Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT dưới đây là bài luận văn thạc sĩ giáo viên đánh giá cao trong quá trình làm bài. Bởi tác giả biết và nhận định Nền Giáo dục – đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người và sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và xã hội học cho rằng giáo dục là nhân tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển xã hội. Đề tài: Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu Thạc sĩ của tác giả.
2.1. NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
2.1.1. Quản lý và quản lý nhà nước
– Quản lý:
Tùy theo góc độ nghiên cứu các ngành khoa học trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về thuật ngữ quản lý.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Quản lý là sự trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [126, tr 152].
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội, vì vậy, mỗi ngành khoa học định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình.
Henri Fayol (1841-1925, người Pháp), người đã đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho rằng: Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” khái niệm này xuất phát từ khái quát chức năng quản lý. Taylor F.W (người Mỹ) cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và rẻ nhất.
Quan niệm chung nhất về quản lý là do điều khiển học đưa ra: Quản lý là sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Hệ thống được hiểu là tổng thể những yếu tố cấu thành có đặc trưng riêng mà những đặc trưng đó không phải là thuộc tính của mỗi yếu tố riêng rẽ nằm trong hệ thống. Quan niệm này không những phù hợp với sự vận động của thiết bị tự động mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước… tức là, phù hợp với quản lý xã hội.
Theo giáo trình Thuật ngữ hành chính, quản lý là thuật ngữ chỉ Sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của các chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức) đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người, để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới muc đích đã đề ra của tổ chức và đúng ý chí của nhà quản lý [79, tr 78]. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Quản lý là cách ứng xử của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý.
– Quản lý nhà nước
Khái niệm QLNN hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do hệ thống cơ quan Nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật để thực hiện luật pháp Nhà nước. QLNN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
Theo nghĩa rộng, thì QLNN được hiểu là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước hay QLNN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chức năng trên. Nhấn mạnh điều này, PGS.TS Nguyễn Cửu Việt viết : “QLNN ở đây không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là Nhà nước mà là sự quản lý có tính chất Nhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy Nhà nước, trên cơ sở quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước” [79, tr 109].
Theo nghĩa hẹp, thì “QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước (hoặc các tổ chức xã hội nếu được Nhà nước ủy quyền) được tiến hành trên cơ sở và để thi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trên mọi lĩnh vực hành chính – chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội” [79, tr 136]. Theo nghĩa hẹp thì, QLNN có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, QLNN là hoạt động, tác động mang tính tổ chức và điều chỉnh. Tổ chức chính là sự liên kết hoạt động của nhiều người; trong đó, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra. Nếu không có tổ chức là không có quản lý. Nhấn mạnh điều này Lênin cho rằng: muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa. Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh các quá trình xã hội, các quan hệ xã hội. Đây là đặc trưng thể hiện bản chất của QLNN.
Thứ hai, QLNN mang tính quyền lực nhà nước, tức là thiết lập quan hệ “quyền lực – phục tùng”. Quyền lực đó được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước. Điều này cho thấy, khi nói đến QLNN là nói đến quyền lực Nhà nước. Hoạt động QLNN là của cơ quan Nhà nước, của một tổ chức hay cá nhân nhân danh Nhà nước đều dựa trên cơ sở quyền lực Nhà nước và bên bị quản lý phục tùng.
Thứ ba, QLNN là sự quản lý có tính khoa học và tính kế hoạch. Đây là hoạt động mang tính chủ quan của con người nhưng dựa trên những yêu cầu và quy luật khách quan. Vì vậy, hoạt động quản lý mang tính chủ động, sáng tạo. Điều này xuất phát từ đời sống xã hội luôn biến động không ngừng và để tìm kiếm biện pháp ứng phó kịp thời, giải quyết có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu đã đặt ra, đòi hỏi phải có chương trình cụ thể, đề ra chủ trương, biện pháp quản lý thích hợp.
Thứ tư, QLNN tác động lên các quá trình xã hội một cách liên tục, thường xuyên. Bản chất các quá trình phát triển xã hội là những quá trình liên tục từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Vì thế, để tạo ra một quá trình phát triển liên tục của sự phát triển đòi hỏi QLNN cũng phải là những tác động mang tính liên tục. Tính liên tục của QLNN thể hiện ở chỗ hoạt động này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hằng ngày, hàng giờ, không bị gián đoạn. Đây là đặc điểm mà các loại hoạt động Nhà nước khác không có.
Thuật ngữ Hành chính của Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh quan niệm: Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước [79, tr 261].
Như vậy, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội khi nghiên cứu về QLNN đều phải xuất phát từ những đặc điểm của QLNN nói chung. Từ đó, chúng ta có thể phân biệt được sự khác nhau giữa hoạt động QLNN với các hoạt động khác của nhà nước và với hoạt động quản lý xã hội của các chủ thể khác.
Có thể bạn quan tâm:
2.1.2. Giáo dục, đào tạo ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Giáo dục
Giáo dục, được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, theo Từ điển Bách khoa toàn thư, giáo dục được hiểu là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử – xã hội của loài người. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị – kinh tế của xã hội.
Giáo dục là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức hiểu biết về thế giới khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng như hình thành nhân cách của con người. Giáo dục đảm bảo sự kế thừa phát huy giữa các thế hệ. Quá trình giáo dục là sự truyền thụ kinh nghiệm, lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị điều kiện cho họ bước vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất.
Giáo dục diễn ra thường xuyên liên tục ở mọi môi trường hoạt động của con người (trong gia đình, nơi làm việc, trong nhà trường, trong quan hệ xã hội…), trong đó môi trường giáo dục nhà trường có vai trò quyết định. Trong giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là quá trình hình thành con người dưới ảnh hưởng của các nhân tố tác động bên ngoài của môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh con người và dưới ảnh hưởng của các hoạt động chuyên biệt có mục đích của nhà giáo dục nhằm bồi dưỡng cho con người những điều kiện phẩm chất, kỹ năng cần thiết để họ tham gia vào đời sống xã hội.
