Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người cho các bạn.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Sự tồn tại của người đồng tính trong xã hội là sự thật và không thể chối bỏ. Nhưng rất nhiều người trong số họ phải sống trong vỏ bọc để tránh sự kì thị, xa lánh của những người xung quanh. Mặc dù người đồng tính là một phần hợp thành nên xã hội loài người nhưng ở nhiều nơi trên thế giới họ vẫn là nạn nhân của những hành vi ngược đãi. Thậm chí, trước đây, đồng tính luyến ái được coi là một loại bệnh tâm thần được hình thành đồng thời dưới cả khía cạnh bệnh lý và tâm lý. Nhiều người cũng cho rằng, hiện tượng đồng tính luyến ái là sự phát triển lệch lạc, lệch chuẩn về cả đạo đức và lối sống, trái với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Trong nhiều năm trở lại đây, nhiều người không ngần ngại công khai mình là người đồng tính. Nhiều  phong trào đòi quyền bình đẳng, đòi quyền được kết hôn cho những người đồng tính luyến ái đã xuất hiện ở khá nhiều nước trên thế giới. Vì vậy, việc hai người đồng tính sống chung như vợ chồng cũng không còn xa lạ. Từ nhiều năm qua, vấn đề này vẫn không ngừng được quan tâm với hai quan điểm trái ngược nhau về việc công nhận hay không công nhận hôn nhân của cặp đôi đồng tính.

Trên thế giới đã có nhiều quốc gia thừa nhận hôn nhân đồng tính như: Hà Lan (năm 2001) là nước đầu tiên thừa nhận hôn nhân đồng tính, Bỉ (năm 2003), Na Uy (năm 2008), Đan Mạch (năm 2012), New Zealand (năm 2013), Mỹ (năm 2015) … và gần đây nhất là Úc (tháng 12/2017). Việt Nam chưa công nhận hôn nhân đồng tính. Tại điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”.  Sau khi ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã có quy định mới là: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2, Điều 8). Quy định này tuy có phần tiến bộ hơn và đã có bước thay đổi trong tư duy về việc kết hôn đồng tính, nhưng về mặt pháp lí thì quyền và nghĩa vụ của “gia đình” người đồng tính không được bảo vệ như quan hệ vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình.

Hơn nữa, nhìn dưới góc độ quyền con người thì quyền được tôn trọng, bảo vệ và quyền được đối xử bình đẳng, trong đó có quyền được kết hôn và quyền mưu cầu hạnh phúc là một quyền chính đáng không ai được phép ngăn cản. Vì sở dĩ, quyền con người mang những giá trị cao quý, được kết tinh từ những nền văn hoá và văn minh nhân loại, là phương tiện chung để bảo vệ, thúc đẩy nhân phẩm, hạnh phúc của con người. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Nhằm hiểu rõ hơn về vấn đề hôn nhân đồng tính cũng như mong muốn góp một phần nhỏ hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền kết hôn của người đồng tính, vì vậy tôi chọn đề tài:”Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề đồng tính luyến ái hay cụ thể hơn là vấn đề hôn nhân đồng tính không còn xa lạ. Vấn đề này đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như: xã hội học, y tế, tâm lí học, luật học… Có thể kể đến là: Xu hướng và tác động xã hội của hôn nhân  đồng giới: Xu hướng thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam – TS. Nguyễn Thu Nam – Khoa dân số và phát triển, Viện chiến lược và chính sách y tế, Bộ Y tế; Hôn nhân cùng giới: xu hướng thế giới, tác động xã hội và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam – Tổng hợp tài liệu từ các nghiên cứu khác nhau do Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) thực hiện với sự đóng góp của nhiều tác giả và một số tạp chí… Dưới góc độ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, luận văn nghiên cứu, như: Trương Hồng Quang (2013), “Tìm hiểu một số vấn đề dưới góc độ pháp lí về đồng tính, song tính, chuyển giới”; Trương Hồng Quang (2014), “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”; nhóm nghiên cứu Lương Thế Huy và Phạm Quỳnh Phương (2016), “Có phải bởi vì tôi là LGBT? Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam; Trương Hồng Quang (2017), “Tìm hiểu quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính ở Việt Nam”.  Một số nghiên cứu chuyên sâu của các tác giả về vấn đề hôn nhân đồng tính, như: Ths. Ngô Thị Thanh Thủy (2014), “Kết hôn đồng giới theo pháp luật một số quốc gia,…

Cũng nghiên cứu về vấn đề này nhưng Khoá luận muốn nhấn mạnh về quyền kết hôn của người đồng tính, một số quyền nhân thân chính đáng của người đồng tính và giải thích về vấn đề kết hôn đồng tính có phải là quyền con người hay không, những khó khăn trong việc ghi nhận quyền kết hôn của người đồng tính và việc không công nhận hôn nhân đồng tính dẫn đến những hậu quả nào. Từ đó đưa ra một số kiến nghị để bảo vệ quyền kết hôn của người đồng tính.

3. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích của Khoá luận là làm rõ vấn đề kết hôn đồng tính có phải là quyền con người hay không. Đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và những khó khăn trong việc công nhận hôn nhân đồng tính là hợp pháp. Qua đó, đề xuất những biện pháp khắc phục, góp phần nhỏ vào công tác xây dựng hệ thống pháp luật trong vấn đề đảm bảo quyền kết hôn của người đồng tính. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

4. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Các phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong đề tài là:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác – Lênin.
  • Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở
  • Phương pháp phân tích luật viết
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu thực tế

5. Bố cục của khoá luận 

 Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chương:

  • Chương 1: Khái quát về quyền con người, sự phát triển của quyền con người và quyền kết hôn đồng tính
  • Chương 2: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính
  • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ KẾT HÔN ĐỒNG TÍNH.

1.1 Khái niệm quyền con người

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao uỷ Liên Hợp Quốc thì: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và sự tự do cơ bản (fundamental freesoms) của con người”.

