Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động của các ngân hàng thương mại đóng một vai trò hết sức quan trọng cho nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại có nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau như: hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động ngân quỹ… trong đó hoạt động tín dụng luôn là hoạt động truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao và đóng vai trò rất lớn trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập của mỗi ngân hàng thương mại. Do đó,để có thể tồn tại và phát triển các ngân hàng thương mại phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng.Việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng hiện nay là rất cần thiết với mỗi ngân hàng thương mại nói chung và với ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng nói riêng.Nhận thức được vấn đề đó, sau quá trình thực tập, tìm hiểu về ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng được sự giúp đỡ của cán bộ,nhân viên ngân hàng cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn ThS. Hoàng Thị Hồng Lan tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:“ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại hiện
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
- Đưa ra các giải pháp hợp lý,có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động tín dụng, đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng để từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích lý luận thực tiễn : phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp chỉ số, phương pháp so sánh…
5. Nội dung các chương
Ngoài lời nói đầu ,kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì bài viết được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Lý luận về hoạt động tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
- Chương 2:Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
- Chương 3:Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế bản thân còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài đề án tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa hơn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc của tôi tới giáo viên hướng dẫn Th.s Hoàng Thị Hồng Lan – người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành đề án tốt nghiệp này. Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn bộ thầy cô trong khoa cũng như nhà trường đã tạo điều kiện để tôi có thể viết đề án tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời biết ơn đến ban lãnh đạo ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng và các anh chị phòng quan hệ khách hàng trong ngân hàng đã giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành tốt đề án tốt nghiệp này.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại.
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng đóng vai trò rất lớn trong việc điều tiết vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế góp phần thúc đẩy phát triển đất nước. Để có thể hiểu rõ hơn về các ngân hàng thương mại trước hết ta đi xem xét khái niệm ngân hàng thương mại:
Theo pháp lệnh NH Việt Nam ban hành ngày 23/05/1990 thì ngân hàng thương mại được định nghĩa : “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay,thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và phương tiện thanh toán”.
Theo Luật các Tổ chức Tín dụng:“ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ”.
1.1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ đóng vai trò rất lớn trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế với 3 chức năng cơ bản sau:
- Chức năng trung gian tín dụng:
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người cần vốn.Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế:
Đối với người gửi tiền:họ thu được lợi (lãi tiền gửi) đồng thời được ngân hàng đảm bảo về tính an toàn của khoản tiền gửi.
Đối với người đi vay:họ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh,chi tiêu,thanh toán mà an toàn,tiện lợi,hợp pháp.
Đối với chính ngân hàng:họ sẽ được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới.
Đối với nền kinh tế:chức năng này đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục,mở rộng quy mô sản xuất,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
- Chức năng trung gian thanh toán:
Ngân hàng thương mại làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích từ tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ,mang lại lợi ích cho các bên tham gia:
Đối với khách hàng: tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, đảm bảo thanh toán an toàn.
Đối với ngân hàng: thu được lợi nhuận thông qua việc thu phí đồng thời tăng nguồn vốn cho ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản của khách hàng. Chức năng này là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại.
Đối với nền kinh tế: thúc đẩy lưu thông hàng hóa, lưu chuyển vốn,từ đó góp phần phát triển kinh tế;việc thanh toán không dùng tiền mặt đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí in ấn,kiềm chế lạm phát…
- Chức năng tạo tiền:
Khi có sự phân hóa trong hệ thống ngân hàng,hình thành nên ngân hàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa.Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo tiền tín dụng ( hay tiền ghi sổ ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại.
1.1.1.3. Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của ngân hàng thương mại.
Với mỗi loại hình ngân hàng khác nhau thì có các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản khác nhau và các ngân hàng thương mại cũng vậy, với những đặc trưng, chức năng riêng biệt của mình thì ngân hàng thương mại có những nghiệp vụ cơ bản sau:
- Nghiệp vụ huy động vốn.
Đây là nghiệp vụ cơ bản nhất nhưng lại quan trọng nhất,ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng bởi đây là nghiệp vụ đầu tiên khởi tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như:tiền gửi,đi vay,phát hành giấy tờ có giá….Ngân hàng thương mại phải đa dạng các loại hình thức huy động vốn với lãi suất thu hút để có thể huy động được nguồn vốn chất lượng,chủ động trong hoạt động kinh doanh,thu được lợi nhuận đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
- Nghiệp vụ tín dụng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Ngay từ thời kì sơ khai của các ngân hàng thương mại,nghiệp vụ tín dụng đã được coi là một hoạt động quan trọng bậc nhất đối với sự phát triển của mỗi ngân hàng,cũng như đem lại hiệu quả to lớn cho khách hàng. Các sản phẩm gắn liền với tín dụng bao gồm:cho vay kinh doanh , cho vay tiêu dùng,đầu tư vào giấy tờ có giá,góp vốn liên doanh liên kết.