Theo nghĩa hẹp: giáo dục là công tác giáo dục chuyên biệt do nhà giáo dục tiến hành trong các trường học chủ yếu là trong thời gian học.
Người ta có thể phân ra nhiều loại hình giáo dục khác nhau. Phân loại theo mục tiêu và đối tượng giáo dục: có giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp; giáo dục phổ thông nhằm trang bị những kiến thức hiểu biết cơ bản, chủ yếu cho lớp vị thành niên trước khi tham gia vào quá trình giáo dục chuyên nghiệp bao gồm kiến thức khoa học tự nhiên, xã hội, phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ, kỹ năng cơ bản, năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân để tiếp tục học lên hoặc tham gia cuộc sống, xây dựng và bảo vệ tổ Tổ quốc.
Theo Giáo trình quản lý nhà nước về Văn hoá – Giáo dục – Y tế : Giáo dục đó là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hiểu biết về thế giới khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng như hình thành nhân cách của con người. Giáo dục diễn ra thường xuyên, liên tục ở nhiều môi trường hoạt động của con người (trong gia đình, nơi làm việc, trong nhà trường, trong quan hệ xã hội), trong đó, môi trường ở nhà trường có vai trò quyết định [78]. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Theo Từ điển Tiếng Việt “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm dồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong đời sống” [126, tr 308].
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng chung quy lại có thể hiểu: giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm trang bị những tri thức cần thiết về mọi mặt cho đời sống con người, giáo dục diễn ra thường xuyên liên tục trong môi trường xã hội.
- Đào tạo
Đào tạo, là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… một cách hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng khi nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh nhân loại.
Theo Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã định nghĩa: “Đào tạo làquá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”.
Như vậy, có thể hiểu đào tạo là việc trang bị các kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nhằm phát triển các cá nhân để đóng góp cho sự phát triển xã hội. Thông thường, hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo dục đào tạo như: trường học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc tại cơ sở sản xuất với nội dung chương trình và thời gian khác nhau cho các cấp bậc đào tạo khác nhau. Cuối mỗi khoá đào tạo, học viên sẽ được cấp bằng tốt nghiệp, hoặc chứng chỉ khóa học.
2.1.3. Hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân là một hệ thống bao gồm toàn bộ các cơ quan chuyên trách việc giáo dục và học tập cho thanh thiếu niên và công dân của đất nước. Những cơ quan này liên kết chặt chẽ với nhau hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh và cân đối nằm trong hệ thống xã hội, được xây dựng theo những nguyên tắc nhất định về tổ chức việc học tập và giáo dục nhằm đảm bảo thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục quốc dân.
Ngay từ những ngày đầu xây dựng chính quyền non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vai trò của giáo dục là phục vụ sự phục hưng của một nước mới dành được độc lập. Vừa tiến hành chiến dịch chống mù chữ, vừa tiếp tục phát triển giáo dục tiểu học, trung học, giáo dục đại học, chủ trương lúc đó là cải cách nền giáo dục nước ta thành nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, tính dân tộc, khoa học và hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin làm nền tảng. Trong hơn 70 năm qua nền giáo dục nước ta đã trải qua ba cuộc cải cách lớn để hoàn thiện dần hệ thống giáo dục quốc dân.
Qua các lần cải cách lớn, đến nay cơ cấu hệ thống giáo dục nước ta đã tương đối hoàn chỉnh. Ngày 18 tháng 10 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1981/QĐ-TTg, phê duyệt khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Theo đó, hệ thống giáo dục quốc dân được thể hiện trong Điều 1 như sau (Sơ đồ 1.1):
- Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
- Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;
- Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông;
- Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng;
- Giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ [44].
2.1.4. Giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thực ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Giáo dục phổ thông là cấp học có vai trò quan trọng đặc biệt, là nền tảng văn hoá của một quốc gia, tương lai của một dân tộc, là cơ sở tiền đề cơ bản cho giáo dục thường xuyên, liên tục, suốt đời với mọi cá nhân.
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho tiến trình học lên hoặc đi vào cuộc sống, lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông.
Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa.
Giáo dục phổ thông được quy định tại Điều 1, Quyết định 1981 như sau:
Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở (giai đoạn giáo dục cơ bản) và giáo dục trung học phổ thông (giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp):
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến hết lớp 5. Học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học sẽ học tiếp lên trung học cơ sở.
- Giáo dục trung học cơ sở tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến hết lớp
- Học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở có thể học tiếp lên trung học phổ thông hoặc theo học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và trung cấp.
- Giáo dục trung học phổ thông tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở. Trong thời gian học trung học phổ thông, học sinh có thể chuyển sang học chương trình đào tạo trình độ trung cấp nếu có nguyện vọng và đáp ứng được yêu cầu của chương trình.
- Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến hết lớp 12. Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể học lên đại học hoặc theo học các chương trình giáo dục nghề nghiệp”.
– Giáo dục tiểu học
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến lớp năm.
- Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi.
- Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
- Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.
– Giáo dục trung học cơ sở
- Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi.
- Giáo dục THCS có nhiệm vụ giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, giúp các em có trình độ học vấn PTCS và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật, hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
– Giáo dục trung học phổ thông
- Giáo dục Trung học phổ thông (được thực hiện trong 3 năm từ lớp 10 đến lớp 12; học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp THCS, có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi).
- Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
- Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
– Trường tư thục
Cơ sở giáo dục tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường dân lập, trường tư thục được quy định tại Điều 65, Luật giáo dục 2005 như sau:
- Trường dân lập, trường tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và các quy định liên quan đến tuyển sinh, giảng dạy, học tập, thi cử, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ.
- Trường dân lập, trường tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục.
- Văn bằng, chứng chỉ do trường dân lập, trường tư thục, trường công lập cấp có giá trị pháp lý như nhau.
