Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1. Giới thiệu tổng quan về ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.
2.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP Nam Việt.
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt trước đây có tên gọi là Ngân hàng TMCP nông thôn Sông Kiên , là Ngân hàng TMCP được thành lập vào ngày 18 tháng 9 năm 1995 với mức vốn điều lệ: 1.000.000.000.000 đồng ( một ngàn tỷ Việt Nam Đồng).
Ngân hàng còn nắm quyền kiểm soát toàn bộ Công ty con là Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác Tài sản Nam Việt Ngân hàng, được thành lập ngày 19/12/2020 với tỷ lệ góp vốn của Ngân hàng là 100%, với mức vốn điều lệ là 50.000.000.000 đồng.
Trụ sở chính của ngân hàng đặt tại: 343 Phạm Ngũ Lão, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TpHCM.
Tên viết tắt: Navibank, địa chỉ website: http://www.navibank. Trải qua hơn 16 năm hoạt động, ngân hàng TMCP Nam Việt – navibank đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam thể hiện qua sự tăng trưởng ổn định, an toàn và hiệu quả trong hoạt động.
2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng (Navibank Hải Phòng) Chi nhánh Hải Phòng được thành lập vào ngày 6/1/2021.
Trước đây, địa chỉ chi nhánh được đặt tại: 18A Lạch Tray, Phường Lạch Tray, Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng.
Đến ngày 11/11/2025 địa chỉ chi nhánh Navibank Hải Phòng được chuyển về : 326 – 328 Tô Hiệu, Phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng. Mạng lưới giao dịch của navibank Hải Phòng gồm 7 điểm trên địa bàn: ngoài trụ sở chính chi nhánh còn có 6 phòng giao dịch: PGD Hải An, PGD Lê Chân, PGD Ngô Quyền, PGD Hồng Bàng, PGD Hoàng Văn Thụ, PGD Thủy Nguyên.
Sau 05 năm có mặt tại Hải Phòng, Navibank Hải Phòng đã đạt tổng tài sản gần 1.000 tỷ đồng, mạng lưới giao dịch rộng khắp, cùng một danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng, phong phú, hiện đại và sự tín nhiệm của gần 10.000 khách hàng cá nhân và tổ chức.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Cơ cấu tổ chức là một nhân tố hết sức quan trọng, tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, bên cạnh việc tập trung thực hiện có hiệu quả các chiến lược kinh doanh ngân hàng cũng hết sức quan tâm đến công tác tổ chức cán bộ tạo điều kiện thu gọn bộ máy cán bộ, giảm thiểu chi phí quản lý góp phần thực hiện kế hoạch của ngân hàng. Sau đây là mô hình cơ cấu tổ chức tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng:
Trong đó, chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận là:
- Ban giám đốc
Giám đốc
- Điều hành chung – chỉ đạo toàn diện hoạt động kinh doanh của chi nhánh, trực tiếp phụ trách Phòng quan hệ khách hàng, Phòng tổ chức hành chính – nhân sự. Phụ trách công tác phát triển mạng lưới, công tác vốn và tài sản của chi nhánh.
Phó giám đốc
- Thay mặt giám đốc điều hành các công việc trong trường hợp giám đốc đi vắng từ 01 ngày trở lên. Giúp giám đốc chi nhánh trong công tác quản trị điều hành, kịp thời báo cáo phát sinh bất thường tại chi nhánh.
- Trực tiếp phụ trách Phòng dịch vụ khách hàng, phòng kế toán. Phụ trách và điều hành công tác báo cáo định kỳ, đột xuất với ngân hàng nhà nước.
- Thực hiện công tác đối nội trong nội bộ chi nhánh, các quan hệ liên quan đến chính quyền và các ban ngành tại địa phương. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Khối quan hệ khách hàng
Phòng Quan hệ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp có chức năng:
- Đóng vai trò bộ phận tiếp thị bán hàng trực tiếp
- Thiết lập quan hệ với khách hàng: tìm hiểu nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng của khách hàng, xem xét sự phù hợp giữa nhu cầu của khách hàng với chính sách sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng.
- Khai thác quan hệ với khách hàng: thực hiện cung cấp các sản phẩm dịch vụ
Với sản phẩm tín dụng: lập tờ trình đề xuất tín dụng tự phân tích, thẩm định, đánh giá hồ sơ tín dụng, lập hợp đồng tín dụng và hoàn tất các hồ sơ thủ tục cần thiết. Chuyển hồ sơ sang phòng dịch vụ khách hàng để thực hiện giải ngân, thu lãi, thu nợ. Kiểm tra sự tuân thủ các điều kiện vay vốn của khách, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và đôn đốc khách hàng trả nợ, trả lãi.
Với sản phẩm phi tín dụng: giới thiệu sản phẩm và hướng dẫn khách hàng các hồ sơ thủ tục liên quan; tiếp nhận hồ sơ, ký hợp đồng cung cấp dịch vụ, chuyển hồ sơ sang các phòng tác nghiệp liên quan để xử lý.
Phát triển quan hệ với khách hàng: thực hiện các chương trình chăm sóc khách hàng, tiếp tục tìm hiểu nhu cầu của khách hàng.
- Khối tổng hợp
Đóng vai trò bộ phận tham mưu, có chức năng lập kế hoạch kinh doanh, triển khai các chính sách tiếp thị; tham mưu ch ban lãnh đạo trong việc ra các quyêt định về tín dụng; quản lý về tài chính, quản lý về tài chính, quản lý rủi ro, và kiểm soát nội bộ các hoạt động của Sỏ giao dịch, chi nhánh, đơn vị sự nghiệp.
- Phòng Phân tích tín dụng có chức năng:
Phân tích, thẩm định, đánh giá khách hàng, dự án vay vốn của khách hàng vượt hạn mức tự thẩm định của các phòng quan hệ khách hàng, làm cơ sở để Sở giao dịch, chi nhánh xếp loại khách hàng, cấp hạn mức tín dụng, cho vay, bảo lãnh…
Phân tích, thẩm định, đánh giá hiệu quả khả năng sinh lời các dự án đầu tư, phương án kinh doanh… Phòng Tài chính – Kế toán có chức năng:
- Quản lý tài sản và nợ, duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn của Sở giao dịch, chi nhánh theo nguyên tắc phát triển, an toàn, hiệu quả và đúng quy định của pháp luật. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
- Quản lý doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động kinh doanh, trích lập và sử dụng các quỹ, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước…
- Quản lý lưu chuyển tiền tệ, nhu cầu thanh toán và thanh khoản nhẳm bảo đảm khả năng thanh toán của chi nhánh.
