Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Tình hình thực hiện Luật thuế GTGT tại công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch cho các bạn.
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƯƠNG MẠI – VẬN TẢI – DU LỊCH:
1. Đặc điểm của công ty :
- Tên công ty : Công tytrách nhiệm hữu hạn Thương mại – Vận tải – Du lịch
- Tên giao dịch: Tourism – Transport – Trading Company Limited
- Địa chỉ: 257B Trung liệt – Đống Đa – Hà Nội
- MST: 0101107609
- Hình thức sở hũư vốn: huy động từ 2 thành viên trở lên.
- Ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh máy điều hoà không khí
- Cung cấp đồ gia dụng
- Cung cấp thiết bị văn phòng, nội thất
2. Lịch sử hình thành công ty :
Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Vận tải – Du lịch được thành lập ngày 26/02/2001 theo giấy phép đăng kí kinh doanh số 010200204 do UBND thành phố Hà Nội cấp.
Công ty hoạt động với số vốn là 1.000.000.000 đồng do :
- Ông Mai thanh Phương góp 900.000.000 đồng.
- Ông Lê Nam Hải góp 50.000.000 đồng.
- Ông Trần Hoàng Hải góp 50.000.000 đồng
Công ty được tách ra từ xí nghiệp cơ điện lạnh trực thuộc công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Quảng Ninh(Seaprodex Quảng Ninh). Công ty hạch toán kinh doanh độc lập có tài khoản tại ngân hàng và có con dấu riêng.
Lĩnh vực kinh doanh của công ty là chuyên thi công các hệ thống lạnh công nghiệp dùng cho các dây chuyền đông lạnh lớn, các hầm lạnh chuyên dùng cho các tàu đánh bắt lớn, hệ thống lạnh dân dụng cho các nhà hàng, khách sạn lớn…
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ, BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY: Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại.
1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty :
Bộ phận lãnh đạo của công ty đứng đầu là Hội đồng thành viên, Hội đồng thành viên của công ty gồm tất cả thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty . Hội đồng thành viên bầu 1 thành viên làm chủ tịch và chủ tịch hội đồng thành viên có thể kiêm luôn Giám đốc công ty.
Giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và là người đại diện trước pháp luật. Giám đốc là người tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của công ty.
Phó giám đốc kinh doanh : là người được giám đốc uỷ quyền chịu trách nhiệm trong lĩnh vực quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
Phó giám đốc Tài chính(Kế toán trưởng): Là người chịu trách nhiệm trước giám đốc về tổ chức điều hành toàn bộ công tác tài chính của công ty theo đúng qui định của pháp luật.
Phó giám đốc kĩ thuật: là người được giám đốc uỷ quyền chịu trách nhiệm về mặt kĩ thuật của sản phẩm của công ty.Và là nơi tiếp nhận các yêu cầu kĩ thuật chung đã được thống nhất từ ban giám đốc sau đó được chuyển tới các bộ phận.
Phòng kinh doanh : là nơi chịu trách nhiệm về việc xác định chiến lược và phương án kinh doanh, triển khai các phương án kinh doanh đã được duyệt.
Phòng kế toán : là nơi tham mưu giúp giám đốc trong công tác quản lý công ty và thực hiện công tác tổ chức tài chính – kế toán nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn, tài sản của công ty, thực hiện thu nộp ngân sách nhà nước theo chế độ do nhà nước quy định.
Bên cạnh đó công ty còn có các phòng ban khác như kho hàng, các đại lý, các Showroom, xưởng bảo hành…
Ngoài các chức vụ chủ chốt kể trên công ty còn có đội ngũ công nhân viên làm việc tại các của hàng.Với khoảng 33 nhân viên vào năm 2004 (và đã tăng lên là 38 vào năm 2005) đã phục vụ cho công việc kinh doanh của công ty ngày càng phát triển hơn.
2. Tổ chức bộ máy kế toán của công ty: Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại.
Bộ máy kế toán của công ty có nhiệm vụ thực hiện và kiểm tra toàn bộ công tác kế toán của công ty. Để phù hợp với hoạt động kinh doanh và đáp ứng yêu cầu quản lý , công ty áp dụng hình thức kế toán tập trung tại phòng Kế toán – tài vụ của công ty. Theo hình thức này công ty chỉ mở một bộ sổ kế toán, phòng kế toán của công ty thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu thập, ghi sổ đến xử lý thông tin kế toán.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của công ty:
- Đứng đầu bộ máy kế toán là kế toán trưởng(kiêm kế toán tổng hợp). Là người chịu trách nhiệm trước ban giám đốc công ty về toàn bộ hoạt động tài chính trong công ty và chỉ đạo trực tiếp các nhân viên kế toán trong phòng kế toán.