- Nghiệp vụ ngân quỹ.
Để có thể đạt tới mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận,một trong những nhân tố mà ngân hàng thương mại phải quan tâm là tính “an toàn”.Vì vậy,ngoài việc cho vay và đầu tư để thu lại được lợi nhuận, ngân hàng phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo tính an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương đề ra.
- Nghiệp vụ khác.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản trên, ngân hàng thương mại còn có các nghiệp vụ trung gian góp phần mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại như: nghiệp vụ mua bán chứng từ có giá trị, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý và các hoạt động dịch vụ như: dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính tiền tệ….
1.1.2. Khái niệm tín dụng ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
1.1.2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo nghĩa sau đây:
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm, thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch vốn từ người sở hữu sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này, người bán chuyển giao hàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất định, theo thỏa thuận, bên mua phải trả tiền cho bên bán.Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Tín dụng còn được hiểu là sự bảo lãnh của bên thứ ba thường được gọi là tín dụng bằng chữ ký, như việc ngân hàng mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hướng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu hoặc các loại bảo đảm khác.
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng.
Trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Ví dụ: tín dụng ngắn hạn đồng nghĩa với cho vay ngắn hạn…Tín dụng được xem xét như là một chức năng cơ bản hoạt động của ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng ngân hàng được hiểu như sau:
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
1.1.2.2. Hoạt động cấp tín dụng của các Ngân hàng thương mại.
Theo nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại thì: Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Theo Nghị định này thì hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại bao gồm:
- Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
- Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh.
Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng.
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt thì các ngân hàng phải không ngừng nghiên cứu đưa ra các hình thức tín dụng đa dạng nằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận, thực hiện phân tán rủi ro và đứng vững trong cạnh tranh. Chính vì vậy, ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau.Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát về các loại tín dụng, người ta phân loại tín dụng theo các tiêu chí sau:
1.1.3.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng ngân hàng được phân chia thành:
Tín dụng ngắn hạn: Là loại cho vay này có thời hạn đến một năm và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp, phuc vụ nhu cầu chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình.
Tín dụng trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm và được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình. Tín dụng trung hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp.
Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản ( nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng cơ sở hạ tầng ( đường xá, cảng biển…), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
1.1.3.2. Căn cứ vào bảo đảm tín dụng thì tín dụng được phân chia thành :
Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là tín dụng có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Hình thức tín dụng này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba. Tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh của người thứ 3 là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính gặp rủi ro.
Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ dự phòng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
1.1.3.3. Căn cứ mục đích tín dụng, tín dụng ngân hàng được phân chia thành.
- Tín dụng bất động sản: đây là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản, bao gồm: tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai, tín dụng trung dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ…
- Tín dụng công nghiệp thương nghiệp: đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lương.
- Tín dụng nông nghiệp: đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc.
- Tín dụng tiêu dùng: đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
1.1.3.4. Căn cứ vào chủ thể vay vốn, tín dụng được phân chia thành:
- Tín dụng doanh nghiệp ( tín dụng bán buôn ) : gọi là bán buôn vì các doanh nghiệp này thương vay với những khoản vay có giá trị lớn.
- Tín dụng cá nhân, hộ gia đình ( tín dụng bán lẻ ): gọi là bán lẻ vì những cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng.
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
1.1.3.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay, tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
- Tín dụng trả góp: là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản bằng nhau. Loại tín dụng này chủ yếu được áp dụng cho vay bất động sản, nhà ở, cho vay tiêu dùng, cho vay với những người kinh doanh nhỏ.
- Tín dụng hoàn trả một lần: là loại tín dụng mà khách chỉ hoàn trả vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn.
- Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà khách có thể hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào. Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng.
1.1.3.6. Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng ,tín dụng có thể chia thành các loại sau:
- Tín dụng bằng tiền: là tín dụng mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền. Hình thức của tín dụng này chính là cho vay.
- Tín dụng bằng tài sản: là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản. Hình thức của tín dụng này chính là cho thuê tài chính.
- Tín dụng bằng uy tín: là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín. Hình thức tín dụng này chính là bảo lãnh ngân hàng.
1.1.4. Đặc điểm hoạt động tín dụng ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, là hoạt động quan trọng nhất với mỗi ngân hàng thương mại và có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay ( gốc, lãi ) đúng hạn.
