Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam cho các bạn.
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc công nhận quyền kết hôn của người đồng tính
2.1.1 Yếu tố tâm lí, xã hội
Trong Nghị quyết bình đẳng hôn nhân cho người đồng tính ngày 03 tháng 05 năm 2011 của Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association, APA) – tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về tâm lý học lớn nhất thế giới (với hơn 137.000 chuyên gia ngành tâm lý) tuyên bố rằng đồng tính luyến ái một biểu hiện bình thường trong thiên hướng tính dục của con người. Đồng tính luyến ái không gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, khoẻ mạnh cũng như trong khả năng tạo lập mối quan hệ bền vững với một người cùng giới hay trong việc nuôi dạy con cái sao cho tốt. Vì vậy, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ bình đẳng hôn nhân đầy đủ cho các cặp vợ chồng đồng tính và phản đối các chính sách, pháp luật phân biệt đối xử với họ đồng thời kêu gọi các chính phủ liên bang mở rộng công nhận đầy đủ hôn nhân giữa những người cùng giới. Ngoài ra, APA cho rằng việc nâng cao sự hiểu biết của người dân về vấn đề đồng tính là nền tảng cho việc giảm bớt thái độ thành kiến, sự kỳ thị hay phân biệt đối xử. Do đó, APA rất khuyến khích những nhà tâm lý, những chuyên gia khác cùng nghiên cứu về vấn đề này, là cơ sở khoa học để dân chúng có cái nhìn về đồng tính đúng đắn hơn và các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội can thiệp trong vấn đề cải thiện sức khoẻ, phúc lợi của người đồng tính.
APA đã ủng hộ mạnh mẽ cho quyền bình đẳng đầy đủ cho những người LGBT trong gần 35 năm dựa trên cơ sở là các nghiên cứu khoa học xã hội về khuynh hướng tình dục. Đồng thời, APA cũng hỗ trợ lợi ích hợp pháp cho các cặp vợ chồng đồng tính từ năm 1997, quyền kết hôn đối với các cặp vợ chồng đồng tính từ năm 2004 và thông qua nhiều báo cáo chính sách, vận động sửa đổi Luật hôn nhân liên bang, nộp báo cáo tóm tắt hỗ trợ hôn nhân đồng tính tại nhiều bang của Hoa Kỳ.
Trong nghị quyết của Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ (American Sociological Association, ASA) – tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về xã hội học lớn nhất thế giới (với hơn 14.000 nhà xã hội học) khẳng định rằng hạnh phúc của những đứa trẻ không phụ thuộc vào việc chúng có cha mẹ cùng giới hay cha mẹ khác giới khác giới. Do vậy, sửa đổi Hiến pháp định nghĩa hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ mà không thể là giữa hai người cùng giới là cố tình phân biệt đối xử với những người đồng tính cũng như con cái của những người đồng tính bằng cách từ chối có các biện pháp bảo vệ quyền lợi và trách nhiệm tự động cho các cặp vợ chồng kết hôn. Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ cho rằng, mặc dù nhiều nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng sự bất bình đẳng sẽ phương hại đến lợi ích xã hội và việc sửa đổi hiến pháp như vậy là dựa trên sự thành kiến hơn là những nghiên cứu thực nghiệm cho nên Hiệp hội kịch liệt phản đối đề xuất định nghĩa hôn nhân là chỉ giữa một người nam và một người nữ.
Trong kiến nghị gửi Thượng viện ban hành Luật Bình đẳng Hôn nhân sửa đổi 2010, Hiệp hội tâm lý – xã hội học Australia (The Australian Psychological Society, APS) – tổ chức của các nhà tâm lý và xã hội học tại Úc với quy mô hơn 20.000 thành viên đã tuyên bố rằng: “Không có cơ sở khoa học cho một khẳng định rằng đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính, và những người chuyển giới là ít phù hợp để kết hôn hay để trở thành cha mẹ của những trẻ em khỏe mạnh và được nuôi dạy tốt như ở những người dị tính”. Do đó, Hiệp hội luôn hỗ trợ bình đẳng hôn nhân trong khía cạnh quyền con người, sức khoẻ, an sinh xã hội cho tất cả mọi người bất kể có giới tính hay thiên hướng tính dục nào. APS đã đưa ra kiến nghị rằng chính phủ Úc cần sửa đổi luật để loại bỏ sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính hay khuynh hướng tính dục, tiến xa hơn là ban hành Luật chống phân biệt đối xử để bảo vệ tất cả người dân nước Úc trước sự phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và giới tính. Đồng thời cũng cần công nhận đầy đủ quyền kết hôn, lợi ích hợp pháp và trách nhiệm của các cặp đồng tính như các cặp khác giới tính.
- Xét về thái độ xã hội của dân chúng: Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Những người ủng hộ việc công nhận người đồng tính được quyền kết hôn thì cho rằng: xã hội Việt Nam đã và đang biến đổi không ngừng với muôn vàn sự đa dạng, trong đó những giá trị văn hóa cũng biến đổi theo tự nhiên, quan điểm về thuần phong mỹ tục cũng đã có sự thay đổi về nội hàm. Vì vậy, trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, đến giai đoạn hiện nay chúng ta nên chấp nhận sự đa dạng của các kiểu loại gia đình thay cho hình ảnh nhất thể hóa về kiểu, loại, cấu trúc của gia đình truyền thống [15]. Trong khi các quan ngại xã hội chỉ đang chú trọng tập trung xem liệu công nhận hôn nhân giữa hai người đồng tính sẽ gây ra những ảnh hưởng nào cho xã hội thì trên thực tế việc không chấp nhận đã gây nên những tác hại xấu cho bản thân và cả gia đình người đồng tính. Dưới sức ép của gia đình và sức ép của những “cái nhìn khác lạ” trong xã hội, nhiều người đồng tính dù không muốn nhưng vẫn phải chấp nhận kết hôn với người khác giới. Hôn nhân không được vun đắp từ tình yêu thì khó có thể bền vững, tất yếu dẫn đến nhiều hệ lụy cho mọi thành viên trong gia đình hình thức đó. Hôn nhân đồng giới không ảnh hưởng đến phát triển dân số và không ảnh hưởng xấu đến trật tự chung của công đồng, hơn thế còn thể hiện sự bình đẳng và hòa hợp xã hội… Thậm chí đây còn là nhu cầu thực tế của đa số những người đồng tính. Việc pháp luật không thừa nhận quan hệ của cặp đôi đồng tính là quan hệ hôn nhân hợp pháp dẫn đến một số hệ lụy. Bởi, dù pháp luật hiện hành đã không coi việc kết hôn giữa hai người đồng tính là vi phạm pháp luật hay không thừa nhận quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp đi chăng nữa thì trên thực tế, các cặp đôi đồng tính vẫn sống chung và có mong muốn được sống chung. Từ đó tiềm ẩn sự phát sinh các tranh chấp về nhân thân, tài sản, con cái (nhận con nuôi)… các quyền thừa kế, quyền giám hộ, quyền đại diện của người đồng tính với nhau sau khi họ chung sống nhưng lại không có cơ chế pháp lý giải quyết vấn đề này và bảo vệ họ. Người đồng tính hay người dị tính có vai trò quan trọng như nhau trong xã hội loài người, do vậy pháp luật không thể chỉ bảo đảm cho quan hệ hôn nhân khác giới mà làm ngơ trong việc bảo đảm quyền của những người trong quan hệ hôn nhân đồng tính.
Với những người không ủng hộ việc thừa nhận hôn nhân của những người đồng tính cho rằng việc kết hôn của người đồng tính không chỉ chi phối cuộc sống của người đồng tính mà còn tác động ảnh hưởng đến người khác có liên quan. Chính vì vậy pháp luật chỉ nên thừa nhận quyền sống chung của họ.
