Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Thuế GTGT và việc thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty TNHH Thương Mại – Vân tải – Du Lịch cho các bạn.

LỜI NÓI ĐẦU

Phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của đất nước, Việt Nam chúng ta cần phải có môi trường đầu tư thuận lợi và cơ chế chính sách sao cho phù hợp, rõ ràng và ổn định. Đáp ứng mục tiêu đó, Luật thuế giá trị gia tăng(GTGT) đã được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế Doanh thu.Qua 7 năm thực hiện, Luật thuế giá trị gia tăng về cơ bản đã phát huy được các mặt tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội, góp phần khuyến khích đầu tư, ổn định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ quản lý của ngành thuế…

Trải qua thực tiễn áp dụng thuế giá trị gia tăng cũng nảy sinh nhiều khó khăn vướng mắc cần giải quyết như : vấn đề hoá đơn, khấu trừ thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng, thuế suất thuế giá trị gia tăng…Tuy đã được sửa đổi bổ sung và giải quyết được phần nào những vướng mắc trên song so với nhiệm vụ và yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay thì Luật thuế giá trị gia tăng vẫn còn một số khiếm khuyết cần nghiên cứu giải quyết để Luật thuế giá trị gia tăng ngày càng hoàn thiện và phù hợp với tình hình kinh tế nước ta.

Nhận thức được tầm quan trọng của thuế giá trị gia tăng, với vốn kiến thức đã được trang bị ở trường học cùng với quá trình tìm hiểu thực tế tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch em đã chọn đề tài “Thuế giá trị gia tăng và việc thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng ở công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vân tải – Du Lịch” làm đề tài luận văn của mình.

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 phần :

  • Phần 1 : Một số vấn đề chung về thuế và thuế giá trị gia tăng.
  • Phần 2 : Tình hình thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng tại công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch.
  • Phần 3 : Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện việc thi hành Luật thuế giá trị gia tăng tại công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vận tải – Du Lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

PHẦN 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ VÀ THUẾ giá trị gia tăng

I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ :

1, Khái quát về Thuế :

Thuế là một phạm trù kinh tế xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Sự xuất hiện của nhà nước đòi hỏi phải có cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình. Như vậy, thuế ra đời là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thuế không những là nguồn thu quan trọng chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN) mà còn có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế.

Do đó, thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước bằng các sắc lệnh do nhà nước quy định. Nó được thể hiện thông qua các luật và văn bản dưới luật được cơ quan quyền lực cao nhất ban hành mà mỗi công dân và các tổ chức kinh tế phải nộp vào ngân sách nhà nước. Khoản nộp thuế không mang tính hoà trả trực tiếp, một phần của số này được trả người dân dưới dang các trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng và các quĩ tiêu dùng xã hội khác.

2. Khái niệm về Thuế : Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Thuế là một hình thức động viên cổ xưa nhất của Tài chính nhà nước, bất kỳ nhà nước nào khi xuất hiện thì sẽ xuất hiện thuế. Tuy nhiên, với mỗi nhà nước khác nhau thì bản chất của thuế lại phụ thuộc vào bản chất của nhà nước, đồng thời khi xuất hiện thuế thì sẽ xuất hiện mối quan hệ giữa nhà nước và người nộp thuế.

Xét về góc độ nhà nước : Thuế là khoản thu của nhà nước, khoản thu mang tính bắt buộc không hoàn trả trực tiếp, được pháp luật qui định.

Xét về góc độ ngưòi nộp thuế : Thuế là khoản đóng góp mang tính chất pháp luật cao nhất của nhà nước, buộc các tổ chức kinh tế và mọi người dân phải nộp một phần thu nhập của mình vào ngân sách nhà nước để nhà nước đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước.

Xét về về mặt nội dung vật chất : Thuế là một khoản tiền, hiện vật mà người dân và các tổ chức kinh tế có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước.

Xét về thực chất : Thuế là một hình thức phân phối được Nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước.

