Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Nhân văn là một trong những thứ không thể thiếu ở thời đại hiện nay, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn cũng là chủ đề thường xuyên được khai thác ở những bài tiểu luận ngày nay. Với chủ đề bài mẫu Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh dưới đây, mong rằng sẽ hỗ trợ cho các bạn một phần nào. 

Nếu trong quá trình học tập gặp vấn đề khó khăn, các bạn có thể liên hệ với mình qua zalo: https://zalo.me/0362148612 để tìm hiểu rõ hơn về dịch vụ nhận viết tiểu luận, luận văn. 

BỐ CỤC BÀI MẪU TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

MỞ ĐẦU 
NỘI DUNG 
I. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH 
1. Nguồn gốc tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
2. Khái niệm và những nội dung chủ yếu của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 
II. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TA GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 
1. Xây dựng chế độ chính trị phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu quan trọng thể hiện tính nhân văn của chủ nghĩa xã hội. 
2. Mục tiêu phát triển kinh tế, giải phóng sức sản xuất, tạo ra của cải vật chất dồi dào nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân  
3. Xây dựng xã hội mới có sự phát triển cao về văn hóa, đạo đức, công bằng và văn minh 
KẾT LUẬN 
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

dịch vụ thuê viết tiểu luận

LỜI MỞ ĐẦU TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một tư tưởng nổi bật trong hệ thống tư tưởng của Người. Đó là tư tưởng hạt nhân chỉ đạo quá trình đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chế độ phong kiến phản động, giành độc lập cho Tổ quốc Việt Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào. Tư tưởng đó phản ánh khát vọng độc lập, tự đo, hoà bình của dân tộc Việt Nam, nâng cao lên một chất lượng mới tư tưởng lấy đại nghĩa để thắng hung tàn của dân tộc ta, thực sự động viên, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của nhân dân vào cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc Việt Nam.

XEM THÊM DỊCH VỤ THUÊ VIẾT TIỂU LUẬN

Nghiên cứu tưởng nhân văn Hồ Chí Minh phù hợp với tư tưởng nhân văn thời đại là độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, đã thu hút các lực lượng tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh, cũng như các cuộc chiến tranh yêu nước nhằm giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do của nhân dân ta, chống các đế quốc to xâm lược. Chính tư tưởng nhân văn của Người đã phân hoá, cô lập cao độ kẻ thù, làm suy yếu chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, làm cho nhân dân ta thêm bạn bớt thù.(Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh)

Thắng lợi của các cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc ta mang đậm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đã có những cống hiến lớn lao, góp phần phát triển phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cho hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, cho quyền được sống và mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mỗi dân tộc và mỗi con người. Đồng thời làm rõ ý nghĩa thực tiễn và cấp bách trong việc khẳng định tính chân lý và tất thắng của con đường mà Hồ Chí Minh đã chọn cho dân tộc ta, vạch trần sự xuyên tạc, bóp méo tính nhân văn cao cả của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân ta do Người và Đảng ta lãnh đạo.

NỘI DUNG CHÍNH

I. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

1. Nguồn gốc tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Tư tưởng nhân văn (hay chủ nghĩa nhân văn) là một khái niệm để chỉ giá trị, tinh thần chung của nhân loại. Trong cuộc sống, con người luôn có khát vọng vươn tới cái đẹp, muốn được tự do và hạnh phúc. Song điều đó lại bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, chính trị – xã hội của từng quốc gia (dân tộc), của từng thời đại. Hơn nữa, tư tưởng nhân văn là vấn đề về con ngườì, mà con người lại là trung tâm của mọi thời đại. Các giai cấp khác nhau giải quyết về vấn đề con người khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại, tư tưởng nhân văn là hệ thống quan điểm lý luận về con người theo nghĩa rộng. Xuất phát từ sự tôn trọng giá trị nhân phẩm con người, thương yêu con người, tin vào sức sáng tạo vô biên của con người, coi quyền của con người được phát triển tự do, hạnh phúc và lợi ích của con người là tiêu chuẩn đánh giá các quan hệ xã hội, tư tưởng nhân văn, nhất là tư tưởng nhân văn cộng sản, chủ trương phát triển mọi khả năng của con người và xã hội, thừa nhận các nguyên tắc bình đẳng, công bằng, nhân đạo trong quan hệ giữa con người với nhau.