Khi chưa có cơ sở để hiểu thấu đáo về quan hệ tình dục của người đồng tính để phân biệt đâu là đồng tính thật đâu là đồng tính giả thì chưa nên thừa nhận quan hệ hôn nhân. Họ cho rằng kiểu gia đình này không đảm bảo chức năng xã hội là khả năng duy trì nòi giống. Nếu cha mẹ là hai người đồng tính mà nhận nuôi con nuôi thì trẻ em sống trong môi trường gia đình này dễ bị tổn thương tâm lý, dễ dẫn đến những hành vi lệch lạc làm giảm giá trị của hôn nhân trong văn hoá xã hội. Họ không coi đây là vấn đề thuộc nhân quyền, mà cho rằng đây là những tác động tiêu cực đối với xã hội, đặc biệt là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất là trẻ em. Vì vậy, pháp luật không nên công nhận dạng hôn nhân này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2 Yếu tố tôn giáo Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Tôn giáo đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người và được con người mặc nhiên chấp nhận với niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng. Mỗi tôn giáo đều có một mục đích chung là khiến con người sống một cách thuần khiết, một cách khuôn mẫu và đồng thời sống một cách có đạo đức. Lấy địa ngục để minh chứng cho cái xấu, và thiên đường minh chứng cho cái tốt đối với mỗi tôn giáo nhất định. Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Pew (PRC) Hoa Kỳ, thế giới ngày càng tăng thêm niềm tin tôn giáo hơn khi số lượng những người vô thần đang có xu hướng bị thu hẹp so với dân số toàn cầu. Do đó, quan điểm của các tôn giáo có những tác động nhất định đến sự nhìn nhận của con người về các vấn đề trong xã hội.
Hiện tượng đồng tính cũng tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, văn hoá và tôn giáo ở mọi thời đại của xã hội loài người. Tình yêu và tình dục đồng giới được khai thác khá nhiều ở trong các tác phẩm nghệ thuật từ thời La Mã cổ đại, thời Phục Hưng, khắp từ Châu Âu sang Trung Đông, Ấn Độ sang Trung Quốc, Nhật Bản. Tại Trung Quốc còn phát hiện ra những di phẩm về chủ đề đồng tính có từ thời đồ đồng. Nói như vậy có nghĩa là vấn đề đồng tính hay tôn giáo đều đã tồn tại từ rất rất lâu trong quá trình phát triển của con người. Nhưng cho đến ngày nay, đồng tính luôn là một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi trong mỗi tôn giáo khác nhau.
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn và có sức ảnh hưởng lớn trên thế giới. Đối với Phật Giáo, đạo Phật là đạo từ bi cứu khổ, bình đẳng và không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, mầu da và giới tính. Với nguyên tắc thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, Phật giáo không chủ trương xét xử, không chống đối hay chỉ trích, lên án người khác, đơn thuần chỉ dựa trên tính chất của người đó, vì điều này được xem như là một sự phê phán thiên vị và không công bằng. Vì thế, xuyên qua những lời giảng dạy của Đức Phật, chúng ta không thấy Ngài phê phán hay lên án những người đồng giới tính về phương diện đạo đức. [22]
Trong mọi kinh điển của đạo Phật chưa có bất kỳ một phê phán về đạo đức nào với vấn đề hôn nhân đồng tính. Theo thuyết luân hồi, dưới góc nhìn của đạo Phật thì giới tính có thể thay đổi từ đời này sang đời khác. Một số Phật tử đã mở rộng quan niệm rằng đồng tính là kết quả của giới tính kiếp trước. Điều đó được thể hiện ngay tại cuộc sống hiện tại và vì nghiệp báo mà giới tính từ kiếp này được đổi sang giới tính khác ở kiếp sau, chẳng hạn như: Nam đổi thành nữ, nữ đổi thành nam…Những sự hoán đổi giới tính trong thuyết luân hồi đều không ảnh hưởng tới nhân cách sống, đạo đức và cách nhìn hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ trong cuộc sống hàng ngày. Do đó, dù ở giới tính nào kể cả người đồng tính đều phải sống lành mạnh, cố gắng rèn luyện và không phạm vào tội lỗi trong cuộc đời. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Như vậy, Phật giáo không coi quan hệ đồng giới, hôn nhân đồng giới là sai hay đúng. Mà dưới góc nhìn nhân văn của Phật giáo, người đồng tính cũng giống như bao người bình thường khác đều mong muốn hướng đến một cuộc sống ý nghĩa, theo đuổi đến chân – thiện – mỹ. Chúng ta dù ở bất cứ giới tính nào đều cần phải tu dưỡng những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp. Vì vậy, Phật giáo với quan niệm vô ngã, vô thường, cuộc sống này là tạm bợ, mọi thứ chung quang đều vô thường nên mọi người cần làm điều thiện, không gây đau khổ cho người khác mà cần giúp đỡ, yêu thương họ. Giáo lý Phật vốn từ bi nên dù là nam hay nữ hay người có xu hướng tính dục đồng tính thì cũng đối xử bình đẳng, không kỳ thị với bất cứ chúng sinh nào.
Đối với Thiên chúa giáo, Thánh Kinh đã ghi lại, ngay từ thuở xa xưa khi mới tạo dựng đất trời, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam và có nữ. Ngài đã tác thành cho họ để trở nên vợ chồng, và xây dựng một khung hình sinh hoạt mang tính cộng đồng đầu tiên của nhân loại. Cấu trúc của gia đình, theo đó, là sự kết hợp chặt chẽ và vững bền giữa một người nam và một người nữ. Sự kết hợp này phản ảnh xã hội tính, giới tính, nhu cầu tâm sinh lý, và nhu cầu bảo tồn nòi giống. Từ mô hình này, vai trò làm chồng, vai trò làm vợ, vai trò làm cha, vai trò làm mẹ, vai trò làm con, làm anh, chị, em… được thành hình và truyền thụ cho đến ngày nay. Nó cũng là bước khởi đầu cho một mô hình xã hội phát xuất từ hôn nhân giữa người nam và người nữ. Do vậy, quan hệ giữa những người đồng giới không thể thực hiện mục đích đó và bị xem như là một điều hoàn toàn phản tự nhiên vì “việc vợ chồng kết hợp thể xác với nhau để nói lên sự kết hợp sâu xa trong tình yêu nhau và đón nhận con cái sinh ra từ tình yêu của họ là việc đúng với ý Chúa” (Sách Giáo lý Youcat, số 417). Điều ấy có nghĩa, hôn nhân và sự kết hợp thể xác giữa hai vợ chồng được thực hiện vì mục đích duy nhất và trên hết: vun trồng tình yêu giữa hai người khác giới với nhau trong tương quan hôn nhân, để cả hai thành một và để sinh sản con cái.
Trong sách Giáo lý Youcat, số 415 nêu rõ rằng Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ và thân xác họ là để trao hiến cho nhau. Hội Thánh chấp nhận những người thấy mình có khuynh hướng đồng tính luyến ái và khuyến khích không nên kỳ thị chống đối họ. Tuy nhiên, Hội thánh cũng xác định rõ rằng những quan hệ tình dục giữa những người đồng tính luyến ái trong bất cứ hình thức nào đều nghịch lại trật tự của tạo dựng. Như vậy, hôn nhân đồng giới đi ngược lại vơi quy luật tự nhiên, với luật của Chúa và của Hội thánh. Hôn nhân đồng tính không đem lại kết quả cho một sự sống mới là con cái, và việc quan hệ giữa hai người đồng tính là không thể. Không có giáo lý hay giáo luật nào cho phép hôn nhân đồng tính giữa hai người nam hay hai người nữ mà một số quốc gia – trong đó có Hoa Kỳ – đang công nhận dạng hôn nhân này. Họ cho rằng đó là một sự suy thoái trầm trọng về luân lý và mục đích của hôn nhân, một định chế đã có từ lâu trong xã hội con người thuộc mọi nền văn hóa. Định chế đó chỉ nhìn nhận hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mà thôi.
