Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Ngô Quyền này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, các quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa dịch vụ từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng do đó, đòi hỏi phải có những phương tiện thanh toán mới đảm bảo tính an toàn, nhanh chóng, hiệu quả. Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, loài người đã chứng kiến những bước phát triển mang tính đột phá của nhiều ngành khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Kết hợp những điều này, các ngân hàng thương mại đã đưa ra mọt loại hình dịch vụ thanh toán mới, đó là thẻ ngân hàng.
Dịch vụ thẻ là một dịch vụ ngân hàng độc đáo, hiện đại ra đời và phát triển dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Với tính năng ưu việt cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng, dịch vụ thẻ đã nhanh chóng trở thành dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến và được ưa chuộng hàng đầu trên thế giới.
Thẻ là một phương tiện hữu hiệu để thực hiện chính sách tiền tệ của nhà nước nhằm mục đích hạn chế lượng tiền mặt trong lưu thông, thu hút tiền gửi của các tầng lớp dân cư vào ngân hàng, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho các tầng lớp dân cư được hưởng dịch vụ ngân hàng. Những lợi ích mang lại từ lĩnh vực kinh doanh thẻ đang là đối tượng có tính hấp dẫn cao đối với các ngân hàng, hoạt động kinh doanh thẻ chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trong doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng.
Thẻ là một sản phẩm tương đối mới của các ngân hàng ở Việt Nam, chính vì vậy thẻ còn được ít người biết tới và việc kinh doanh thẻ ở ngân hàng Công thương Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế Việt Nam. Do đó một trong những mục tiêu, định hướng quan trọng của ngành ngân hàng nói chung và ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng là trong thời gian tới phải mở rộng và phát triển nghiệp vụ này, bắt kịp yêu cầu của nền kinh tế.
Sau một thời gian tìm hiểu về thực trạng dịch vụ thẻ tại Việt Nam cũng như nhận thấy được tầm quan trọng, tính hấp dẫn cũng như sự cần thiết về dịch vụ thẻ tại Việt Nam cũng như tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, trong thời gian thực tập tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Ngô Quyền, được sự hướng dẫn tận tình của các cán bộ ngân hàng, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Ngô Quyền.” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Khóa luận được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thẻ ngân hàng.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Ngô Quyền. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Ngô Quyền.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Thạc sỹ Cao Thị Thu đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành bài khóa luận này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ nhân viên Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Ngô Quyền đã quan tâm và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tìm hiểu đề tài này.
Do hiểu biết còn hạn chế, kiến thức thực tế chưa nhiều và thời gian nghiên cứu có hạn nên bài viết của em không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, em mong sẽ nhận được sự góp ý của thầy cô giáo để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ NGÂN HÀNG
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Để đưa ra được một định nghĩa về ngân hàng thương mại, người ta thường phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại.
Theo Luật của các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam: Ngân hàng là tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Mặc dù có nhiều các thể hiện khác nhau, nhưng khi phân tích khai thác nội dụng của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các Ngân hàng thương mại đều có chung một tính chất, đó là: Việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng.
1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng thương mại. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Nhìn một cách tổng thể, các ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh với ba hoạt động chính là: Hoạt động huy động vốn; Hoạt động cho vay; Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng. Mỗi hoạt động đều có một vị trí và tác dụng khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung và tổng quát của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào, đó là đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với hiệu quả cao nhất.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Vốn huy động là công cụ chính đối với các hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các Ngân hàng thương mại sử dụng tốt nguồn vốn này thì không những nguồn lợi của ngân hàng được tăng lên mà còn tạo cho ngân hàng uy tín ngày càng cao. Qua đó ngân hàng có thể mở rộng được vốn và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm: Tiền gửi doanh nghiệp, tiền gửi dân cư và phát hành giấy tờ có giá.
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng
Là hoạt động kinh doanh chủ yếu và tạo khả năng sinh lời cao cho ngân hàng. Trong tổng tài sản có thì hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn nhất. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Hoạt động cho vay bao gồm các khoản sinh lời thông qua cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn:
- Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay nhằm giải quyết thiếu hụt vốn tạm thời trong kinh doanh của khách hàng. Cho vay ngắn hạn chủ yếu đầu tư vào tài sản lưu động. Ở Việt Nam hiện nay thường cho vay ngắn hạn theo hai phương thức:
- Cho vay theo hạn mức: Áp dụng cho những khách hàng vay trả thường xuyên có vòng quay vốn nhanh.
- Cho vay từng lần: Áp dụng cho những khách hàng vay trả thường xuyên và có vòng quay vốn chậm.
- Cho vay trung và dài hạn: Là hình thức cho vay mà tiền vay được cấu tạo vào tài sản cố định. Đây là loại cho vay có thể nhận trực tiếp bằng tiền hoặc cho vay thông qua tài sản – nghiệp vụ cho thuê tài chính.
Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận cơ bản cho ngân hàng, nhưng đồng thời nó cũng mang lại rủi ro rất cao cho nên ngân hàng luôn xem xét kỹ lưỡng tới từng món vay và từng đối tượng khách hàng vay để chỉ đảm bảo an toàn cho các khoản vay.
1.1.2.3. Hoạt động đầu tư
Các Ngân hàng thương mại thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường… với mục đích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh.
1.1.2.4. Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng
Kinh doanh dịch vụ ngân hàng được coi là nghiệp vụ trung gian, nó không ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn và cũng không ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng, đầu tư Kinh doanh dịch vụ ngân hàng, không những làm cho các ngân hàng thương mại trở thành các ngân hàng “đa năng” mà còn qua hoạt động dịch vụ sẽ tạo ra một phần thu nhập khá lớn với chi phí thấp. Trong thực tế, ngân hàng nào mở rộng hoạt động dịch vụ thì kết quả kinh doanh sẽ tốt hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên, chỉ những ngân hàng lớn hiện đại, mạng lưới rộng quan hệ đại lý với nhiều ngân hàng trong và ngoài nước… mới có khả năng và điều kiện để phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẺ Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán.
Nhân loại đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển và mỗi một giai đoạn lịch sử lại có một hình thái tiền tệ tương ứng. Trước đây khi xã hội chưa phát triển người ta dùng những hình thức tiền tệ giản đơn như vỏ sò, vỏ hến hay những vật giá trị khác làm vật trao đổi, tiếp đến là việc sử dụng vàng, bạc và tiền giấy làm phương tiện lưu thông và cất trữ. Ngày nay hình thái tiền tệ ngày càng đa dạng về hình thức và chủng loại. Thẻ – tiền điện tử được coi là phương tiện thanh toán hiện đại nhất thế giới hiện nay, ra đời và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong ngân hàng.
Là một lĩnh vực kinh doanh tương đối mới mẻ nhưng thẻ cũng có lịch sử hình thành và phát triển trong suốt mấy thập kỷ qua. Quan hệ giữa khách hàng và cơ sở cung ứng hàng hóa dịch vụ là tâm điểm của kinh doanh thẻ.