- Thực hiện công tác hạch toán kế toán, các chế độ kế toán, hậu kiểm chứng từ kế toán, công tác báo cáo kế tóan, báo cáo thống kê và các công việc liên quan đến kế toán của chi nhánh.
Phòng kiểm soát nội bộ: phòng kiểm soát nội bộ là đơn vị thuộc chi nhánh có chức năng giúp giám đốc chi nhánh tổ chức thực hiện tại chi nhánh (kể cả các phòng giao dịch) các lĩnh vực:
- Kiểm tra mọi nghiệp vụ kinh doanh và quản lý tài chính tại chi nhánh nhằm thực hiện đúng các quy định hiện hành của Pháp luật,các quy chế quản lý của ngành,các quy định,quy trình nghiệp vụ của ngân hàng.
- Thực hiện công tác kiểm soát nội bộ qua giám sát hoạt động và kiểm tra trực tiếp việc thực hiện các quy định, quy chế, quy trình nghiệp vụ trong mọi hoạt động của các phòng ban của chi nhánh theo kế hoạch đã lập.
2.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ đang có tại Ngân hàng.
2.1.3.1. Các hoạt động nghiệp vụ đang có tại ngân hàng TMCP Nam Việt.
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt là ngân hàng thương mại cổ phần nên hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.Phạm vi hoạt động là địa bàn có trụ sở hoặc chi nhánh hoạt động như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh… là những thành phố lớn của Việt Nam, có dân cư đông đúc, kinh tế – xã hội của vùng phát triển, tập trung đầy đủ các ngành nghề đặc biệt phát triển về du lịch, thương mại, dịch vụ…
Nội dung hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là:
- Nhận tiền gửi có kì hạn và không kì hạn bằng VND và ngoại tệ của đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân trong và ngoài nước.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng tiền VND và ngoại tệ đối với khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư.
- Thực hiện nghiệp vụ thuê mua, hùn vốn liên doanh và mua cổ phần theo pháp luật hiện hành.
- Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước.
- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác.
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá trị.
- Thực hiện Dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
- Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, huy động các nguồn vốn từ nước ngoài và làm các dịch vụ thanh toán quốc tế khác. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Các dịch vụ Ngân hàng khác như:
- Thẻ ngân hàng: thẻ Navicard
- Ngân hàng điện tử: Internet banking, Mobile banking…
Với phạm vi và nội dung hoạt động như trên ngân hàng TMCP Nam Việt có vai trò to lớn trong việc thu hút những khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư để đáp ứng một khối lượng lớn nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng thu ngân sách Nhà nước. Góp phần to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và công cuộc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng nói riêng.
2.1.3.2. Các hoạt động nghiệp vụ đang có tại ngân hàng TMCP Nam Việt- chi nhánh Hải phòng.
Chi nhánh Hải Phòng là một trong những chi nhánh hết sức quan trọng của ngân hàng TMCP Nam Việt vì Hải Phòng là một trong những thành phố trực thuộc trung ương, tập trung đông dân cư và có nền kinh tế phát triển. Sau 5 năm thành lập tại Hải Phòng, chi nhánh tập trung vào thực hiện các nghiệp vụ sau:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức có kỳ hạn, không kỳ hạn.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn các tổ chức kinh tế và cá nhân.
- Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng
- Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động vốn từ nước ngoài.
- Các dịch vụ Ngân hàng khác: dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ, dịch vụ bảo lành, dịch vụ kinh doanh ngoại hối…
2.2. Tình hình hoạt động tại Ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Trong những gần đây, nền kinh tế nước ta phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thử thách. Đó là do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, sự suy giảm tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Mỹ và đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu thời gian qua. Cùng với đó, xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đồng thời với việc Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra những cơ hội và thách thức không nhỏ đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đặc biệt trong năm 2025 với việc lạm phát trong nước ngày càng có xu hướng gia tăng đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, với sự nỗ lực và quyết tâm cao độ của Hội đồng quản trị, ban điều hành và toàn thể nhân viên, chi nhánh ngân hàng đã đang từng bước khắc phục những khó khăn, gây dựng được lòng tin nơi khách hàng, nâng cao uy tín trên thị trường. Với một hướng đi đúng đắn, liên tục trong những năm gần đây ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã có những chuyển biến tích cực trong nhiều hoạt động như hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn…Sau đây là tình hình hoạt động cụ thể tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng:
2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
2.2.2.1. Kết quả kinh doanh.
Sau 5 năm thành lập và đi vào hoạt động, tập thể lãnh đạo và các cán bộ công nhân viên ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã nỗ lực hết mình để mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất cho ngân hàng, dưới đây là bảng kết quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng qua 3 năm 2023, 2024 và 2025:
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh.
- Nhìn vào báo cáo kết quả kinh doanh trên ta thấy:
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng năm 2025 đã bị giảm một lượng đáng kể so với năm 2024.Nếu như năm 2024 Ngân hàng thu được 9.448,20 triệu đồng thì đến năm 2025 ngân hàng chỉ thu được 4.909,80 triệu đồng, đã bị giảm 4.538,39 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 48,03% nguyên nhân là do:
- Thu nhập: Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Thu nhập lãi thuần của Ngân hàng năm 2025 là 22.100,50 triệu đồng tăng lên 311,30 triệu đồng so với năm 2024 tương ứng với tỉ lệ tăng 1,43% nguyên nhân là do trong năm 2025 ngân hàng đã tăng được từ thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự so với năm 2024 là 52.684,60 triệu đồng, trong khi đó chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự mà ngân hàng phải bỏ ra là 52.373,30 triệu đồng nhỏ hơn mức thu nhập lãi mà ngân hàng có được. Tuy nhiên mức tăng này của năm 2025 so với năm 2024 là không đáng kể.
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Ngân hàng năm 2025 là 1.145,04 triệu đồng đã bị giảm đi 313,78 triệu đồng so với năm 2024 trong khi đó chi phí cho các hoạt động dịch vụ này chỉ bị giảm 1,37 triệu đồng, nhỏ hơn mức giảm của thu nhập.Điều này đã chứng tỏ hoạt động dịch vụ của ngân hàng năm 2025 không tốt bằng năm 2024.Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ năm 2025 chỉ có 476,60 triệu đồng trong khi của năm 2024 là 789,02 triệu đồng.