Tuy nhiên, Thiên chúa giáo chỉ phản đối hành vi quan hệ đồng giới hay hôn nhân đồng giới mà không tẩy chay hay loại bỏ họ trong mục đích tôn thờ Thiên Chúa và tuyên xưng đức tin vào Chúa. Giáo hội Công giáo vẫn luôn kêu gọi mọi người đón nhận những người đồng giới với một sự tôn trọng, thông cảm, tế nhị và phải tránh tất cả những dấu hiệu của sự kỳ thị bất công đối với họ. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Phản ứng gay gắt nhất là quan điểm của Hồi giáo về những người đồng tính và hôn nhân đồng tính. Hồi giáo kịch liệt phản đối và nghiêm cấm các hành vi quan hệ cùng giới vì cho rằng đó là một hành vi sai trái vì nó làm đảo lộn quy định của tự nhiên, đi ngược lại bản chất con người, xâm hại quyền lợi của nữ giới và là nguyên nhân dẫn đến suy thoái nam tính. Trong một Hadith đã thuật lại lời của Thiên sứ rằng: “Có bốn loại người thức giấc dưới sự giận dữ của Allah và đi ngủ với sự không hài lòng của Allah; đó là những người đàn ông bắt chước những người phụ nữ, những người phụ nữ bắt chước những người đàn ông, những người quan hệ tình dục với động vật và những người đàn ông quan hệ tình dục với nhau” [23].
Vì vậy, ở nhiều quốc gia Hồi giáo như Ả rập, Iran, Sudan, chưa kể những vũng lãnh thổ do tổ chức Hồi giáo tự xưng IS kiểm soát, người đồng giới luôn phải chịu các hình thức trừng phạt hà khắc như bị đuổi khỏi xứ, đánh bằng roi hay thậm chí là tử hình.
2.1.3 Yếu tố chính trị
Yếu tố chính trị ảnh hưởng không nhỏ trong việc công nhận và bảo vệ quyền kết hôn của người đồng tính. Điều này phần lớn phụ thuộc vào sự cởi mở hay không cởi mở trong suy nghĩ của những người đứng đầu về hôn nhân đồng tính và có sự tác động không nhỏ tới thái độ của người dân trong việc ủng hộ hay không ủng hộ hôn nhân đồng tính.
Nước Nga dưới thời Tổng thốg Vladimir Putin đã ra luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về hôn nhân đồng giới. Bộ luật cấm những sự kiện cổ vũ cho người đồng tính, quy định việc cung cấp những thông tin “tuyên truyền việc về đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới” cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, đồng thời các sự kiện cổ vũ cho quyền lợi của người đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực mới nhằm cổ vũ những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây, mà Chính phủ và Giáo hội Nga cho rằng đang làm băng hoại giới trẻ cũng như kích động các vụ biểu tình chống lại Tổng thống Putin. Khi được đưa ra bỏ phiếu, Bộ luật cấm tuyên truyền đồng tính đã được Hạ viện Nga thông qua với số phiếu tuyệt đối 436 thuận – 0 phiếu chống, và 88% người dân Nga được phỏng vấn đã bày tỏ ủng hộ đối với lệnh cấm [21]. Ngoài ra, từ năm 2015, Chính quyền thành phố Moskva và quốc hội Nga đã đề ra Ngày tình yêu gia đình và cho rằng muốn sử dụng ngày này trong chiến dịch bảo vệ các giá trị gia đình truyền thống chống lại sự tuyên truyền của phong trào LGBT.
Với việc đưa ra đạo luật cấm “tuyên truyền đồng tính luyến ái”, nước Nga nhanh chóng trở thành quốc gia ít thân thiện với người đồng tính nhất trong toàn bộ châu Âu. Vô hình chung, đạo luật mới này đã làm cho cuộc sống của người LGBT tại quốc gia lớn nhất thế giới này trở nên vô cùng khốn khổ. Làn sóng kỳ thị, phân biệt đối xử, quấy rối, sách nhiễu và các cuộc tấn công bạo lực đối với cộng đồng LGBT và các nhà hoạt động đồng tính tại Nga kể từ sau khi đạo luật này được thông qua mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những vụ tra tấn và giết hại người LGBT ngày càng xảy ra mạnh mẽ, đặc biệt có những vụ công khai có sự cấu kết của cảnh sát Matxcova. Điển hình là nhóm tội phạm Occupy Pedophilia gồm 9 tên chuyên dụ dỗ các thiếu niên đồng tính Nga, lừa cho họ tin rằng đang đến một “buổi hẹn hò” sau đó bắt cóc đưa đến một căn hộ hoặc một khu đất rồi tra tấn và hạ nhục, đồng thời quay chụp lại toàn bộ quá trình cùng hình ảnh các nạn nhân dính đầy máu đăng tải lên mạng. Đạo luật này đã bị các tổ chức nhân quyền trên thế giới lên án mạnh mẽ khi đã gián tiếp gây ra hàng loạt những vụ tấn công đẫm máu nhắm vào cộng đồng LGBT. Hàng loạt các cuộc biểu tình đã diễn ra tại 50 thành phố trên toàn thế giới để phản đối luật “tuyên truyền đồng tính” của Nga. Các đại diện ngoại giao cấp cao của Đức và Liên minh châu Âu, Australia, Canada… cũng lên tiếng phản đối rằng đạo luật này của Nga đi ngược lại quyền con người và củng cố phân biệt đối xử, kêu gọi Nga tôn trọng các cam kết quốc tế như Công ước Châu Âu về nhân quyền mà Nga đã ký. Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã thông qua một án lệ rằng bộ luật chống “tuyên truyền đồng tính” của Nga là bộ luật kỳ thị, vi phạm các quyền cơ bản về tự do ngôn luận và vi phạm hiến pháp, đồng thời cũng vi phạm Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Nga đã ký kết, với hai tội: vi phạm quyền tự do phát biểu và phân biệt đối xử. Văn phòng cao uỷ Nhân quyền Liên hợp quốc đã lên án đạo luật này của Nga là đạo luật phân biệt đối xử và vi phạm nhân quyền, bao gồm cả quyền của trẻ em đồng tính được tiếp cận những thông tin thích hợp. Một nhóm các chuyên gia của Liên hiệp quốc đã gửi thông báo cho Chính phủ Nga yêu cầu xem xét loại bỏ đạo luật chống “tuyên truyền đồng tính” hình thành trên cơ sở vi phạm nhân quyền. Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc cho biết: “Đạo luật “Cấm tuyên truyền đồng tính luyến ái” của Nga không chỉ trừng phạt những người tăng cường sức khỏe tình dục và sinh sản ở những người LGBT mà còn hủy hoại các quyền của trẻ em trong việc truy cập thông tin sức khỏe liên quan để bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần.”.