Vào đầu những năm 40, một số cơ sở tư nhân lớn mở rộng dịch vụ bán chịu cho khách hàng và cho phép họ trả tiền hàng hóa dịch vụ vào tài khoản của mình. Nhiều cơ sở cung ứng hàng hóa dịch vụ cũng muốn thực hiện dịch vụ này nhưng họ nhân thấy không đủ khả năng. Điều đó tạo cơ hội cho các tổ chức tài chính và ngân hàng vào cuộc.
Hình thức sơ khai của thẻ là Charg – it, một hệ thống mua bán chịu do John Biggins sáng lập ra năm 1946. Hệ thống này cho phép khách hàng trả tiền cho các giao dịch mua bán lẻ tại địa phương. Các cơ sở chấp nhận thẻ nộp biên lai bán hàng vào nhà băng của Biggins, nhà băng sẽ trả tiền cho họ và thu lại từ khách hàng đã sử dụng Charg – it.
Năm 1951, ngân hàng Franklin National Bank ở Long Island New York đã cho ra đời thẻ tín dụng. Tại đây các khách hàng đệ đơn xin vay và được thẩm định khả năng thanh toán. Các khách hàng có đủ tiêu chuẩn sẽ được duyệt cấp thẻ. Thẻ này dùng cho các thương vụ bán lẻ hàng hóa và dịch vụ. Khi thanh toán, cơ sở cung ứng hàng hóa dịch vụ sẽ ghi các thông tin về khách hàng trên thẻ vào hóa đơn bán hàng. Sau đó nhà phát hành thẻ thanh toán lại cho cơ sở cung ứng hàng hóa dịch vụ có chiết khấu một tỷ lệ nhất định để bù đắp những chi phí của khoản vay. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Trong những năm sau đó, ngày càng nhiều các tổ chức tham gia vào thị trường thẻ ngân hàng. Vào năm 1959, một số ngân hàng phát hành thẻ tín dụng đã cung ứng thêm một dịch vụ mới đó là thẻ tín dụng tuần hoàn. Với dịch vụ này, các chủ thẻ có thể duy trì số dư có trên tài khoản vay bằng một hạn mức tín dụng nếu họ hoàn thành việc thanh toán hàng tháng. Khi đó số tiền thanh toán hàng tháng của chủ thẻ sẽ được cộng thêm một khoản phí tính từ những khoản vay của chủ thẻ.
Vào năm 1960, Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ đầu tiên của mình – BANKAMERICARD. Thẻ BANKAMERICARD phát triển rộng khắp vào những năm tiếp theo và đạt được rất nhiều thành công. Những thành công của BANKAMERICARD đã thúc đẩy các nhà phát hành thẻ khác trên khắp nước Mỹ bắt đầu tìm kiếm phương thức cạnh tranh với loại thẻ này.
- Năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ liên kết với nhau thành tổ chức Interbank – một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ.
- Năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên của họ từ California Bankcard Association thành Western State Bankcard Association (WSBA). WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức WSBA là MASTERCHARGE. Tổ chức WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và thương hiệu của MASTERCHARGE.
- Năm 1977, tổ chức thẻ BANKAMERICARD đổi tên thành VISA International.
- Năm 1979, MASTERCHARGE đổi tên thành MASTERCARD.
- Sau đó, ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính của các nước tham gia vào chương trình thẻ ngân hàng.
- Ngoài các sản phẩm thẻ ở trên, còn một số các sản phẩm thẻ khác được hình thành như American Express (1958), Dinner Club (1950), JCB (1961).
Ngày nay, thẻ ngân hàng đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới với những hình thức và chủng loại đa dạng, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng. Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế là VISA và MASTER, một loạt các tổ chức thẻ mang tính quốc tế khác nối tiếp xuất hiện như: JCB, American Epress, Airplus, Maestro, Eurocard,… Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ. Các ngân hàng và công ty tài chính luôn tìm cách cải thiện sao cho càng ngày thẻ càng dễ sử dụng và cung cấp những dịch vụ thanh toán tiện lợi nhất cho người tiêu dùng. Hiện nay, người sử dụng thẻ có thể sử dụng thẻ trên hầu hết các nước trên thế giới, họ không còn lo việc chuyển đổi sang đồng tiền nội địa khi đi ra nước ngoài.
1.2.2. Nội dung cơ bản về thẻ. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
1.2.2.1. Khái niệm thẻ thanh toán:
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, được cung cấp bởi ngân hàng hoặc các công ty lớn. Thẻ được dùng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không dùng tiền mặt. Thẻ cũng được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. Số tiền thanh toán hay rút ra phải nằm trong phạm vi số dư trong tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng ngân hàng cho phép.
1.2.2.2. Đặc điểm cấu tạo của thẻ.
Thẻ dù do bất cứ tổ chức nào phát hành đều được làm bằng plastic, có 3 lớp ép sát, lõi thẻ được làm bằng nhựa trắng cứng nằm giữa hai lớp tráng mỏng. Thẻ có kích thước chung theo tiêu chuẩn quốc tế là 5,5 cm x 8,5 cm. Trên thẻ phải có đủ các thông tin sau:
Mặc trước của thẻ gồm:
- Nền thẻ, màu thẻ do Ngân hàng chọn và tùy thuộc vào hạng thẻ do Ngân hàng quy định.
- Tên và logo của Ngân hàng phát hành, huy hiệu và biểu tượng của của tổ chức thẻ quốc tế.
- Đối với thẻ chip thì chip sẽ được bố trí ở mặt trước.
- Số thẻ.
- Ngày hiệu lực của thẻ.
- Họ tên chủ thẻ, tên công ty (nếu là thẻ của công ty).
- Các đặc tính để tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo.
Mặt sau của thẻ có băng từ ghi lại những thông tin sau:
- Số thẻ
- Tên chủ thẻ
- Thời hạn hiệu lực
- Bảng lý lịch ngân hàng
- Mã số bí mật
- Ngày giao dịch cuối cùng
- Mức rút tối đa và số dư
- Ô chữ ký: dành cho chủ thẻ ký chữ ký mẫu để đơn vị chấp nhận thẻ kiểm tra khi sử dụng
- Một số hướng dẫn đối với chủ thẻ, điện thoại liên lạc…
Hình 1.1: Mặt trước và sau của thẻ Visa Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Ngoài ra thẻ còn có thể có thêm một số yếu tố khác theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ… Các ngân hàng khi phát hành thẻ thường sử dụng những thiết bị mang tính công nghệ cao để đảm bảo tính an toàn cho thẻ.
1.2.2.3. Các chủ thể tham gia trong quá trình phát hành và thanh toán thẻ.
1.2.2.3.1 Tổ chức thẻ quốc tế:
Tổ chức thẻ quốc tế là Hiệp Hội các tổ chức tài chính tín dụng, tham gia phát hành và thanh toán thẻ quốc tế. Một số tổ chức thẻ quốc tế hiện nay như: tổ chức thẻ Visa, tổ chức Mastercard, Công ty thẻ American Express, Công ty thẻ JCB, Công ty thẻ Diners Club.