Về hoạt động kinh doanh ngoại hối thì năm 2024 ngân hàng còn có lãi là 156,24 triệu đồng nhưng đến năm 2025 thì hoạt động này đã không mang lại hiệu quả như mong đợi do đó đã làm cho ngân hàng lỗ một khoản là 19,93 triệu đồng.
Hoạt động khác cũng không mang lại thu nhập như mong đợi cho ngân hàng, nếu như năm 2024 các hoạt động khác mang lại cho ngân hàng một khoản thu nhập là 353,04 triệu đồng thì đến năm 2025 ngân hàng chỉ thu được một khoản thu nhập là 1,86 triệu đồng trong khi đó chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra cho những hoạt động này là 291,31 triệu đồng lớn hơn rất nhiều so với mức thu nhập mà ngân hàng có được.Điều này đã làm cho ngân hàng phải chịu một khoản lỗ từ các hoạt động dịch vụ khác trong năm 2025 là 289,44 triệu đồng.
- Chi phí:
Chi phí hoạt động mà Ngân hàng phải bỏ ra cho năm 2025 là 17.357,92 triệu đồng trong khi năm 2024 là 13.637,18 triệu đồng. Như vậy chi phí cho năm 2025 lớn hơn chi phí cho năm 2024 là 3.720,73 triệu đồng tương ứng với 27,28%.
Tuy chi phí hoạt động năm 2025 có cao hơn so với năm 2024 tuy nhiên bù lại chi phí dự phòng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng phải bỏ ra cho năm 2025 lại ít hơn rất nhiều so với năm 2024.Nếu như năm 2024 Ngân hàng phải bỏ ra 8.258,26 triệu đồng cho khoản chi phí này thì đến năm 2025 Ngân hàng chỉ phải bỏ ra 3.819,93 triệu đồng đã giảm đi 4.438,32 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 53,74%.Điều này rất có ý nghĩa đối với Ngân hàng, nó chứng tỏ rằng hoạt động tín dụng của Ngân hàng đang thực hiên rất có hiệu quả, đã giảm đi rất nhiều các khoản nợ có vấn đề mà Ngân hàng phải sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Năm 2024 Ngân hàng thu được lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cao hơn năm 2025 nhưng chi phí phải bỏ ra cho các khoản dự phòng rủi ro tín dụng là rất lớn nên kết quả tổng lợi nhuận trước thuế năm 2024 ngân hàng thu được cũng không lớn, chỉ đạt được 1.089,87 triệu đồng, lớn hơn năm 2025 100,06 triệu đồng.Ngược lại, tuy năm 2025 lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh mà Ngân hàng thu được thấp hơn nhưng các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng phải bỏ ra là rất ít nên năm 2025 Ngân hàng đã thu được một khoản lợi nhuận trước thuế là 1.089,87 triệu đồng. Điều này cho ta thấy ngân hàng đã đưa ra các chính sách hợp lý và thích hợp để hoạt động có hiệu quả hơn.
2.2.1.2. Đánh giá chung tình hình hoạt động tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
Những biến động bất thường của nền kinh tế trong những năm vừa qua đã ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế nói chung và tăng trưởng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng. Với mục tiêu ổn định kinh tế, kiếm chế lạm phát, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước đã triển khai đồng loạt các công cụ kiểm soát thị trường như giám sát tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, quy định trần lãi suất huy động…Trước bối cảnh đó, việc phải cân bằng đồng thời mục tiêu an toàn, lợi nhuận và tăng trưởng dường như là nhiệm vụ rất khó khăn đối với các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, với sự nỗ lực hết mình của ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên, hoạt động kinh doanh tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã đạt được một số kết quả sau:
Về nghiệp vụ huy động vốn: Năm 2023 ngân hàng huy động được tổng nguồn vốn là 640.585 triệu đồng, đến năm 2024 ngân hàng huy động được tổng nguồn vốn là 960.084 triệu đồng, tăng 49,88% so với năm 2023, đến năm 2025 thì vốn huy động của ngân hàng đã tăng lên là 994.629 triệu đồng.Điều này chứng tỏ ngân hàng ngày càng chú trọng hơn đến hoạt động huy động vốn và hoạt động huy động vốn trong những năm vừa qua đã đạt được những thành quả nhất định.
Về nghiệp vụ sử dụng vốn: Dư nợ cho vay của Ngân hàng qua 3 năm 2023,2024, 2025 có sự biến động liên tục, có thể nói năm 2024 là năm thành công của ngân hàng trong việc mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, đến năm2025tuy dư nợ cho vay của ngân hàng có giảm so với năm 2024 nhưng lượng giảm không phải là quá lớn. Điều này cho thấy ngân hàng đã và đang ngày càng có những chính sách hợp lý trong việc ở rộng quy mô hoạt động tín dụng.
Về kết quả họat động kinh doanh: Nếu như năm 2024 do chi phí phải bỏ ra cho các khoản dự phòng rủi ro tín dụng là quá cao làm cho tổng lợi nhuận trước thuế của ngân hàng bị giảm đáng kể thì đến năm 2025 ngân hàng đã giảm được chi phí cho khoản dự phòng rủi ro giúp thu được một khoản lợi nhuận trước thuế là 1.089,87 triệu đồng. Điều này mang lại ý nghĩa rất lớn cho ngân hàng, chứng tỏ ngân hàng đã đưa ra được các chính sách để hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn.
Hiện nay, do mới đi vào hoạt động nên danh mục đầu tư của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng còn ít, mới tập trung chủ yếu vào cho vay, hoạt động dịch vụ còn thấp,nhiều hoạt động chưa mang lại hiệu quả như mong đợi, rủi ro cao. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu suy thoái như hiện nay, tình hình kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Sau đây, đi tìm hiểu kỹ hơn về hoạt động kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng trong những năm vừa qua:
2.2.2. Tình hình hoạt động huy động vốn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động hết sức quan trọng đối với mỗi ngân hàng thương mại nói chung và với ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng nói riêng bởi hoạt động huy động vốn là tiền đề, cơ sở quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Khi nguồn vốn huy động có cơ cấu hợp lý, chi phí huy động thấp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các ngân hàng. Với vai trò quan trọng như vậy, từ khi thành lập đến nay, ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng luôn rất quan tâm đến công tác huy động vốn, thông qua nhiều biện pháp và hình thức khác nhau. Trước hết xem xét tình hình huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng thông qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 1: Tổng lượng vốn huy động của ngân hàng qua các năm.
Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh tại chi nhánh gặp rất nhiều khó khăn: những khó khăn do môi trường vĩ mô mang lại như sự biến động thất thường của tỷ giá hối đoái, sự cạnh tranh hết sức gay gắt về lãi suất huy động giữa các ngân hàng thương mại, trần lãi suất huy động do ngân hàng nhà nước quy định không bù đắp được sự mất giá của đồng tiền…. và những khó khăn trong bước đầu thành lập chi nhánh, nhưng với sự nỗ lực không mệt mỏi, cán bộ nhân viên ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã đạt được một số thành quả nhất định đặc biệt là trong việc nâng cao nguồn vốn huy động. Cụ thể là năm 2023 ngân hàng chỉ huy động được 640.586 triệu đồng thì đến năm 2024 con số này tăng lên là 960.084 triệu đồng. Như vậy, từ năm 2023 đến năm 2024 ngân hàng đã tăng được 319.499 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 49,88%. Và đến năm 2025 thì lượng vốn huy động được của ngân hàng đã tăng lên là 994.629 triệu đồng, so với năm 2024 thì tăng lên là 34.545 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 3,6%. Điều này cho thấy trong những năm vừa qua chi nhánh ngân hàng đã rất chú trọng đến việc huy động vốn đặc biệt là tập trung vào việc nâng cao uy tín ngân hàng và các chính sách quảng bá giúp khách hàng biết đến ngân hàng nhiều hơn.
Để hiểu rõ hơn về hoạt động huy động vốn tại ngân hàng, xem xét bảng kết cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền tại ngân hàng:
- Bảng 1: Kết cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
Qua bảng kết cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền trên ta thấy vốn huy động mà ngân hàng huy động được chủ yếu là nội tệ, nguồn vốn này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động được tại ngân hàng. Cụ thể năm 2023 ngân hàng huy động được 528.290 triệu đồng nguồn vốn nội tệ chiếm tỷ trọng 82,47% , đến năm 2024 thì ngân hàng huy động được 799.654 triệu đồng chiếm 83,29% và đến năm 2025 thì ngân hàng huy động được 837.179 triệu đồng chiếm 84.17%. Nguyên nhân là do đối tượng khách hàng mà ngân hàng huy động chủ yếu là khách hàng trong nước, hơn nữa lãi suất huy động nội tệ cao hơn rất nhiều so với lãi suất huy động ngoại tệ. Điều này cho thấy công tác huy động vốn nội tệ của ngân hàng ngày càng được chú trọng và nâng cao. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Ngân hàng thông thường huy động vốn là thông qua hai nguồn chính đó là tiền gửi của khách hàng và phát hành giấy tờ có giá, để thấy rõ hơn tình hình huy động vốn của ngân hàng, xem xét bảng kết cấu nguồn vốn huy động theo nguồn hình thành tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng:
- Bảng 2: Kết cấu nguồn vốn huy động theo hình thức huy động tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
Thông qua bảng kết cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng ta thấy ngân hàng chủ yếu huy động vốn là từ tiền gửi của khách hàng, nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng chiếm một tỷ trọng rất lớn và đang có xu hướng ngày càng tăng lên. Có thể nói việc tăng được nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng mang một ý nghĩa rất lớn đối với ngân hàng. Với một chi nhánh ngân hàng mới được thành lập 5 năm như ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng thì việc thu hút được sự quan tâm của khách hàng là hết sức quan trọng, đặc biệt việc khách hàng gửi tiền tại ngân hàng có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây cho thấy khách hàng đã biết đến ngân hàng nhiều hơn và ngày càng tin tưởng hơn vào ngân hàng. Về huy động vốn từ phát hành giấy tờ có giá thì tuy chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn huy động nhưng cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng bởi đây là nguồn vốn huy động mà ngân hàng có thể chủ động về số lượng, thời gian cùng như lãi suất huy động. Sau đây, đi xem xét cụ thể hơn về vốn huy động từ tiền gử của khách hàng và nguồn vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá tại ngân hàng:
2.2.2.1. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng:
Để thấy rõ hơn tình hình biến động các khoản tiền gửi khách hàng qua các năm, xem xét bảng biến động tiền gửi khách hàng qua các năm:
- Bảng 3: Tình hình biến độngnguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Nam việt – Chi nhánh Hải Phòng.
Thông qua bảng 3 nhận thấy nguồn vốn huy động từ tiền gửi của ngân hàng ngày càng tăng lên qua các năm, nếu như năm 2023 ngân hàng chỉ huy động được tiền gửi của khách hàng là 627.339 triệu đồng thì đến năm 2024 đã tăng lên là949.754 triệu đồng và đến năm 2025 là 985.629 triệu đồng. Như vậy, từ năm 2023 đến năm 2024 ngân hàng đã tăng được 332.415 triệu đồng tương ứng với 51,39%, từ năm 2024 đến năm 2025 ngân hàng tăng 35.875 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 3,78%.
Nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng bao gồm các khoản: tiền gửi của khách hàng trong nước, tiền gửi của khách hàng nước ngoài, tiềm gửi tiết kiệm và một khoản nhỏ tiền gửi ký quỹ. Trong các khoản tiền đó thì tiền gửi của tiết kiệm của khách hàng là chiếm tỷ trọng nhiều nhất, có được kết quả đó là do ngân hàng đã xác định được tầm quan trọng của vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng, ngân hàng đã tổ chức, triển khai nhiều biện pháp huy động vốn như : tuyên truyền, quảng cáo để nhân dân biết, khai thác được những điều kiện thuận lợi, tiềm năng dư thừa trong dân, trưng bày các biển quảng cáo ở trụ sở ngân hàng trung tâm và các ngân hàng khu vực, ở một số tuyến đường tập trung đông dân cư, huy động qua tổ vay vốn, vận động mọi người tham gia gửi tiền tiết kiệm, tạo dựng thói quen tiết kiệm trong nhân dân, tạo điều kiện cho mọi công dân có nhu cầu mở tài khoản tiền gửi cá nhân và thanh toán giao dịch qua ngân hàng.