Trong khoa học pháp lý, quyền con người được hiểu là những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân; là những quyền mà bất cứ ai cũng không được  phép xâm hại. Hay nói cách khách, quyền con người là những quyền tự nhiên mà bất cứ ai cũng có quyền đó, được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã thể hiện sự phát triển lý luận và tư duy lập hiến trong việc ghi nhận quyền con người so với những bản Hiến pháp trước đó bằng việc dành toàn bộ chương II để quy định các quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó, con người có các quyền: quyền sống, quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe; quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật đời tư; quyền được bảo hộ danh dự, uy tín, nhân phẩm; quyền có nơi ở hợp pháp và bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng; quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản, quyền thừa kế… Như vậy, quyền con người nói một cách đơn giản là quyền mà một cá nhân sẽ có được, chỉ cần là con người mà không bị phụ thuộc vào quốc tịch, nơi sinh sống, giới tính, dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, hay bất cứ đặc điểm nào khác. Việc nghiên cứu nội dung quyền con người là nền tảng cho sự phát triển và tiến bộ xã hội. Vì vậy, quyền con người luôn là nội dung thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận thế giới cũng như các tổ chức quốc tế và khu vực.

1.2 Sự phát triển của quyền con người Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Ý thức về quyền con người và việc thực hiện quyền con người là một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử phát triển của loài người, giải phóng con người qua các hình thái kinh tế – xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp. Qua đó, quyền con người được thừa nhận rộng rãi và đã trở thành giá trị chung của toàn thể nhân loại. Trong nhiều xã hội tiền hiện đại cũng đã có các quan niệm về công lý, về sự bình đẳng, phẩm giá và sự tôn trọng của con người. Tuy nhiên, họ cho rằng người cai trị có nghĩa vụ cai quản hợp lý và vì lợi ích chung của mọi người là xuất phát từ đấng tối cao hoặc từ truyền thống chứ không dựa trên khái niệm các quyền cá nhân hay quyền con người. Khái niệm nhân quyền có nguồn gốc từ thời Hy lạp cổ dưới dạng các quyền tự nhiên của con người như quyền được sống,… Người đầu tiên được cho là đã phát triển một lý thuyết toàn diện về nhân quyền là triết gia người Anh – John Locke (1632 – 1704). John Locke cho rằng người dân hình thành nên các xã hội, các xã hội hình thành nên chính phủ để đảm bảo quyền được hưởng các quyền tự nhiên của họ và họ chỉ có nghĩa vụ trung thành với những chính phủ bảo vệ các quyền của họ, thậm chí những quyền này còn được ưu tiên hơn những lợi ích khác của chính phủ. Tuy nhiên, hàm ý các quyền này chỉ mang tính phổ quát chứ không thực sự xem xét tới quyền của tất cả mọi người. Trọng tâm thực sự là bảo vệ những người nam giới, những người có sở hữu tài sản mà không phải là phụ nữ, những người hầu hay những người lao động. Mặc dù vậy, tư tưởng của John Locke cũng đã là một bước đột phá.   Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người mà chỉ được coi là những công cụ biết nói. Cho nên họ không có và không được thừa nhận các quyền con người. So với chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến đã là một bước tiến lớn trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người. Giai cấp tư sản là người đầu tiên giơ ngọn cờ nhân quyền và họ dựa vào các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý – vốn là yêu cầu bức thiết của nhân dân lao động, tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người, quyền tư hữu. Tuy vậy giai cấp tư sản bỏ qua điều kiện quan trọng để người lao động thoát khỏi đói nghèo và bị bóc lột là quyền kinh tế, văn hoá, xã hội mà chỉ tập trung nhấn mạnh quyền dân sự, chính trị.

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của loài người, nội dung các quyền con người tiếp tục được phát triển. Nhiều cuộc đấu tranh chính trị lớn trong hai thế kỷ qua liên quan đến việc mở rộng một loạt quyền được bảo vệ. Xu hướng này bao gồm mở rộng quyền bầu cử cho mọi công dân, cho phép người lao động được đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, xoá bỏ tình trạng phân biệt đối xử vì giới tính và chủng tộc. Những lập luận như là tất cả chúng ta đều có các quyền cơ bản giống nhau, được Nhà nước tôn trọng và quan tâm như nhau được chấp nhận đã dẫn tới những thay đổi chính trị xã hội trên toàn thế giới.