- Trường dân lập, trường tư thục chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ.
Từ đó, có thể hiểu: Trường tư thục là cơ sở giáo dục do cá nhân hay tổ chức (cổ đông) đầu tư và sáng lập trong khuôn khổ pháp luật nhằm mục đích góp phần phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ về giáo dục quốc gia. Trường tư thục phát triển có thể vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận.
2.1.5. Xã hội hóa
- Xã hội hóa
Là quá trình tương tác giữa cá nhân, nhóm với xã hội, cũng có thể hiểu xã hội hóa là cộng đồng trách nhiệm giữa nhà nước và xã hội trong các hoạt động kinh tế – văn hóa – xã hội nhằm làm cho xã hội ngày càng phát triển.
Xã hội hoá là khái niệm được nhiều tác giả quan tâm trong vài thập niên gần đây, cùng với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về xã hội hoá. Nhiều nước trên thế giới không dùng thuật ngữ XHH mà sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau có liên quan ít nhiều đến các nội dung của xã hội hoá như phi tập trung hoá: với hai nội dung phân quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền và huy động sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức vào phát triển các lĩnh vực xã hội.
Ở nước ta, nhiều người cho rằng: xã hội hoá là sự chuyển hoá hình thức sở hữu từ tư nhân sang hình thức sở hữu công, sở hữu toàn dân. Theo cách hiểu này, khái niệm xã hội hoá có nghĩa tương đồng với khái niệm quốc hữu hoá. Đại từ điển Tiếng Việt giải thích thuật ngữ xã hội hoá như sau: xã hội hoá – làm cho thành của chung: xã hội hoá tư liệu sản xuất [52, tr 1848].
Thuật ngữ hành chính của Học viện hành chính quốc gia – Viện nghiên cứu hành chính quan niệm: Xã hội hoá chỉ quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới đối với một số lĩnh vực hoạt động kinh tế-xã hội, trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước [79].
Với quan niệm như vậy, xã hội hoá là sự thể hiện đường lối vận động quần chúng, huy động sức mạnh của toàn xã hội vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng ta luôn coi trọng trong suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng. Tuy nhiên thuật ngữ “xã hội hoá” chỉ mới được chính thức sử dụng từ Đại hội Đảng lần thứ VII, được coi như một quan điểm chỉ đạo không những để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo nói riêng mà để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội nói chung. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa giáo dục được hiểu là toàn xã hội cùng tham gia vào công tác giáo dục. Toàn xã hội được hiểu là toàn bộ hệ thống chính trị, nhân dân và các lực lượng xã hội cùng tham gia có trách nhiệm vào hoạt động giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục là một xu hướng tất yếu hiện nay ở một số nước phát triển và các nước đang phát triển, tuy nhiên người ta không sử dụng thuật ngữ xã hội hoá giáo dục mà sử dụng các thuật ngữ khác nhưng cũng bao hàm các nội dung của xã hội hoá giáo dục, như: giáo dục đại chúng- đưa học vấn đến cho mọi người dân; giáo dục suốt đời – là quá trình học tập liên tục, trong đó mỗi người đều có cơ hội liên tục để không bị lạc hậu so với những biến đổi, phát triển của kỹ thuật, của xã hội, phát huy tối đa tiềm lực cá nhân trên mọi lĩnh vực; xã hội học tập-là giáo dục cho mọi người và mọi người làm giáo dục; Giáo dục cộng đồng: – là mọi hoạt động giáo dục nhằm vào lợi ích của cộng đồng và hướng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống; công bằng xã hội trong giáo dục – là tạo ra cơ hội ngang nhau và bình đẳng giữa mọi người trong sự tham gia đóng góp và hưởng thụ giáo dục.
XHHGD là cách làm giáo dục mà bản chất của nó là làm cho toàn xã hội tham gia vào giáo dục trên cả hai mặt: tiếp nhận giáo dục và đóng góp cho sự phát triển của giáo dục. Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khoá VII đã xác định: Xã hội hoá công tác giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước [60].
Ngày 21/8/1997, Chính phủ ban hành Nghị quyết 90/CP về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao đã chỉ rõ: Xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhân dân [41].
Xã hội hoá giáo dục là một tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, coi sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của toàn xã hội là điều kiện tiên quyết để phát triển có chất lượng và hiệu quả các lĩnh vực văn hoá xã hội nói chung và giáo dục nói riêng.
Mục tiêu, nội dung, hình thức thể hiện của xã hội hóa giáo dục là tạo ra sự thay đổi về cơ bản cơ chế quản lý, vận hành và tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng dân chủ hóa, đa dạng hóa phù hợp với cơ chế của nền kinh tế thị trường. Nâng cao nhận thức của mọi thành viên trong xã hội về vai trò của giáo dục – đào tạo đối với sự nghiệp phát triển đất nước và của cá nhân.
2.1.6. Quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Quản lý Nhà nước về giáo dục
Quản lý Nhà nước là sự tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước vào đối tượng quản lý bằng các công cụ và phương thức quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước.
Theo Giáo trình QLNN về Văn hoá – Giáo dục – Y tế: Quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là sự tác động, điều chỉnh thường xuyên của nhà nước bằng quyền lực nhà nước đối với toàn bộ hoạt động giáo dục – đào tạo của một quốc gia nhằm định hướng, thiết lập trật tự kỷ cương của hoạt động giáo dục – đào tạo, hướng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia [78].
Quản lý nhà nước về giáo dục được xác định theo Điều 14, Luật Giáo dục 2005 [92].
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.
Nhà nước là một thiết chế quyền lực công có chức năng đối nội, đối ngoại, quản lý mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia, trong đó quản lý Nhà nước về giáo dục-đào tạo là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quản lý các vấn đề xã hội.