Tuy nhiên, Tổng thống Putin cho rằng: “Vấn đề của người đồng tính ở Nga đã được cố tình phóng đại từ bên ngoài vì những lý do chính trị, và tôi tin rằng, đó không phải là những mục đích tốt…”. Theo quan điểm của Tổng thống Putin thì hành vi cấm tuyên truyền đồng tính luyến ái không phải là hành vi phản dân chủ mà là vì trẻ em. Ông cho rằng mọi trẻ em đều cần thiết được sống trong yên bình để có cơ hội phát triển, nhận ra bản thân là ai và hoàn toàn có quyền đưa ra quyết định cho mình nếu đứng trước câu hỏi trẻ em muốn sống trong một cuộc hôn nhân tự nhiên bình thường hay là một cuộc hôn nhân phi truyền thống như cuộc hôn nhân giữa hai người đồng giới. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Trái ngược với quan điểm của ông Putin, ông Obama đã trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên tuyên bố ủng hộ hôn nhân đồng giới qua một cuộc phỏng vấn trên truyền hình vào ngày 09/5/2012. Tại thời điểm đó, việc ủng hộ hôn nhân đồng giới khiến ông Obama phải chịu sức ép chính trị lớn. “Một vài nhà phân tích chính trị cảnh báo ông Obama có thể sẽ khó có được sự ủng hộ cho chiến dịch tái ứng cử của mình tại một vài tiểu bang trung lập lớn có tư tưởng thành kiến với hôn nhân đồng tính. Những người công giáo bảo thủ sùng đạo cũng sẽ tẩy chay ông Obama vì quyết định nói trên, và điều này có lợi cho ứng viên đảng Cộng hòa Mitt Romney, vốn là người phản đối kết hôn đồng giới”. Những nhà hoạt động về quyền của người đồng tính đã hoan nghênh động thái này của ông Obama và điều đó có thể giúp gia tăng sự ủng hộ chính trị dành cho ông. “Tổng thống Obama đã tạo nên lịch sử khi tuyên bố thẳng thừng rằng những người Mỹ đồng tính nên được coi là một bộ phận bình đẳng và đầy đủ của xã hội Mỹ”, Joe Solmonese từ Chiến dịch nhân quyền bình luận, “Việc ông trở thành tổng thống đã cho thấy rằng đất nước chúng ta có thể vượt qua lịch sử đáng xấu hổ của sự phân biệt và bất công”.
Ngày 06/3/2015, chính quyền ông Obama chính thức ủng hộ hôn nhân đồng giới. Cho rằng việc một số bang cấm đoán hôn nhân đồng tính là “không phù hợp với hiến pháp”, chính quyền của Tổng thống Obama đã gửi kiến nghị ủng hộ vấn đề này lên tòa án tối cao nước Mỹ. Luật sư Donald B. Verrilli Jr., người đại diện cho chính quyền ông Obama, cho rằng: “Việc cấm cản các cuộc hôn nhân này đã tước bỏ quyền lợi, trách nhiệm và tình trạng hôn nhân của công dân với những cặp đôi đồng tính nam và đồng tính nữ. Nó cũng gây nhiều áp lực với họ trên mọi phương diện đời sống từ đơn giản tới phức tạp”. Ông khẳng định việc cấm hôn nhân đồng giới ở một số bang không nhất quán với sự đảm bảo cơ bản của hiến pháp về tính công bằng của luật pháp và ông cho rằng “không có bất cứ lý do thỏa đáng nào để biện minh cho sự kỳ thị đó”. Đây chính là bước đệm quan trọng trong sự kiện ngày 26-6-2015, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết ủng hộ hôn nhân đồng tính, và hôn nhân đồng tính trở nên hợp pháp trên khắp nước Mỹ.
Việc công nhận và bảo vệ quyền kết hôn của người đồng tính ngoài bị ảnh hưởng bởi quan điểm của người đứng đầu Nhà nước còn bị ảnh hưởng bởi đặc điểm hệ thống chính trị của những quốc gia. Chẳng hạn ở những quốc gia phương Tây được tổ chức theo nguyên tắc đa nguyên, đa đảng và nền dân chủ kiểu phương Tây. Do vậy, xung đột lợi ích dẫn đến sự xung đột chính trị khiến cho vấn đề hợp pháp hoá các quyền của người LGBT gặp khó khăn. Nhiều ý kiến xung đột, mâu thuẫn nhau làm cho quá trình xây dựng pháp luật về quyền của người LGBT bị kéo dài. Mặc dù ở những quốc gia đó người dân được tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để thể hiện ý chí của bản thân nhưng có nhiều đảng phái chính trị cũng khiến cho việc hợp pháp hoá một quyền nào đó đôi khi gặp khó khăn. Điều đó cho thấy yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình hợp pháp hoá các quyền bình đẳng của người LGBT [16].
2.2 Vấn đề ghi nhận quyền kết hôn đồng tính của các nước trên thế giới và Việt Nam Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
2.2.1 Quy định pháp luật của một số quốc gia đã công nhận quyền kết hôn của người đồng tính
Hiện nay có 26 quốc gia đã hợp pháp hóa quan hệ cùng giới (phụ lục Bảng 1). Bên cạnh đó, một số quốc gia đang trong quá trình xem xét hợp thức hóa quan hệ cùng giới hoặc nâng cấp từ “kết đôi có đăng ký” hoặc “kết hợp dân sự” lên “kết hôn” với đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm.
2.2.1.1 Quyền kết hôn của người đồng tính tại Hà Lan
Năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Quyết định này khiến cả thế giới vô cùng sửng sốt. Và cho tới nay thì Hà Lan chưa chịu bất cứ thiệt hại nào vì quyết định này. Họ vẫn luôn duy trì vị thế năm trong top 10 các quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới theo xếp hạng của World Happiness Record. Tuy nhiên, quá trình hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính ở Hà Lan cũng phải qua nhiều giai đoạn.
Đầu những năm 1980, một nhóm các nhà hoạt động vì quyền của người đồng giới, đứng đầu là Henk Krol – tổng biên tập của Gay Krant, đã yêu cầu Chính phủ cho phép các cặp đồng giới kết hôn. Quốc hội đã quyết định thành lập một uỷ ban đặc biệt vào năm 1995 nhằm điều tra khả năng kết hôn đồng giới. Ủy ban đặc biệt đã hoàn thành công việc của mình vào năm 1997 và kết luận rằng hôn nhân dân sự nên được mở rộng để bao gồm các cặp vợ chồng cùng giới tính.
Ngày 01/01/1998, thuật ngữ “kết hợp dân sự” lần đầu tiên được đưa vào luật pháp Hà Lan. Hình thức này kết hợp dân sự có quyền và nghĩa vụ tương đương với kết hôn nhất là khi một số luật được được thay đổi để khắc phục sự bất bình đẳng về mặt thừa kế và một số vấn đề khác. Nói chung đây chỉ là một cách thay thế cho hôn nhân mà các cặp đôi đồng giới hay dị giới đều có thể tham gia.
Ngoài ra, luật pháp Hà Lan cũng sử dụng thuật ngữ “chung sống không đăng ký” khi các cặp đôi đồng giới hoặc khác giới sống cùng nhau nhưng xác định là mối quan hệ không nghiêm túc, không đăng ký. Ở hình thức này thì không làm phát sinh vấn đề tài sản chung trong quá trình chung sống, tức là tất cả tài sản thuộc bên A thì bên B không có quyền hợp pháp, bất kể tài sản có được từ trước hay sau khi bắt đầu mối quan hệ này.
