Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam cho các bạn.
3.1 Hệ quả khi pháp luật không công nhận hôn nhân đồng tính
Tác động gián tiếp tới tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử từ đó ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp tới người đồng tính
Công nhận hôn nhân giữa những người đồng tính không chỉ đảm bảo quyền kết hôn – một quyền nhân thân quan trọng của con người đã được ghi nhận mà còn có tác động mạnh mẽ tới hiện trạng phân biệt đối xử trên các mặt của đời sống với cộng đồng LGBT nói chung và người đồng tính nói riêng điển hình như trong gia đình, trong trường học, nơi làm việc…. Theo kết quả khảo sát trực tuyến do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) thực hiện trong năm 2016 [12], trong gia đình, họ là nạn nhân của các hành vi ép buộc thay đổi ngoại hình, cử chỉ (62,9%); la mắng, gây áp lực (60,2%); bị nhốt, cầm giữ, ép buộc hay gợi ý rời khỏi gia đình, bị đánh đập (13-14%)… Các hành vi phân biệt đối xử chủ yếu hướng tới việc ngăn thông tin về thành viên gia đình là người đồng tính bị tiết lộ ra ngoài, cố gắng thay đổi xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ bằng các biện ép buộc như đi khám bác sĩ, bị ép kết hôn với người họ không mong muốn. Có thể họ cho rằng việc ngăn con cái họ không còn là đồng tính là sự yêu thương dành cho chúng. Nhưng vô hình chung, áp lực chuyển biến thành bạo lực, với nhận thức pháp luật không công nhận thì là những điều sai trái, hành động nhằm ngăn cản đó của cha mẹ hay các thành viên trong gia đình có thể vi phạm các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình như Điều 69 quy định không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới; hay các quy định trong Luật phòng chống bạo lực gia đình (như điều 2). Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Trong trường học – môi trường cần hơn cả sự đề cao tính đa dạng và bao dung, nhưng các phát hiện đã chỉ ra một thực tế chưa hẳn như vậy. Dù trong môi trường giáo dục nhưng những người đồng tính vẫn bị kỳ thị như phải chịu sự bắt nạt, quấy rối bởi bạn bè (53,8%); bị ép buộc thay đổi kiểu tóc, cử chỉ, điệu bộ (39%) thậm chí phải trốn học vì sự kỳ thị (9.8%).
Trong môi trường làm việc – một môi trường quan trọng với những người trưởng thành cung cấp nguồn thu nhập duy trì và phát triển cuộc sống, vừa là nơi tạo ra những cơ hội, kết nối và xây dựng vốn xã hội chủ yếu của nhiều người, những người đồng tính phải chịu sự phân biệt đối xử như bị từ chối nhận vào làm trong khi đủ điều kiện (29,9%); phải nhận những nhận xét, hành động tiêu cực từ đồng nghiệp (48,4%); bị hạn chế thăng tiến (22,6%). Như vậy, hôn nhân của cặp đôi người đồng tính không được hợp pháp hoá cũng là một trong những nguồn tác động để những hành vi mang rõ sự kỳ thị trên vẫn còn tồn tại mức độ không nhỏ. Còn sự kỳ thị thì họ vẫn có thể trở thành nạn nhân của những vụ bạo lực, sức khoẻ tinh thần không được đảm bảo…khiến họ không tự tin tham gia đóng góp tích cực vào các hoạt động kinh tế – xã hội. Ngoài ra, một hậu quả không nhỏ của việc không thừa nhận hôn nhân đồng giới là đã có rất nhiều người đồng tính phải tự tạo vỏ bọc cho mình bằng cách lập gia đình và có con, sau đó mới tìm đến hạnh phúc cho riêng mình bằng cách ly dị chồng/vợ hoặc duy trì những mối quan hệ khác với người đồng giới.
Vấn đề sinh con/nhận nuôi con nuôi và thừa kế phát sinh nhưng chưa được giải quyết
Phân tích về mục đích sống chung của những người đồng tính với những người hiện trong độ tuổi kết hôn, cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường chỉ ra rằng có tới 87,5% quyết định sống chung nhằm mục đích hỗ trợ nhau về tinh thần, tình cảm tạo cảm giác cuộc sống an toàn; 81% nhằm thể hiện tình yêu cam kết chung thuỷ; 70% nhằm có kế hoạch lâu dài sau này như có con cái, tài sản, tuổi già; 65% nhằm thể hiện sự trưởng thành và độc lập; 47% nhằm chia sẻ chi tiêu, tài chính [13]. Có thể thầy, từ quyết định sống chung của những người đồng tính thể hiện khá rõ nét mong muốn thiết lập một cuộc sống chung ổn định, có vai trò và trách nhiệm giống như mối quan hệ hôn nhân của những người nam và nữ. Về mục đích và ý nghĩa của việc có con, đa phần các cặp đôi cho rằng việc có con sẽ giúp họ tăng cường sự gắn bó cho cuộc sống đôi lứa và bản thân có trách nhiệm hơn với gia đình. Vì không thể sinh con một cách tự nhiên trong mối quan hệ đồng giới, các cặp đôi lựa chọn cho mình các hình hức đa dạng và tùy vào hoàn cảnh từng gia đình như nhận con nuôi là trẻ mồ côi, không nơi nương tựa hoặc có con đẻ nhờ vào sự phát triển của y khoa. Các cặp đôi cùng giới cho biết đa phần những khó khăn của họ đến từ việc không được sự công nhận của xã hội và cộng đồng, sự bảo hộ của pháp luật hay đôi khi là sự phản đối của gia đình. Bên cạnh đó, việc không có sự ràng buộc về mặt pháp luật hoặc không có sự tư vấn, khuyên bảo hay hỗ trợ từ gia đình khi gặp các mâu thuẫn trong tình cảm cũng khiến quan hệ của họ kém bền vững hơn.