Thực ra, khái niệm tư tưởng nhân văn không phải đã có ngay từ buổi bình minh của loài người. Lúc bấy giờ, con người còn sống thành bầy đàn rồi sau đó thành thị tộc, bộ tộc, bộ lạc. Mọi người sống, lao động tự nguyện theo chế độ tập thể. Mọi thành viên gái cũng như trai đều có quyền bình đẳng như nhau. Xã hội càng phát triển, con người càng bị phân hoá thành kẻ giàu người nghèo. Đời sống vật chất – tinh thần giữa các tầng lớp dân cư càng cách xa nhau, giai cấp ra đời: kẻ đi áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột. “Xã hội văn minh” đã xuất hiện với những nghịch cảnh, kể thì hưởng thụ phè phỡn, người thị quằn quại trong đói rét, chết chóc.

Cùng với cuộc đấu tranh để chinh phục tự nhiên trong lao động sản xuất, con người lại phải đương đầu với các cuộc xung đột xã hội giữa kẻ đi áp bức, bóc lột với người bị áp ức, bóc lột. Tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người đối với cuộc sống và xã hội in đậm dấu ấn giai cấp (địa vị xã hội) và biến đổi không ngừng trong cuộc đấu tranh giai cấp triền miên đó. Cũng từ đây trong nhân dân lao động thưòng nảy sinh những ước muốn giải phóng mọi nỗi khổ đau đè nặng lên mình, cùng những ước mơ về một xã hội lý tưởng, vua thánh tôi hiền, mọi người sống với nhau hoà thuận, gần gũi thương yêu, đoàn kết giúp đỡ nhau.

Những khát vọng về cuộc sống tự do và hạnh phúc như vậy của con người, khi con người đã đạt đến một cuộc sống vật chất nhất định, có một trình độ tư duy nào đó đủ nhận thức về vai trò và giá trị của con người, trở thành những giá trị nhân văn. Và như chúng ta đều biết, kể từ khi xã hội có giai cấp, các giá trị nhân văn ấy trước hết và cơ bản là của nhân dân lao động, của tầng lớp người bị áp bức, bóc lột.

Tuy nhiên, chúng ta không hoàn toàn phủ nhận những nhân vật cá biệt trong các giai cấp bóc lột cũng biểu thị lòng thương yêu con người, nhiều khi rất sâu đậm và nồng hậu, tố cáo mãnh liệt xã hội đương thời và bệnh vực nhân dân lao động và những người bị áp bức bóc lột, cùng tiếng nói với nhân dân lao động. Nhưng đó chỉ là sự đồng cảm cảnh ngộ với người bị thống trị, bóc lột người nghèo, là thái độ đồng tình của kể đứng trên ngó xuống và mong ước cải thiện chính sách thống trị hà khắc của chế độ xã hội, chữ ít khi đòi lật đổi chế độ đương thời.

Khi xã hội tư bản ra đời, khái niệm tư tưởng nhân văn với tư cách là một trào lưu tư tưởng xã hội mới hoàn chỉnh những quan điểm triết học, chính trị, đạo đức lấy con người làm trung tâm.

Khác với chế độ phong kiến, khi thế giới tinh thần do tôn giáo thống trị coi con người trước hết là một sinh vật tinh thần, khuyên con người cam chịu mọi thiếu thốn và đau khổ về thể xác ở trần thế để hy vọng một tương lai thanh thản, hạnh phúc ở thiên đường hư ảo – thì khuynh hướng mới của xã hội tư bản chủ nghĩa đòi phải trả lại con người cho tự nhiên để tự do phát triển, coi việc tận hưởng mọi hạnh phúc trần tục là sự phát triển toàn diện của tính người.

Biểu thị ý muốn hiểu biết và sáng tạo; khát vọng chân lý và tự do; sự công bằng, bình đẳng và bác ái; lòng tin ở con người, tư tưởng nhân văn tư sản buổi hưng thịnh phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động đã góp phần giải phóng sức sản xuất, phát triển văn hoá, khoa học, tạo điều kiện cho sự tiến bộ xã hội.

XEM THÊM Tiểu luận Tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức Hồ Chí Minh 

Nhưng tư tưởng nhân văn tư sản dần dần bị bộc lộ những hạn chế không thể khắc phục bởi quan hệ sản xuất tư hữu tư bản và chủ nghĩa cá nhân tư sản. Con người mà tư tưởng nhân văn tư sản tôn thờ, đặt vào vị trí trung tâm chính là con người tư sản. Đó là con người ích kỷ, ngày càng thoái hoá sa đoạ trong cái xã hội mà mọi giá trị đều đo bằng lợi nhuận và tiền bạc.