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính “ đi vay để cho vay ”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định được thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải cắn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quà trình luân chuyển vốn của đối tượng đi vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tương vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi hết hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay ( giá trị gốc ), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải luôn luôn là một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai…khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
Thứ năm, tìn dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.
Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải bảo đảm được hai nguyên tắc cơ bản sau:
- Thứ nhất, vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích.
- Thứ hai, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng.
1.1.5. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Với mỗi đối tượng khác nhau thì tín dụng ngân hàng đóng một vai trò khác nhau, để hiểu rõ hơn vai trò của tín dụng ngân hàng ta xem xét vai trò của nó với nền kinh tế, với khách hàng và với các ngân hàng.
1.1.5.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Thứ nhất, vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng ngân hàng là luân chuyển vốn từ những người ( cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư ( do chi tiêu ít hơn thu nhập) đến những người thiếu hụt ( do chi tiêu vượt quá thu nhập). Nhu cầu vay vốn không chỉ để đầu tư kinh doanh mà còn dùng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trước mắt. tại sao việc luân chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người sử dụng vốn lại quan trọng đối với nền kinh tế? câu trả lời là vì những người tiết kiệm thường không đồng thời là những người có cơ hội đầu tư sinh lời cao. Như vậy, nếu không có ngân hàng, thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ ách tắc. Chính vì vậy, kênh luân chuyển vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh tế.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng không giới hạn chỉ trong chức năng truyền thống là luân chuyển vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt mà còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Thông qua tín dụng ngân hàng mà vốn từ những người thiếu các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn. Kết quả là kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và năng suất lao động cao.
Thứ ba, thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của những ngành nghề đó, hình thành nên cơ cấu hiện đại, hợp lý, hiệu quả.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước.
Thứ năm, tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của chính phủ.
Thứ sáu, tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
1.1.5.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với ngân hàng.
- Thứ nhất, tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất đối với mỗi ngân hàng.
- Thứ hai, thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng đa dạng hóa được danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro.
- Thứ ba, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác , như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn…
1.1.5.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với khách hàng.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. Với các ưu điểm như an toàn, thuận lợi, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn, tín dụng ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống…
Thứ ba, tín dụng ngân hàng ràng buộc trách nhiệm khách hàng hoàn trả gốc và lãi trong thời hạn nhất định như thỏa thuận. Do đó, buộc khách hàng phải nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
1.2. Khái quát hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
1.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng.
Hiệu quả tín dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng ngân hàng. Hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng được thể hiện qua khả năng cung ứng tín dụng của ngân hàng phù hợp với yêu cầu phát triển các mục tiêu kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại, trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng.
Một ngân hàng muốn hoạt động tín dụng được hiệu quả thì phải nâng cao được chất lượng hoạt động tín dụng. Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro và sinh lời trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng. Do đó, chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của một ngân hàng đó chính là chất lượng hoạt động tín dụng. Để phản ánh về chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu,nhưng nói chung người ta thường quan tâm đến một số chỉ tiêu sau:
1.2.2.1. Tỷ lệ nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được, công thức xác định:
Tỷ lệ nợ quá hạn thể hiện trong 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn, đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp và ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.
1.2.2.2. Chỉ tiêu cơ cấu nợ quá hạn.
Trong các khoản nợ, thường bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chỉ tiêu cơ cấu nợ quá hạn nhằm phản ánh cơ cấu các khoản nợ quá hạn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn:
- Chỉ tiêu này được hiểu trong 100 đồng nợ ngắn hạn có bao nhiêu đồng nợ quá hạn ngắn hạn.
- Tỷ lệ nợ quá hạn trung hạn = Nợ quá hạn trung hạn * 100%
- Chỉ tiêu này được hiểu trong 100 đồng nợ trung hạn có bao nhiêu đồng nợ quá hạn trung hạn.
- Tỷ lệ nợ quá hạn dài hạn = Nợ quá hạn dài hạn * 100%
- Chỉ tiêu này được hiểu trong 100 đồng nợ dài hạn có bao nhiêu đồng nợ quá hạn dài hạn.
1.2.2.3. Tỷ lệ nợ xấu. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5 ( * ). Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, công thức xác định như sau:
Tỷ lệ nợ xấu cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu.Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn.
1.2.2.4. Chỉ tiêu sinh lời từ hoạt động tín dụng.
Ngoài các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu …thì chất lượng tín dụng phải được phản ánh bởi tỷ lệ lợi nhuận và tỷ lệ sinh lời thu được từ hoạt động tín dụng, sau đây là công thức xác định:
Chỉ tiêu này thể hiện trong 100 đồng tổng lợi nhuận thu được thì có bao nhiêu đồng thu được từ lãi hoạt động tín dụng. Lợi nhuận do hoạt động tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn cả lãi, đảm bảo an toàn vốn vay.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, nó cho biết số tiền lãi thu được trên 100 đồng dư nợ là bao nhiêu.Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng cao.