- Kế toán công nợ, thanh toán là người lập các phiếu thu, phiếu chi theo yêu cầu công việc, bảo quản, lưu trữ các kỳ phiếu này khi kết thúc quy trình lưu chuyển.
- Kế toán tiền mặt, TGNH ; Theo dõi thu chi tiền mặt, TGNH, việc mở L/C tại các ngân hàng, theo dõi thanh toán các chứng từ nước ngoài.
- Kế toán tiền lương : là người hàng tháng thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, công nhân viên trong công ty.
- Kế toán hàng tồn kho : Là người thường xuyên theo dõi, xem xét số lượng hàng hoá đầu kỳ, cuối kỳ trong kho của doanh nghiệp.
- Thủ quĩ : có nhiệm vụ quản lý thu chi tiền mặt khi có lệnh.
3. Đặc điểm công tác kế toán của công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch:
- Công ty áp dụng niên độ kế toán:bắt đầu từ 01/01 và kết thúc 31/12.
- Hình thức sổ kế toán : chứng từ ghi sổ.
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên
- Phương pháp khấu hao TSCĐ : Khấu hao theo đường thẳng
Hàng ngày, từ những chứng từ gốc ban đầu kế toán vào các sổ nhật ký chuyên dùng như : Nhật ký bán hàng, Nhật ký mua hàng…. và sổ chi tiết các tài khoản liên quan. Cuối kỳ kế toán, kế toán trưởng của công ty sẽ tập hợp số liệu vào số cái và các phiếu kế toán sau đó lập bảng cân đối kế toán và báo cáo tài chính.
Ngoài những báo cáo tài chính bắt buộc phải lập cuối mỗi kỳ kế toán, công ty còn sử dụng một số báo cáo phục vụ công tác quản trị nội bộ như : Báo cáo theo dõi tình hình quản lý công nợ, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh…..
Công ty tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ. Bên cạnh đó công ty còn phải thực hiện các loại thuế, phí và lệ phí khác, như : thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhà đất…
III. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT THUẾ giá trị gia tăng CỦA CÔNG TY trách nhiệm hữu hạn THƯƠNG MẠI – VẬN TẢI – DU LỊCH :
1.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty : Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Mặc dù phải chịu ảnh hưởng rất lớn từ các điều kiện của nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt của những doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực nhứng công ty đã và đang từng bước tự khẳng định được mình trong lĩnh vực kinh doanh đồ điện gia dụng.
Qua số liệu trên biểu 1 ta thấy các chỉ tiêu nhìn chung là tăng qua các năm.Doanh thu thuần năm 2005 đạt 6.533 triệu đồng tăng 3% so với năm 2004, giá vốn hàng bán đạt 5.848 triệu đồng tăng 8% so với năm 2004, điều này đã lý giải tại sao lợi nhuận của công ty năm 2005 tăng 8% so với năm 2004. Sự tăng trưởng thấp như vậy là do năm 2005 công ty đã bỏ vốn kinh doanh ra nhiều hơn năm 2004 để chuẩn bị cho việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh vào năm 2006 sắp tới.
Về tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, công ty nộp ngân sách nhà nước là 83 triệu đồng tăng 2% so với năm 2004, trong đó thuế giá trị gia tăng là – 65triệu đồng.
Qua việc xem xét các chỉ tiêu tài chính của công ty qua 2 năm gần đây ta thấy rằng : Công ty đã đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình cho dù hiệu quả đó không cao lắm. Đó là những cố gắng của toàn công ty trong việc khắc phục khó khăn của mình trên con đường đi tìm chỗ đứng của mình trên thị trường.Chính vì thế công ty cần phải có những kế hoạch phát triển cần thiết hơn để hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm sáp tới thu được kết quả kinh doanh cao hơn.
2. Tình hình kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng tại công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch :
Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, việc dăng ký nộp thuế được công ty đăng ký tại chi cục thuế quận Đống Đa. Hàng tháng, công ty đã thực hiện kê khai thuế và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng qui định của pháp luật.
Số thuế giá trị gia tăng = Thuế giá trị gia tăng – Thuế giá trị gia tăng đầu vào phải nộp đầu ra được khấu trừ
Trong đó :
- Thuế giá trị gia tăng đầu ra (=)giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế(*)thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó.