Dấu mốc lớn phải kể đến là Sau khi Chiến tranh thế giới II kết thúc, Liên hợp quốc chính thức ra đời vào ngày 24-10-1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 10-12-1948. Tuyên ngôn gồm 30 điều về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đã đặt cơ sở cho việc bảo đảm, thúc đẩy các quyền con người trên thế giới trong 70 năm qua. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Từ những tư tưởng sơ khai đầu tiên đến những quyền đầu tiên được ghi nhận trong các điều ước quốc tế như các quyền về dân sự, chính trị gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến (như quyền sống, quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, quyền được xét xử công bằng,..); hay các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá được thúc đẩy mạnh mẽ quá trình pháp điển hoá từ giữa thế kỷ XX (như quyền có việc làm, quyền được chăm sóc y tế,…). Cho đến ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học và quá trình toàn cầu hoá, quyền con người cũng đã và đang phát triển, không ngừng được mở rộng. Có thể kể đến như trên phương diện đời sống xã hội có Quyền con người với môi trường. Quyền con người đối với môi trường là một trong những quyền thuộc nhóm quyền thứ ba (quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển và quyền được sống trong môi trường trong lành). Tuyên bố Stockholm năm 1972 được xác định là một mốc đầu tiên cho sự gắn kết giữa hai vấn đề: quyền con người và môi trường – với tinh thần là con người có các quyền cơ bản về tự do, bình đẳng và điều kiện sống tối thiểu trong môi trường trong lành, cho phép con người có cuộc sống hạnh phúc. Ngoài ra, vấn đề này còn được khẳng định trong một số văn kiện khu vực, trong đó tiêu biểu là Hiến chương châu Phi về quyền của con người và của các dân tộc (Điều 21); Nghị định thư San Salvador bổ sung Hiến chương châu Mỹ về quyền con người (Điều 11). Một trong những yếu tố chính thúc đẩy sự ra đời và thực thi luật môi trường, quyền con người đối với môi trường là sự báo động về ô nhiễm, suy thoái và khủng hoảng môi trường toàn cầu, có nguyên nhân chính từ hoạt đông sống hiện nay của con người. Chính sự biến đổi này đã gây hại đến đời sống kinh tế, sức khỏe, hưởng thụ các quyền cơ bản của con người. Ngoài ra, ở giai đoạn ngày nay, người ta không những chú trọng về quyền được sống trong môi trường trong lành của con người mà còn nhắc tới quyền công bằng với các thế hệ tương lai trong việc được hưởng những nguồn tài nguyên không phải là vô tận của trái đất khi đứng trước các vấn đề về biến đổi khí hậu, vấn đề khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Luật nhân quyền quốc tế tuy có nét đặc trưng chung là có tính phổ quát và tất cả mọi người đều có cơ hội hưởng quyền như nhau không phân biệt giới tính, sắc tộc, tuổi tác… Nhưng trên thực tế, một số nhóm người gặp khó khăn trong việc tiếp cận các quyền cũng như tự mình thực hiện các quyền mà mình đáng được hưởng. Do vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn nên dễ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay vi phạm về quyền con người và được gọi chung là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Trong luật quốc tế, một số nhóm người được coi là dễ bị tổn thương là phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người không quốc tịch, người thiểu số, người cao tuổi… Do vậy, để giảm thiểu những khó khăn và khả năng bị xâm phạm quyền của họ thì ngoài những công ước quy định quyền chung cho tất cả mọi người như ICCPR, ICESCR thì có những công ước riêng ghi nhận về quyền của nhóm người này. Ví dụ như đối tượng dễ bị tổn thương là những người khuyết tật – được coi là một trong các nhóm thiểu số lớn nhất thế giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất. Tình trạng thân thể bị khuyết tật khiến họ đã và đang phải chịu những thiệt thòi trên tất cả phương diện của đời sống xã hội. Nếu như trước đây chỉ xuất phát từ tình thương và lòng nhân đạo, người khuyết tật chỉ được quan tâm ở mức độ là đảm bảo mức sống tối thiểu và được chăm sóc về y tế thì trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển hơn thì nhận thức cũng thay đổi. Với nhận thức rằng họ cũng là chủ thể của quyền nên việc chăm lo đến quyền của người khuyết tật chính là việc phải tạo điều kiện thuận lợi cho họ được thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng và tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội. Ví dụ như: tăng cường đào tạo nghề, tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật, cũng như xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử với người khuyết tật trong việc làm. Thêm vào đó cũng phải tính đến quyền được tham gia giao thông, khả năng tiếp cận với các công trình công cộng thông qua việc xây dựng các phương tiện, công trình hỗ trợ cho họ. Vì vậy, việc ra đời của Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật vào tháng 3/2007 là một cơ sở pháp lý vững chắc để các nước tiến hành các chương trình, dự án liên quan đến việc tăng cường và củng cố quyền của người khuyết tật trên phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Có thể kể đến những công ước riêng ghi nhận về quyền của nhóm người dễ bị tổn thương như: đối với quyền của phụ nữ được ghi nhận tại Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) hay Công ước về trấn áp buôn người và bóc bột mại dâm người khác năm 1949; Quyền của trẻ em được ghi nhận tại Công ước về quyền trẻ em (CRC); Quyền của người khuyết tật được ghi nhận tại Công ước về quyền của những người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 2007; … Ngoài ra quyền của một số nhóm người mới chỉ được ghi nhận trong các văn kiện mềm như các Tuyên bố, Hướng dẫn mà không có sự ràng buộc về mặt pháp lý như Quyền của người thiểu số trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992; Quyền của người sống chung với HIV/AIDS trong các hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người 1996; phong trào vận động cho các quyền LGBT trình lên Liên hợp quốc một dự thảo về định hướng tình dục và sự đồng giới năm 2008… Tuy nhiên, trong từng thời kỳ xã hội khác nhau, các đối tượng trong nhóm dễ bị tổn thương có thể bị thay đổi và có thể được bổ sung bao gồm những nhóm người gặp những nguy cơ cao về quyền con người ở trong nhiều hoàn cảnh, bối cảnh.

Như đã nói ở trên, nhóm người dễ bị tổn thương là những nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người. Bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác. Đối với nhóm người LGBT, thì từ trước tới nay họ cũng được xếp vào nhóm người dễ bị tổn thương do thường có ít cơ hội tác động đến các thể chế và chính sách quyết định cuộc đời họ như  không thể tích cực vận động cho các quyền của họ khi mà hành vi tình dục đồng giới vẫn bị coi là phạm pháp tại rất nhiều quốc gia; phải đối mặt với các rào cản mang tính hệ thống, không đơn thuần về mặt kinh tế, mà cả về chính trị, xã hội và văn hoá. Phần nhiều trong số những văn kiện quốc tế về quyền con người được Liên hợp quốc thông qua sau hai công ước cơ bản Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR) là để pháp điển hóa các quyền áp dụng với các nhóm người dễ bị tổn thương. Liên quan đến sự phát triển về quyền của nhóm, hiện tại, quyền của người LGBT là một trong những quyền đang được vận động để pháp điển hóa trong luật quốc tế. Đây là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trên lĩnh vực quyền con người trong vài thập kỷ gần đây. Những người ủng hộ quyền của LGBT đã lập nên các tổ chức và phát động những phong trào mang tính chất toàn cầu để vận động cho việc thừa nhận và pháp điển hóa các quyền được kết hôn giữa những người đồng giới; quyền của các cặp đồng giới nam được nhận nuôi con nuôi; và trên hết là quyền của tất cả những người LGBT không bị phân biệt đối xử do xu hướng tình dục và giới tính [10].

1.3 Quyền kết hôn trong luật nhân quyền quốc tế Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân đầu tiên được đề cập trong Điều 16 Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền (UDHR). Theo đó thì nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam và nữ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi ly hôn. Việc kết hôn chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai (Khoản 1 và 2). Khoản 3 điều này khẳng định, gia đình là tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội, được nhà nước và xã hội bảo vệ.  Các quy định trên của UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ thể hoá trong điều 23 ICCPR và điều 10 ICESCR.