Như vậy có thể thấy những người đồng tính thể hiện khá rõ nét mong muốn thiết lập một mối quan hệ nghiêm túc, một cuộc sống chung ổn định, có vai trò và trách nhiệm giống như mối quan hệ hôn nhân giữa người nam và nữ. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa công nhận dạng hôn nhân này nên nhưng chưa có cơ sở pháp lý để điều chỉnh các vấn đề thực tế phát sinh khi họ vẫn đang sống với nhau như vợ chồng như các quan hệ về nhân thân, tài sản, con cái như sinh con riêng hoặc cùng nhận con nuôi. Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Vấn đề pháp luật quốc gia không công nhận hôn nhân đồng tính là hợp pháp sẽ có sự tác động nhất định đến thái độ của người khác tới những người đồng tính, đồng thời chưa đảm bảo được quyền kết hôn, quyền mưu cầu hạnh phúc – là những quyền chính đáng một con người cần được ghi nhận. Bên cạnh đó cũng có các vấn đề phát sinh khi cặp đôi đồng tính chung sống như vợ chồng chưa được giải quyết vì đó không phải là một cuộc hôn nhân hợp pháp.
(1) Vấn đề sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi
Điểm hạn chế của các cặp đôi đồng tính và được coi là thiệt thòi hơn so với những người cặp đôi dị tính là khả năng sinh con của hai người. Nên nhiều người đồng tính chỉ có thể trở thành cha mẹ bằng các cách khác như xin con nuôi hoặc con là con riêng của một người. Người đồng tính nhận nuôi con nuôi là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Nhưng nhiều kết luận khoa học đã chỉ ra người đồng tính cũng thích hợp và có khả năng làm cha mẹ như người dị tính. Không có sự liên quan giữa xu hướng tính dục của cha mẹ với sự điều chỉnh tình cảm, tâm lý và hành vi của đứa trẻ. Hôn nhân sẽ nâng cao tình trạng tâm lý, thể chất, tài chính để nuôi dưỡng một đứa trẻ bởi một cặp được pháp luật công nhận sẽ tốt hơn cho đứa trẻ.
Pháp luật hiện hành chỉ quy định hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng hiếm muộn. Nhưng pháp luật chưa coi mối quan hệ của hai người đồng tính là hôn nhân mà vẫn bỏ lửng là “không thừa nhận”.
Trong trường hợp những người đồng tính nam muốn có con đẻ, họ phải sử dụng đến dịch vụ đẻ thuê. Rất khó để duy trì cả quyền và nghĩa vụ của hai người đồng tính với đứa con khi mà người nam đồng tính cùng chung sống thậm chí không thể nhận là bố nuôi vì pháp luật quy định khi mối quan hệ con nuôi đã được xác định thì bố mẹ đẻ không còn quyền và nghĩa vụ với người con này nữa theo khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010:
Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.
Tương tự như vậy với trường hợp của một người đồng tính nữ sinh con, người đồng giới cùng chung sống cũng không thể nhận là mẹ nuôi của đứa con và do đó không thể thực hiện quyền giám hộ khi cần thiết.
(2) Vấn đề thừa kế
Nếu không phải hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp một trong hai người qua đời đột ngột thì người này cũng sẽ không được quyền thừa kế tài sản của người kia kể cả hai người đồng tính đã có sự sắp xếp tài sản trong quá trình chung sống. Trong trường hợp này, sẽ có những tài sản chung phải bán đi để trả phần giá trị đó cho người nhà của người đã mất mà không phải món đồ chung nào hai người cũng thực hiện thủ tục đăng ký dân sự về sở hữu chung tài sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.2 Một số kiến nghị đối với các quy định của pháp luật Việt Nam về hôn nhân đồng tính Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Trong một khảo sát của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường, với sự tham gia của 1.881 người đồng tính thì 72% người đồng tính cho biết họ sẽ đăng ký kết hôn và 22% cho biết họ sẽ áp dụng hình thức đăng ký kết đôi dân sự, với tình huống giả định là các hình thức đăng ký kết đôi dân sự và kết hôn đồng giới được pháp luật cho phép. Chỉ có 6% cho biết họ sẽ không đăng ký. Ngoài ra, có một số người cho biết họ sẽ cân nhắc giữa việc áp dụng kết hợp hai hình thức đăng ký để đảm bảo cho cuộc sống hôn nhân của mình được bền vững, ví dụ: đăng ký kết đôi dân sự trước, sau một khoảng thời gian nhất định thì sẽ đăng ký kết hôn. Trong một cuộc khảo sát trực tuyến khác ghi nhận đến ngày 19/4/2019, trong những người tham gia khảo sát, có 80% người ủng hộ Luật hôn nhân đồng tính, 7% người trung lập, 5% người phản đối. Mong muốn được thừa nhận quyền kết hôn là mong muốn chính đáng của người đồng tính. Bên cạnh tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính phải dựa trên những nghiên cứu khoa học về tác động tích cực và tiêu cực nếu thừa nhận hoặc không thừa nhận hôn nhân đồng tính trên cơ sở thực trạng xã hội của quốc gia mình để bảo vệ được quyền lợi chính đáng của những người đồng tính đồng thời không gây xáo trộn tâm lý xã hội.