Tóm lại ta có thể hiểu : Thuế là một biện pháp động viên bắt buộc của Nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân buộc các thể nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập do kinh doanh, do lao động, do đầu tư tài chính, do lưu trữ dịch chuyển tài sản mang lại nộp vào ngân sách nhà nước.

3.Đặc điểm của Thuế:

Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.

Thuế là tuy là biện pháp tài chính mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng của các vấn đề kinh tế – xã hội của người nộp thuế. Do đó, thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố thực về kinh tế, xã hội.

Thuế là một khoan thu không mang tính hoàn trả trực tiếp. Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng đã đóng góp.

4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường :

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước.

Thuế là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý và điều tiết vĩ mô, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Thuế góp phần thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giữa các tổ chức  kinh tế và các tầng lớp dân cư.

Nhà nước dùng thuế để thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của mình đối với đất nước. Thực hiện những mục tiêu đó cũng chính là thực hiện vai trò cơ bản của thuế.

5.Chức năng của thuế:

  • Thuế là một công cụ quan trọng để động viên một phần thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước.
  • Thuế là một công cụ để điều tiết kích thích sản xuất, điều chỉnh cung – cầu xã hội.
  • Thuế là công cụ giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước – tập thể và người lao động.
  • Nhà nước sử dụng thuế để kiểm tra và giám sát về mặt kinh tế đối với các hoạt động kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế.
  • Thuế có tác dụng mở rộng kinh tế đối ngoại, đông thời bảo vệ lợi ích sản xuất trong nước.
  • Thuế là công cụ sắc bén để điều hoà thu nhập quốc dân.

6.Phân loại thuế :

Thuế được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, nhưng thông thường căn cứ vào mối quan hệ giữa người chịu thuế và người nộp thuế, người ta phân thuế làm hai loại :

Thuế gián thu : là loại thuế được cộng vào giá,là một bộ phận cấu thành nên giá cả hàng hoá như : thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu. Thực chất loại thuế này người nộp thuế theo luật chỉ là người nộp thay cho người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ hoặc tài sản do mình cung cấp, phần thuế đó được người tiêu dùng hoàn trả qua giá mua hàng hoặc dịch vụ tài sản của người cung cấp.

Thuế trực thu : là loại thuế thu trực tiếp đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh tế, cá nhân như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cao. Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Khác với thuế gián thu, đối với thuế trực thu người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế cho Nhà nước. Chính vì vậy thuế trực thu có nhiều ưu điểm và công bằng hơn,phù hợp với khả năng của từng đối tượng, thu nhập cao thì nộp thuế cao, thu nhập thấp thì nộp thuế ít.

7. Các yếu tố cấu thành sắc thuế :

Mỗi sắc thuế đòi hỏi có các đặc trưng riêng nhưng về cơ bản đều được cấu thành từ các yếu tố sau :

  • Tên gọi của sắc thuế.
  • Đối tượng chịu thuế, đối tượng thuộc diện không chịu thuế.
  • Đối tượng nộp thuế.
  • Căn cứ và phương pháp tính thuế.
  • Thuế suất – mức thuế – biểu thuế.
  • Đăng ký, kê khai – nộp thuế, quyết toán thuế.
  • Miễn giảm thuế, hoàn thuế(nếu có).
  • Trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, cơ quan quản ký thuế.

II: THUẾ giá trị gia tăng VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG THUẾ giá trị gia tăng Ở NƯỚC TA

1. Sự ra đời và phát triển của thuế giá trị gia tăng :

Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918), thuế doanh thu đã được nghiên cứu, áp dụng nhằm động viên sự đóng góp rộng rãi của toàn thể quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế doanh thu được áp dụng ở Pháp từ năm 1917, thời kỳ đầu thuế doanh thu chỉ đánh ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá với thuế suất thấp. Đầu năm 1920, thuế doanh thu được điều chỉnh đánh vào từng khâu của qúa trình sản xuất. Qua thực tế, cách đánh thuế này đã bộc lộ rõ nhược điểm là thuế tính chồng chéo, trùng lặp. Và để khắc phục nhược điểm này năm 1936, Pháp tiến hành cải tiến thuế doanh thu từ việc đánh thuế vào từng khâu sang đánh thuế 1 lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất. Việc này đã khắc phục được nhược điểm là đánh thuế trùng lặp, nhưng lại làm cho việc thu thuế bị chậm trễ so với trước đây vì chỉ khi hàng hoá đi vào lưu thông thì Nhà nước mới thu được thuế. Qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung, tù ngày 01/01/1968 thuế giá trị gia tăng được áp dụng chính thức đối với sản xuất, bán lẻ hàng hoá và cung ứng dịch vụ ở Pháp.