1.2.2.5. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn.
Hiệu suất sử dụng vốn cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng, ta có công thức xác định như sau:
Đây là chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay trực tiếp khách hàng. Vốn huy động là nguồn vốn có chi phí thấp (rẻ hơn đi vay), ổn định về số dư và kỳ hạn, nên năng lực cho vay của một ngân hàng thương mại thường bị giới hạn bởi năng lực huy động vốn.Nếu ngân hàng thương mại chủ động được nguồn vốn huy động để cho vay thì lúc này tỷ lệ H1=100%. Tuy nhiên trên thực tế, không phải lúc nào ngân hàng cũng cân đối được nguồn vốn huy động và cho vay, thông thường có 2 trường hợp xảy ra:
Hệ số H1>100%: Trường hợp này xảy ra khi nhu cầu vay vốn tại ngân hàng là quá lớn trong khi nguồn vốn huy động được là không đủ, để giải quyết mâu thuẫn này buộc ngân hàng phải đi vay từ các ngân hàng khác để cho vay lại. Do phải đi vay với chi phí cao nên có thể làm cho hiệu quả hoạt động tín dụng giảm, chính vì vậy ngân hàng phải chủ động cải thiện nguồn vốn huy động của mình. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Hệ số H1<100%: Trường hợp này xảy ra khi nhu cầu vay vốn của ngân hàng là rất ít trong khi nguồn vốn huy động được lớn, để giải quyết mâu thuẫn này buộc ngân hàng phải cho các ngân hàng khác vay lại nguồn vốn huy động. Do phải cho vay lại nguồn vốn huy động với lãi suất thấp nên có thể làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng, chính vì vậy ngân hàng phải chủ động tìm đầu ra ( cho vay, đầu tư) để sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động.
Hệ số H2 cho biết, cứ 100 đồng thuộc tài sản có thì có bao nhiêu đồng được sử dụng để cho vay trực tiếp khách hàng. Vì tín dụng là hạng mục sinh lời chủ yếu nên hiệu suất sử dụng vốn H2 càng cao thì hoạt động tín dụng của ngân hàng càng hiệu quả và ngược lại. Tuy nhiên nếu ngân hàng sử dụng vốn vay quá mức thì phải chịu rủi ro thanh khoản, ngược lại hệ số này quá thấp chứng tỏ ngân hàng đang lãng phí nguồn vốn, tức nguồn vốn chưa được sử dụng hiệu quả một cách tối ưu.
1.2.2.6. Chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro tín dụng.
Tỷ lệ trích lập dự phòng phản ánh mức độ dự phòng của ngân hàng cho những rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải, công thức xác định:
Tùy theo cấp độ rủi ro mà tổ chức tín dụng phải trích lập DPRR từ 0 đến 100% giá trị từng khoản cho vay( sau khi trừ đi giá trị tài sản đảm bảo đã được định giá lại). Như vậy nếu một ngân hàng có danh mục cho vay càng rủi ro thì tỷ lệ trích lập dự phòng càng cao.
- Quy định về việc phân loại nhóm nợ tại các ngân hàng thương mại.
Theo quyết định số 18/2021/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2021 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xủ lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:
Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn ) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đã bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
Nhóm 2 ( Nợ cần chú ý ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày; Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu ( đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chúc tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).
Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả nợ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4 ( Nợ nghi ngờ ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn quá 90 ngày trở nên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
1.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng, có thể là nguyên nhân thuộc về chủ quan ngân hàng như : chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, trình độ của cán bộ, nhân viên ngân hàng…nhưng cũng có thể là các nguyên nhân xuất phát từ khách quan như: nguyên nhân từ khách hàng hay môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý, môi trường tự nhiên…Để hiểu rõ hơn về các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng ta đi xem xét cụ thể sau đây:
1.3.1. Nguyên nhân khách quan.
Tác động của môi trường kinh doanh: sự biến động của môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.Nếu nền kinh tế tăng trưởng, điều này sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động tốt, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi, từ đó giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi và hoàn trả được nợ đúng hạn cho ngân hàng. Nhưng ngược lại, nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, hoạt động của doanh nghiệp sẽ trở nên khó khăn hơn do đó sẽ không trả nợ đúng hạn được cho ngân hàng, các khoản nợ xấu gia tăng làm hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng bị giảm sút.