Từ những phân tích trên kết hợp bối cảnh Việt Nam hiện nay, em xin đưa ra một số giải pháp để đảm bảo nhu cầu, quyền lợi cũng như nghĩa vụ trong cuộc sống chung của những cặp đôi cùng giới.
Một là, cần sửa luật Hôn nhân và Gia đình theo hướng thừa nhận hình thức kết hôn đồng giới . Bởi pháp luật mang tính giáo dục, pháp luật thừa nhận hôn nhân đồng giới sẽ giúp giảm sự kỳ thị, phân biệt đối xử, dung bạo lực đối với người đồng tính và với các thành viên trong gia đình họ. Đây là biện pháp vừa bảo vệ được quyền bình đẳng của người đồng tính đồng thời giải quyết được các hậu quả pháp lý phát sinh khi hai người cùng giới thiết lập quan hệ gia đình.
Hai là, cần rà soát các văn bản pháp luật hiện hành nhằm có những điều chỉnh thích hợp và bổ sung quyền của người đồng tính
Ba là, hỗ trợ tư vấn cho các cặp đôi cùng giới, nhất là giai đoạn tiền hôn nhân. Việc này không chỉ hướng tới đối tượng đồng tính mà nên hướng tới tất cả những người chuẩn bị bắt đầu một cuộc sống chung.
Bốn là, tiếp tục các hoạt động làm giảm kỳ thị liên quan đến người đồng tính nói riêng và người LGBT nói chung. Đây là công việc quan trọng trong quá trình tạo ra môi trường sống bình đẳng thực sự, trong môi trường không bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Bên cạnh việc xây dựng luật bảo vệ quyền của người đồng tính, truyền thông, và xây dựng cộng đồng LGBT, các hỗ trợ khác như trợ giúp pháp lý, tham vấn pháp lý hoặc phòng chống bạo lực cho cộng đồng LGBT là cần thiết. Đây là những dịch vụ thiết thân cho người LGBT, đồng thời là nguồn bằng chứng để làm công tác vận động chính sách và xã hội tốt hơn.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Các xu hướng phát triển mới của quyền con người hiện nay đều gắn chặt với sự phát triển của xã hội, khoa học và quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình phát triển tiếp theo, chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề mới liên quan đến quyền con người xuất hiện. Pháp luật về các quyền nói chung và quyền kết hôn nói riêng của người đồng tính ở các nước trên thế giới đã có một quá trình phát triển khá lâu dài, phức tạp và chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, tôn giáo, xã hội. Việc công nhân quyền kết hôn của những người đồng giới không chỉ là vấn đề quyền công dân mà còn là vấn đề chính trị, tôn giáo tại nhiều quốc gia. Có thể nhận thấy quyền kết hôn giữa những người cùng giới tính là một quyền quan trọng, tạo ra nhiều sóng gió chính trị cũng như ảnh hưởng đến quá trình xây dựng pháp luật của các nước.Hiện nay, tuy tỉ lệ số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ công nhận hôn nhân đồng tính còn ít nhưng có xu hướng tăng dần qua từng năm và chủ yếu tập trung ở các nước phương Tây. Trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, chúng ta nên chấp nhận sự đa dạng của các kiểu loại gia đình thay vì ấn định hình ảnh về cấu trúc gia đình như gia đình truyền thống. Đồng nghĩa với việc người đồng tính được công nhận đầy đủ các quyền bình đẳng, trong đó có quyền được kết hôn. Vì nhìn nhận với góc độ khoa học việc cho phép người đồng tính kết hôn cũng không ảnh hưởng gì đến môi trường chính trị, kinh tế và nếu con người sinh ra vốn được và cần được tôn trọng tự do cá nhân thì quyền tự do kết hôn dù là giữa những người đồng giới cũng cần được tôn trọng. Hơn nữa, dù không công nhận là hôn nhân hợp pháp thì thực tế họ vẫn chung sống với nhau và tiềm ẩn những mâu thuẫn về nhân thân, tài sản. Vì vậy, việc cho phép những người đồng tính kết hôn cũng có thể giúp Nhà nước bảo vệ tốt hơn quyền của những đối tượng này bằng công cụ pháp luật. Nhưng đồng thời cũng cần tính đến các yếu tố tâm lý xã hội khác để tránh gây sốc khi các văn bản luật có liên quan được thông qua. Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