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào (=)tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu.
Để hiểu rõ hơn về tình hình thực hiện luật thuế giá trị gia tăng tại công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch ta hãy xem bảng 2 Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại.
2.1 Doanh thu làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng đầu ra của công ty :
Doanh thu hàng hoá, dịch vụ bán ra thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng năm 2005 đạt 6.533 triệu đồng, tăng 3% so với năm 2004. Doanh thu năm 2005 tăng lên là do:
Doanh số của hàng hoá, dịch vụ thuế suất 5% năm 2005 là 110 triệu đồng chiếm tỷ trọng nhỏ và giảm từ 1,92% năm 2004 xuống còn 1,69% so với năm 2004(1,92%).Doanh thu của hàng hoá,dịch vụ chịu mức thuế suất 5% bao gồm một số mặt hàng chủ yếu như:máy hút ẩm,máy hút bụi ….
Doanh số của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10% gồm các loại hàng hoá, dịch vụ: điều hoà, tủ lạnh, lò vi sang,…Năm 2005, hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10% tăng hơn năm 2004.Nếu năm 2004 doanh thu đạt 621triệu đồng thì năm 2005 là 642triệu đồng tăng 3% so với năm 2004.
Như vậy, doanh thu hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10% vẫn chiếm chủ yếu và có tỷ trọng cao.Theo qui định của Luật thuế giá trị gia tăng, mọi cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh phải kê khai đúng và đầy đủ doanh thu chưa thuế và thuế giá trị gia tăng theo tong mức thuế suất trong tờ khai thuế hàng tháng để làm căn cứ tính toán thuế giá trị gia tăng phải nộp(theo mẫu số 11/GTGT). Việc kê khai không chính xác sẽ ảnh hưởng đến việc kê khai thuế và số thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước cũng như bất lợi trong việc khấu trừ thuế cho doanh nghiệp mua.
Tuy nhiên trong thực tế, số doanh thu chịu thuế nói trên chưa phản ánh đúng doanh thu thực tế phát sinh tại công ty vào năm tài chính nên đã ảnh hưởng tới số thuế phải nộp và việc nộp thuế của công ty.
Theo số liệu trong tờ kê khai thuế giá trị gia tăng thì doanh thu hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 5% năm 2005 là 110 triệu đồng, chưa có 10 triệu đồng do công ty bỏ sót hoá đơn giá trị gia tăng có ký hiệu HH/2005B số 0022914 không kê khai vào báo cáo.
Doanh thu của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10%, bỏ sót 120 triệu đồng của hoá đơn GB/2005B số 0012515 của công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại và Dịch Vụ Nam Long thanh toán tiền hàng chưa hạch toán vào doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng đầu ra.
Nếu kê khai đầy đủ thì doanh thu chịu thuế năm 2005 là : 6.533 + 10 + 120 = 6.663 triệu đồng.
2.2 Thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp :
Theo số liệu quyết toán thuế, số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp năm 2005 là 648 triệu đồng tăng 3% so với năm 2004, trong đó : Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại.
Thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 5%
Năm 2004 đạt 6,1 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,98% trong tổng số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp. Năm 2005 số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 5% là 5,5 triệu đồng chiếm tỷ trọng 0,85% trong tổng số thuế giá trị gia tăng đầu ra và giảm 11% so với năm 2004.
Nhưng theo phần 2.1 đã trình bày do bỏ sot doanh thu chưa hạch toán vào doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng đầu ra, nên số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 5% phải nộp thêm là : 10 * 5% = 0,5 triệu đồng
Như vậy, số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 5% được xác định lại là : 5,5 + 0,5 = 6triệu đồng tăng 9% so với số kê khai của công ty.
- Thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 10%
Năm 2005 thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 10% là 642 triệu đồng tăng 3% so với năm 2004, chiếm tỷ trọng cao 99,15% tăng chút ít so với năm 2004 trong tổng số thuế giá trị gia tăng đầu ra.
Và cũng như đã trình bày ở phần 2.1, do bỏ sót doanh thu (120 triệu đồng)chưa hạch toán vào doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng đầu ra theo mức thuế suất 10%, nên số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 10% tăng lên là: 120 * 10% = 12 triệu đồng
Vậy, số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 10% được xác định là : 642 + 12 = 654 triệu đồng tăng 1,8% so với số thuế giá trị gia tăng đầu ra mà công ty đã kê khai.