Trong ICCPR đã có những quy định khẳng định quyền tự do kết hôn của nam và nữ khi đến tuổi kết hôn, đồng thời nhấn mạnh quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử giữa vợ và chồng trong các vấn đề gia đình. Cụ thể là tại điều 23 quy định:

  1. Gia đình là một tế bào cơ bản và tự nhiên của xã hội, cần phải được nhà nước và xã hội bảo hộ.
  2. Quyền kết hôn và lập gia đình của nam và nữ đến tuổi kết hôn phải được  thừa nhận.
  3. Không được tổ chức việc kết hôn nếu không có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai.
  4. Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành các biện pháp thích hợp để bảo đảm sự bình đẳng về quyền và trách nhiệm của vợ và chồng trong suốt thời gian chung sống và khi ly hôn. Trong  trường hợp ly hôn, phải có quy định bảo đảm sự bảo hộ cần thiết với con cái.

Liên quan đến Điều 23 ICCPR, HRC đã giải thích thêm về ý nghĩa và nội dung của các quyền ghi nhận trong Điều này trong Bình luận chung số 19 thông qua tại phiên họp thứ 39 năm 1990 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:

Thứ nhất, Khoản 2 Điều 23 ICCPR khẳng định quyền của nam và nữ đến tuổi kết hôn thì được kết hôn và lập gia đình một cách tự do, tự nguyện. Công ước không quy định độ tuổi kết hôn cụ thể cho cả nam giới lẫn nữ giới – việc này tùy thuộc pháp luật của các quốc gia thành viên; tuy nhiên, độ tuổi kết hôn cần ở mức phù hợp để anh ta hoặc cô ta có thể thể hiện được sự tự nguyện hoàn toàn việc kết hôn trong khuôn khổ và điều kiện luật pháp cho phép. Thêm vào đó, các quy định pháp luật quốc gia về vấn đề này phải phù hợp với các quyền khác được Công ước bảo đảm, ví dụ như quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tín ngưỡng (hàm ý rằng luật pháp của mỗi quốc gia phải tạo điều kiện cho khả năng kết hôn giữa những người theo các tôn giáo khác nhau và có quốc tịch khác nhau). Việc pháp luật quốc gia quy định lễ cưới phải đồng thời được tổ chức theo nghi thức tôn giáo và đăng ký kết hôn theo luật dân sự cũng không trái với Công ước (đoạn 4).

Thứ hai, về nguyên tắc, quyền xây dựng gia đình hàm ý là nam  nữ có thể sinh đẻ và sống cùng nhau một cách tự nguyện. Vì vậy, chính sách kế hoạch hóa gia đình của các quốc gia thành viên phải phù hợp các điều khoản có liên quan của Công ước và đặc biệt không được mang tính chất phân biệt đối xử hay cưỡng bức. Thêm vào đó, quyền này cũng đòi hỏi các quốc gia thành viên phải thực thi các biện pháp phù hợp, cả ở cấp độ quốc gia và hợp tác quốc tế, để đảm bảo sự thống nhất hay tái thống nhất các gia đình bị chia tách do các nguyên nhân chính trị, kinh tế hay các nguyên nhân khác (đoạn 5).

Thứ ba, về quyền bình đẳng khi kết hôn, HRC đặc biệt lưu ý rằng không được có sự phân biệt đối xử về giới tính liên quan đến việc nhập hay từ bỏ quốc tịch do kết hôn. Tương tự, HRC cũng lưu ý rằng cần bảo đảm quyền của cả vợ và chồng được giữ nguyên họ của anh ta hay cô ta, hoặc được bình đẳng trong việc lựa chọn một họ mới sau khi kết hôn (đoạn 7).

Thứ tư, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng liên quan đến tất cả các vấn đề nảy sinh trong đời sống gia đình, ví dụ như việc lựa chọn nơi cư trú, tổ chức cuộc sống, giáo dục con cái, quản lý tài sản… (đoạn 8). Vì vậy, không được có bất cứ sự phân biệt đối xử nào giữa vợ và chồng trong các vấn đề như cơ sở và các thủ tục ly hôn, việc trông nom, chu cấp, nuôi dưỡng, thăm nom con cái…(đoạn 9)[5].

1.4 Người đồng tính và quyền của người đồng tính Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

1.4.1 Khái niệm người đồng tính

Từ trước đến nay, nhiều người nghĩ rằng đồng tính, song tính thuộc giới tính thứ ba bên cạnh giới tính nam và giới tính nữ. Tuy nhiên, quan niệm này là hoàn toàn sai lầm. Thực chất trong xã hội chỉ có hai giới tính là nam và nữ. Vấn đề đồng tính hay song tính liên quan đến một khái niệm còn khá mới mẻ, chưa được hiểu biết rộng rãi, đó là xu hướng tính dục [6,tr.13]. Tuy nhiên, nếu không làm rõ thuật ngữ này thì khó có thể hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ về đồng tính.

Tính dục người được tạo nên bởi 4 yếu tố:

  • Giới sinh học: cấu trúc gen, ngoại hình, tuyến nội tiết… do các yếu tố sinh học quy định.
  • Bản sắc giới: sự cảm nhận của bản thân thuộc giới tính nam hay nữ.
  • Thể hiện giới: sự thể hiện bằng những hành vi cư xử theo kiểu nam giới hay nữ giới.
  • Xu hướng tính dục: chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về mặt tình dục giữa những người cùng giới tính (xu hướng tính dục cùng giới) hoặc khác giới tính (xu hướng tính dục khác giới) hoặc đối với cả hai giới tính(xu hướng song tính) [3]

Xu hướng tính dục cùng giới (Homosexual) là bị hấp dẫn với người cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra. Những người có xu hướng tính dục cùng giới được gọi là người đồng tính luyến ái, bao gồm cả đồng tính luyến ái nữ (Lesbian) và đồng tính luyến ái nam (Gay). Nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm tìm ra căn nguyên dẫn đến hiện tượng bị hấp dẫn giữa những người cùng có biểu hiện giới tính ở một số người trogn xã hội và hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng xu hướng tính dục chịu sự chi phối của hai yếu tố sinh học và xã hội. Trường phái tâm thần học của Sigmud Freud đưa ra quan điểm: Trong khi hầu hết loài người sinh ra với khuynh hướng tính dục dị giới thì tâm sinh lý, với sự phát triển riêng của mình do các yếu tố bên trong và bên ngoài chi phối đã tạo ra hiện tượng đồng tính luyến ái.  Các cuộc nghiên cứu, thống kê, khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học, nhi khoa khác đề đi đến kết luận đồng tính luyến ái không phải là sự rối loạn tâm thần mà là một hiện tượng bình thường trong tự nhiên.

Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (“American Psychological Association” – APA) – Tổ chức nghiên cứu về lĩnh vực tâm thần học lớn nhất thế giới – cho rằng đồng tính không phải là một sự rối loạn tâm sinh lý mà là một hiện tượng sinh học tự nhiên do các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường tử cung tác động qua lại lẫn nhau ở gia đoạn đầu của thai nhi [6,tr.20], hoàn toàn không phải là sự rối loạn tâm sinh lý. Vì thế người có xu hướng tính dục cùng giới không phải do chủ quan của họ lựa chọn xu hướng này. Trước khi quan điểm này được đưa ra, đồng tính đã từng bị liệt kê như một loại bệnh tâm thần trong cẩm nang về chuẩn trị và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM) cho đến tận năm 1973, APA đã đưa ra những dẫn chứng, nghiên cứu để đưa ra kết luận về sự tồn tại của xu hướng tính dục có tính chất hiển nhiên và loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào. Hiện nay, hầu hết các nhà tâm thần học, tâm lý học và các chuyên gia sức khoẻ tâm thần đã thống nhất rằng đồng tính không phải là một loại bệnh. Ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần.

Như vậy, cần khẳng định lại rằng đồng tính không phải là bệnh mà đó là một xu hướng tính dục tự nhiên. Thực tế cho thấy người đồng tính xuất hiện ở mọi nền văn hóa, mọi tầng lớp, làm việc bình thường trong mọi ngành nghề và theo báo cáo khoa học từ tổ chức y tế thế giới (WHO) của Liên hợp quốc, khoảng 3% dân số có thiên hướng đồng tính. Với số lượng không nhiều trong xã hội lại là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nên họ cần được xã hội quan tâm và đảm bảo quyền lợi chính đáng.

1.4.2 Quyền của người đồng tính Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

1.4.2.1 Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

1.4.2.1.1 Quyền của người đồng tính bản chất là quyền tự nhiên của con người

Quyền tự nhiên là nguồn cảm hứng trong các văn kiện quốc tế và văn kiện pháp luật của các quốc gia. Trong lời mở đầu của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 tiếp cận từ góc độ quyền tự nhiên như việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả mọi người. Tại Điều 1 ghi nhận sự tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái. Bên cạnh đó, một số văn kiện chính trị – pháp lý của nhiều quốc gia cũng khẳng định các quyền con người là tự nhiên, như Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776): “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; Tuyên ngôn Dân quyền và Quyền con người của Pháp (1789):“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”; Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam (1945): “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Chúng ta có thể thấy, trong các văn kiện quốc tế và pháp luật quốc gia luôn nhấn mạnh quyền bình đẳng và quyền không bị đối xử. Trong Luật nhân quyền quốc tế không chỉ ghi nhận “bình đẳng” và “không bị phân biệt đối xử” là quyền mà đó cũng là những nguyên tắc nền tảng của quyền con người.

Nguyên tắc không bị phân biệt đối xử được đề cập trong các văn kiện quốc tế như UDHR, ICCPR, ICESCR và lần đầu được khẳng định trong UDHR. Cụ thể, tại Điều 1 UDHR khẳng định rằng: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền….”; Điều 2 UDHR quy định về quyền được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay bất cứ thân trạng nào khác.

Nguyên tắc không bị phân biệt đối xử được cụ thể hoá hơn trong Điều 2 ICCPR và Điều 2 ICESCR. Theo đó, các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng và bảo đảm các quyền đã được ghi nhận trong ICCPR, ICESCR cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản hay thành phần xuất thân hay bất cứ thân trạng nào khác. Trong Bình luận chung số 20, đoạn 32, Ủy ban giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội của Liên hợp quốc khẳng định rằng sự đảm bảo không phân biệt đối xử trong ICESCR đã bao gồm xu hướng tính dục: “bất cứ thân trạng nào khác” (“other status”) được ghi nhận trong Điều 2, khoản 2, bao gồm các xu hướng tính dục. Các quốc gia phải đảm bảo rằng xu hướng tính dục của một người không phải là một rào cản đối với việc thực hiện quyền ghi nhận trong Công ước”. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Nguyên tắc bình đẳng: Tại Điều 7 UDHR quy định: “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào…”. ICCPR tiếp tục khẳng định nguyên tắc nêu trên tại Điều 26, đồng thời nêu rõ: “… pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác”

Như vậy, xét về sự công bằng trong quyền được sống và quyền được tự do. Những người LGBT là những người hoàn toàn bình thường, có khả năng thực hiện được những nghĩa vụ trong xã hội và có quyền được hưởng các quyền như những người khác. Một trong những quyền đó là quyền được công nhận và tôn trọng. Sống theo xu hướng tính dục và bản dạng giới của mình là một phần của tự do. Hơn nữa, nhu cầu được công khai và được xã hội công nhận của người LGBT không ảnh hưởng hay đe doạ tới bất kỳ lợi ích hợp pháp chung nào cả. Nhưng trên thực tế, khi người LGBT công khai xu hướng tính dục, bản dạng giới của mình thì bị cản trở từ những thành kiến xã hội và những quan điểm sai lầm.

Xét về quyền mưu cầu hạnh phúc: Năm 2013, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã nhất trí thông qua nghị quyết công bố ngày 20 tháng 3 hằng năm là Ngày Quốc tế Hạnh phúc (International Day of Happiness) khẳng định “việc theo đuổi hạnh phúc là một mục tiêu cơ bản của con người”. Con người bằng khả năng của mình để tìm kiếm những giá trị hạnh phúc, những giá trị sống cho bản thân. Một trong các giá trị hạnh phúc đó đến từ việc kết hôn xây dựng một gia đình hạnh phúc và được Nhà nước công nhận, bảo vệ quan hệ hôn nhân đó. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ những người đồng tính ở các quốc gia đã công nhận hôn nhân đồng tính mới có được quyền chính đáng đó. Một số hình thức thừa nhận việc chung sống hợp pháp của người đồng tính như: cho phép kết hôn, công nhận dưới hình thức kết hợp dân sự, đối tác chung nhà … Họ được xem như một cặp vợ chồng dị tính nhưng thực tế lại bị hạn chế hơn các cặp vợ chồng dị tính khác như trong vấn đề được hưởng các chính sách về miễn giảm thuế chung cho vợ chồng, các chế độ an sinh xã hội, bảo hiểm, trợ cấp quyền nhận nuôi con nuôi, thừa kế… và giá trị pháp lý của giấy kết hợp dân sự không đương nhiên có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hay toàn thế giới. Điều này gây ra không ít cản trở cho các cặp đôi đồng tính khi di chuyển hoặc thay đổi chỗ ở.