Tổ chức thẻ quốc tế có nhiệm vụ đứng ra liên kết các thành viên, đặt ra các quy định bắt buộc các thành viên phải tuân theo, thông nhất thành một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàng nào hiện nay tham gia trong lĩnh vực thanh toán thẻ quốc tế đều phải gia nhập vào tổ chức thẻ quốc tế.
1.2.2.3.2 NH phát hành thẻ:
Là thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ quốc tế, là ngân hàng cung cấp thẻ cho khách hàng.
Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng cho chủ thẻ.
1.2.2.3.3 NH thanh toán thẻ:
Là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các cơ sở tiếp nhận và thanh toán các chứng từ giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình. Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò thanh toán thẻ vừa đóng vai trò phát hành.
1.2.2.3.4 Đơn vị chấp nhận thẻ:
Là các thành phần kinh doanh hàng hóa và dịch vụ có ký kết với ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thanh toán thẻ như: nhà hàng, khách sạn… Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
1.2.2.3.5 Chủ thẻ:
Là người có tên ghi trên thẻ được dùng thẻ để thực hiện mọi dịch vụ tiện ích của thẻ cung cấp. Chỉ có chủ thẻ mới sử dụng thẻ của mình mà thôi.
Mỗi khi thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ về hàng hóa dịch vụ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo quy trình và lập biên lai thanh toán.
1.2.2.3.6 Trung tâm thẻ:
Là phòng quản lý thẻ Trung ương, đại diện của các ngân hàng trong quan hệ đối ngoại trực tiếp về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ với các tổ chức thẻ quốc tế và các ngân hàng khác.
Chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động phát hành, cấp phép, tra soát thanh toán thẻ và quản lý rủi ro. Đồng thời là trung tâm điều hành và thanh toán thẻ giữa các chi nhánh trong hệ thống của NH.
1.2.2.4. Phân loại thẻ.
Hiện nay trên thị trường, thẻ ngân hàng lưu hành rất đa dạng và phòng phú, để phân loại ta có thể dựa trên nhiều tiêu thức. Tuy nhiên việc phân loại chỉ mang tính tương đối, chủ yếu để thuận tiện cho công tác phân tích.
- A, Phân loại theo đặc tính kỹ thuật.
Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): Được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với băng từ chứa 2 rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến tuy nhiên nó có một số nhược điểm sau:
Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa được, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính.
Thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Do đó, trong những năm gần đây thẻ đã bị lợi dụng lấy cắp tiền.
Thẻ thông minh (Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một “chíp” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chíp” điện tử là khác nhau. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Hiện nay, thẻ thông minh được sử dụng rất phổ biến trên thế giới vì có ưu điểm về mặt kỹ thuật độ an toàn cao, khó làm giả được, ngoài ra còn làm cho quá trình thanh toán thuận tiện, an toàn và nhanh chóng hơn.
- B, Phân loại theo chủ thể phát hành:
Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): Đây là loại thẻ do ngân hàng cung cấp cho khách hàng, giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình hoặc sử dụng số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
Thẻ này được phát triển rộng không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới.
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ du lịch hoặc giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như: Dinner Club, Amex… Đó cũng có thể là thẻ được phát hành bởi các công ty xăng dầu (Oil Company Card), các cửa hiệu lớn… Thẻ cũng được sử dụng trên phạm vi toàn cầu với các quy trình thanh toán không khác nhiều so với thẻ do ngân hàng phát hành.
- C, Phân loại theo tính chất thanh toán thẻ:
Thẻ tín dụng (Credit Card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng quy định không trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền sử dụng đúng thời hạn) để mua hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở, cửa hàng kinh doanh, khách sạn chấp nhận loại thẻ này.
Hiện nay có khoảng 900 triệu thẻ tín dụng đang được lưu hành trên thế giới, cụ thể là:
- Thẻ tín dụng Master Card quốc tế do tổ chức Master Card phát hành
- Thẻ tín dụng Visa quốc tế do ngân hàng Bank of America phát hành
- Thẻ tín dụng Amex do American Express phát hành
- Thẻ tín dụng JCB do tổ chức thẻ tín dụng của Nhật phát hành
- Thẻ ghi nợ (Debit Card): Đây là loại thẻ có liên quan trực tiếp với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Loại thẻ này khi mua hàng hóa dịch vụ, giải trí… những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ và đồng thời ghi có ngay (chuyển ngân ngay) vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó. Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản sau:
- Thẻ on-line: Là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ.
Thẻ off-line: Là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày.
- Thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng có một số điểm khác biệt rõ rệt: Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Với thẻ tín dụng, khách hàng chi tiêu theo hạn mức tín dụng do ngân hàng cấp, còn với thẻ ghi nợ, khách hàng chi tiêu trực tiếp trên tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng.
Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ là phương tiện thanh toán bình đẳng và dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, ngành nghề. Cả hai loại thẻ đều có thể giúp khách hàng tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra khi phải mang theo tiền mặt. Đặc biệt, thẻ tín dụng quốc tế là phương tiện thanh toán tiện lợi an toàn đối với những người thường xuyên đi công tác nước ngoài.
Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): Là một hình thức của thẻ ghi nợ song chỉ có một chức năng là rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền ký quỹ.
- D, Theo hạn mức tín dụng:
Thẻ vàng (Gold Card): Là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng có uy tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có những điểm khác nhau tùy thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng nhưng chung nhất vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
Thẻ thường (Standard Card): Đây là loại thẻ căn bản nhất, phổ biến đại chúng nhất, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Hạn mức tối thiểu tùy theo ngân hàng phát hành quy định.
- E, Theo phạm vi sử dụng thẻ:
Thẻ nội địa: Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa hay rút tiền mặt phải là đồng bản tệ của quốc gia đó. Loại thẻ này cũng có công dụng như những loại thẻ trên nhưng hoạt động của nó đơn giản hơn bởi nó chỉ do một tổ chức hay do một ngân hàng điều hành từ việc tổ chức phát hành đến xử lý trung gian, thanh toán và việc sử dụng thẻ bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia.
Thẻ quốc tế: Là loại thẻ thanh toán không chỉ dùng tại quốc gia nó được phát hành mà còn được dùng trên phạm vi quốc tế. Nó được hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn như Master Card, Visa… hoặc các công ty điều hành như Amex, JCB, Dinner Club… hoạt động trong một hệ thống nhất, đồng bộ.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách phân loại thẻ khác nhau nhưng các loại thẻ trên đều có đặc điểm chung là dùng để thanh toán hàng hóa và rút tiền mặt. Do vậy, một cách tổng quát người ta gọi là thẻ thanh toán.