Trong quản lý giáo dục – đào tạo cần phân biệt rõ hai nhiệm vụ là: Quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo và quản lý sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục-đào tạo. Do đó cần kết hợp tốt hai nhiệm vụ để phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo một cách tốt nhất.
Đối với toàn bộ hoạt động giáo dục – đào tạo của một quốc gia nhằm định hướng, thiết lập trật tự kỷ cương của hoạt động giáo dục – đào tạo hướng mục tiêu, yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo là Nhà nước với hệ thống các cơ quan quyền lực mà trực tiếp là chính phủ và hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục từ Trung ương tới địa phương. Khách thể của quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là hệ thống các cơ sở giáo dục – đào tạo và những người tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo.
Quản lý Nhà nước về giáo dục ở nước ta là hoạt động của cả hệ thống chính quyền các cấp nhằm tổ chức điều khiển, thống nhất mọi lực lượng xã hội, phát huy tiềm năng xã hội, thực hiện “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội theo mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Yêu cầu quản lý Nhà nước về giáo dục phải đảm bảo các nội dung sau đây:
Một là, quản lý quá trình phát triển giáo dục – đào tạo phải thực hiện nghiêm cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân chủ động, tích cực tham gia phát triển giáo dục.
Hai là, thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, đảm bảo tính nhân dân, tính dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, quán triệt nguyên lý: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Ba là, Giáo dục – đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh.
Bốn là, thực hiện công bằng trong giáo dục – đào tạo, tạo điều kiện, cơ hội để cho mọi người ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm là, giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục – đào tạo trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý: Nội dung, chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên.
Sáu là, hướng tới mục tiêu giáo dục Việt Nam là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Quản lý giáo dục đào tạo, là sự tác động, điều khiển của người đứng đầu cơ sở GDĐT và bộ máy quản lý vào các hoạt động GDĐT của đơn vị trên cơ sở chính sách, phát luật về GDĐT của Nhà nước và hệ thống quy chế, nội quy hoạt động của tổ chức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện tốt kế hoạch GDĐT được đặt ra.
Quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo, là sự tác động, điều chỉnh thường xuyên của nhà nước bằng quyền lực nhà nước đối với toàn bộ hoạt động GDĐT của một quốc gia nhằm định hướng, thiết lập trật tự kỷ cương của hoạt động GDĐT, hướng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
– Quản lý Nhà nước về giáo dục phổ thông
Từ nội hàm của những khái niệm: quản lý, quản lý nhà nước, giáo dục, giáo dục phổ thông, quản lý nhà nước về giáo dục, có thể hiểu Quản lý Nhà nước về giáo dục phổ thông là quá trình chấp hành và điều hành của Nhà nước trong hoạt động giáo dục phổ thông, để các hoạt động đó diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
– Quản lý Nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục
Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục là tổ chức hoạt động thực thi quyền hành pháp của các cơ quan nhà nước, kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ nhằm phát huy mọi nguồn lực xã hội tham gia vào phát triển giáo dục; thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục trong cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế; bảo đảm đúng mục đích, nội dung hoạt động và chất lượng giáo dục góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục phổ thông.
Mời bạn tham khảo thêm:
2.2. SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
2.2.1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Thực hiện chức năng của nhà nước
Trong đời sống xã hội hiện đại, cùng với các ưu thế và tiềm lực khoa học và công nghệ, nguồn tư bản tài chính, năng lực tiếp cận thị trường… thì chất lượng nguồn nhân lực nói chung và chất lượng nhân lực nói riêng là một nhân tố đảm bảo tính cạnh tranh của các quốc gia. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn là trọng điểm chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới. Các nước có thứ hạng cao trong đánh giá chất lượng giáo dục quốc tế như Phần Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… đều là những nước có trình độ nhân lực giáo dục cao. Phần lớn giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có trình độ đại học và sau đại học.
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội ở các cấp độ khác nhau đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ vậy mà phát triển được năng lực, tạo được công ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, địa vị kinh tế, xã hội của các tầng lớp dân cư và cuối cùng là đóng góp chung cho sự phát triển xã hội.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: Phát triển và nâng cao nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một bước đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững... Đại hội tiếp tục khẳng định: Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức [59, tr 130].
Với vai trò là nguồn đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu có trình độ cao cho đất nước, mà hệ thống giáo dục phổ thông có sứ mệnh rất nặng nề là “bản lề”, là “cốt lõi”và quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu ưu tiên trong phát triển kinh tế – xã hội và nguồn nhân lực của đất nước.
Trên thế giới hiện nay, giáo dục phổ thông không chỉ thể hiện sự trưởng thành của người học về mức độ tri thức cơ bản, mà còn là cơ hội để người học đạt được các mục tiêu nghề nghiệp cá nhân và hiệu quả kinh tế về sau. Đứng trên bình diện cá nhân, giáo dục phổ thông cải tiến chất lượng cuộc sống của từng cá nhân chúng ta. Hơn thế nữa, giáo dục phổ thông có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với xã hội nói chung. Nó mở ra cánh cửa cho sự hiểu biết của chúng ta đối với các mức độ phức tạp của xã hội hiện đại, và nó cho phép chúng ta đóng góp vào sự giàu mạnh của cộng đồng và dân tộc. Giáo dục phổ thông không phải chỉ là lợi ích tư, mà còn là lợi ích công vô cùng quí báu. Một trong các chỉ số của một xã hội thịnh vượng là khi các công dân của xã hội đó tìm kiếm cơ hội giáo dục tốt hơn. Giáo dục phổ thông hiện đại là một trong những thành tích vĩ đại nhất của nền văn minh nhân loại. Nhưng giá trị của giáo dục phổ thông không chỉ nằm trong các kiến thức chính xác và sâu sắc mà giáo dục phổ thông đem đến cho thế hệ trẻ, mà còn trong các giá trị đạo đức mà giáo dục phổ thông có thể giúp thế hệ trẻ đóng góp cho các tiến bộ xã hội.
Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt, nhân danh xã hội thực hiện quản lý mọi mặt khác nhau của đời sống xã hội, đảm bảo sự ổn định, trật tự xã hội, lợi ích của cả cộng đồng. Nhà nước đặt ra pháp luật bắt buộc mọi chủ thể trong xã hội phải tự giác chấp hành và Nhà nước có tiềm lực vật chất to lớn, bộ máy nhân sự khổng lồ đủ sức mạnh cưỡng chế buộc các chủ thể trong xã hội phải chấp hành theo ý chí của nhà nước trong mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh. Hoạt động giáo dục, đào tạo là loại hình hoạt động văn hóa như mọi loại hình hoạt động khác trong xã hội, do đó, nó phải là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: xây dựng chương trình, nội dung, hình thức, vv…, giáo dục, đào tạo.
Chức năng của nhà nước là quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo được coi là nhiệm vụ trọng tâm của đất nước. Phát triển giáo dục và đào tạo vừa trực tiếp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, vừa tạo tiền đề để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước góp phần ổn định chính trị, xã hội. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN.
Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa:
– Nhà nước có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế: Nhà nước được quy định bởi nền kinh tế, do điều kiện kinh tế quyết định. Từ sự xuất hiện của nhà nước, bản chất, chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước đều phụ thuộc vào đòi hỏi khách quan của cơ sở kinh tế. Thể hiện ở 2 phương diện:
+ Nhà nước cùng các bộ phận khác của nền kinh tế tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh thông qua các chính sách kinh tế có căn cứ khoa học và phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại trong chừng mực nó phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị.
+ Nhà nước có thể đóng vai trò tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế. Thể hiện chính sách kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển chung của thế giới, kìm hãm sự phát triển của quan hệ sản xuất tiến bộ.
Trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhà nước đồng thời có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với kinh tế phụ thuộc vào khả năng nhận thức và nắm bắt kịp thời hoặc không kịp thời các phương diện khác nhau của quy luật vận động của kinh tế cũng như phụ thuộc vào lợi ích của giai cấp thống trị.
Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội: các tổ chức chính trị của xã hội là những hình thức và phương diện bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp.
Trong các tổ chức chính trị xã hội, nhà nước là trung tâm vì: Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, là tổ chức mà quyền lực của nó bắt buộc đối với mọi người trong quốc gia thông qua pháp luật.
Trong các tổ chức chính trị, Đảng chính trị có vai trò đặc biệt, là lực lượng có vai trò lãnh đạo, định hướng sự phát triển xã hội. Các đảng chính trị là tổ chức của các giai cấp, thể hiện lợi ích giai cấp và gồm những đại biểu tích cực nhất đấu tranh cho lợi ích giai cấp mình. Đảng chính trị cầm quyền vạch ra chính sách lớn định hướng cho hoạt động của nhà nước, kiểm tra hoạt động Đảng viên trong việc thực hiện chính sách Đảng, các đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước.
– Nhà nước và tổ chức xã hội: tổ chức chính trị và chính trị – xã hội có vai trò quan trọng tùy thuộc vào quy mô, tính chất của tổ chức đó. Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,… thực hiện chức năng nhiệm vụ khác nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các tổ chức đó có vai trò khác nhau trong đời sống chính trị. Nhà nước và tổ chức xã hội có quan hệ chặt chẽ theo nguyên tắc hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
Nhà nước và chính trị: chính trị với tư cách hiện tượng phổ biến xác định quan hệ giai cấp, tương quan lực lượng giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế trong xã hội có giai cấp. Trong xã hội, nó là sợi dây liên kết giữa nhà nước với cơ sở hạ tầng kinh tế với các bộ phận khác trong kiến trúc thượng tầng. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Nhà nước và pháp luật: pháp luật là công cụ để nhà nước duy trì sự thống trị, thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Quyền lực của nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật, được thực hiện thông qua pháp luật và bị hạn chế bởi pháp luật.
- Bảo đảm nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế – xã hội
Bối cảnh quốc tế và những đổi mới sâu rộng trong phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam đang tạo ra thời cơ lớn, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục trong nước. Vì thế, giáo dục nước ta, trong đó có giáo dục phổ thông phải vượt qua những thách thức của yêu cầu “đổi mới căn bản và toàn diện”, vừa phải khắc phục những bất cập vừa phải thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực cả về phát triển quy mô và nâng cao chất lượng, vừa phải giữ được sự ổn định tương đối của hệ thống.
Những năm gần đây, giáo dục phổ thông đang có những đổi mới mạnh theo hướng tiên tiến, hiện đại và góp phần xây dựng một xã hội học tập. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay về cơ bản không đáp ứng nhiều định hướng quan trọng trong Nghị quyết 29 – NQ/TW (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 và các định hướng chiến lược trong Nghị quyết 29- NQ/TW Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ quan điểm chỉ đạo về 7 vấn đề then chốt và các mục tiêu của công cuộc đổi mới giáo dục. Trong đó mục tiêu phát triển giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng đã được xác định.
Giáo dục phổ thông có một vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với ngành giáo dục nói riêng cũng như đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, nhất là trong giai đoạn các quốc gia cần nhiều lực lượng lao động có chất lượng cao, phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Vai trò và vị trí của GDPT trong thời kỳ mới, GS. Võ Tòng Xuân nhận xét: trong một nền kinh tế toàn cầu của thị trường tự do không ngừng cạnh tranh mãnh liệt, một lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ chất lượng cao là yếu tố sống còn của một nền kinh tế quốc gia để thu hút đầu tư nước ngoài và tạo nên việc làm và của cải cho đất nước. Vì thế chất lượng GDPT bắt đầu từ tiểu học ngày càng được công nhận là cơ sở quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và được coi như công cụ để đạt được những mục tiêu phát triển khác. Các tổ chức phát triển quốc tế đã và đang tài trợ mạnh cho GDPT tại các nước nghèo chậm tiến vì họ công nhận hai vai trò của GDPT: vừa là yếu tố nhằm tăng trưởng kinh tế, vừa là yếu tố giúp giảm đói nghèo.