Ngày 12/9/2000, Dự luật về hôn nhân đồng tính đã được Hạ viện thông qua với 109 phiếu bầu. Ngày 19/12/2000, Thượng viện phê duyệt dự luật với 49/26 phiếu. Chỉ có Đảng Dân chủ Kitô giáo, nắm giữ 26 trong số 75 ghế vào thời điểm đó, đã bỏ phiếu phản đối dự luật này. Luật chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2001. Sau khi Nghị viện Hà Lan hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, cũng đã nổi lên một số tranh cãi khi Chính phủ thông báo trong chính sách rằng các quan chức phản đối hôn nhân đồng giới có thể từ chối thực hiện loại hôn nhân này. Một số hội đồng chủ nghĩa Xã hội và Tự do chống lại chính sách này, cho rằng người làm việc ở nơi đăng ký phải áp dụng đối với tất cả mọi cặp đôi, không loại trừ các cặp đổi đồng giới. Đảng đối lập cho rằng nếu một người làm ở nơi đăng ký chống lại hôn nhân đồng giới, họ không nên giữ chức vụ đó. Nhiều khu tự quản khác cũng phản ứng lại bằng cách loại bỏ chính sách này.
2.2.1.2 Quyền kết hôn của người đồng tính tại Pháp Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Hôn nhân đồng tính trở thành hợp pháp tại Pháp từ ngày 17/5/2013.
Đây là quốc gia thứ 14 trên thế giới cho phép các cặp đồng tính kết hôn. Tháng 5/2012, ông Hollande trúng cử Tổng thống hứa hẹn sẽ thay đổi một số điều luật, đã chọn hôn nhân đồng giới là ưu tiên hàng đầu trong các cải cách xã hội, theo đó các cặp đồng tính có thể kết hôn và nhận con nuôi hợp pháp. Mặc dù trên 1.000 thị trưởng khắp nước Pháp lên tiếng phản đối, nhưng chính phủ ông Hollande đã thông qua một dự luật hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính trong tháng 11/2012 và sẽ trình Quốc hội xem xét vào tháng 1/2013. Khi Quốc hội bắt đầu thảo luận dự luật hôn nhân đồng giới vào tháng 1/2013, ít nhất 340.000 người tham gia biểu tình phản đối dự luật này tại Paris. Và đến ngày 18/5/2013, dự luật được Tổng thống Hollande ký thành luật và chính thức có hiệu lực.
Sự kiện chưa từng có trong lịch sử nước Pháp này đã thu hút rất đông người xuống đường biểu tình tại thủ đô Paris nhằm lên tiếng phản đối quyết định. Đây là dự luật chứng kiến nhiều cuộc biểu tình nhất kể từ khi cánh tả lên nắm quyền. Một số người còn bày tỏ thái độ phản đối gay gắt bằng những hành động bạo lực. Trên 100.000 người ở Pháp tham gia biểu tình phản đối chính phủ nước này hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, cho phép các cặp kết hôn đồng tính nhận con nuôi. Nhóm vận động chống hôn nhân đồng tính, được Giáo hội Công giáo và phe đối lập bảo thủ hậu thuẫn với lập luận luật hôn nhân đồng giới sẽ làm suy yếu một nền tảng thiết yếu tạo nên xã hội. Các cuộc thăm dò dư luận thì cho rằng khoảng 55-60% người Pháp ủng hộ hôn nhân đồng tính, nhưng chỉ có khoảng 50% chấp thuận cho phép người đồng tính nhận con nuôi.
2.2.1.3 Quyền kết hôn của người đồng tính tại Úc
Úc là quốc gia gần đây nhất công nhận hôn nhân đồng giới (năm 2017). Trong Đạo luật Gia đình năm 1975 đã ghi nhận mối quan hệ có thực cho cả hai giới tính có quan hệ tình dục đồng giới và khác giới. Các mối quan hệ thực tế cung cấp cho các cặp vợ chồng sống cùng nhau trên cơ sở thực sự trong nước với nhiều quyền và lợi ích như các cặp vợ chồng. Hai người có thể trở thành cặp vợ chồng thực tế bằng cách tham gia vào một mối quan hệ đã đăng ký hoặc do Toà án gia đình hoặc Toà án Liên bang đánh giá như vậy. Các cặp vợ chồng sống cùng nhau thường được công nhận là mối quan hệ thực tế và do đó có thể đòi hỏi nhiều quyền lợi và lợi ích của một cặp vợ chồng, ngay cả khi họ chưa đăng ký hoặc tài liệu chính thức về mối quan hệ của họ. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Trước khi hợp pháp, luật hôn nhân đồng tính đã bị Quốc hội Liên bang bác bỏ 22 lần giữa tháng 9/2004 và tháng 5/2017. Những cố gắng thất bại này xảy ra sau khi Chính phủ liên minh tự do-quốc gia Howard sửa đổi luật trong tháng 8/2004 để loại trừ hôn nhân đồng tính, định nghĩa hôn nhân là “giữa một người đàn ông và một phụ nữ”. Một cuộc khảo sát cho thấy thái độ của người Úc đối với vấn đề hôn nhân đồng giới thay đổi một cách nhanh chóng, công nhận thực tế rằng Quốc hội Úc đang tụt hậu so với các bằng hữu quốc tế trong vấn đề này. Chính phủ của Thủ tướng Malcolm Turnbull đã ủy nhiệm Cục Thống kê Úc (ABS) tiến hành thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý không bắt buộc về hôn nhân đồng giới vào tháng 9/2017. Theo đó, 12,7 triệu người dân đã tham gia bỏ phiếu và chiếm đến 79,5% số lượng những người đáp ứng đủ điều kiện bỏ phiếu hiện nay. Trong số đó, 61,6% đã lựa chọn “Đồng ý” và 38,4% lựa chọn “Phản đối”. Thủ tướng Malcolm Turnbull cho biết: “Người dân Úc đã lên tiếng. Và tôi dự định sẽ biến nguyện vọng của họ thành luật trước Giáng sinh”. Hầu hết các chính trị gia của Úc đều đã tuyên bố sẽ tôn trọng nguyện vọng của người dân. Bên cạnh đó, những người phản đối cũng sẽ bỏ phiếu thuận nếu như kết quả của cuộc trưng cầu dân ý đa số là “Đồng ý” mặc dù phe ủng hộ cho rằng đây là vấn đề về quyền bình đẳng nhưng phe phản đối lại tập trung vào định nghĩa gia đình, nêu ra những lo ngại về chuyện các vấn đề như giới tính sẽ được giảng dạy ra sao trong trường học nếu chấp nhận vấn đề này.
Ngày 15/11/2017, Úc công bố kết quả trưng cầu dân ý. Theo kết quả của Tổng cục thống kê Úc, 61,6% cử tri (7,8 triệu người) đã ủng hộ việc các cặp đôi đồng giới có thể kết hôn hợp pháp, trong khi 4,9 triệu người phản đối. Cũng theo tổng cục thống kê, số người tham gia trưng cầu vượt mức 70% tại 146 trong số 150 đơn vị bầu cử tại Úc. Ngoại trừ 17 đơn vị bầu cử phản đối, tất cả các đơn vị còn lại đều ủng hộ thay đổi luật. Sở dĩ chính quyền Úc phải tiến hành cuộc trưng cầu ý dân như vậy vì trong suốt thời gian qua, hôn nhân đồng giới trở thành vấn đề gây tranh cãi gay gắt tại nước này.
Ngày 07/12/2017, kết thúc nhiều giờ tranh luận, dự luật chính thức được thông qua. “Đây chính là nước Úc: công bằng, đa dạng, yêu thương và tôn trọng. Một ngày tuyệt vời, khi nó thuộc về tất cả mọi người dân”. Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull phát biểu tại ngày 7/12/2017 khi Thượng viện Úc chính thức thông qua hôn nhân đồng tính.