1.2.3. Vai trò và lợi ích của thẻ. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
1.2.3.1. Vai trò của thẻ.
- Đối với nền kinh tế:
Thanh toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lượng tiền mặt rất lớn lẽ ra phải lưu chuyển trực tiếp trong lưu thông để thanh toán các khoản mua hàng, trả tiền dịch vụ trong cơ chế thị trường đang ngày càng sôi động, phát triển ở tất cả các nước, loại hình thanh toán này cũng không đòi hỏi nhiều thủ tục giấy tờ, do đó sẽ tiết kiệm được một khối lượng đáng kể về chi phí in ấn, chi phí bảo quản, vận chuyển… Với hình thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp nhà nước quản lý nền kinh tế cả về vi mô và vĩ mô. Việc áp dụng công nghệ hiện đại của việc phát hành và thanh toán thẻ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
- Đối với toàn xã hội:
Thẻ là một trong những công cụ hữu ích góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước. Thêm vào đó, chấp nhận thanh toán thẻ đã góp phần tạo môi trường thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư, cải thiện môi trường văn minh thương mại, thanh toán, nâng cao hiểu biết của dân cư về các ứng dụng công nghệ tin học trong phục vụ đời sống. Hơn nữa thanh toán thẻ tạo điều kiện cho sự hòa nhập của quốc gia đó vào cộng đồng quốc tế và nâng cao hệ số an toàn xã hội trong lĩnh vực tiền tệ.
1.2.3.2. Lợi ích của thẻ.
- Đối với chủ thẻ:
Tiện lợi: Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, để rút tiền mặt hoặc tiếp nhận một số dịch vụ ngân hàng tại các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ, máy ATM, các ngân hàng thanh toán thẻ trong và ngoài nước. Khi dùng thẻ thanh toán, chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau (đối với thẻ tín dụng), hoặc có thể thực hiện dịch vụ mua bán hàng hóa tại nhà…
An toàn: Các loại thẻ thanh toán làm bằng công nghệ cao, chủ thẻ được cung cấp mã số cá nhân nên đảm bảo bí mật tuyệt đối, các khoản tiền được chuyển trực tiếp vào tài khoản cho nên tránh mất mát hoặc trộm cắp.
Linh hoạt: Khi sử dụng thẻ tín dụng có thể giúp khách hàng điều chỉnh các khoản chi tiêu một cách hợp lí trong một khoảng thời gian nhất định với hạn mức tín dụng, tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong tiêu dùng, sinh hoạt cũng như sản xuất.
- Đối với cơ sở chấp nhận thẻ: Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Cung ứng dịch vụ có chấp nhận thanh toán thẻ sẽ giúp bán được nhiều hàng hơn, do đó tăng doanh số, giảm chi phí bán hàng, tăng lợi nhuận. Đồng thời chấp nhận thanh toán bằng thẻ góp phần làm cho nơi bán hàng trở nên văn minh, hiện đại, tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng khi đến giao dịch, thu hút được nhiều khách hàng đến với cửa hàng. Các khoản tiền bán hàng được chuyển trực tiếp vào tài khoản ngân hàng do đó an toàn và thuận tiện hơn trong quản lý tài chính kế toán.
- Đối với ngân hàng:
Ngân hàng phát hành thẻ: Thực hiện tham gia thanh toán thẻ, ngân hàng có thể đa dạng hóa các dịch vụ của mình, thu hút được những khách hàng mới làm quen với dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp, vừa giữ được những khách hàng cũ. Mặt khác thông qua hoạt động phát hành, thanh toán thẻ ngân hàng có thể thu hút một nguồn vốn lớn để bổ sung vào nguồn vốn ngắn hạn từ hoạt động thu phí và lãi do việc phát hành thẻ mang lại. Cũng thông qua đó, uy tín và danh tiếng của ngân hàng được nâng lên nhờ việc cung cấp các dịch vụ đầy đủ (full service).
Ngân hàng thanh toán thẻ: Ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng mình, sử dụng các sản phẩm do ngân hàng cung cấp. Từ đó làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận thông qua hoạt động thu phí chiết khấu đại lý từ hoạt động thanh toán đại lý. Qua đó cũng làm tăng uy tín của ngân hàng trong nền kinh tế.
1.2.4. Hoạt động kinh doanh thẻ tại các ngân hàng thương mại.
1.2.4.1. Cơ chế phát hành thẻ:
- Hình thức phát hành thẻ:
Thẻ ngân hàng ra đời gắn với nó là hai hình thức phát hành thẻ đã được áp dụng:
Phát hành đơn lẻ: Đây là hình thức phát hành đầu tiên khi thẻ ra đời. Việc phát hành thanh toán và các điểm tiếp nhận thẻ thuộc về một ngân hàng. Tiện ích thanh toán của thẻ phụ thuộc vào phạm vi của những điểm tiếp nhận thẻ có ký hợp đồng với ngân hàng phát hành. Đối với ngân hàng, chi phí cho việc phát hành thẻ và phát triển mạng lưới chấp nhận thẻ là rất lớn. Như vậy sẽ làm giảm lợi nhuận và lợi ích của việc kinh doanh thẻ cho ngân hàng. Chính vì những nhược điểm này mà hệ thống thanh toán liên ngân hàng đã được thành lập. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Phát hành tập thể: Hai tổ chức thanh toán thẻ quốc tế MASTERCARD và VISACARD được thành lập cuối những năm 1970 đã đặt ra một mốc quan trọng cho sự phát triển lớn mạnh của thẻ với cơ cấu tổ chức nhiều ngân hàng thanh toán và phát hành rộng khắp thế giới, phạm vi thanh toán thẻ không có giới hạn. Các ngân hàng thành viên (gồm hai loại: thành viên chính thức và thành viên trực thuộc) được ủy quyền phát hành và thanh toán thẻ có biểu tượng chung của tổ chức. Với điểm chi phí phát hành thẻ thấp, khả năng lưu hành rộng rãi, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng và cho các bên tham gia thanh toán thẻ. Ngày nay, phát hành thẻ tập thể là hình thức phát hành phổ biến nhất thế giới.
1.2.4.2. Cơ sở pháp lý và nguyên tắc phát hành thẻ:
Thẻ được phát hành dựa trên cơ sở pháp lý của nhà nước sở tại theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế. Ngoài ra, còn được phát hành theo nguyên tắc mà ban giám đốc ngân hàng phát hành (Giám đốc – Tổng giám đốc) quy định.
Là một hình thức cấp tín dụng (nếu là thẻ tín dụng) nên thẻ phải được phát hành trên cơ sở có đảm bảo: khách hàng cần phải đáp ứng các yêu cầu về tín chấp và thế chấp. Nguồn vốn cho vay phải là nguồn vốn ngắn hạn.
Trong trường hợp thanh toán quốc tế, hạn mức thanh toán ngoại tệ vẫn phải tuân thủ theo chính sách ngoại hối và quản lý ngoại hối của Ngân hàng Trung ương mỗi nước về mức thanh toán, điều khoản thanh toán, mức được pháp thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài.
Các quy định về đồng tiền phát hành, đồng tiền thanh toán phải tuân thủ theo các điều kiện mà các Ngân hàng Trung ương quy định.
Sau khi phát hành, thẻ được gửi đến chủ thẻ, chi nhánh phát hành không được làm lộ mã số cá nhân (PIN – Personal Identification Number) của chủ thẻ. Mọi rủi ro phát sinh trong khi chủ thẻ chưa nhận được thẻ đều do ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm.