Trong hệ thống GDQD, GDPT là bộ phận tiếp theo của giáo dục mầm non, GDPT là nền tảng cho giáo dục đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Nhiều nước sau giáo dục cơ bản – bắt buộc, đã phân thành hai luồng: THPT lý thuyết (Academic School) và trường nghề (Vocational School). Trường THPT chuẩn bị cho học sinh vào các trường đại học, cao đẳng, trường nghề phát triển năng lực nghề nghiệp và không ưu tiên chuẩn bị cho việc học lên cao. Như thế cũng có nghĩa là GDPT không chỉ chuẩn bị cho học sinh học tiếp lên cao mà còn chuẩn bị lực lượng lao động có văn hoá cho xã hội.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDPT chiếm một vai trò hết sức to lớn. Để thấy rõ vai trò của GDPT, GS. Võ Tòng Xuân đã so sánh, phân tích và rút ra nhận xét: Nhìn ra thế giới các nước giàu mạnh hiện nay, nước Mỹ tuy do đại bộ phận người Anh quốc di cư sang dựng lên thế giới mới, nhưng đang hùng mạnh và giàu có hơn Anh quốc. Trái lại, Nhật Bản, một nước có diện tích và dân số ít hơn Mỹ nhiều lần, tuy đã thua Mỹ trong Thế chiến thứ II, nhưng hiện nay lại là nước giàu có hơn Mỹ. Tổng sản lượng quốc dân – thước đo giàu nghèo của một nước – do mọi người dân làm ra dưới sự dẫn dắt của Nhà nước. Họ làm ra nhiều hay ít của cải là do trình độ mà nền khoa học và giáo dục của nước họ cung cấp, uốn nắn họ trong bối cảnh văn hoá xã hội đặc thù. Vì vậy, khi tìm hiểu tại sao Mỹ lại thua Nhật trên mặt trận phát triển kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ (Cummings, 1980) đã công nhận tính ưu việt của nền khoa học và giáo dục của Nhật hơn Mỹ, Nhà nước Nhật Bản có đường lối đúng và phù hợp với thực tiễn hơn, biết tập trung phát huy tài nguyên con người của Nhật ngay từ giai đoạn cơ bản nhất – giai đoạn GDPT.
Kỹ năng và kiến thức được truyền đạt trong giai đoạn GDPT giúp cho mọi công dân tham gia đắc lực nhất vào các hoạt động xã hội, kinh tế, và chính trị trong cộng đồng của họ. GDPT cũng được xem như là một quyền con người giúp họ thoát khỏi dốt nát và giảm thiểu những tác dụng tệ hại của nghèo nàn đặc biệt liên quan đến sức khỏe và dinh dưỡng.
Trong một nền kinh tế toàn cầu của thị trường tự do không ngừng canh tranh mãnh liệt, một lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ chất lượng cao là yếu tố sống còn của một nền kinh tế quốc gia để thu hút đầu tư nước ngoài và tạo nên việc làm và của cải cho đất nước. Vì thế, chất lượng GDPT bắt đầu từ tiểu học ngày càng được công nhận là cơ sở quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và được coi như công cụ để đạt được những mục tiêu phát triển khác. Các tổ chức phát triển quốc tế đã và đang tài trợ mạnh cho GDPT vừa là yếu tố trong tăng trưởng kinh tế vừa là trong sự giảm nghèo. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Giáo dục trung học phổ thông có một vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với ngành giáo dục nói riêng và đối với nền kinh tế quốc dân nói chung. Các nước có thành tựu to lớn về kinh tế – xã hội (như Ai-len, Singapore, Hàn Quốc, vv…) đều coi phát triển giáo dục là ưu tiên hàng đầu để nhanh chóng phát triển đất nước. Thủ tướng của Singapore vào thập kỷ 90, Lý Quang Diệu, đã tuyên bố: Cạnh tranh quốc tế thực chất là cạnh tranh giáo dục, phát triển giáo dục nói chung và GDPT nói riêng là phát triển nguồn nhân lực của quốc gia. Hàn Quốc coi đầu tư cho giáo dục và khoa học – công nghệ là con đường đưa đất nước đứng vào hàng ngũ các nước phát triển nhất. Malaysia đang hướng tới một nền giáo dục tiên tiến trình độ quốc tế. Chính vì vậy, việc phát triển giáo dục phổ thông – trong đó có phát triển chương trình GDPT – phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh kinh tế – chính trị – xã hội của một đất nước và quốc tế trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, do chương trình GDPT vừa mang tính ổn định ở từng giai đoạn, vừa luôn vận động, đổi mới. Trong quá trình phát triển chương trình GDPT Việt Nam, việc tìm hiểu các thông tin về xây dựng chương trình GDPT của các nước có nền giáo dục phát triển cao và các nước có những đặc điểm văn hoá, xã hội tương đồng với Việt Nam là một yêu cầu tất yếu và cần được thực hiện trong suốt quá trình xây dựng và triển khai chương trình. NQ 29-NQ/TW cũng chỉ ra các nhiệm vụ, giải pháp với nhiều nội dung cụ thể, trực tiếp ảnh hưởng đến QLNN về giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THPT nói riêng.
- Vai trò của giáo dục phổ thông tư thục
Trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại. Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục – đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Bất kỳ một nền văn hóa nào, phương Đông hay phương Tây đều cho rằng nhân cách con người được hình thành không chỉ thuần túy bởi điều kiện môi trường sống mà còn do điều kiện giáo dục quyết định, với mỗi người các đức tính như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng cần phải được học tập, rèn luyện thì mới phát triển đúng hướng và mới có thể vận dụng vào trong cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Tác phẩm Cú sốc tương lai của Alvin Toffler và Nền giáo dục cho thế kỷ XXI; những triển vọng Châu Á – Thái Bình Dương của R.Roy Singh đã phác họa ra viễn cảnh của nền giáo dục và xã hội trong tương lai là tập trung vào các vấn đề về hệ thống nhà trường, xu hướng phát triển giáo dục, phương pháp giáo dục và mô hình nhân cách, trong đó, nhấn mạnh con người là trung tâm của giáo dục.