Ở Việt Nam, thuế giá trị gia tăng được áp dụng lần đầu tiên tại Miền Nam theo sắc thuế số 035 – TT/SLU ngày 12/12/1972. Ngày 05/07/1993 được chính phủ cho phép, Bộ Tài Chính đã có quyết định số 486TC/QĐ/TCT ban hành thuế giá trị gia tăng để thực hiện thí điểm tại một số cơ sở kinh doanh: công ty dệt Hà Đông, công ty dệt kim Đông Xuân, nhà máy dệt Đông á…

Tuy nhiên, việc thực hiện thí điểm đã không mang lại kết quả do hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong xã hội có mối quan hệ chạt chẽ với nhau, từ quá trình cung cấp nguyên vật liệu đến quá trình tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, thuế giá trị gia tăng không thể thực hiện riêng rẽ ở một số khâu hay một số doanh nghiệp.

Để góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế sao cho phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời để phù hợp với xu thế cải cách thuế ở các nước trên thế giới.Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá IX, từ ngày 02/04 đến ngày 10/05/1997 đã thông qua luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế cho luật thuế doanh thu. Qua năm 5 năm thực hiện, Luật thuế giá trị gia tăng đã được Quốc hội khoa 11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2004.

2.Sự cần thiết phải áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam: Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Mở đầu cho tiến trình cải cách thuế giai đoạn II, một trong 2 luật thuế được Nhà nước ban hành là Luật thuế giá trị gia tăng thay cho Luật thuế Doanh thu trước đây là một bước tiến mới trong hệ thống thuế của nước ta. Việc ban hành và thực hiện thuế giá trị gia tăng là cần thiết vì:

Thuế giá trị gia tăng có thể khắc phục được nhược điểm của thuế Doanh thu như trùng lặp, thuế thu trên thuế, nhiều mức thuế suất, chưa khuyến khích mạnh xuất khẩu và đầu tư công nghệ mới.

Thuế giá trị gia tăng được áp dụng không những đảm bảo được mức thu thuế ổn định cho ngân sách nhà nước mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, là cơ sở để tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Thuế giá trị gia tăng thu cả đối với hàng hoá nhập khẩu tạo sự bình đẳng trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước có điều kiện phát huy lợi thế của mình.

Khi áp dụng Luật thuế giá trị gia tăng đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn việc hạch toán kế toán và thực hiện mua bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, hạn chế việc thất thu thuế.

Thuế giá trị gia tăng đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện để tham gia và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế-nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ giá trị gia tăng: Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng :

GTGT là phần giá trị tăng thêm mới được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng. Do đó, thuế giá trị gia tăng là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.

Xét về hình thức, thuế giá trị gia tăng do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả cho người bán. Hay nói cách khác, thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh vào thu nhập của người tiêu dùng nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng góp của người tiêu dùng.

Xét về bản chất, người chịu thuế giá trị gia tăng là người tiêu dùng bao gồm cả tiêu dùng cho sản xuất.

2. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng :

Thuế giá trị gia tăng là một sắc thuế đánh vào tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nhưng thu đựoc ở khâu bán hàng, nó mang tính chất gián thu. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt được đâu là người tiêu dùng trung gian, đâu là người tiêu dùng cuối cùng. Vì thế, cứ có hành vi mua bán hàng hoá là phải tính thuế.

Thuế giá trị gia tăng có tính trung lập kinh tế cao bởi nó không bị ảnh hưởng vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế, mà chỉ là một khoản cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ.

Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế. Nghĩa là, dù chu trình kinh tế có bị phân đoạn nhiều hay ít cũng không ảnh hưởng đến số thuế giá trị gia tăng thu được.

Thuế giá trị gia tăng có khả năng đem lại số thu thường xuyên, ổn định cho ngân sách nhà nước. Điều này thể hiện tính chủ động của Nhà nước trong quan điểm đông viên vào ngân sách của mình cũng như điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

3. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng:

Theo qui định tại Điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng và Điều 2 Nghị định số 158/2003/NĐ/CP của Chính phủ thì “Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam(bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài)trừ các đối tượng không chịu thuế ”.

4. Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng: Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Theo qui định tại Điều 4 Luật thuế giá trị gia tăng, Điều 4 nghị định số 158/2003/NĐ-CP của Chính phủ, các hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng gồm 28 nhóm hàng(Xem phụ lục số 1).

Cơ sở sản xuất kinh doanh không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng qui định tại điều này mà phải tính vào giá trị hàng hoá, dịch vụ, nguyên giá tài sản cố định hoặc chi phí kinh doanh.

5.Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng :

Theo qui định tại Điều 3 Luật thuế giá trị gia tăng và Điều 3 Nghị định số 158/2003/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng thì “Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, không phân biẹt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh(gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng từ nước ngoài(gọi chung là người nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế”.

6.Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng :

Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất.

6.1. Giá tính thuế giá trị gia tăng :

Được qui định tại Điều 7 Luật thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày 10/05/1997 và Điều 6 Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003.

Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp, giá tính thuế giá trị gia tăng là giá bán chưa có thể được ghi trên hoá đơn bán hàng của người bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc người nhập khẩu. Giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định cụ thể như sau :

Đối với hàng hoá do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hoá chịu thuế tiêu thu đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng.

Đối với hàng hóa nhập khẩu, là giá nhập tại cửa khẩu cộng(+) với thuế nhập khẩu(nếu có) cộng(+) thuế tiêu thụ đặc biệt(nếu có). Giá nhập  tại cửa khẩu làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng được xác định theo các qui định về giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu.

Nếu hàng hoá nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế là giá hàng hoá nhập khẩu cộng(+) với thuế nhập khẩu  theo mức thuế đã được miễn giảm.

Đối với dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho các đối tuợng tiêu dùng ở Việt Nam, giá tính thuế là gía dịch vụ phải thanh toán cho phía nước ngoài. Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Đối với hàng hoá,dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng (trừ sản phẩm hàng hoá dùng để khuyến mại, quảng cáo), tiêu dùng nội bộ(không phục vụ cho sản xuất kinh doanh hoặc sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng) thì phải tính thuế giá trị gia tăng đầu ra, giá tính thuế được xác định theo giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điêm phát sinh các hoạt động này.

Đối với hoạt động cho thuê tài sản như : nhà xưởng, kho tàng, bến bãi…Giá để tính thuế là giá cho thuê chưa có thuế. Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thì thuế giá trị gia tăng tính trên số tiền thu từng kỳ hoặc thu trước.

Đối với trường hợp thuê giàn khoan, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài (loại trong nước chưa sản xuất được) để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê giá thuê phải trả cho nước ngoài.

Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế là giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó(không bao gồm lãi trả góp), không tính theo số tiền trả góp từng kỳ.

Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế là giá gia công chưa có thuế (bao gồm tiền công, tiền nhiên liệu, vật liệu phụ và chi phí khác để gia công).

Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá xây dựng, lắp đặt chưa có thuế giá trị gia tăng của công trình, hạng mục công trình.

Đối với hoạt động đầu tư xây nhà để bán, xây dựng cơ sở hạ tầng để chuyển nhượng của các đơn vị được Nhà nước giao đất, giá tính thuế là giá bán nhà, cơ sở hạ tầng gắn với đất trừ(-) tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước.

Đối với các hoạt động đại lý, môi giới mua, bán hàng hoá, dịch vụ hưởng hoa hồng thì giá chưa có thuế làm căn cứ tính thuế là tiền hoa hồng thu từ các hoạt động này.