Việc in ấn, nạp thông tin vào thẻ được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định về thẩm định và các thông tin thẻ cần thiết.
1.2.4.3. Thủ tục phát hành thẻ.
- Việc phát hành thẻ cơ bản tuân theo quy trình sau: Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Bước 1: Khách hàng gửi đơn, hồ sơ cần thiết yêu cầu được sử dụng thẻ đến ngân hàng và phải đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng về độ tuổi, thu nhập. Đồng thời, khách hàng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết như họ tên, địa chỉ, cơ quan công tác, số chứng minh thư… cho ngân hàng.
Bước 2: Ngân hàng căn cứ vào hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ của khách hàng, bộ phận thẩm định sẽ tiến hành thẩm tra hồ sơ và ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối phát hành. Với những hồ sơ được chấp nhận, chi nhánh phát hành thẻ tiến hành gửi hồ sơ, hợp đồng ký kết với trung tâm thẻ, đồng thời xác định hạn mức cho khách hàng.
Bước 3: Trung tâm thẻ sẽ tiến hành mở tài khoản thẻ cho khách hàng cập nhật hồ sơ và tiến hành in thẻ. Sau khi xác định số PIN, thẻ được giao lại cho bộ phận phát hành. Quy trình phát hành thẻ, đặc biệt là số PIN phải được đảm bảo giữ bí mật.
Sơ đồ 1.1: Thủ tục phát hành thẻ.
- Nhận hồ sơ khách hàng
- Thẩm định hồ sơ
- Mở hồ sơ chủ thẻ, tài khoản chủ thẻ, số thẻ và lưu vào file máy tính.
- Lưu hồ sơ gốc
- Gửi hồ sơ phát hành về trung tâm.
- Truyền file chủ thẻ đến trung tâm
Chi nhánh phát hành
1.2.4.4. Quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ.
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ ở mỗi quốc gia và mỗi một ngân hàng là khác nhau về thủ tục và các điều kiện, do còn nhiều yếu tố ràng buộc về luật pháp, chính trị, trình độ phát triển dân trí hay điều kiện kinh tế – xã hội. Song về tổng thể nó gồm những nội dung cơ bản sau:
1.2.4.4.1 Quy trình phát hành thẻ:
Sơ đồ 1.2 : Quy trình phát hành thẻ
- Bước 1: Khách hàng đến Ngân hàng phát hành đăng ký sử dụng thẻ.
- Bước 2: Ngân hàng phát hành tiếp nhận hồ sơ.
- Bước 3: Ngân hàng phát hành kiểm tra hồ sơ, thẩm định hạn mức tín dụng đối với thẻ thẻ tín dụng quốc tế.
- Bước 4: Ngân hàng phát hành xử lý dữ liệu của chủ thẻ vào hệ thống quản lý thẻ.
- Bước 5: Ngân hàng phát hành tiến hành phát hành thẻ. Trước khi giao thẻ, ngân hàng yêu cầu khách hàng ký tên và đăng ký chữ ký mẫu ở ngân hàng. Bằng kỹ thuật riêng, các thông tin cần thiết về chủ thẻ được in lên bề mặt thẻ và được mã hóa, đồng thời ấn định mã PIN cho chủ thẻ. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
- Bước 6: Ngân hàng phát hành giao nhận thẻ, mã PIN và hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ. Thời gian kể từ khi khách hàng đề nghị mua thẻ đến khi nhận được thẻ thường không quá 6 ngày.
1.2.4.4.2 Quy trình chấp nhận và thanh toán thẻ:
Đối với các loại thẻ khác nhau thì quy trình thanh toán có thể có một số khác biệt nhất định, nhưng nhìn chung đều có những điểm giống nhau cơ bản.
- Quy trình chấp nhận thanh toán thẻ qua Ngân hàng:
Sơ đồ 1.3 : Quy trình chấp nhận và thanh toán thẻ qua Ngân hàng.
- Bước 1: Chủ thẻ đến đơn vị chấp nhận thẻ thực hiện giao dịch
- Bước 2: Đơn vị chấp nhận thẻ đưa thẻ vào máy quét để nhập thông tin, thông tin này được gửi qua mạng thanh toán đến trung tâm xử lý của tổ chức thẻ quốc tế để xác định điều kiện thanh toán của thẻ.
- Bước 3: Khi thẻ được xác nhận có đủ điều kiện thanh toán, Tổ chức thẻ Quốc tế sẽ cấp phép.
- Bước 4: Đơn vị chấp nhận thẻ cung cấp hàng hoá dịch vụ cho chủ thẻ.
- Bước 5: Đơn vị chấp nhận thẻ gửi hóa đơn, chứng từ đến Ngân hàng thanh toán để thanh toán. Đồng thời Ngân hàng thanh toán truyền dữ liệu về Tổ chức thẻ Quốc tế và Tổ chức thẻ Quốc tế truyền dữ liệu đến Ngân hàng phát hành.
- Bước 6: Ngân hàng thanh toán tạm ứng tiền cho đơn vị chấp nhận thẻ.
- Bước 7: Tổ chức thẻ quốc tế gửi báo cáo và thu tiền từ Ngân hàng phát hành.
- Bước 8: Tổ chức thẻ quốc tế gửi báo cáo và thanh toán cho Ngân hàng thanh toán.
- Bước 9: Vào một ngày qui định trong tháng, Ngân hàng phát hành gửi sao kê cho chủ thẻ.
- Bước 10: Để tiếp tục sử dụng, chủ thẻ phải thanh toán các khoản đã chi tiêu bằng thẻ theo qui định cho ngân hàng phát hành.
Quy trình chấp nhận và thanh toán thẻ tại máy ATM:
Sơ đồ 1.4 : Quy trình rút tiền tại máy ATM.
- Bước 1: Chủ thẻ đưa thẻ vào và nhập số pin.
- Bước 2: Máy ATM hỏi dữ liệu tại trụ sở chính Ngân hàng phát hành.
- Bước 3: Nếu hợp lệ, Ngân hàng phát hành thông báo về máy ATM.
- Bước 4: Máy ATM yêu cầu khách chọn loại hình giao dịch.
- Bước 5: Sau khi chủ thẻ chọn giao dịch, máy đưa ra chọn lựa tiếp theo cho từng loại giao dịch. Nếu là giao dịch rút tiền, máy ATM yêu cầu nhập số tiền rút. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
- Bước 6: Máy ATM báo về hệ thống ngân hàng lõi để trừ tiền trong tài khoản.
- Bước 7: Sau khi trừ tiền, hệ thống gửi lệnh trả tiền đến máy ATM.
- Bước 8: Máy ATM đếm tiền và chi trả cho khách hàng.
1.2.4.5. Thu nhập và chi phí trong kinh doanh thẻ:
1.2.4.5.1. Thu nhập trong kinh doanh thẻ.
Với tính chất là một dịch vụ, thẻ đã mang lại cho ngân hàng nhiều nguồn thu khác nhau. Đầu tiên, phải kể đến các khoản phí thường niên mà chủ thẻ phải nộp theo hợp đồng sử dụng thẻ. Khoản phí này thực tế không nhiều và chỉ đóng góp chút ít vào những khoản thu nhập của ngân hàng. Tuy vậy, có thể nói rằng ngân hàng luôn luôn có lợi khi thực hiện giao dịch thẻ.