Bên cạnh đó, vấn đề tôn trọng quyền riêng tư cũng cần được đề cập tới đối với người LGBT. Bởi trong quan điểm chung của xã hội, người đồng tính xem như là thành phần khác biệt với phần đông những người còn lại nên không tránh khỏi sự tò mò, soi mói  thậm chí có các hành vi tiêu cực như xúc phạm nhân phẩm hoặc cản trở đời sống bình thường của họ. Xét về quyền riêng tư, về cơ bản, trên phương diện pháp luật người đồng tính được đảm bảo bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền riêng tư bị xâm phạm khá phổ biến đặc biệt đối với người đồng tính. Những tin đồn về xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới về người đồng tính thường có áp lực hơn so với người dị tính, dễ khiến họ rơi vào trạng thái khó xử, khủng hoảng tâm lý. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

1.4.2.1.2 Quyền của người đồng tính cần được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật

Quyền con người trong pháp luật là việc ghi nhận các quyền tự nhiên của con người trong một cơ chế rõ ràng, minh bạch và được bảo đảm bởi quyền lực Nhà nước. Quyền con người trong pháp luật không chỉ giới hạn trong phạm vi từng quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế thông qua các điều ước ước quốc tế và các tuyên ngôn về nhân quyền. Trong phạm vi quốc gia, quyền con người được thể chế hoá và bảo vệ đầu tiên qua hiến pháp. Các quy định trong hiến pháp ghi nhận các quyền tự do của con người, tạo ra các giới hạn pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước nhằm bảo vệ chặt chẽ hơn các quyền cơ bản của con người [14]. Hiến pháp Hoa Kỳ là một ví dụ tiêu biểu trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Với vấn đề đồng tính, Toà án Hoa Kỳ đã có những phán quyết quan trọng dựa trên các quy định của Hiến pháp. Theo đó, luật pháp Hoa Kỳ đã sử dụng các quyền con người để thừa nhận và bảo vệ các quyền lợi của người đồng tính,

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013 có những sửa đổi, bổ sung đã kế thừa tinh thần về quyền con người của Hiến pháp 1992 và có những phát triển quan trọng về quyền con người, các quyền chính trị dân sự kinh tế, văn hoá xã hội cho công dân Việt Nam. Người LGBT là công dân của xã hội nên cũng có quyền được hưởng những quyền đó. Tuy nhiên, việc kết hôn giữa những đồng tính không được thừa nhận trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong luật quốc tế, Văn phòng Cao uỷ nhân quyền Liên hợp quốc định nghĩa là: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người. Chủ thể được thừa hưởng quyền con người theo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên hợp quốc là: tất cả mọi người “không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội, cũng không có bất cứ sự phân biệt nào về địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ uỷ trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế”. Trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá năm 1966 cũng đề cập đến quyền tự do cơ bản của con người, đó là: “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới”. Và dĩ nhiên, người LGBT cũng là một trong những phần tử đó.

Như vậy, việc bảo vệ quyền cho người LGBT nói chung và bảo vệ quyền của người đồng tính nói riêng chỉ mang tính khả thi khi được pháp luật chính thức hoá. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

1.4.2.1.3 Công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính nhằm bảo đảm giá trị xã hội của pháp luật

Về mặt kinh tế, mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gia tăng sự chênh lệch trong mức sống cũng như sự thụ hưởng quyền lợi của các nhóm người trong xã hội. Nhóm người LGBT chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số, dưới ảnh hưởng của sự kỳ thị, phân biệt đối xử, nhóm người LGBT có thể được xem là đối tượng yếu thế trong xã hội. Khi tham gia vào các quan hệ kinh tế như vấn đề nhà ở, tìm kiếm việc làm, cơ hội thăng tiến trong công việc… họ gặp nhiều trở ngại có thể bị đối xử bất công, tiếng nói của họ chưa được chú trọng đúng mức, khả năng chống đỡ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi bị xâm phạm còn thấp. Nên pháp luật cần có những cơ chế hữu hiệu để bảo vệ những người LGBT.

Về mặt chính trị, khi ban hành pháp luật cần chú trọng tới đại vị pháp lý, quyền và lợi ích của các bên để có những quy định phù hợp. Luật pháp khi ban hành cần phải tính đến quyền lợi chung cho cả cộng đồng trong đó bao gồm cả nhóm người thiểu số, dễ bị tổn thương. Nền luật pháp không đề cập tới quyền lợi của số ít người yếu thế thì chưa thể là nên luật pháp dân chủ. Đời sống xã hội phát triển hơn đòi hỏi các quyền tự do, quyền sống của con người cần được nâng cao hơn. Những người LGBT cần thiết được xã hội công nhận sự tồn tại của mình với sự đối xử công bằng, được kết hôn như những người khác. Đồng nghĩa với việc cần phải có những quy phạm điều hoà, duy trì trật tự xã hội và bảo vệ toàn diện các quyền cơ bản của con người mà người LGBT đáng được hưởng.

1.4.2.2 Những văn bản là cơ sở của việc ghi nhận quyền của người đồng tính trên phương diện quốc tế

(1) Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945

Hiện nay, Liên hợp quốc vẫn giữ vững vai trò là một cơ quan đứng đầu về bảo vệ quyền con người. Hiến chương Liên hợp quốc là một văn kiện quan trọng nhất trong việc nâng cao luật quốc tế về nhân quyền.  