Theo Ngân hàng thế giới năm 1991, giáo dục có vai trò quyết định đến tăng trưởng kinh tế: Cứ trung bình thêm một năm học cho người lao động làm tăng sản phẩm trong nước 9%. Trên thế giới có hai khu vực Đông Á và Bắc Âu có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất cũng là hai khu vực có chiến lược đầu tư vào con người một cách thông minh [46].
Trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, câu hỏi đầu tiên, và đột phá chú trọng đầu tiên bao giờ cũng nói tới giáo dục phổ thông, vì giáo dục phổ thông là nền tảng cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân và chính nó sẽ là cơ sở đem đến chất lượng cho cả hệ thống giáo dục. Giáo dục mầm non là giáo dục giành cho trẻ từ lọt lòng đến 5 tuổi, đây là cấp học mở đầu cho quá trình phát triển của mỗi con người với nhiệm vụ chủ yếu mang tính dẫn dắt giúp trẻ có được những kiến thức ban đầu để có thể làm quen, thích nghi dần với cuộc sống và phát triển tiếp theo. Giáo dục phổ thông giành cho lứa tuổi từ 6 đến 18 tuổi, cấp học này cung cấp những kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu giúp tuổi trẻ có thể tiếp tục học nghề hoặc học lên và cũng có thể đi vào cuộc sống tự nuôi sống mình và cống hiến cho xã hội. Giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học là giáo dục chuyên sâu và nâng cao, tiếp tục trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng chuyên biệt giúp người học trưởng thành một cách toàn diện, có thể chủ động đi vào cuộc sống theo nhiều hướng phát triển phong phú, đa dạng để cống hiến cho xã hội…
Như vậy, các cấp học trong hệ thống giáo dục là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một dòng chảy liên tục có chủ đích cho quá trình phát triển của mỗi con người. Trong hệ thống này có thể khẳng định, giáo dục phổ thông có một vị trí hết sức quan trọng, nó là chiếc cầu nối cơ bản, nó là cấp học mang tính nền tảng của cả hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia.
Chất lượng của giáo dục phổ thông ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dạy nghề và đại học, sâu xa hơn, mở rộng hơn, chính nó là nguồn gốc góp phần quan trọng quyết định chất lượng của nguồn lực lao động từng nước. ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Nội dung đào tạo của giáo dục phổ thông chính là hệ thống tri thức, kỹ năng mà nhà trường phổ thông có trách nhiệm truyền thụ cho thế hệ trẻ. Để xác định chuẩn xác hệ thống tri thức, kỹ năng này đúng với mục tiêu đào tạo, giữ được sự ổn định tương đối theo sự phát triển từng giai đoạn chung của đất nước, tránh được sự lạc hậu theo thời gian và tiến trình phát triển của nhân loại, tránh được sự quá tái…
Sự phát triển của hệ thống trường phổ thông tư thục cũng đang thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục, nhất là đối với hệ thống trường công lập. Mặt khác, xã hội hóa giáo dục đang góp phần tạo sự công bằng trong việc tuyển sinh đầu vào, góp phần thúc đẩy việc hình thành một môi trường giáo dục minh bạch, bình đẳng.
Phát triển nhanh chóng của mạng lưới trường tư thục góp lời giải hay cho bài toán khó về quá tải trường lớp. Đây cũng là xu hướng tất yếu phù hợp với sự phát triển của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường.
Mạng lưới trường tư thục góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho giáo viên, nhân tố quyết định đến chất lượng của hệ thống giáo dục. Bên cạnh sự hấp dẫn của những ngôi trường được đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, thiết kế đẹp, thân thiện với học sinh, hệ thống trường tư thục còn khiến nhiều phụ huynh lựa chọn bởi phương pháp dạy học hiện đại, hướng chuẩn quốc tế.
Phát triển mạng lưới trường phổ thông tư thục góp phần thự hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, y tế, thể thao trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước ta; tao điều kiện cho các nguồn lực, các thành phần kinh tế có điều kiện tham gia vào phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực.
2.2.2. Những nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục
- Nhân tố khách quan
Thứ nhất, nhân tố tăng trưởng và suy thoái kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế một mặt, vừa nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện cho các gia đình và xã hội trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, mặt khác, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục, tăng công ăn việc làm và giải quyết đầu ra cho các loại hình giáo dục – đào tạo. Tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời đặt ra cho sự phát triển giáo dục những yêu cầu mới: phải gắn hoạt động của giáo dục với nhu cầu thị trường lao động của các cơ sở kinh tế nhà nước, tập thể và tư nhân (đào tạo có địa chỉ hoặc theo nhu cầu trực tiếp của xã hội). ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Hiện nay ở Việt Nam, nhiều trường đào tạo không phải trên cơ sở nhu cầu xã hội mà là trên cơ sở nhu cầu và tâm lý người học, phần nhiều trong đó là chạy theo những ngành “mốt”. Giáo dục phải đón đầu được khuynh hướng phát triển kinh tế để đào tạo các ngành nghề mới phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ và đời sống xã hội. Khi nền kinh tế bị suy thoái, thu nhập của dân cư giảm sút, điều kiện sinh hoạt xuống cấp, việc làm và các yếu tố thiết yếu khác của người dân gặp khó khăn thì giáo dục cũng bị ảnh hưởng tiêu cực, hậu quả có thể là số lượng học sinh và quy mô cũng như các loại hình trường lớp cũng bị thu hẹp, số người bỏ học và mù chữ tăng lên, vv… chính điều đó lại ảnh hưởng tiêu cực trở lại đối với tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, nhân tố xã hội – giai cấp: Các nhà xã hội học đã chỉ ra rằng, ngay cả khi sự thông minh của những người thuộc lao động tương đồng với giai cấp trung lưu thì những bất lực về giáo dục của họ vẫn tồn tại dai dẳng. Mức độ bất bình đẳng giữa con em công nhân và các tầng lớp khác trong giáo dục còn nghiêm trọng hơn khi di chuyển lên bậc thang giáo dục cao hơn. Hoàn cảnh vật chất của gia đình lao động có ảnh hưởng tới con đường giáo dục của con cái họ (điều kiện học tập, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, những giá trị văn hóa gia đình và bố mẹ truyền lại cho con cái như truyền thống gia đình, tư tưởng, quan niệm).