Khoản thu nhập thứ hai tương đối ổn định mà ngân hàng thu được đó là từ các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối với các cơ sở chấp nhận thẻ thì khoản phí này được coi là phí cho mỗi đồng doanh thu có được từ việc chấp nhận thanh toán thẻ. Đây được coi như khoản chiết khấu thương mại. Ngoài ra, khách hàng cũng phải trả một khoản lãi nếu như không thanh toán đầy đủ theo sao kê. Khoản phí chậm trả mà ngân hàng áp dụng đối với các chủ thẻ ứng với mỗi sao kê, ngân hàng buộc chủ thẻ phải thanh toán một khoản tối thiểu, phần còn lại sẽ áp dụng mức phí chậm trả mà thực chất là lãi quá hạn.
Khoản thu lớn nhất mà ngân hàng thu được là từ khoản phí do thực hiện thanh toán do các tổ chức tín dụng khác hoặc cho các tổ chức phát hành thẻ.
Khoản phí này được gọi là phí đại lí thanh toán. Ngoài ra còn có các loại phí gia hạn mức tín dụng, phí tra soát, phí cấp lại thẻ bị mất cắp, thất lạc…
Tất cả các khoản thu này mang lại một tỷ lệ sinh lời khá cao, lên tới 20% mỗi năm cho ngân hàng, tạo sức hấp dẫn cho những người kinh doanh thẻ. Tỷ lệ sinh lời trên kinh doanh thẻ vượt lên trên tất cả các loại hình kinh doanh khác với 1% răng trưởng về quy mô thị trường và gắn liền với nó là sự tăng trưởng mạnh mẽ về lợi nhuận trong kinh doanh.
1.2.4.5.2. Chi phí trong kinh doanh thẻ.
Bên cạnh những khoản thu từ hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, kinh doanh thẻ cũng phải bỏ ra nhiều loại chi phí, bao gồm: Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Chi phí trong trang bị máy móc thiết bị cho các cơ sở chấp nhận thẻ. Đây là khoản chi phí liên quan đến tài sản cố định của ngân hàng. Với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, chi phí này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí kinh doanh thẻ bởi tốc độ hao mòn của máy móc thiết bị. Đây là một khó khăn tương đối lớn cho việc phát triển thị trường thẻ bởi phần lớn thiết bị đều phải nhập từ nước ngoài có trình độ khoa học kỹ thuật cao.
Chi phí in ấn và mã hóa thông tin, quản lý hồ sơ khách hàng: khoản chi này tương đối ổn định và chiếm một tỷ trọng nhỏ.
- Lệ phí tham gia tổ chức thẻ quốc tế: khoản này được cố định hàng năm và được tổ chức thẻ quốc tế quy định.
- Tiền lương công nhân viên tham gia hoạt động kinh doanh thẻ: khoản này tương đối ổn định, có thể tăng theo mức tăng của doanh số kinh doanh thẻ nhưng mức tăng của nó sẽ chậm hơn mức tăng trưởng của doanh số thanh toán. Chính vì vậy mà tỷ trọng lương và các khoản phúc lợi xã hội sẽ giảm tương đối so với tỷ trong chi phí kinh doanh thẻ.
- Các chi phí khác bao gồm: Chi phí bảo hiểm liên quan đến tài sản cố định, các khoản phải trả lãi cho các số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng và các chi phí liên quan khác, chi phí cho việc quảng cáo, marketing sản phẩm thẻ…
Ngoài ra, nếu ngân hàng không phát hành đủ số thẻ ký kết hàng năm với tổ chức thẻ quốc tế thì ngân hàng còn phải chịu phạt một khoản tiền tương ứng với số phát hành theo hợp đồng.
Có thể nói chi phí cho hoạt động kinh doanh thẻ là rất lớn, chính vì vậy quản lý các chi phí là một công việc không thể thiếu trong kinh doanh thẻ.
1.2.4.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát hành và thanh toán thẻ.
1.2.4.6.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát hành thẻ
- Trình độ dân trí và sự phát triển của nền kinh tế
Trình độ dân trí là một yếu tố quan trọng để đánh giá sự phát triển của một xã hội. Trình độ dân trí cao đồng nghĩa với một nền kinh tế phát triển về mọi mặt, tiếp cận được với nền văn minh thế giới, ứng dụng được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại phục vụ cho những nhu cầu cần thiết của đời sống. Do đó, khi trình độ dân trí phát triển sẽ giúp cho mỗi cá nhân có thể dễ dàng tiếp cận với các phương tiện thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn nhất – thẻ thanh toán. Thẻ là một phương tiện thanh toán đa tiện ích, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì doanh số phát hành thẻ sẽ tăng cao.
- Quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Ngân hàng phát hành phải có một quy mô hoạt động rộng và uy tín cao tại thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Đồng thời phải có mối quan hệ với các tổ chức thẻ Quốc tế trên thế giới, có hệ thống các phương tiện cập nhật nhanh chóng, hiện đại, an toàn… Có như vậy thì sản phẩm thẻ của ngân hàng mới có thể cạnh tranh được trên thị trường một cách mạnh mẽ.
- Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được xem là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát hành thẻ. Một môi trường pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ, đầy đủ, hiệu lực sẽ đam bảo đầy đủ quyền lợi của các bên tham gia vào quá trình phát hành thẻ.
1.2.4.6.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh toán thẻ
- Thu nhập của người dùng thẻ
Thu nhập ảnh hưởng tới mức sống. Khi có thu nhập cao đồng nghĩa với nhu cầu chi tiêu mua sắm của con người sẽ nhiều hơn và phong phú hơn. Lúc đó thẻ thanh toán sẽ đáp ứng được nhu cầu mua sắm hàng hóa của con người. Khi mức sống được nâng cao, nhu cầu du lịch, giải trí của con người cũng cao hơn. Lúc đó thẻ thanh toán trở thành phương tiện hữu hiệu để đáp ứng các nhu cầu này. Do đó, thu nhập của người dùng thẻ càng cao thì nhu cầu thanh toán bằng thẻ càng nhiều hơn.
- Trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng
Thanh toán thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại. Vì vậy, nếu ngân hàng đã đưa các dịch vụ thẻ của mình thì đồng nghĩa với việc ngân hàng đó phải có một công nghệ tiên tiến hiện đại. Khi có trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành, bảo dưỡng và duy trì hệ thống máy móc phục vụ cho phát hành và thanh toán thẻ mới có hiệu quả cao, tiết kiệm được giá thành phục vụ và thu hút được nhiều người sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
- Thói quen tiêu dùng của người dân
Thói quen tiêu dùng chính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thẻ. Điều này sẽ tạo ra một môi trường thanh toán cho thẻ. Nếu như thẻ thanh toán được sử dụng rộng rãi và trở thành thói quen tiêu dùng của người dân sẽ giúp cho thẻ thanh toán có cơ hội phát triển và phát huy được hiệu quả của mình, đồng thời sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước, Chính phủ dễ dàng trong việc thực hiện các chính sách kinh tế, tiền tệ.