Các khoản tiền gửi huy động được ở ngân hàng thường là các khoản tiền có kỳ hạn hoặc không có kỳ hạn, để thấy được thời hạn các khoản tiền gửi này xem xét bảng sau: Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
- Bảng 4: Tình hình huy động vốn từ tiền gửi của khách hàng chi tiết theo thời hạn tại ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
Theo bảng trên cho thấy trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng, lượng tiền gửi không kì hạn chiếm tỉ trọng rất nhỏ mà chủ yếu là lượng tiền gửi có kì hạn. Điều này là hoàn toàn hợp lý vì khách hàng thường có xu hướng gửi vào các khoản tiền có kỳ hạn vì lãi suất của các khoản tiền gửi có kỳ hạn thường lớn hơn các khoản tiền gửi không có kỳ hạn. Như vậy ta cũng thấy được tính ổn định và chủ động của nguồn tiền gửi ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, tuy nhiên ngân hàng lại không có lợi thế về chi phí huy động vốn. Ngân hàng cần cân đối nguồn vốn, tăng tiền gửi không kỳ hạn để khai thác mọi lợi thế.
Thấy được những bất hợp lý trong cơ cấu nguồn vốn,ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã có những cố gắng rất lớn trong công tác huy động vốn bằng cách đưa ra chính sách lãi suất linh hoạt cho tiền gửi không kì hạn, áp dụng lãi suất bậc thang theo số dư tiền gửi không kì hạn bằng VNĐ. Bên cạnh đó ngân hàng thường xuyên coi trọng chất lượng dịch vụ, kết hợp tốt chính sách khách hàng như thực hiện ưu đãi lãi suất tiền gửi, thực hiện nghiệp vụ nhanh chóng bằng máy móc thiết bị mới, hiện đại. Với trụ sở mới khang trang tạo thuận tiện cho khách hàng giao dịch, thái độ phục vụ của nhân viên tận tình, hòa nhã, lịch sự và có những biện pháp quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và một số biện pháp khác. Do vậy, nguồn vốn huy động từ tiền gửi khách hàng của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng trong những năm vừa qua đã có mức tăng trưởng khá nhanh, nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường.
Bên cạnh việc huy động vốn từ tiền gửi của khách hàng, ngân hàng còn huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá. Nghiệp vụ huy động vốn từ phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng được thể hiện cụ thể sau đây:
2.2.2.2. Nguồn vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá.
Để huy động được vốn, các ngân hàng thương mại không chỉ huy động từ tiền gửi mà còn nhiều biện pháp khác nữa như đi vay hoặc thông qua phát hành giấy tờ có giá. Với ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng cũng vậy, để tăng nguồn vốn huy động ngân hàng đã thông qua việc phát hành thêm giấy tờ có giá, ta có thể xem chi tiết thông qua bảng số liệu:
- Bảng 5: Tình hình phát hành giấy từ có giá tại ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Hải Phòng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khi kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu về vốn trung và dài hạn ngày càng tăng để đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ , hiện đại hoá sản xuất… Để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn các ngân hàng cũng cần có hình thức huy động tương ứng để có đủ vốn đáp ứng nhu cầu đó. Do vậy các ngân hàng huy động vốn trung và dài hạn bằng hình thức phát hành giấy tờ có giá. Đây là hình thức huy động vốn linh hoạt giúp các ngân hàng thương mại có thể chủ động về khối lượng vốn, lãi suất và thời hạn…. Nhưng nguồn vốn này thường có chi phí cao hơn các nguồn vốn khác. Trong những năm qua ngân hàng TMCP Nam Việt tuy có phát hành giấy tờ có giá nhưng tỷ trọng chỉ chiếm một phần nhỏ và có xu hướng ngày càng giảm. Năm 2023 ngân hàng phát hành được 13.246 triệu đồng, chiếm 2,07% tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được, đến năm 2024 thì ngân hàng phát hành được 10330 triệu đồng, chiếm 1,06% trong tổng nguồn vốn huy động và đến năm 2025 thì ngân hàng huy động được 9.000 triệu đồng chiếm 0.90% trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Từ năm 2023 nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng có xu hướng giảm cả về số lượng và tỷ trọng. Nguyên nhân là do những năm gần đây nền kinh tế gặp nhiều khó khăn trong khi đó lãi suất ngân hàng lại tăng cao nên các doanh nghiệp có xu hướng giảm nhu cầu đầu tư dài hạn do đó ngân hàng chủ động giảm nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá để giảm bớt chi phí huy động từ đó đạt được hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Nhưng trong tương lai ngân hàng cần chú trọng phát triển nguồn vốn này vì nhu cầu sử dụng vốn trung và dài hạn sẽ tăng lên đáng kể trong các năm tới. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Nhìn chung, hoạt động huy động vốn của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng trong những năm vừa qua đã có những chuyển biến tích cực, tổng nguồn vốn huy động được của ngân hàng đang dần tăng lên điều này cho thấy ngân hàng đã đưa ra được các chính sách và biện pháp phù hợp để huy động vốn. Tuy nhiên, tổng khối lượng vốn mà ngân hàng huy động được vẫn còn ít và tập trung chủ yếu vào đối tượng khách hàng trong nước, cơ cấu nguồn vốn huy động vẫn chủ yếu là các khoản tiền gửi có kỳ hạn nên chi phí huy động vốn còn cao. Trong tương lai, ngân hàng cần đưa ra các biện pháp để khắc phục những điểm trên nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng.
2.2.3. Tình hình hoạt động sử dụng vốn.
Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động hết sức quan trọng đối với mỗi ngân hàng thương mại, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng do đó, nếu biết cách sử dụng vốn một cách hợp lý thì sẽ giúp các ngân hàng thương mại nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Nhận biết được tầm quan trọng của hoạt động sử dụng vốn, trong những năm vừa qua ngân TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã rất quan tâm, chú trọng đến hoạt động này.
2.2.3.1. Tình hình hoạt động cho vay tại ngân hàng.
Cho vay trong hoạt động của các ngân hàng thương mại là một quá trình tạo lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Với chức năng đi vay để cho vay nên các ngân hàng nói chung cũng như ngân TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng nói riêng phải tìm mọi cách để thu hút khách hàng như: đầu tư, phát triển các yếu tố nhằm nâng cao chất lượng của công tác tín dụng, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và an toàn vốn. Trong những năm vừa qua, do diễn biến phức tạp của nền kinh tế trong nước, hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng cũng có nhiều biến động:
- Biểu đồ 2: Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng qua các năm.