Như vậy, số thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp năm 2005 theo cả hai mức thuế suất được tính lại là : 6 + 654 = 660 triệu đồng, tăng 2,8% so với số thuế giá trị gia tăng đầu ra mà công ty đã kê khai.
2.3. Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ :
Do công ty là một doanh nghiệp thương mại nên việc phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu vào thường xảy ra khi công ty mua hàng hoá phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của công ty, mua hàng hoá: điều hoà, tủ lạnh, máy hút bụi… các sản phẩm để kinh doanh. Bên cạnh đó công ty còn phải thanh toán các hoá đơn dịch vụ mua ngoài khác như : thanh toán tiền điện thoại, tiền điện, tiền cước vận chuyển…. Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại.
Hầu hết các sản phẩm mua vào của công ty được sử dụng cho mục đích kinh doanh đều là các mặt hàng chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ nên các hàng hoá mua vào đều được kê khai khấu trừ thuế. Để đảm bảo thực hiện đúng qui định, tuân thủ chế độ, chính sách và đảm bảo lợi ích doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước doanh nghiệp đã sử dụng các chứng từ : hoá đơn giá trị gia tăng (do người bán xuất cho công ty khi công ty mua hàng), phiếu nhập hàng hoá khi hàng hoá về nhập kho công ty, phiếu chi tiền mặt, giấy báo nợ(có) của ngân hàng …
Năm 2005, doanh số của hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ thuế là 7.060 triệu đồng, tăng 18% so với năm 2004. thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ là 713 triệu đồng, tăng 24% so với năm 2004, nhưng không tách riêng được thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ theo từng mức thuế suất khác nhau.
Qua kiểm tra hoá đơn phát sinh của doanh nghiệp ta thấy:
Tháng 05/05, công ty mua hàng của công ty Re Gia Nguyễn, nhưng bỏ sót hoá đơn giá trị gia tăng số34606 ký hiệuRN/2005N với số tiền 40triệu đồng Như vậy, thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ là :40 * 5% = 2 triệu đồng
Tuy nhiên, đến tháng 10/05 công ty mới nhận được hoá đơn mua hàng ghi số tiền trên do nhân viên của công ty đã bỏ sót mất hoá đơn. Theo hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng tại thông tư 120/2003 của Bộ Tài Chính thì trong vòng 3 tháng các hoá đơn mua vào sẽ được tổng hợp theo bảng kê mẫu số 03/GTGT để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Do đã quá thời hạn 3 tháng công ty mới phát hiện ra hoá đơn còn bỏ sót chưa kê khai nộp tiền nên công ty đã tự đánh mất quyền khấu trừ thuế. Do đó, trị giá vốn của lô hàng được hạch toán theo giá đã có thuế, hoá đơn mua vào không còn giá trị để hạch toán thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, chỉ còn giá trị làm căn cứ pháp lý để hạch toán giá vốn hàng mua vào. Vì vậy, công ty phải nộp oan số tiền thuế nói trên thay cho người mua hàng.
Vậy, số tiền thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ năm 2005 được xác định lại là : +713 + 2 = 715 triệu đồng.
2.4 Thuế giá trị gia tăng phải nộp :
Số thuế giá trị gia tăng = Thuế giá trị gia tăng – Thuế giá trị gia tăng đầu vào phải nộp đầu ra được khấu trừ
Theo báo cáo quyết toán thuế giá trị gia tăng của công ty thì số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo số phát sinh năm 2005 là -65 triệu đồng, trong đó thuế giá trị gia tăng đầu ra là 648 triệu đồng, thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ là 713 triệu đồng. Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ lớn hơn thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp là do công ty khi tính thuế đầu vào được khấu trừ cho cả hàng hoá còn năm trong kho trong khi đó khi tính thuế giá trị gia tăng đầu ra lại tính đối với hàng hoá đã được thanh toán. Khóa luận: Thực trạng Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại.
Nhưng theo như đã phân tích ở trên do xác định lại doanh thu tính thuế giá trị gia tăng đầu ra và đầu vào nên số thuế giá trị gia tăng thực tế phải nộp theo số phát sinh năm 2005 chỉ là: -55 triệu đồng chứ không phải là -65triệu đồng như công ty đã quyết toán. Như vậy giảm 11triệu so số quyết toán của công ty.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp Luật thuế GTGT tại công ty Thương Mại

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty Thương Mại