Ngoài ra ở hầu hết các quốc gia khác như Na Uy, Anh, Mexico… đều ban hành luật cấm phân biệt đối xử, kỳ thị với người đồng tính. Các quốc gia này cũng cho phép các cặp đôi được chung sống với nhau ở các mức độ khác nhau như thừa nhận hôn nhân đồng giới tính ở Canada, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy Điển… và một số quốc gia cho phép quan hệ đồng giới dưới các hình thức như kết hợp dân sự hoặc hình thức quan hệ đối tác chung nhà ở các nước như Bulgaria, Chile, Costa Rica, Cuba…
2.2.2 Quy định pháp luật của một số quốc gia không công nhận hôn nhân đồng tính
Không thể phủ nhận được lịch sử, dưới góc độ cá nhân, đồng tính luyến ái từng được ca tụng. Nhưng phần lớn, trong nhiều nền văn hoá, những người đồng tính được không được coi như người bình thường, phải chịu sự kỳ thị, xa lánh hoặc lên án của xã hội. Những nơi có quan điểm ủng hộ đồng tính, họ coi đó là một cách làm cho xã hội tiến bộ. Ở những nơi đồng tính bị lên án, những hành vi cụ thể bị coi là tội lỗi hoặc bệnh hoạn và một số hành vi đồng tính còn bị luật pháp trừng trị.
Những năm 1950, hàng trăm người bị sa thải vì là đồng tính trong một chiến dịch có tên là “Nỗi sợ hoa oải hương” của McCarthyism. Tuy nhiên, nhiều nhà chính trị đã chỉ trích một cách mỉa mai ông vì có phụ tá là người đồng tính là Roy Cohm. Vào tháng 1 năm 2001, Bộ văn hóa Ai Cập cho đốt 6.000 quyển sách thơ đồng tính thế kỷ thứ 8 của nhà thơ Ba Tư-Ả Rập Abu Nuwas để xoa dịu người Hồi giáo. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Hiện nay vẫn còn 72 quốc gia và vùng lãnh thổ có luật trừng phạt hành vi đồng tính. Không ít trong số đó là các quốc gia phát triển. Danh sách 72 quốc gia hình sự hóa đồng tính luyến ái trong bản báo cáo của hiệp hội Đồng tính, Song tính, Chuyển giới và Lưỡng tính Quốc tế (ILGA):
- Châu Á: Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Brunei, Daesh, Ấn Độ, Iran, Iraq, Kuwait, Lebanon, Malaysia, Maldives, Myanmar, Oman, Pakistan, Palestine, Qatarm, Saudi Arabia, Singapore, Sri Lanka, Syria, Turkmenistan, các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Uzbekistan và Yemen.
- Châu Phi: Ai Cập, Algeria, Angola, Botswana, Burundi, Cameroon, Comoros, Eritrea, Ethiopia, Gambia, Ghana, Guinea, Kenya, Liberia, Libya, Malawi, Mauritania, Mauritius, Morocco, Namibia, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Somalia, Nam Sudan, Sudan, Swaziland, Tanzania, Togo, Tunisia, Uganda, Zambia và Zimbabwe.
- Châu Mỹ: Antigua và Barbuda, Barbados, Grenada, Guyana, Jamaica, St Kitts và Nevis, St Lucia, St Vincent và the Grenadines, Trinidad và Tobago.
- Châu Đại dương: quần đảo Cook Islands, Indonesia, Kirbati, Papua New Guinea, Samoa, quần đảo Solomon Islands, Tonga và Tuvalu.
Cũng theo báo cáo hàng năm của hiệp hội Đồng tính, Song tính, Chuyển giới và Lưỡng tính Quốc tế, hiện nay có 8 quốc gia sở hữu khung hình phạt cao nhất là tử hình dành cho hành vi đồng tính luyến ái bên cạnh hàng chục quốc gia khác là bỏ tù hoặc đánh đập. Cụ thể, Nam Phi, Đông Phi, Trung đông và Nam Á là những khu vực khắc nghiệt nhất đối với người đồng tính. Trong khi đó, Tây Âu và những quốc gia thuộc Tây bán cầu là khoan dung nhất.
Ở Iran, Sudan, Ả-rập Xê-út và Yemen, quan hệ tình dục đồng giới có thể bị trừng phạt bằng án tử theo luật Sharia của đạo Hồi. Việc treo cổ người đồng tính trước mặt mọi người ở Iran đã làm hình ảnh chính phủ nước này xấu đi trong mắt nhân dân thế giới. Trong phần 2 điều 117 bộ luật hình sự của Iran có ghi rõ: người thực hiện hành vi tình dục đồng giới sẽ phải nhận án tử hình. Tại 2 quốc gia Hồi giáo khác là Syria và Iraq, án tử hình được thực hiện ở những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng bởi tổ chức khủng bố IS. Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất nổi tiếng trên toàn thế giới về những tòa nhà chọc trời và những thành phố có kiến trúc vô cùng tối tân, hiện đại nhưng luật pháp của nó cũng được xây dựng dựa trên luật Sharia. Vì thế tại đây không cho phép và sẽ tử hình bất cứ ai có quan hệ tình cảm với người đồng giới.
Ở khu vực Trung Đông vốn tập trung nhiều nước đạo Hồi, dựa trên các quan điểm bảo thủ của luật Hồi giáo nên cho rằng ngoài quan hệ tình dục của những cặp vợ chồng đã kết hôn, những quan hệ tình dục khác là bất hợp pháp, không có cơ sở pháp luật nào thừa nhận các hành vi tình dục đó nên đồng tính luyến ái bị pháp luật cấm nghiêm khắc. Duy nhất ở Israel, quyền của người đồng tính được pháp luật hỗ trợ. Israel là nước có tỉ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới cao nhất thế giới với 61% người dân ủng hộ. Israel là nước Trung Đông đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận sự chung sống không đăng ký của cặp đôi đồng giới. Mặc dù chưa công nhận hôn nhân đồng giới, Israel là quốc gia Trung Đông đầu tiên và duy nhất cho đến nay có thái độ công nhận hôn nhân đồng giới ở nước khác. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Chính phủ một mặt công nhận sự tồn tại trên thực tế của người đồng tính và yêu cầu xã hội tôn trọng những người này, mặt khác phản đối các đặc điểm thuộc văn hóa đồng tính phương Tây, cho đây là sự ủng hộ chủ nghĩa hưởng thụ, phân chia giai cấp và tình dục bừa bãi. Pháp luật nước này không có quy định về chống phân biệt đối xử, kỳ thị dựa trên xu hướng tình dục. Quan hệ đồng tính luyến ái không bị xem là vi phạm pháp luật nhưng cũng không được bàn tán công khai ở đất nước này. Với quan điểm hôn nhân nam nữ là nền tảng vững cho xã hội, luật pháp Triều Tiên không thừa nhận kết hôn đồng giới, kết hợp dân sự hay đối tác dân sự [20].
Như vậy, việc không công nhận đầy đủ các quyền lợi mà một người đương nhiên được hưởng, trong đó có quyền kết hôn của những người đồng giới, đó chính là sự phân biệt đối xử. Quyền con người được đảm bảo tuyệt đối chỉ khi đạt được sự bình đẳng cho tất cả mọi người thuộc mọi giai tầng trong xã hội. Quyền kết hôn là một quyền thiêng liêng trong đời sống của mỗi cá nhân. Do vậy, bảo vệ quyền kết hôn của người đồng giới sẽ đảm bảo được giá trị xã hội của pháp luật, hướng đến tính công bằng thay vì biện minh cho sự phân biệt đối xử của mình là chính đáng.