Trước bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn đang gặp khó khăn do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế Mỹ và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu. Xu hướng toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, vấn đề cạnh tranh càng căng thẳng hơn sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Qua biểu đồ trên thấy hoạt động cho vay của ngân hàng trong các năm vừa qua có sự biến động liên tục, từ năm 2023 đến năm 2024 dư nợ cho vay của ngân hàng từ 637.846 triệu đồng tăng lên 934.306 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 46,48%. Sở dĩ dư nợ cho vay tăng như vậy là do Chính phủ đưa ra các gói kích cầu nhằm khuyến khích nền kinh tế, tận dụng được cơ hội đó, ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng đã có những quyết định đúng đắn trong chiến lược kinh doanh của mình như giảm lãi suất cho vay,cung cấp các sản phẩm tín dụng đa dạng nhiều ưu đãi…để thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Từ năm 2024 đến năm 2025 dư nợ cho vay của ngân hàng bị giảm xuống từ 934.306 triệu đồng trong năm 2024 xuống còn 871.151 triệu đồng trong năm 2025. Mặc dù đến năm 2025,doanh số cho vay của ngân hàng có giảm xuống tuy nhiên lượng giảm này không đáng kể khi lạm phát tăng cao,diễn biến phức tạp về mặt bằng lãi suất cùng với sự tăng trưởng nóng của một số kênh đầu tư nhưng rủi ro cao như vàng,ngoại tệ,bất động sản… Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Để hiểu rõ hơn hoạt động cho vay tại ngân hàng, xem xét bảng kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại ngân hàng:
- Bảng 6:Bảng kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Xem xét bảng kết cấu trên ta thấy, tỷ trọng dư nợ cho vay tại ngân hàng chủ yếu là các khoản cho vay nội tệ, năm 2023 dư nợ cho vay nội tệ tại ngân hàng chiếm 91.52%, năm 2024 là 87,95% và năm 2025 là 85,21%. Ngân hàng tập trung chủ yếu cho vay nội tệ là do khi cho vay ngoại tệ, ngân hàng không những phải đối phó với những rủi ro thông thường mà còn phải đối phó với rủi ro tỷ giá hối đoái, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và nợ công hiện nay.
Hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng chủ yếu xuất phát từ 2 hoạt động cho vay chính, đó là: cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước và cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư.
- Bảng 7: Bảng cơ cấu dư nợ cho vay theo hình thức cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Qua bảng cơ cấu dư nợ cho vay tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng, hoạt động cho vay của ngân hàng chủ yếu là từ cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước, các khoản cho vay này chiếm một tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu dư nợ cho vay của ngân hàng. Chi nhánh mới được thành lập nên việc ngân hàng quan tâm trước tiên đó là cho khách hàng trong nước biết đến thương hiệu của ngân hàng do đó trong những năm vừa qua chi nhánh rất chú trọng đến việc cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Hơn nữa, với diễn biến phức tạp của nền kinh tế hiện nay cùng với sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài làm cho sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên gay gắt thì ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng nên tập trung vào các hoạt động truyền thống như cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng nên mở rộng ra các hoạt động khác để đa dạng hóa danh mục cho vay của ngân hàng, thu hút nhiều khách hàng hơn không chỉ khách hàng trong nước mà cả khách hàng nước ngoài. Trong cơ cấu dư nợ cho vay của ngân hàng còn có hoạt động cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, hoạt động này chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cho vay của ngân hàng do hoạt động cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư là hoạt động mới tại ngân hàng, hoạt động cho vay chủ yếu tại ngân hàng vẫn là cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước.
Tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng thường xuyên biến động qua các năm 2023, 2024 và 2025. Năm 2024 có thể nói là năm thành công của ngân hàng trong việc mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, đến năm 2025 tuy dư nợ cho vay có bị giảm nhưng lượng giảm không phải là quá lớn.
2.2.3.2. Tình hình hoạt động ngân quỹ tại ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Để có thể tạo niềm tin cho khách hàng đến gửi tiền, nâng cao uy tín ngân hàng thì một trong những nhân tố rất quan trọng mà mỗi ngân hàng thương mại đều phải quan tâm đó là đảm bảo khả năng thanh toán. Vì vậy, nguồn vốn mà các ngân hàng thương mại huy động được bên cạnh việc cho vay và đầu tư để thu lại được lợi nhuận thì ngân hàng phải giữ lại một phần để dự trữ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng và thực hiện các quy định dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương đề ra.
Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng nói riêng luôn dự trữ một khoản tiền dưới dạng: tiền mặt tại quỹ của ngân hàng, tiền gửi tại ngân hàng nhà nước và tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác.
- Biểu đồ 3: Tình hình hoạt động ngân quỹ tại ngân hàng qua các năm.
Qua biểu đồ trên ta thấy, ngân hàng đang ngày càng tăng các khoản tiền dự trữ, nếu như năm 2023 tổng lượng tiền dự trữ chỉ có 7.852 triệu đồng thì đến năm 2024 đã tăng lên là 10.655 triệu đồng và đến năm 2025 đã là 15.852 triệu đồng, năm 2024 so với năm 2023 đã tăng lên 35,70% còn năm 2025 so với năm 2024 thì đã tăng lên là 48,78 %. Nhận thấy ngân hàng ngày càng quan tâm hơn đến việc đảm bảo khả năng thanh toán nhằm nâng cao hơn nữa uy tín cho ngân hàng, hơn nữa trong 3 năm vừa qua lượng vốn mà ngân hàng huy động được cũng ngày càng tăng lên do đó ngân hàng cũng phải tăng lương tiền dự trữ tương ứng.
- Bảng 8: Bảng cơ cấutình hình hoạt động ngân quỹ tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Bảng số liệu trên đã cho thấy rõ cơ cấu các khoản tiền dự trữ của ngân hàng, trong các khoản tiền dự trữ đó thì tiền mặt, chứng từ có giá trị là khoản dự trữ chiếm tỷ trọng lớn nhất, với các khoản tiền gửi tại ngân hàng nhà nước thì 2 năm 2023 và 2024 đều chiếm tỷ trọng đứng thứ 2 nhưng đến năm 2025 thì khoản này lại chiếm tỷ trọng thấp nhất nguyên nhân có thể là do năm 2025 ngân hàng trung ương giảm lượng tiền dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại nên các ngân hàng có xu hướng giảm tiền gửi ở ngân hàng nhà nước để đầu tư vào các hoạt động khác mang lại lợi nhuận cao hơn.