Trong lời nói đầu, Hiến chương đã tuyên bố rằng: “công nhận các quyền cơ bản của con người, phẩm chất và giá trị của con người và quyền bình đẳng giữa nam và nữ…”. Điều 1 cũng quy định rằng: “ đẩy mạnh và động viên sự tôn trọng các quyền con người và sự tự do cơ bản đối với tất cả mọi người, không có bất cứ sự phân biệt nào về giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Như vậy, có thể thấy vấn đề bình đẳng bao gồm cả bình đăng giới, bình đẳng về tôn giáo và bình đẳng về dân tộc được Liên hợp quốc nhấn mạnh khá rõ.

Xét về vấn đề bình đẳng giới, như trước đây Hiến chương nhằm ngăn chặn tình trạng phân biệt về giới như trọng nam khi nữ hoặc ngược lại. Thực tế ngày nay, xu hướng tính dục đồng tính tồn tại song song với xu hướng dị tính nhưng trong Hiến chương chưa ghi nhận quyền bình đẳng cho xu hướng tính dục nên các quốc gia thừa nhận Hiến chương cũng có thể hiểu theo các chiều hướng khác nhau, gây ra nhiều tranh cãi. Tháng 6 năm 2011, Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết khẳng định: “mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tính dục như thế nào”.

Ngày 7/3/2012, Tổng thư kí Liên Hiệp quốc Ban Ki Moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia phi hình sự hoá đồng tính, chấm dứt kỳ thị đối với những người đồng tính, song tính, chuyển giới [6, tr.85]. Những động thái này là những thông điệp ủng hộ nhằm giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt đối xử đối với người LGBT nói chung và người đồng tính nói riêng.

(2) Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người năm 1948 Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người được xem như là tiêu chuẩn cho mỗi quốc gia, tổ chức, cá nhân để đạt được sự tôn trọng tự do và nhân quyền. Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn về nhân quyền cũng bao gồm sự không phân biệt đối xử và công bằng: “tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và công bằng về quyền và nhân phẩm” (Điều 1) và trong Điều 2 Tuyên ngôn đã ngăn cấm các quốc gia có sự định kiến cá nhân chống lại những cá nhân khác dựa vào các tiêu chuẩn “…chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hoặc các chính kiến và quan niệm khác, quốc gia và nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi và tình trạng khác”.

(3) Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị

Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) là công ước quan trọng nhất trong việc bảo vệ các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người, đã được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976. Cụ thể, các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân, bao gồm quyền sống, quyền tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do hội họp, quyền bầu cử và quyền được xét xử bình đẳng và theo đúng trình tự pháp luật.

(4) Những nguyên tắc Yogyakarta

Năm 2006, trước thực trạng các vụ việc kỳ thị và phân biệt đối xử được ghi nhận ngày một nhiều hơn, các chuyên gia hàng đầu về luật và quyền con người từ khắp nơi trên thế giới đã họp mặt ở Yogyakarta, Indonesia để phác thảo ra một bộ các nguyên tắc quốc tế về xu hướng tính dục và bản dạng giớI, áp dụng cáctiêu chuẩn pháp lý quốc tế có tính ràng buộc, có thể đóng vai trò diễn giải cho các hiệp ước toàn cầu về quyền con người – Bộ nguyên tắc Yogyakarta. Quyền của người đồng tính được thể hiện rõ nhất trong ba nguyên tắc đầu tiên:

Nguyên tắc 1: Quyền được thụ hưởng mọi quyền con người trên toàn cầu:

Mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng về quyền và phẩm giá. Mọi người, bất kể khuynh hướng tính dục hay bản dạng giới đều được hưởng đầy đủ các quyền con người.

Nguyên tắc 2: Các quyền về bình đẳng và không phân biệt đối xử 

Mọi người đều có quyền được thụ hưởng mọi quyền con người mà không bị phân biệt đối xử vì khuynh hướng tính dụng hay bản dạng giới của họ. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ mà không bị phân biệt đối xử vì những lý do trên, bất kể các quyền con người khác có đồng thời bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt đối xử đó hay không. Pháp luật nghiêm cấm những sự phân biệt đối xử như trên và bảo đảm rằng mọi người đều được bảo vệ một cách công bằng và hiệu quả trước những sự phân biệt đối xử đó. Phân biệt đối xử vì lý do khuynh hướng giới tính hay bản dạng giới bao gồm mọi sự phân biệt, loại trừ, hạn chế hoặc thiên vị dựa trên khuynh hướng giới tính hoặc bản dạng giới nhằm mục đích vô hiệu hóa hoặc làm suy yếu sự bình đẳng trước pháp luật, sự công nhận, quyền thụ hưởng và thực thi một cách bình đẳng mọi quyền con người và quyền tự do cơ bản. Phân biệt đối xử vì lý do khuynh hướng giới tính hay bản dạng giới có thể bao gồm và thường bao gồm những sự phân biệt đối xử dựa trên những cơ sở khác như giới tính, chủng tộc, tuổi tác, tôn giáo, khiếm khuyết cơ thể, sức khỏe và tình trạng kinh tế. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Nguyên tắc 3: Quyền được công nhận trước pháp luật 

Mọi người ở mọi nơi đều có quyền được công nhận là một cá nhân trước pháp luật. Những cá nhân thuộc các nhóm khuynh hướng tính dục và bản dạng giới khác nhau đều được hưởng năng lực pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống. Khuynh hướng tính dục và bản dạng giới của riêng mỗi người là một phần không thể tách rời với nhân cách của họ và là một trong những bộ phận cơ bản nhất của sự quyết tâm cá nhân, phẩm giá và tự do.  

1.4.3 Hôn nhân đồng tính

Dưới góc độ ngôn ngữ học, hôn nhân không phải là cụm từ còn xa lạ. Tuy nhiên để đưa ra được khái niệm chung nhất về hôn nhân thì lại có nhiều cách giải thích khác nhau. Trong từ điển Tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) cho rằng: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”. Dưới góc độ xã hội học, hôn nhân là một trong những mối quan hệ quan trọng cho việc xây dựng gia đình ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hôn nhân đem lại những quyền lợi và trách nhiệm cho những người đã trở thành vợ chồng. Mục đích của hôn nhân là duy trì sự bền vững giữa hai chủ thể trong một mối quan hệ lâu dài, đảm bảo thoả mãn những nhu cầu về tinh thần và vật chất cả hai bên cũng như thực hiện chức năng duy trì nòi giống. Hôn nhân được xã hội ghi nhận chính thức thông qua lễ cưới hỏi được tổ chức theo đúng phong tục. Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân đầu tiên được đề cập trong Điều 16 UDHR, theo đó nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 16 khẳng định rằng gia đình là tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội, được nhà nước và xã hội bảo vệ. Các quy định kể trên của UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong Điều 23 ICCPR và Điều 10 ICESCR. Theo Ủy ban Nhân quyền, “khái niệm gia đình có thể khác biệt trong vài khía cạnh, giữa các quốc gia, và ngay cả giữa các tôn giáo, và vì thế không thể đưa ra một định nghĩa chuẩn mực chung”. Ngoài ra, theo Ủy ban về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc, gia đình cũng cần được xem xét dựa trên “những cấu trúc gia đình khác nhau, phát sinh từ các mẫu hình văn hóa và các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng đang hình thành trong xã hội“.

Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng thể hiện bản chất pháp lý của hôn nhân. Trong thực tiễn khoa học Luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và nước ngoài, nhiều khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu luật học đưa ra, chẳng hạn: Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, phổ biến một khái niệm đó là: “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác”. Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”. Ở Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Điều 3, Khoản 1), cùng với đó là quy định “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn” (Điều 3, khoản 5). Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

Có thể thấy dù có những cách lý giải khác nhau nhưng chung quy lại thì hôn nhân là một quan hệ dân sự đặc biệt và được xác lập, bảo vệ trên cơ sở các quy định của pháp luật bằng một sự kiện pháp lý, đó là kết hôn. Theo quy định của Luật HN&GĐ hiện nay, kết hôn hợp pháp khi đảm bảo được hai yếu tố, đó là:

  • Phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của cả hai bên
  • Hôn nhân chỉ được Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn.

Hiện nay, khi nhắc đến “hôn nhân” người ta sẽ thường nghĩ ngay tới mối quan hệ hôn nhân giữa một nam và một nữ. Vậy giữa hai người cùng giới tính sinh học (nam – nam hoặc nữ – nữ) thì được gọi là gì?

Đối với những người trong cộng đồng LGBT hoặc những người ủng hộ hôn nhân của hai người có xu hướng tính dục cùng giới, họ gọi là “hôn nhân bình đẳng” hoặc “bình đẳng hôn nhân”.

Nhìn từ khách quan, hôn nhân đồng tính là hôn nhân giữa hai người có cùng xu hướng tính dục đồng giới. Việc xây dựng tình cảm giữa họ cũng tuân theo quy luật tự nhiên là: từ cảm xúc giới tính ban đầu, đến tình yêu, sau đó tiến tới hôn nhân.

Hôn nhân đồng tính là một vấn đề mang tính chính trị, xã hội, quyền con người, cũng như vấn đề tôn giáo trên thế giới. Vì vậy thuật ngữ “hôn nhân đồng tính” tuy đã xuất hiện khá lâu nhưng vẫn còn gây nhiều tranh cãi xung quanh việc có nên công nhận như quan hệ hôn nhân dị tính hay nên công nhận bằng một mối quan hệ khác (như kết hợp dân sự) hay từ chối công nhận và lợi ích, tác hại của việc công nhận hôn nhân đồng tính.

Những người phản đối hôn nhân đồng tính cho rằng kiểu gia đình này không “tự nhiên” hoặc không phù hợp với các “quy luật tự nhiên”, không phù hợp với chức năng xã hội của hôn nhân và có những khiếm khuyết như: cho rằng những trẻ em có cha và mẹ thật sự sẽ trưởng thành một cách bình thường còn những những trẻ em được nuôi bởi cặp đồng tính sẽ dễ gặp tổn thương tâm lí và lệch lạc trong hành vi, hôn nhân sẽ không được bền vững và làm sụt giảm những giá trị của hôn nhân trong văn hoá xã hội, thúc đẩy tình trạng làm cha/mẹ đơn thân… Do vậy nếu công nhận hôn nhân đồng tính sẽ gây tác hại cho xã hội và trẻ em.

Ngược lại, những người ủng hộ cho rằng công nhận hôn nhân đồng tính là đang bảo vệ quyền con người, vì đó là một quyền chính đáng mà họ được hưởng, đảm bảo sự bình đẳng và quyền lợi giữa những người có xu hướng tính dục khác nhau trong xã hội. Ngoài ra, cộng đồng người LGBT cũng là người đóng thuế cho nhà nước, thực hiện nghĩa vụ công dân với nhà nước bở vậy họ xứng đáng và cần được đảm bảo những quyền lợi chính đáng.  Trong nhóm có quan điểm ủng hộ này lại chia thành hai mức độ.

Nhóm ủng hộ tuyệt đối: cho rằng cần chấp nhận hôn nhân đồng giới đầy đủ và ngang bằng với hôn nhân khác giới vì đồng tính luyến ái là hiện tượng bẩm sinh, nhu cầu kết hôn của người đồng tính là một nhu cầu tự nhiên giống như những người dị tính. Việc cấm kết hôn có thể tiếp tục dẫn tới sự kỳ thị, người đồng tính dễ có những suy nghĩ hoặc hành động tiêu cực cho chính bản thân họ, gia đình và xã hội.

Nhóm ủng hộ tương đối: Trước mắt, luật chưa công nhận quyền kết hôn giữa những người cùng giới tính theo thủ tục kết hôn của những cặp khác giới nhưng có thể công nhận bằng hình thức kết hợp dân sự hoặc quan hệ đối tác chung nhà như kinh nghiệm một số nước trên thế giới tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết hậu quả về nhân thân, tài sản và con cái nếu có từ việc chung sống giữa những người này.

Tiểu kết 1:

Như vậy có thể khẳng định, theo thời gian quyền con người ngày càng được mở rộng nhằm hướng tới một cuộc sống thực sự vì con người và vì mọi người. Những người LGBT là một trong nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ. Dưới góc độ pháp luật quốc tế, các văn kiện quốc tế đã ghi nhận sự bình đẳng giữa các xu hướng tính dục và bản dạng giới, chống lại các hành động phân biệt, kỳ thị. Vì vậy, vấn đề bảo vệ quyền, đặc biệt là quyền kết hôn của người LGBT đang thực sự dần trở thành một trong những mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người

  1. Pingback: Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537