2.2.3 Quy định pháp luật của Việt Nam
Thời gian gần đây, tình trạng công khai xu hướng tính dục của mình khá phổ biến tuy nhiên chưa có cuộc điều tra ước lượng một cách tương đối về số lượng người đồng giới tại Việt Nam. Có nhiều nghiên cứu khác nhau của các quốc gia trên thế giới về tỷ lệ những người đồng giới này nhưng cho các tỷ lệ khác nhau, dao động từ 1% đến 9% người ở độ tuổi sinh hoạt tình dục. Theo báo cáo khoa học từ tổ chức y tế thế giới (WHO) của Liên hợp quốc, khoảng 3% dân số có thiên hướng đồng tính. Nếu như tỉ lệ này áp dụng ở Việt Nam thì cả nước có khoảng hơn 1,97 triệu người đồng tính (tính theo số liệu dân số theo độ tuổi tính đến đầu năm 2017, Việt Nam có khoảng 65,82 triệu người trong độ tuổi từ 15-64 tuổi). Vì vậy, vấn đề đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ cần được giải quyết thoả đáng.
Người LGBT nói chung và người đồng tính ở Việt Nam không phải chịu sự phân biệt đối xử gay gắt hay những quy định hà khắc như bỏ tù, đánh đập thậm chí tử hình khi quan hệ đồng giới như một số quốc gia khác mà vẫn được hưởng hầu hết các quyền như người dị tính. Nhưng hiện nay, Việt Nam chưa công nhận quyền kết hôn của người đồng tính mặc dù quyền kết hôn là một quyền nhân thân quan trọng của mỗi cá nhân, đã được pháp luật công nhận. Bộ Luật dân sự năm 2015 có quy định:
Điều 39. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình
- Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.
- Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Luật HN&GĐ năm 2014 bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, thay vào đó là quy định “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8). Như vậy, trong tình hình xã hội hiện nay, người đồng tính có thể tổ chức hôn lễ, chung sống với nhau nhưng dưới góc độ luật pháp thì họ không được coi là vợ chồng và không thể đăng ký kết hôn với Nhà nước. Vì vậy khi có tranh chấp xảy ra giữa các cặp đôi đồng tính thì sẽ không có sự bảo vệ của pháp luật. Bên cạnh đó, Điều 48 trong Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ ban hành quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, Hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định về những hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng (mức phạt từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng) thì hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính cũng đã được bãi bỏ.
Đây là kết quả của quá trình vận động và thảo luận xã hội trong suốt nhiều năm, các nhà làm luật đã nhìn nhận tích cực hơn về quyền kết hôn, bình đẳng của người đồng tính và các cặp đôi cùng giới. Tuy luật hôn nhân và gia đình hiện hành không cấm những người cùng giới tính kết hôn nhưng cũng không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới. Tức là, những người đồng giới có thể tổ chức lễ cưới chung sống với nhau trên thực tế nhưng không thể đi đăng ký kết hôn, không được cấp chứng nhận kết hôn, hay việc chung sống của họ sẽ không được pháp luật thừa nhận, và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ như vợ chồng giữa họ. Họ sẽ không được pháp luật bảo vệ theo quan hệ vợ chồng khi có tranh chấp xảy ra. Với quy định như hiện tại thì quyền kết hôn của những người cùng giới đang ở tình trạng vô thừa nhận.
Như vậy, thực tế về mặt quyền không có gì thay đổi cả. Tuy nhiên về mặt tác động tới xã hội cũng bớt đi phần nào tâm lý bị xã hội, cộng đồng phân biệt đối xử. Hôn nhân cùng giới không còn bị coi là hành vi bị ngăn cấm hay gây nguy hại gì cho xã hội nữa và tiến tới sẽ có thể được thừa nhận trong tương lai.
2.3 Những khó khăn trong việc ghi nhận quyền kết hôn đồng tính Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Thứ nhất, do hội chứng ghê sợ đồng tính luyến ái:
Đây là thái độ tiêu cực, ghê sợ, định kiến xã hội đối với nhóm người đồng tính. Xuất phát dẫn đến điều này là niềm tin tôn giáo khi tôn giáo mà mình theo có thái độ phản đối hành vi đồng tính hoặc do những cảm giác chủ quan mặc định việc căm ghét người đồng tính. Có thể lấy một ví dụ như ở Mỹ, theo FBI 15.6% vụ tấn công do thù ghét được trình báo với cảnh sát là do kì thị thiên hướng tình dục. Trong đó 61% vụ tấn công là nhằm vào người đồng tính nam. Năm 1998 một sinh viên đồng tính, Mathew Shepard, bị giết là một trong những vụ tai tiếng nhất ở Mỹ. Hội chứng nào gồm chứng tự sợ đồng tính luyến ái và chứng ghê sợ đồng tính luyến ái. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Về chứng tự sợ đồng tính luyến ái: Cảm giác khi phát hiện ra mình là người đồng tính chưa bao giờ là cảm giác tích cực với họ. Khi phát hiện ra là mình là người đồng tính thì họ hoang mang, có thái độ sợ hãi, tiêu cực, hoảng sợ nếu như bị mọi người phát hiện. Nỗi sợ này lớn dần khiến họ luôn trong trạng thái mặc cảm, tự ti, cô lập. Để giải toả tâm lý họ tìm đến những chất kích thích, những lối sống không lành mạnh hay phá phách thậm chí là tự tử. Khi mắc chứng này, họ không còn ý chí phấn đấu hay đấu tranh cho quyền lợi mà lẽ ra họ đáng được hưởng.
Về chứng ghê sợ đồng tính luyến ái: những phản ứng gay gắt của xã hội, sự phân biệt đối xử trong các sinh hoạt xã hội, trong công việc, trong các hành vi bạo lực nhằm miệt thị người đồng tính hay định kiến, lăng mạ và bạo hành thể xác ở gia đình, chê cười tại trường học hay sa thải, từ chối tuyển dụng tại nơi làm việc. Những người mắc hội chứng này đại diện cho nhóm phản đối công nhận quyền kết hôn của người đồng tính.
Cũng có thể coi chứng sợ đồng tính như kết quả của việc coi trọng quá mức giá trị của hình mẫu dị tính luyến ái. Chủ nghĩa độc tôn dị tính (heterosexism) chính là một hình thức đoan chắc sự vượt trội về mặt đạo đức, pháp lý và nhân loại học của dị tính luyến ái so với đồng tính luyến ái và cũng là tiền đề cho tâm lý bài trừ người đồng tính. Dị tính luyến ái lấn át tôn ti của giá trị tính dục do nó bảo vệ việc duy trì nòi giống. Nó nhanh chóng trở thành phương tiện, một ý thức hệ của nhà nước nhằm bảo đảm khái niệm gia đình và tính liên tục của các xã hội. Chủ nghĩa độc tôn dị tính rất dễ trở thành chứng sợ đồng tính khi nó từ chối quyền của người đồng tính được có một cuộc sống bình thường. Ngày nay, mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy những đứa trẻ được nuôi nấng bởi cặp bố mẹ đồng tính đều phát triển bình thường nhưng suy nghĩ độc tôn dị tính vẫn tồn tại bởi họ cho rằng chỉ những cặp bố mẹ nam và nữ mới có đủ tư cách pháp lý để nuôi đứa trẻ.