- Số lượng các đơn vị chấp nhận thẻ
Số các đơn vị chấp nhận thẻ đóng vai trò rất quan trọng trong nghiệp vụ thanh toán thẻ, đây là cầu nối giữa ngân hàng và chủ thẻ trong hoạt động thanh toán. Một mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ đa dạng, chất lượng sẽ giúp cho người chủ thẻ thuận tiện hơn trong việc sử dụng thẻ và là điều kiện để hoạt động thanh toán thẻ phát triển mạnh mẽ.
- Các chính sách, biện pháp của Nhà nước Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Trong chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, Nhà nước luôn có những chính sách cụ thể để can thiệp vào nền kinh tế như thuế quan, hay những biện pháp cứng rắn đối với các ngành hay đối với từng địa phương nhằm duy trì một mặt bằng kinh tế chính trị của toàn xã hội.
1.2.4.7. Một số tiện ích khi sử dụng thẻ thanh toán.
- Đối với chủ thẻ:
Khi sử dụng thẻ, chủ thẻ đã được ngân hàng cung cấp một dịch vụ thanh toán có độ bảo mật cao, độ tiện dụng lớn. Ngày này, với trình độ kỹ thuật ngày càng cao, việc làm thẻ giả trở nên khó khăn hơn, điều này đồng nghĩa với việc các chủ thẻ có thể yên tâm về tài khoản thẻ của mình. Thêm nữa, khi những cơ sở thanh toán thẻ ngày càng nhiều, các máy ATM ngày cảng trở nên phổ biến, thẻ sẽ là một công cụ thanh toán lý tưởng cho các chủ thẻ.
Với việc ngân hàng có thẻ cấp tín dụng trước cho khách hàng để thanh toán hàng hóa dịch vụ mà không bị tính bất kỳ một khoản lãi nào, khách hàng đã đực ngân hàng giúp mở rộng khả năng thanh toán của mình. Ngoài ra, khi khách hàng có số dư trên tài khoản, nếu khách hàng không sử dụng, số dư này sẽ được hưởng mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
Ngoài ra, khi sử dụng thẻ, khách hàng không phải mang theo một lượng tiền mặt lớn. Việc dùng thẻ tín dụng hoặc thẻ thanh toán đảm bảo khả năng chi tiêu đa ngoại tệ, không bị lệ thuộc vào ngoại tệ của nước nào.
- Đối với ngân hàng phát hành:
Với khoản lệ phí hàng năm mà chủ thẻ phải nộp để hưởng dịch vụ do ngân hàng cung cấp, chủ thẻ đã tạo nên một nguồn thu ổn định cho ngân hàng phát hành.
Ngoài ra, việc chủ thẻ nạp tiền vào tài khoản để sử dụng thẻ, ngân hàng cũng có thêm một nguồn huy động tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng. Để có thể sở hữu thẻ, thông thường chủ thẻ phải có thế chấp hoặc có số dư tài khoản ở mức nhất định theo quy định của ngân hàng. Điều này đã làm số dư tiền gửi của ngân hàng tăng một cách đáng kể.
Việc đặt các máy ATM hay liên hệ với các cơ sở chấp nhận thẻ mới cũng góp phần mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng, điều này rất lợi khi ngân hàng chưa thể mở chi nhánh tại những địa bàn đó.
- Đối với ngân hàng thanh toán: Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Trong quy trình thanh toán thẻ, các cơ sở phát hành thường mở tài khoản tại các ngân hàng thanh toán để tiện cho việc thanh toán. Điều này đã làm tăng số dư tiền gửi và nguồn huy động cho ngân hàng thanh toán.
Với các loại phí trong thanh toán như: chiết khấu thương mại, phí rút tiền mặt, phí đại lý thanh toán… ngân hàng thanh toán sẽ có được một khoản thu tương đối ổn định.
1.2.4.8. Rủi ro trong kinh doanh thẻ.
Kinh doanh thẻ được coi là khá an toàn so với các loại hình dịch vụ khác của ngân hàng. Tuy vậy, đối với các tổ chức phát hành và thanh toán thẻ, việc phòng ngừa và quản lý rủi ro vẫn là một vấn đề rất quan trọng. Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ của ngân hàng nằm trong hai khâu: phát hành thẻ và thanh toán thẻ.
1.2.4.8.1. Rủi ro trong phát hành.
- Đơn xin phát hành với những thông tin giả (Fraudulment Application).
Ngân hàng có thể phát hành thẻ cho khách hàng với những thông tin giả mạo do không thẩm định kỹ các thông tin của khách hàng trên hồ sơ xin phát hành thẻ. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng tỷ lệ phát sinh loại rủi ro này là rất thấp, bởi vì trong thực tế, khác với nhiều loại hình kinh doanh khác, hợp đồng thẻ dễ kiểm chứng và có đảm bảo cao (có thế chấp và có số dư tiền gửi tại ngân hàng và có theo dõi dòng thu nhập của chủ thẻ). Trường hợp rủi ro này có thể dẫn đến các rủi ro về tín dụng cho ngân hàng phát hành khi chủ thẻ sử dụng thẻ mà không có khả năng thanh toán các khoản chi tiêu của họ, hoặc có những hành vi lừa đảo.
- Thẻ giả (Counterfiet Card).
Thẻ do các tổ chức tội phạm hoặc cá nhân làm giả căn cứ vào các thông tin có được từ các chứng từ giao dịch thẻ hoặc thẻ mất cắp, thất lạc. Theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành chịu hoàn toàn trách nhiệm với mọi giao dịch thẻ giả có mã số (PIN) của ngân hàng phát hành thẻ. Đây là loại rủi ro đặc biệt nguy hiểm và khó quản lý vì nằm ngoài sự tiên liệu của ngân hàng phát hành.
- Chủ thẻ không nhận được thẻ do ngân hàng phát hành gửi (Never Received Issue).
Rủi ro này phát sinh khi ngân hàng phát hành thẻ gửi thẻ cho chủ thẻ qua đường bưu điện nhưng thẻ bị đánh cắp trên đường gửi. Thẻ bị sử dụng trong khi chủ thẻ không hay biết gì về việc thẻ đã được gửi cho mình. Nếu không có biện pháp quản lý đảm bảo, ngân hàng phát hành phải chịu mọi rủi ro đối với giao dịch được thực hiện trong trường hợp này.
- Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (Account take over). Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Rủi ro này phát sinh tại thời điểm ngân hàng gia hạn hoặc phát hành thẻ. Ngân hàng phát hành nhận được thông báo về thay đổi địa chỉ của chủ thẻ và được yêu cầu gửi thẻ về địa chỉ mới. Do không kiểm tra tính xác thực của thông báo nên ngân hàng phát hành thẻ đã gửi thẻ đến địa chỉ theo yêu cầu nhưng thực ra đây không phải là yêu cầu của chủ thẻ đích thực. Tài khoản của chủ thẻ bị người khác lợi dụng. Điều này chỉ được phát hiện khi ngân hàng nhận được sự liên hệ của chủ thẻ về việc không nhận được thẻ hoặc khi ngân hàng yêu cầu thanh toán sao kê cho chủ thẻ. Trường hợp này dễ dẫn đến rủi ro cho cả ngân hàng và chủ thẻ.
1.2.4.8.2. Rủi ro trong khâu thanh toán:
Đây là khâu phát sinh rủi ro chính trong kinh doanh thẻ. Hàng loại thiệt hại của ngân hàng và các tổ chức thẻ quốc tế gần đây đều xảy ra trong khâu phát hành và thanh toán thẻ.
- Thẻ mất cắp, thất lạc (Lost – Stolen Card).
Chủ thẻ bị mất cắp hoặc bị thất lạc thẻ và thẻ được người khác sử dụng trước khi chủ thẻ kịp thông báo cho ngân hàng phát hành biết để có biện pháp hạn chế sử dụng hoặc thu hồi thẻ. Các tổ chức tội phạm có thể in nổi mã hóa lại thẻ để thực hiện các giao dịch về thẻ giả mạo. Trường hợp này dễ dẫn đến rủi ro cho chủ thẻ hoặc cho ngân hàng phát hành thẻ.
- Tạo băng từ giả (Skimming).
Đây là loại giả mạo giao dịch thẻ sử dụng công nghệ kỹ thuật cao trên cơ sở thu nhập thông tin trên băng từ của chủ thẻ thanh toán lại các cơ sở chấp nhận thẻ. Các tổ chức tội phạm làm thẻ giả sử dụng các phần mềm riêng rẽ để mã hóa và tạo các băng từ trên thẻ giả, sau đó sẽ thực hiện các giao dịch giả mạo. Trong trường hợp này dẫn đến các rủi ro cho ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Loại giả mạo này đang có xu hướng gia tăng ở các nước có hoạt động kinh doanh thẻ phát triển.
- Rủi ro về đạo đức.
Rủi ro này phát sinh khi nhân viên các cơ sở chấp nhận thẻ đã cố tình in ra nhiều bộ hóa đơn thanh toán thẻ, nhưng chỉ giao một bộ hóa đơn cho chủ thẻ ký thanh toán. Sau đó bộ hóa đơn in dư sẽ bị giả mạo chữ ký của khách hàng để yêu cầu ngân hàng thanh toán chi trả. Thiệt hại xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến ngân hàng thanh toán và ngân hàng phát hành.
Ngoài các rủi ro chính trên, còn một số nguy cơ rủi ro khác có thể xuất hiện nếu ngân hàng thành viên không chú trọng đúng mức tới việc quản lý hệ thống xử lý dữ liệu và quản trị hệ thống kỹ thuật.
1.2.4.9. Quản lý và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thẻ. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Để quản lý và phòng ngừa rủi ro, góp phần giảm tổn thất cho các ngân hàng thành viên, các tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng một hệ thống các quy tắc tiêu chuẩn về quản lý rủi ro và bảo mật cho các thành viên tuân thủ, một hệ thống nối mạng trực tiếp giữa các tổ chức thẻ quốc tế và các bên thành viên để xử lý, trao đổi thông tin và quản lý rủi ro trên toàn cầu. Bên cạnh đó, các tổ chức thẻ quốc tế đã tổ chức các chương trình dịch vụ hỗ trợ, các chương trình tập huấn đào tạo nghiệp vụ… nhằm nâng cao trình độ cũng như trợ giúp kỹ thuật và nghiệp vụ cho các ngân hàng thành viên phòng ngừa và quản lý rủi ro.
Tuy vậy, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc quy định của tổ chức thẻ quốc tê, bản thân các ngân hàng thành viên phải có sự quan tâm đúng mức đối với vấn đề quản lý và phòng ngừa rủi ro. Nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro, ngân hàng phát hành phải thẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ cũng như quy định về thế chấp, cầm đồ, bảo lãnh. Trước khi cấp thẻ tín dụng, ngân hàng phát hành phải ký hợp đồng với khách hàng và gửi thẻ đã phát hành đến đúng chủ thẻ.
Ngân hàng phát hành có trách nhiệm hướng dẫn chủ thẻ hiểu biết thông thạo các điều khoản trong hợp đồng sử dụng thẻ, cách sử dụng thẻ và lưu giữ hóa đơn khi thanh toán hàng hóa hoặc tạm ứng tiền mặt tại quầy. Chủ thẻ nắm vững cách bảo quản và bảo mật thẻ, thủ tục thanh toán sao kê, thủ tục liên hệ với ngân hàng phát hành khi thẻ bị mất cắp, thất lạc hoặc khi có sự thay đổi địa chỉ liên hệ cũng như các thủ tục giải quyết tranh chấp, khiếu nại.
Các ngân hàng cần phải mua bảo hiểm cho nghiệp vụ thẻ hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp cho rủi ro phát sinh từ nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ.
Tóm lại, hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng chứa đựng rất nhiều rủi ro, do đó để nâng cao chất lượng trong kinh doanh thẻ, giảm mất mát và tối đa hóa thu nhập, ngân hàng cần đặc biệt chú trọng vào công tác phòng chống rủi ro.
1.2.4.10. Triển vọng phát triển thẻ trên thị trương Việt Nam.
Thị trường thanh toán thẻ ở Việt Nam được đánh giá là rất tiềm năng.
Với việc liên tục phát hành thẻ mới, tăng thêm tiện ích và phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng kèm theo. Các ngân hàng đang tích cực đầu tư và khai thác thị trường bán lẻ đầy tiềm năng vốn được xem là ít rủi ro nhưng hiệu quả và mang lại uy tín lớn cho ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
Trước sự bùng nổ nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực thẻ ngân hàng nói riêng, việc các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung ứng những sản phẩm đa dạng hướng tới từng đối tượng khác nhau có một nghĩa cực kỳ quan trọng. Với dân số gần 90 triệu dân, nền kinh tế tăng trưởng ở mức 6 – 7%/năm, cơ cấu dân số tương đối trẻ, Việt Nam đang nổi lên như một thị trường giàu tiềm năng cho những sản phẩm thẻ mới.
Quyết định 20 về việc chi trả lương qua tài khoản Ngân hàng đã tạo động lực cho sự phát triển của thị trường thẻ nói riêng và thị trường kinh doanh thương mại nói chung.
Theo các chuyên gia nhận định, thị trường thẻ Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng và các ngân hàng hiện mới khai thác được một phần rất nhỏ trong một thị trường rộng lớn. Do đó nhiệm vụ của các ngân hàng lúc này không phải là cạnh tranh mà phải liên kết với nhau, tích cực tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới để khai thác một cách có hiệu quả nhất và giúp cho thẻ thanh toán được phổ biến rộng rãi trên thị trường. Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank


Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank
Khóa luận: Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại VietinBank