2.3. Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
2.3.1. Tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động quan trọng và mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá và cho thuê tài chính. Đối với các ngân hàng thương mại thì cho vay là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất và với ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng cũng vậy, hoạt động tín dụng chủ yếu của ngân hàng là hoạt động cho vay.
- Bảng 9: Bảng tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Qua bảng số liệu thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng năm 2024 là có số dư lớn nhất với 934.306 triệu đồng, so với năm 2023 thì đã tăng lên 46,48% nguyên nhân là do trong năm 2024 các doanh nghiệp tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh để phát triển,hội nhập kinh tế quốc tế; hơn nữa, cùng với sự thay đổi cơ chế thị trường các ngân hàng thương mại cũng đổi mới cơ chế tín dụng, áp dụng chính sách lãi suất thỏa thuận…tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đến vay vốn sản xuất kinh doanh . Tuy đến năm 2025, hoạt động tín dụng của ngân hàng có giảm nhưng số giảm không quá lớn, so với năm 2024 thì bị giảm 6,76%. Đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính,suy thoái toàn cầu,cơ chế chính sách tuy có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc,sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với các ngân hàng khác trên địa bàn…Sau đây đi xem xét cụ thể hơn về tỷ trọng hoạt động tín dụng tại ngân hàng:
- Bảng 10: Bảng tỷ trọng hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Nhận thấy, hoạt động tín dụng tại ngân hàng chủ yếu tập trung vào cho vay mà trong đó cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước là chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2023, dư nợ của hoạt động cho vay này chiếm 100% nguyên nhân là do trong năm này ngân hàng chỉ tập trung vào một hoạt động cho vay tổ chức kinh tế cá nhân trong nước mà chưa quan tâm đến các loại hình cho vay khác, đến năm 2024 dư nợ hoạt động cho vay này chiếm 97,74% và đến năm 2025 thì chiếm 98,15% do trong 2 năm 2024 và 2025 ngoài hoạt động cho vay này ngân hàng còn mở rộng thêm cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư.
Trong hoạt động cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước thì ngân hàng chủ yếu tập trung vào 3 loại hình cho vay là cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. Tỷ trọng của 3 loại hình cho vay này qua 3 năm 2023, 2024 và 2025 có sự biến động liên tục, năm 2023 và 2025 thì cho vay dài hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 2024 cho vay ngắn hạn lại chiếm tỷ trọng lớn nhất. Có sự thay đổi trong cơ cấu thời hạn cho vay là do xuất phát từ nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp trong từng thời kì, các khoản vay trung dài hạn thường có lãi suất cao hơn các khoản vay ngắn hạn nhưng giúp cho các doanh nghiệp có thể đầu tư được lâu dài, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, nếu những dự án vay vốn kể cả ngắn hạn hay trung dài hạn của khách hàng mà ngân hàng thấy khả thi, có khả năng trả nợ đúng thời hạn và ngân hàng đủ khả năng cho vay thì ngân hàng cũng xét duyệt cho vay.
Dư nợ hoạt động tín dụng ngân hàng có sự biến động liên tục qua các năm nguyên nhân là do trong năm 2023, lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại lên quá cao, làm cho khách hàng giảm việc vay vốn, nhưng đến năm 2024, lãi suất huy động và cho vay giảm đáng kể, cùng với chính sách của nhà nước về việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay vốn kinh doanh nên làm cho dư nợ cho vay của ngân hàng trong giai đoạn này tăng lên. Đến năm 2025 các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng lãi suất huy động để tăng vốn làm cho lãi suất cho vay cũng tăng lên, khách hàng giảm vay vốn từ ngân hàng. Hơn nữa, việc khủng hoảng kinh tế thế giới mà đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu trong giai đoạn hiện nay cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho việc vay vốn để sản xuất có xu hướng giảm xuống, dư nợ cho vay trong giai đoạn này giảm.
2.3.2. Dư nợ quá hạn, dư nợ xấu và một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
2.3.2.1. Tình hình dư nợ quá hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nợ quá hạn phát sinh là điều không thể tránh khỏi và với ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng cũng vậy, trong hoạt động tín dụng của mình ngân hàng cũng phát sinh các khoản nợ quá mà khách hàng chưa trả được khi đến hạn, ta xem xét cụ thể tình hình dư nợ quá hạn của ngân hàng qua bảng sau:
- Bảng 11: Tình hình dư nợ quá hạn tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Tình hình dư nợ quá hạn của ngân hàng đang có xu hướng ngày càng gia tăng, nếu như năm 2023 tổng dư nợ quá hạn của ngân hàng chỉ có 37.115 triệu đồng thì đến năm 2024 đã tăng lên là 116.625 triệu đồng gấp 3 lần so với năm 2023, đến năm 2025 thì số dư nợ quá hạn này lại tăng tiếp lên 134.464 triệu đồng, tăng lên 17.839 triệu đồng so với năm 2024. Dư nợ quá hạn tăng lên qua các năm là do năm 2024-2025 các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế làm những quan hệ làm ăn, hợp đồng kinh tế bị thay đổi hoặc hủy bỏ hàng loạt.Chính nguyên nhân này dẫn đến tình trạng các khoản vay của họ không trả đúng thời hạn dẫn đến nợ quá hạn ngày một tăng, làm chất lượng tín dụng của ngân hàng suy giảm.