Thứ hai, do ảnh hưởng bởi tư tưởng tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo và Hồi giáo Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Như đã được đề cập ở trên, các quan điểm của hầu hết tôn giáo điển hình là Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đều cho rằng chỉ có sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ mới được coi là hôn nhân. Vì trong Thánh Kinh đã ghi lại, ngay từ thuở xa xưa khi mới tạo dựng đất trời, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam và có nữ. Ngài đã tác thành cho họ để trở nên vợ chồng, và xây dựng một khung hình sinh hoạt mang tính cộng đồng đầu tiên của nhân loại. Cấu trúc của gia đình, theo đó, là sự kết hợp chặt chẽ và vững bền giữa một người nam và một người nữ. Sự kết hợp này phản ảnh xã hội tính, giới tính, nhu cầu tâm sinh lý, và nhu cầu bảo tồn nòi giống. Qua ánh sáng Lời Chúa thì hôn nhân không chỉ là một thỏa hiệp, một khế ước được xã hội công nhận, nó còn mang ý nghĩa một Bí Tích, một ơn gọi. Chính Thiên Chúa đã kết hợp Adong với Evà. Tình yêu nối kết giữa hai người khắng khít đến độ, cũng theo Thánh Kinh, “vì thế, người nam sẽ từ bỏ cha mẹ mình và luyến ái với vợ mình. Và cả hai trở nên một”. Hình thức hôn nhân này không chỉ được nhìn thấy qua các nền văn hóa của nhân loại, dù dưới chế độ phụ hệ hay mẫu hệ, hoặc ngay cả trong chế độ đa thê trước đây. Do đó, hôn nhân đồng tính không trả lời được đòi hỏi của Thiên Chúa về sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ. Hôn nhân đồng tính cũng không giải thích được lý do tại sao từ ban đầu Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam, có nữ và Ngài đã nối kết họ để cả hai nên một xương thịt với nhau. Vì vậy không thể đi ngược lại lời dạy của Chúa và chấp nhận quan hệ giữa hai người cùng giới.
Hồi giáo (Islam giáo) là một tôn giáo độc thần. Sự ra đời của tôn giáo này gắn liền với một loạt nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, những biến chuyển xã hội từ chế độ công xã nguyên thuỷ sang chế độ xã hội có giai cấp, trên cơ sở thống nhất các tín ngưỡng, tôn giáo trên bán đảo này. Sau khi được tiếp nhận chân lý của Kinh Qu’ran, Mohammad đã biến cộng đồng này thành một cộng đồng chính trị với hệ thống chính quyền, luật pháp và những thể chế riêng dựa trên nguyên tắc thống nhất “các tín đồ Hồi giáo là anh em”. Trong tiếng Ả rập, Islam có nghĩa là “sự phục tùng”, “sự vâng lời” nghĩa là các tín đồ phải phục tùng, vâng lời Thượng đế duy nhất là thánh Allah và không ai khác ngoài thánh Allah. Tín đồ Hồi giáo có niềm tin bất diệt rằng nếu họ tuân thủ những điều ghi trong Kinh Qur’an thì sẽ được hưởng cuộc sống vĩnh hằng trên Thiên đàng vào ngày Phục sinh, còn nếu ngược lại họ sẽ bị đày đọa ở nơi Địa ngục. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Hồi giáo coi kết hôn là việc làm cần thiết để xây dựng, gắn kết gia đình, trao đổi yêu thương, thanh lọc bản thân khỏi những điều ô uế, cân bằng nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người một cách hợp lý và đạo đức. Kết hôn là cách tốt nhất để sinh con, duy trì nòi giống, để giữ gìn, bảo vệ dòng tộc, huyết thống và tránh được nhiều bệnh tật nguy hiểm. Kết hôn mang lại sự bình yên, an lành và thanh thản trong tâm hồn, giúp mỗi cá nhân trở thành người chồng, người vợ, người cha, người mẹ thanh khiết và cao quý. Kết hôn đối với mỗi Tín đồ vừa là trách nhiệm vừa là một hành vi thiêng liêng. Vì vậy vấn đề kết hôn được quy định rất nghiêm ngặt. Mà liên quan đến hôn nhân, theo Hồi giáo, tính dục đồng giới cũng là một hành vi sai trái vì nó làm đảo lộn quy định của tự nhiên, đi ngược lại bản chất con người nên không thể chấp nhận và dung thứ. Bên cạnh đó, Hồi giáo chỉ đạo mọi mặt của cuộc sống, mọi chuẩn mực hành vi, chuẩn mực hoạt động xã hội của mỗi công dân đều được qui định rất rõ ràng. Trong cuộc sống hàng ngày, Hồi giáo có những quy định rất cụ thể về những điều Tín đồ được phép làm và những điều không được phép làm mà không cần đặt câu hỏi tại sao lại có quy định này hay tại sao cái này được phép còn cái kia lại không được phép… mà họ chỉ có trách nhiệm tuân thủ và thực hiện những quy định này.
Ở Việt Nam, việc những người có cùng giới tính chung sống như vợ chồng, có các mối quan hệ về tình cảm, tài sản chung, con cái phát sinh đã xảy ra nhiều trên thực tế. Nhưng trong xã hội hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Ngoài một phần lí do như đã nói, thì có nhiều quan điểm cho rằng đây là mối quan hệ trái với quy luật tự nhiên, trái với phong tục tập quán, văn hoá của gia đình người Việt và sẽ phá hoại các nền tảng hạnh phúc gia đình truyền thống.
Theo dòng lịch sử, nếp văn hoá của người Việt cho đến ngày nay vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và quan niệm về hôn nhân, về gia đình của nhiều người hiện nay cũng bị ảnh hưởng bởi các quan niệm xã hội của chế độ trước. Chính vì thế, hầu hết các gia đình truyền thống cho rằng hôn nhân giữa những người cùng giới tính là vô loạn, trái với đạo lý thường tình, đi ngược lại ý nghĩa của hôn nhân và gia đình, không phù hợp thuần phong mỹ tục, truyền thống gia đình Việt Nam, không phù hợp quy luật sinh học và không bảo đảm chức năng gia đình về duy trì nòi giống.
Ngoài ra cũng phải kể đến, việc công nhận quyền kết hôn của người đồng tính sẽ phải sửa đổi, bổ sung tất cả các quy định liên quan trong hệ thống pháp luật, như xác định quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ con… nên cần thời gian và kế hoạch cụ thể để giải quyết vấn đề này.
Tiểu kết 2: Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng việc công nhận quyền kết hôn đồng tính trong pháp luật không chỉ do ý chí của các nhà lập pháp mà còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác như tôn giáo, tâm lí xã hội, chính trị… Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, trong mỗi nền văn hoá, tôn giáo khác nhau, ở mỗi quốc gia khác nhau thì thái độ đối với vấn đề hôn nhân đồng tính cũng khác nhau. Mỗi nền văn hóa có những chuẩn mực riêng về hôn nhân, tình cảm hoặc tình dục riêng, có nền văn hóa tán thành tình yêu và hôn nhân giữa những người đồng tính trong khi những nền văn hóa khác không tán thành, thậm chí coi đó là điều cấm kỵ. Một số tôn giáo, điển hình là các tôn giáo Abraham lên án hành vi và quan hệ đồng tính luyến ái, nhiều trường hợp có thể bị trừng phạt rất nặng. Trong khi người ở Mỹ Latin như Mexico, Argentina, Bolivia và Brasil thì cởi mở hơn rất nhiều thì tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là khu vực Trung đông và châu Phi, người đồng tính thậm chí còn không được sống thật với chính mình chứ chưa nói đến việc kết hôn hay tham gia chính trường. Tại các nước châu Á có vẻ không đồng tình với việc pháp điển hoá quyền được kết hôn đồng giới và chưa có quốc gia nào ở châu Á có quy định ủng hộ vấn đề này. Như vậy có thể thấy, hiện tượng đồng giới hầu như đã rất phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên, vấn đề hôn nhân đồng giới vẫn còn nhiều tranh cãi và ở mỗi nước khác nhau lại có những quy định khác nhau, tùy thuộc vào vấn đề đạo đức, thuần phong mỹ tục cũng như mức độ tiếp cận vấn đề của mỗi quốc gia. Vì vậy, con đường để dẫn đến sự công nhận hôn nhân giữa những người đồng tính là hợp pháp còn khá nhiều khó khăn. Khóa luận: Thực trạng của quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