Tư tưởng nhân văn tư sản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc chủ yếu là phản ánh sự bóc lột nhân dân lao động, cá lớn nuốt cá bé, cướp bóc, thôn tính xâm lược các quốc gia dân tộc khác. Nó sản sinh ra nhiều thứ “lý luận về con người” chống lại con người hoặc làm cho con người càng mất tin tưởng ở con người, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc là thủ đoạn chính của những tội ác vô nhân đạo, phản nhân văn trên quy mô ngày càng lớn đối với các dân tộc, con người và loài người tiến bộ mà ai cũng biết; là kẻ gây ra các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia dân tộc phục thuộc, là hai cuộc chiến tranh thế giới nhằm chia lại quyền lợi của chúng. Tư tưởng nhân văn tư sản thực chất chỉ là chủ nghĩa cá nhân tư sản, là cái “đạo làm người” của giai cấp tư sản chà đạp lên quyền sống của đông đảo nhân dân lao động.(Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh)

Đối lập với tư tưởng nhân văn tư sản (phản nhân văn) là tư tưởng nhân văn cộng sản. Từ khi những “bóng ma cộng sản” ra đời, nhất là từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại giành được thắng lợi, tạo nên bước ngoặt lịch sử đối với loài người, tư tưởng nhân văn cộng sản xuất hiện và phát triển, phản ánh quyền lợi và những giá trị tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trên cơ sở quan điểm cho rằng, bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội, do vậy, muốn giải phóng con người và tạo điều kiện cho con người phát triển hoàn mỹ phải thay đổi những quan hệ kìm hãm, trói buộc con người. Nghĩa là xoá bỏ quan hệ bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, xoá bỏ quan hệ người bóc lột người, thiểu số thống trị đa số; tạo lập quan hệ bình đẳng, tự do giữa con người với con người, tạo lập hệ thống những quan hệ xã hội mới tốt đẹp. Trong toàn bộ các quan hệ xã hội ấy, quan hệ sản xuất giữ vị trí chi phối. Nó là quan hệ kinh tế cơ bản của hình thái xã hội. Muốn xoá bỏ quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế, những điều kiện kinh tế – xã hội của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trói buộc, kìm hãm sự phát triển của con người thì phải làm cách mạng, phải có cương lĩnh cách mạng và khoa học nhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế bóc lột, thống trị của thiểu số tư sản để giải phóng con người, thật sự làm cho hoàn cảnh hợp với tính người.

2. Khái niệm và những nội dung chủ yếu của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Để tiến tới một khái niệm hoàn chỉnh, phản ánh được bản chất, cốt lõi của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, cần thống nhất một số khía cạnh.

Đối với Hồ Chí Minh vấn đề hàng đầu và vấn đề quán xuyến suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình là vấn đề yêu thương, tôn trọng, tin tưởng con người và sự nghiệp giải phóng con người. Toàn bộ sức lực, tâm tư, tình cảm, trí tuệ và cả cuộc sống của Hồ Chí Minh đều tập trung vào mục đích đó.

Con người trong quan điểm của Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng mà rất cụ thể. Đó là toàn thể nhân loại, là số đông các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động, trước hết là những người bị bóc lột đau khổ, bị nô lệ, đoạ đày của dân tộc mình và cả nhân loại cần lao bị áp bức không phân biệt chủng tộc và màu da.

Từ đó, khái niệm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh nêu như sau:

“Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là hệ thống những quan niệm, quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và cách ứng xử của con người với bản thân, với người khác, với công việc và với các sự vật, hiện tượng trên thế giới vì con người, tiến tới giải phóng triệt để con người thấm đượm tinh thần dân tộc và quốc tế trong sáng, thủy chung. Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là kết quả tổng hợp của quá trình kết tinh những giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Nội dung tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có thể khái quát thành mấy điểm chủ yếu sau:

Một là, quan niệm của Hồ Chí Minh về con người. Đó là lòng yêu thương và quý trọng con người gắn với lòng yêu dân, yêu nước nồng nàn. Biểu hiện nổi bật trong tư tưởng của Người về sự kế thừa “đạo lý làm người” của dân tộc Việt Nam. Từ xưa tới nay, khi xử thế với đời, những con người có đạo đức cao cả trong nhân dân ta thường hay lấy chữ “Nhân” làm gốc. Chữ nhân ở đây được hiểu theo nghĩa thương yêu người. Ông vua có nhân là ông vua biết thương yêu dân như con, kính trọng dân như trời, coi dân là ý trời. Ông quan có nhân là ông quan chẳng những không ép nạt dân mà trái lại còn bênh vực dân. Người dân có nhân là người sẵn lòng cứu nghèo, giúp khổ, giải hoạn nạn cho người khác mà không tiêc công, tiếc của, không cần trả ơn. Người ta thường nói: tu nhân tích đức là theo nghĩa như vậy [ 34, tr.252].