Tác động của môi trường pháp lý: ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên cũng như các doanh nghiệp khác, đều phải hoạt động theo pháp luật nhà nước quy định. Do đó chính sách pháp luật của nhà nước trong từng thời điểm có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Tác động của môi trường tự nhiên: những nguyên nhân bất khả kháng tác động đến người đi vay như: thiên tai, chiến tranh…vượt quá tầm kiểm soát của người đi vay làm họ mất khả năng thanh toán cho ngân hàng gây ra ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng.
- Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay: Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay và sau khi được ngân hàng chấp nhận,khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để kinh doanh do đó hoạt động tín dụng của ngân hàng có được hiệu quả hay không là phụ thuộc rất lớn vào khách hàng vay vốn.
Năng lực của khách hàng: năng lực của khách hàng là nhân tố quyết định khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không. Bất cứ một doanh nghiệp kinh doanh nào cũng đều muốn tối đa hóa lợi nhuận, để làm được điều này họ phải đi vay rất nhiều để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng sử dụng được vốn vay có hiệu quả,chỉ những doanh nghiệp có năng lực tốt,khả năng cạnh tranh cao mới có thể làm được điều này.
Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp:một doanh nghiệp muốn hoạt động hiệu quả thì phải có một nhà quản lý có kinh nghiệm, trình độ cao, luôn nắm bắt được sự biến động của môi trường để đưa ra được những thay đổi cho phù hợp giúp doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả.
Sự trung thực của khách hàng: sự trung thực của khách hàng có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng.Nếu khách hàng không cung cấp các số liệu trung thực, vi phạm chuẩn mực kế toán ban hành thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh để qua đó có thể đưa ra quyết định cho vay đúng đắn.
1.3.2. Nguyên nhân chủ quan.
Những nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân các ngân hàng thương mại cũng có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động tín dụng của các ngân hàng:
Chính sách tín dụng: Chính sách này được coi là chiến lược cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng. Do đó đưa ra được một chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp sẽ giúp ngân hàng nâng cao được hiệu quả hoạt động tín dụng, ngược lại một chính sách mập mờ, khó hiểu sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng.Mỗi ngân hàng thương mại đều tự xây dựng cho mình một quy trình tín dụng riêng. Một quy trình tín dụng hoàn thiện và chặt chẽ sẽ góp phần nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tín dụng, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cho các ngân hàng.
Khả năng huy động vốn của ngân hàng: Đặc trưng hoạt động kinh doanh của ngân hàng chính là “đi vay để cho vay” do đó để có thể mở rộng cho vay,nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng thì ngân hàng không thể không quan tâm đến việc huy động vốn. Nếu nhu cầu vay vốn của khách hàng lớn mà ngân hàng không thể huy động đủ vốn để cho vay thì ngân hàng sẽ phải vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác với chi phí cao hơn, điều này sẽ làm cho hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng bị giảm sút. Ngược lại,nếu huy động quá nhiều trong khi nhu cầu vay vốn của khách hàng ít thì ngân hàng bị mất chi phí huy động vốn không cần thiết,điều này cũng tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động tín dụng.Do đó quan tâm đến việc huy động vốn có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cho các ngân hàng thương mại.
Cơ cấu tổ chức ngân hàng: Có thể nói đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng.Ngân hàng nào có cơ cấu tổ chức đựơc sắp xếp một cách khoa học, hợp lý, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ thể, có sự liên kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng sẽ diễn ra kịp thời, không bỏ lỡ các khách hàng tiềm năng giúp ngân hàng tăng hiệu quả tín dụng.
Chất lượng cán bộ, công nhân viên tín dụng: đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Nếu chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá không tốt sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng, còn nếu ngân hàng nào có đội ngũ nhân viên giỏi chuyên môn, đạo đức tốt,đưa ra được các quyết định tín dụng hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu qủa hoạt động tín dụng cho ngân hàng.
Kiểm soát nội bộ: Hoạt động kiểm soát nội bộ giúp các nhà lãnh đạo ngân hàng nắm bắt được tình hình hoạt động của ngân hàng từ đó đưa ra các chính sách hợp lý giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động. Do đó, đây là công tác mà Ngân hàng nào cũng cần tiến hành một cách thường xuyên và liên tục nhằm duy trì chất lượng và đảm bảo mọi hoạt động của ngân hàng đang đi đúng hướng đáp ứng được các yêu cầu mà ngân hàng đã đề ra. Tuy nhiên, ngân hàng phải có một đội ngũ những cán bộ có chuyên môn tốt, có tinh thần trách nhiệm cao và đặc biệt phải trung thực. Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank


Pingback: Khóa luận: Giải pháp hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank
Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank