thù về KT – XH như Thành phố Hồ Chí

1.3.3. Những vấn đề đặt ra cho đề tài luận án cần tiếp tục nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục, trong diều kiện thực tiễn của Việt
  • Nghiên cứu thực trạng giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh, thời kỳ mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh thời gian qua.
  • Phân tích phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về giáo dục phổ thông tư thục trên địa bàn Hồ Chí Minh.

Và trả lời được những câu hỏi:

  • Quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục ở Việt Nam nói chung, Hồ Chí Minh nói riêng hiện nay đã trở thành một xu thế tất yếu hay chưa?
  • Có những yếu tố nào tác động đến quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh?
  • Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có những kết quả và tồn tại gì?
  • Hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cần có những giải pháp nào?

Kết luận Chương 1 ( Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT )

Chương 1, luận án đã đạt được một số kết quả sau:

Thứ nhất, nghiên cứu và khái quát hóa những công trình, tài liệu, những đề tài NCKH, luận án, các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả trong nước và nước ngoài về giáo dục phổ thông tư thục.

Thứ hai, nghiên cứu và khái quát hóa những công trình, tài liệu, những đề tài NCKH, luận án, các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành về quản lý nhà nước các trường phổ thông và phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ ba, qua nghiên cứu tổng quan tài liệu, NCS đã hệ thống hóa, khái quát hóa những kết quả đạt được của những công trình, tài liệu, làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng những cơ sở lý luận của luận án.

Thứ tư, Tác giả luận án cũng đã chỉ ra những khía cạnh, vấn đề nội dung mà các công trình của các nhà khoa học đi trước chưa tập trung nghiên cứu sâu, đây chính là những cơ sở cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ cho NCS trong việc thực hiện những nội dung tiếp theo của luận án.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537