Trong xã hội phong kiến ở nước ta, các sĩ phu tiến bộ cũng rất coi trọng chữ “nhân”. Khi giặc Nguyên xâm chiếm nước ta (năm 1285), Trần Quốc Tuấn đã nói với binh sĩ “ai nấy cần giữ phép tắc, đi đến đâu không được nhiễu dân mà phải đồng lòng hết sức đánh giặc. Ông bộc lộ lòng yêu nước, thương dân của mình “Ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xé thịt, lột da quân giặc”. Còn Nguyễn Trãi, trong một bức thư kêu gọi tướng giặc Vương Thông đầu hàng đã viết: “Nước Việt Nam, tuy xa xăm ở cõi lĩnh ngoại, nhưng vẫn có tiếng là một nước thi thư, những bậc tài trí đời nào cũng sẵn có. Bởi vậy, phàm những việc ta làm, hết thảy đều theo lễ nghĩa, trên ứng với trời, dưới thuận lòng người”. Nguyễn Du đã bày tỏ lòng thương mười loại người xấu số của xã hội phong kiến thối nát trong bài Văn tế thập loại chúng sinh và xót xa cho thân phận con người bị vùi dập trong kiệt tác truyện Kiều.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu bật lý tưởng nhân đạo, có lòng tin và lòng ưu ái đặc biệt với những người nông dân Nam Bộ. Thông cảm nỗi tủi nhục của những người bị mất nước, cụ Phan Bội Châu đã bôn ba nhiều năm trời nơi hải ngoại để tìm một con đường cứu nước và biểu thị tấm lòng thương dân tha thiết trong các vần thơ gửi về nước kêu gọi các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh với giặc.(Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh)

XEM THÊM Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về Độc lập dân tộc

II. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TA GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Xây dựng chế độ chính trị phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu quan trọng thể hiện tính nhân văn của chủ nghĩa xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ chính trị phải là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của dân, do dân và vì dân. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên” và “Đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Nhà nước có hai chức năng: dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Hai chức năng đó không tách rời nhau, mà luôn luôn đi đôi với nhau. Một mặt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; mặt khác, lại yêu cầu phải chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh xác định rõ dân chủ như một giá trị phổ biến mà loài người mong muốn và đến chế độ xã hội chủ nghĩa giá trị phổ quát này mới đạt đến mức độ hoàn bị nhất. Xây dựng chế độ dân chủ chính là thể hiện rõ tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh. Người chủ trương tạo điều kiện cho nhân dân có cơ hội được bày tỏ quan điểm, chính kiến, nguyện vọng của mình. Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Người diễn đạt bằng một ngôn ngữ bình dị, nhưng ẩn chứa nhiều điều lớn lao, hệ trọng: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân; chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Mặt khác, Người còn xác định dân chủ như một động lực của sự phát triển: thực hành dân chủ là chiếc chìa khóa vạn năng giải quyết mọi khó khăn; dân chủ là chìa khóa của mọi tiến bộ và phát triển… Khi nền dân chủ mới được xây dựng cũng đồng nghĩa là nhân dân được giải phóng về chính trị, mọi người thực sự là chủ nhân của xã hội. Đó là khát vọng ngàn đời của cha ông ta.

2. Mục tiêu phát triển kinh tế, giải phóng sức sản xuất, tạo ra của cải vật chất dồi dào nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

Trong tư duy Hồ Chí Minh, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công – nông nghiệp hiện đại, khoa học – kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Do đó, ngay sau khi giành độc lập, Người chủ trương tập trung xử lý những vấn đề cấp bách nhất liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân. Có thể nói, giành độc lập dân tộc, tập trung phát triển kinh tế để phục vụ nhân dân đã thể hiện tư duy mẫn tiệp của Hồ Chí Minh về con đường phát triển của đất nước, đó cũng chính là con đường thể hiện đầy đủ tư tưởng nhân văn của Người.

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành mà những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó “công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà”. Kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề rất được Hồ Chí Minh quan tâm. Người đặc biệt nhấn mạnh chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết hợp lợi ích kinh tế của các chủ thể trên các quy mô khác nhau. Hồ Chí Minh cũng đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể trong mục tiêu kinh tế. Người nói: “Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn… Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”. Đây là trình độ phát triển cao của xã hội xã hội chủ nghĩa. Bản chất đó thuộc về chủ nghĩa xã hội. Nhìn nhận bản chất quan trọng này, Hồ Chí Minh đưa ra một quan niệm, chủ nghĩa xã hội là xã hội trong đó mình vì mọi người và mọi người vì mình. Do đó, một trong những nét nổi bật của con người mới xã hội chủ nghĩa là phải đạt tới trình độ phát triển cao về đạo đức, về nhân cách, đủ sức chiến thắng chủ nghĩa cá nhân. Xã hội xã hội chủ nghĩa vừa đòi hỏi, vừa tạo ra những con người như thế.