Đối với hàng hoá, dịch vụ có tính đặc thù được dùng chứng từ thanh toán như: tem bưu chính, vé cước vận tải, vé sổ số kiến thiết…ghi giá thanh toán là giá đã có thuế, còn giá chưa có thuế được xác định như sau:

Giá chưa có. Giá thanh toán(tiền bán vé, bán tem)trên chứng từ = thuế giá trị gia tăng 1+ Thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó.

Đối với dịch vụ đại lý tàu biển, dịch vụ môi giới, uỷ thác xuất nhập khẩu và dịch vụ khác hưởng tiền công hoặc hoa hồng, giá tính thuế là tiền công hoặc hoa hồng được hưởng chưa có thuế.Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp thì giá tính thuế là giá cước vận chuyển, bốc xếp chưa có thuế . Đối với hoạt động vận tải quốc tế thì doanh thu vận tải quốc tế không chịu thuế.

Đối với dịch vụ du lịch lữ hành, hợp đồng ký với khách hàng theo giá trọn gói thì giá trọn gói là đã có thuế giá trị gia tăng. Trường hợp giá trọn gói bao gồm cả các khoản không chịu thuế(ăn ở tham quan, lệ phí sân bay…) thì các khoản này được giảm trừ trong giá tính thuế. Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Đối với dịch vụ cầm đồ, giá tính thuế là tiền thu từ hoạt động này, bao gồm tiền lãi phải thu từ cho vay, cầm đồ và chênh lêch thu được từ bán hàng cầm đồ(bằng doanh thu bán hàng phát mại trừ(-) số tiền cho vay, trừ(-) số tiền phải trả khách hàng(nếu có)).

Đối với dịch vụ in, giá tính thuế không bao gồm tiền giấy in.Nếu cơ sỏ in thực hiện hợp đồng in, giá thanh toán bao gồm cả tiền công in và giấy in thì giá tính thuế bao gồm cả tiền giấy.

Đối với sách báo, tạp chí bán theo đúng giá phát hành(giá bìa) theo qui định của Luật Xuất bản thì giá đó là giá tính thuế, còn nếu không bán theo giá bìa thì giá bán ra là giá tính thuế.

6.2 Thuế suất :

Có 3 mức thuế suất : 0%, 5%, 10% được sử dụng đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất-kinh doanh trong nước hoặc nhập khẩu(xem phụ lục 2). Việc qui định các mức thuế suất khác nhau nhằm thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ khác nhau. Trong điều kiện hiện nay, khi mặt bằng kinh doanh của các ngành nghề chưa đồng nhất, thì việc phân biệt các mức thuế suất là cần thiết.

Mức thuế suất 0% : áp dụng đồi với hàng hoá xuất khẩu, kể cả hàng hoá gia công xuất khẩu.

Mức thuế suât 5% : áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cần khuyến khích, hoặc sản xuất-kinh doanh còn đang gặp khó khăn(39 nhóm sản phẩm, dịch vụ)(xem phụ lục 2).

Mức thuế suất 10% : là mức thuế suất phổ biến, áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ thông thường còn lại ngoài những hàng hoá, dịch vụ đã chịu thuế suất 0%, 5%(27 nhóm sản phẩm, dịch vụ)(xem phụ lục 2).

7. Phương pháp tính thuế :

Cơ sở nộp thuế giá trị gia tăng theo một trong hai phương pháp : phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp trực tiếp :

7.1 Phương pháp khấu trừ :

a/ Đối tượng áp dụng : Là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác đã thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán và hoá đơn chứng từ theo qui định, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp. b/ Xác định thuế giá trị gia tăng phải nộp :

Số thuế giá trị gia tăng = Thuế giá trị gia tăng – Thuế giá trị gia tăng đầu vào phải nộp đầu ra được khấu trừ.

Trong đó: Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Thuế giá trị gia tăng đầu ra (=)giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế(*)thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó.

Cơ sở kinh doanh tính thuế theo phương pháp khấu trừ, khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế giá trị gia tăng hàng hoá, dịch vụ bán ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ phải ghi rõ giá bán chưa xó thuế, thuế giá trị gia tăng và tổng số tiền người mua phải thanh toán.

Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn chứng từ.

Thuế giá trị gia tăng đầu vào (=)tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ(bao gồm cả TSCĐ) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoa, dịch vụ nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài Chính.

Nếu hàng hoá, dịch vụ mua vào được dùng chứng từ đặc thù ghi gia thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì cơ sở có thể căn cứ vào giá trên để xác định giá chưa có thuế giá trị gia tăng được khấu trừ.

c/ Xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ :

Thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì được khấu trừ toàn bộ.

Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng đồng thời để sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuê thì chỉ khấu trừ số thuế đầu vào tương ứng của hàng hoá, dịch vụ dung cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng, còn số thuế giá trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ sẽ tính vào chi phí của hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng.

Hàng hoá mua vào bị tổn thất do thiên tai, hoả hoạn hoặc do mất, xác định trách nhiệm do cá nhân hoặc tổ chức phải bồi thường thì thuế giá trị gia tăng đầu vào của số hàng hoá, dịch vụ này được tính vào giá trị của hàng hoá tổn thất hoặc phải bồi thường không được tính vào thuế giá trị gia tăng đầu vào để khấu trừ khi kê khai thuế giá trị gia tăng phải nộp.

Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt hàng hoá, dịch vụ đó đã xuất dùng hay còn trong kho. Trường hợp không kê khai kịp trong tháng thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau nhưng tối đa không quá 3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh.

Đối với tài sản cố định(TSCĐ) mua vào sử dụng riêng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng, thì thuế giá trị gia tăng của TSCĐ được tính ngay vào nguyên giá của TSCĐ. Còn đối với TSCĐ mua vào sử dụng cho sản xuất-kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì thuế đầu vào của TSCĐ được khấu trừ như đối với hàng hoá, vật tư khác. Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

Trường hợp không hạch toán riêng được thì được khấu trừ theo tỷ lệ % doanh số của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh số bán ra trong kỳ.

Thuế giá trị gia tăng = Doanh số hàng hoá chịu thuế x Thuế giá trị gia tăng

đ.vào khấu trừ. Tổng doanh số bán ra trong kỳ đ. vào phải nộp

7.2 Phương pháp trực tiếp :

a/ Đối tượng áp dụng : 

Cá nhân sản xuất kinh doanh là người Việt Nam

Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ.

Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ.

b/ Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng :

Thuế giá trị gia tăng = giá trị gia tăng của hàng x Thuế suất của hàng phải nộp hoá chịu thuế hoá, dịch vụ đó.

Trong đó :

GTGT của hàng hoá, = D.Số của hàng – Giá vốn của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế hoá, dịch vụ bán ra dịch vụ bán ra

+/ Doanh số của hàng hoa, dịch vụ bán ra là giá bán thực tế bên mua phải thanh toán cho bên bán, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên mua phải trả.

+/ Giá vốn của hàng hoá, dịch vụ bán ra được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ(giá mua bao gồm cả thuế giá trị gia tăng) mà cơ sở sản xuất, kinh doanh đã dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bán ra trong kỳ.

c/GTGT đối với một số trường hợp và ngành nghề kinh doanh :

Đối với hoạt động sản xuất , kinh doanh bán hàng thì giá trị gia tăng là chênh lệch giữa doanh số bán ra với doanh số mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh.

Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán riêng được doanh số hàng hoá, vật tư mua vào tương ứng với doanh số bán ra thì : Giá vốn hàng = Trị giá tồn + Trị giá mua – Trị giá tồn hoá bán ra đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ

Đối với kinh doanh ngoại tệ giá trị gia tăng của hoạt động này xác định như sau :

GTGT = Doanh số bán ra trong kỳ – Doanh số mua vào tuơng ứng Trong đó :

D.Số mua vào tương ứng = số ngoại tệ đã bán x  tỷ giá mua vào t/tế.

Ngoài ra, trong luật thuế giá trị gia tăng còn qui định việc đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế (nếu có). Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại

One thought on “Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537