Thứ ba, toàn cầu hóa: Là một xu thế tất yếu tác động mọi mặt đời sống xã hội của mọi quốc gia. Quá trình diễn biến phức tạp, vừa là thời cơ, nhưng cũng là thách thức, chứa đựng những mặt tốt và xấu của toàn cầu hóa và bị toàn cầu hóa. Kinh tế tri thức (sự phát triển của tri thức và khoa học công nghệ) đặt ra trong QLNN về giáo dục trung học phổ thông những vấn đề sau:
- Tri thức tác động đối với nhận thức; Giá trị và hiệu quả kinh tế-xã hội; Giáo dục đào tạo trong mối quan hệ không thể tách rời với KHCN và kinh tế tri thức;
- QLGD và QLNN về giáo dục trong việc phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức.
Đây là những yếu tố cơ bản tác động mạnh mẽ vào giáo dục, trong đó có giáo dục phổ thông.
Thứ tư, tác động công nghệ thông tin và truyền thông: Tác động công nghệ thông tin và truyền thông đến QLNN đối với giáo dục đào tạo và giáo dục trung học phổ thông dưới những góc độ sau:
- Vai trò của thông tin và sự phát triển của công nghệ thông tin;
- Giáo dục và đào tạo đồng hành với sự phát triển của công nghệ thông tin;
- QLNN về GDĐT và sự phát triển của công nghệ thông tin, vv…
Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, sự đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo được thể hiện trong Nghị quyết số 29 – NQ/TW khóa XI. Bao gồm những nội dung cơ bản: (1) đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; (2) định hướng quản lý thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; ( Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Thứ hai, tác động của cơ chế thị trường: Tác động của cơ chế thị trường đến QLNN đối với giáo dục là: (1) phân công, phân cấp một cách hợp lý; (2) giao quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cao hơn cho nhà trường; (3) nhà nước chuyển từ kiểm soát chỉ đạo chặt chẽ sang giám sát, kiểm tra theo pháp luật; (4) quản lý theo các tiêu chí chất lượng.
Thứ ba, chất lượng giáo viên: Quan điểm của dân gian Không thầy đố mày làm nên vẫn nguyên giá trị. Chất lượng người thầy quyết định chất lượng giáo dục. Hiện nay, ở các trường THPT, số lượng giáo viên có học vị tiến sĩ (TS), thạc sĩ (ThS) chưa cao. Hiện nay vẫn có tình trạng cào bằng trong đánh giá và sử dụng đội ngũ giáo viên.
Thứ tư, phương pháp giảng dạy và hệ thống đánh giá học tập của học sinh: Hiện nay, phần lớn các trường học vẫn áp dụng cách dạy và đánh giá truyền thống, chưa đưa thực hành nhiều vào trong giảng dạy, nên chưa phát huy được tư duy logic cho học sinh.
Thứ năm, cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất không chỉ là cơ ngơi trường lớp khang trang mà quan trọng là bộ phận cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học. Thư viện và thiết bị là cơ sở vật chất chuyên môn của trường, quan trọng là chất lượng đầu tư sách, thiết bị, hoá chất, máy móc phục vụ cho việc dạy và học. Nếu thư viện và thiết bị nghèo nàn thì đừng nói đến đổi mới phương pháp dạy học mới. Đây là khâu yếu của các trường mới thành lập, thiếu giáo viên có thể mời được nhưng vật chất phục vụ cho việc dạy học không phải ngay một thời gian ngắn đã làm được. Để khắc phục tình trạng dạy chay của các trường này, cần phải có sự liên thông thư viện thiết bị giữa các trường, liên thông với thư viện tỉnh, thư viện các sở ban ngành, thư viện các cá nhân trong và ngoài nhà trường để giới thiệu những tài liệu, thiết bị mà thư viện trường không có. Mỗi giáo viên phụ trách môn học ít nhất là một thư viện nhỏ về môn mình dạy, nhà trường phải tận dụng tối đa nguồn lực này để giúp cho thư viện trường và học sinh khai thác nguồn tài liệu. Đối với sách còn có cách giải quyết còn thiết bị chuyên dụng dành cho thực hành, thí nghiệm thì khó có cách khắc phục.
Thứ sáu, đội ngũ quản lý: Là các đơn vị, ban ngành chức năng và đội ngũ quản lý nhà trường tư thục như hội đồng quản trị, ban giám hiệu, trưởng phó các phòng ban, khoa của trường, những người quản lý và hoạch định chiến lược giáo dục của nhà trường. Một số trường tư thục, bán công, dân lập có chiều hướng thương mại hoá, đào tạo những ngành có nhiều sinh viên theo học, thời lượng, liên kết với nước ngoài để thoã mãn thị hiếu sính ngoại của người học nhưng cái ruột lại là nội bởi phần lớn là những giáo viên cơ hữu của trường tham gia giảng dạy (học phí ngoại, chương trình ngoại, giáo viên nội là hình thức tăng lợi nhuận).
Các bạn có thể tham khảo thêm:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