3. Xây dựng xã hội mới có sự phát triển cao về văn hóa, đạo đức, công bằng và văn minh

Theo Hồ Chí Minh, văn hóa là một mục tiêu cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu.(Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh)

Về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người khẳng định “phải xã hội chủ nghĩa về nội dung”; để có một nền văn hóa như thế, ta phải phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc, đồng thời, học tập văn hóa tiên tiến của thế giới. Phương châm xây dựng nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại chúng. Hồ Chí Minh nhắc nhở phải làm cho phong trào văn hóa có bề rộng, đồng thời phải có bề sâu. Trong khi đáp ứng mặt giải trí thì không được xem nhẹ nâng cao tri thức của quần chúng. Bản chất nhân văn của văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc ở các chức năng cơ bản của văn hóa là nâng cao dân trí, bồi dưỡng lý tưởng và hướng con người đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.

Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Tư tưởng nhân văn còn thể hiện rõ ở vấn đề Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết về mặt tư tưởng. Người cho rằng: “Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của việc học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến việc trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, Người cũng rất quan tâm đến mặt tài năng, luôn tạo điều kiện để mỗi người rèn luyện tài năng, đem tài năng cống hiến cho xã hội. Tuy vậy, Hồ Chí Minh luôn gắn tài năng với đạo đức. Theo Người, “có tài mà không có đức là hỏng”; dĩ nhiên đức phải đi đôi với tài, nếu không có tài thì không thể làm việc được. Cũng như vậy, Người luôn gắn phẩm chất chính trị với trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó, “chính trị là tinh thần, chuyên môn là thể xác”. Hai mặt đó gắn bó thống nhất trong một con người. Do vậy, tất cả mọi người đều phải luôn luôn trau dồi đạo đức và tài năng, vừa có đức vừa có tài, vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Nét đặc trưng trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh còn thể hiện sâu sắc ở mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, văn minh. Người nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”.

XEM THÊM Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Bản chất của việc thực hiện công bằng xã hội là giải quyết tốt mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ tạo ra điều kiện như nhau với mỗi cá nhân trong xã hội để họ có điều kiện phát triển, hoàn thiện cá nhân. Xét trên khía cạnh đó, tư tưởng công bằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tư tưởng nhân văn cao cả. Khi công bằng xã hội được thực hiện cũng có nghĩa là lợi ích chính đáng của mỗi người được tôn trọng và bảo đảm. Đây chính là động lực để mỗi người hăng hái đóng góp công sức của mình vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, khi nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta không thể không bàn đến tư tưởng nhân văn, bởi, như Người đã khẳng định: Nghĩ cho cùng… mọi vấn đề là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức. Chính triết lý hành động đó đã thôi thúc Hồ Chí Minh tìm kiếm và xác định con đường đúng đắn để cứu nước và giải phóng dân tộc, giai cấp và con người./.

 

KẾT LUẬN BÀI MẪU TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không phải là điều gì khác mà chính là tư tưởng cách mạng, mục tiêu đấu tranh cách mạng của Người – tư tưởng vì dân, vì nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp giải phóng xã hội dể giải phóng con người một cách triệt để và vĩnh viễn khỏi mọi ách áp bức, bóc lột.(Tiểu luận Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh)

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh cần được tiếp tục nghiên cứu vận dụng và phát triển trong công cuộc đổi mới đất nước và củng cố quốc phòng trong giai đoạn hiện nay. Muốn vậy, Đảng Nhà nước phải thực sự quan tâm hơn nữa đến con người và sự nghiệp xây dựng con người. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải phù hợp với lòng dân, động viên và khơi dậy mọi tiềm năng của toàn dân, của dân tộc, biến ý chí chiến thắng ngoại xâm thành quyết tâm chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu trong công cuộc xây dựng đất nước XHCN. Nghĩa là phải thực sự tôn trọng và thực thi trong đời sống quyền làm chủ của công nhân, nông dân, trí thức, của toàn dân. Đó chính là công cuộc giải phóng con người về mọi mặt trong sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, xã hội dân chủ, công bằng, nhân dân ấm no và hạnh phúc./.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537