Xem xét cơ cấu các khoản dư nợ quá hạn thì dư nợ quá hạn dài hạn luôn có số dư nợ lớn nhất vì trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì khi thời gian càng dài, mức độ rủi ro lại càng lớn. Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại thì việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh được, tuy nhiên nếu số dư nợ quá hạn quá lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, gây nên rủi ro trong kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
2.3.2.2. Tình hình dư nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng
Nếu như nợ quá hạn phản ánh sự yếu kém về mặt tài chính và là dấu hiệu rủi ro tín dụng của ngân hàng thì nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Do đó,việc xem xét tình hình dư nợ xấu là rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTM. Như đã nghiên cứu, nợ xấu là các khoản nợ thuộc tử nhóm 3 đến nhóm 5 theo quy định về phân loại nhóm nợ của ngân hàng nhà nước. Sau đây là bảng dư nợ xấu tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng:
- Bảng 12: Tình hình dư nợ xấu tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
Dư nợ xấu của ngân hàng có sự biến động qua các năm 2023, 2024 và 2025, nếu như trong năm 2023 số dư nợ xấu của ngân hàng chỉ có 31.442 triệu đồng thì đến năm 2024 đã là 60.299 triệu đồng tăng lên gấp đôi so với năm 2023, đến năm 2025 lại giảm một chút so với năm 2024 xuống còn 58.892 triệu đồng. Như đã tìm hiểu, dư nợ hoạt động tín dụng của ngân hàng năm 2024 là nhiều nhất vì thế mà số dư nợ xấu trong năm này cũng nhiều nhất. Hơn nữa, sự biến động kinh tế trong và ngoài nước như khủng hoảng kinh tế, lạm phát gia tăng, tình hình kinh tế chính trị phức tạp, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị áp lực từ nhiều phía…dẫn đến khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm. Hoạt động cho vay chính của ngân hàng là cho vay các tổ chức kinh tế, các nhân trong nước nên các khoản nợ xấu phát sinh chủ yếu là ở khoản cho vay này. Cũng giống như dư nợ quá hạn, khi xem xét cơ cấu dư nợ xấu thì ta thấy các khoản dư nợ xấu dài hạn luôn lớn hơn so với các khoản nợ xấu trong trung hạn và ngắn hạn bởi hoạt đông tín dụng trung dài hạn tuy giúp ngân hàng thu được lợi nhuận cáo hơn so với hoạt động tín dụng ngắn hạn nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn.
2.3.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
- Tỷ lệ nợ quá hạn.
Để đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng thì không thể không nói đến chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn. Nợ quá hạn có nhiều mức độ khác nhau, để thấy rõ hơn về mức độ nợ quá hạn của ngân hàng, ta quan tâm đến chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn:
Do số dư nợ quá hạn của ngân hàng ngày càng tăng nên tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng cũng ngày càng tăng lên. Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2023 là 5,82% có nghĩa là cứ trên 100 đồng dư nợ thì ngân hàng có 5,82 đồng đã quá hạn, đến năm 2024 thì trong 100 đồng dư nợ tại ngân hàng thì có 12,49 đồng đã quá hạn, tăng gấp đôi so với năm 2023 và đến năm 2025 thì trong 100 đồng dư nợ quá hạn tại ngân hàng có 15,44 đồng quá hạn. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của Nợ quá hạn nhanh hơn tốc độ tăng của Tổng dư nợ. Tỷ lệ dư nợ quá hạn tại ngân hàng ngày càng tăng chứng tỏ hoạt động tín dụng tại ngân hàng ngày càng gặp rủi ro, các khoản dư nợ gốc và lãi mà ngân hàng chưa thu hồi được ngày càng tăng lên, chất lượng tín dụng giảm xuống làm cho hiệu quả hoạt động tín dụng cũng bị giảm sút. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
- Chỉ tiêu cơ cấu nợ quá hạn:
Ta đã đi xem xét chung về tỷ lệ nợ quá hạn, sau đây ta đi xem xét cụ thể về chỉ tiêu cơ cấu nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn có sự thay đổi liên tục qua các năm, tỷ lệ này cao nhất là vào năm 2025 với 9,13%. So với 2 năm trước đó năm 2023 và 2024, tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn năm 2025 tăng lên rất nhiều chứng tỏ ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn cho vay ngắn hạn gây nên rủi ro trong hoạt động tín dụng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợtrung hạn quá hạn: trong năm 2023 tỷ lệ nợ trung hạn quá hạn của ngân hàng là 8%, đến năm 2024 thì tỷ lệ này tăng lên là 15,4%, tăng gần gấp đôi so với năm 2023, năm 2025 tỷ lệ này là 15,36% giảm một chút so với năm 2024 tuy nhiên số giảm này là không đáng kể. Điều này cho thấy việc thu hồi vốn trong cho vay trung hạn của ngân hàng cũng ngày càng khó khăn hơn, khi dư nợ cho vay càng lớn thì việc kiểm soát khả năng trả nợ của khách hàng ngày càng khó khăn mà năm 2024 lại là năm mà ngân hàng có số dư nợ cho vay trung hạn lớn nhất. Năm 2025 ngân hàng có số dư nợ cho vay trung hạn ít hơn so với 2 năm 2023 và 2024 nhưng tỷ lệ nợ trung hạn quá hạn lại rất lớn cho thấy hoạt động tín dụng ngân hàng đang ngày càng gặp nhiều rủi ro.
Tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn: cũng như 2 tỷ lệ trên, năm 2023 vẫn là năm ngân hàng có tỷ lệ thấp nhất với 5,04%, sang đến năm 2024 thì tỷ lệ này tăng lên là 20,64%, so với năm 2023 thì tỷ lệ này đã tăng lên gấp 4 lần một mức tăng quá nhanh chỉ trong vòn 1 năm. So với năm 2023 thì năm 2024 ngân hàng còn có số dư nợ cho vay dài hạn ít hơn mà trong khi đó số dư nợ cho vay dài hạn quá hạn lại tăng lên rất nhiều, chính điều này đã làm cho tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn của ngân hàng tăng nhanh như vậy. Đến năm 2025 tuy tỷ lệ này có giảm so với năm 2024 nhưng vẫn là quá lớn, ngân hàng cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa khách hàng vay vốn cũng như khả năng trả nợ của khách hàng để việc thu hồi vốn nhanh chóng hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng.
- Tỷ lệ nợ xấu: Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Khi xem xét các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng thì không thể không đề cập đến tỷ lệ nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng được thể hiện cụ thể thông qua bảng số liệu sau:
Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đang có xu hướng ngày càng tăng nếu như năm 2023 chỉ có 4,93% ( trong 100 đồng tổng dư nợ có 4,93 đồng nợ xấu) thì đến năm 2024 đã tăng lên là 6,45% ( trong 100 đồng tổng dư nợ có 6,45 đồng nợ xấu) và đến năm 2025 thì đã tăng lên là 6,76% , tăng lên 0,31% so với năm 2024. Điều này chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của ngân hàng ngày càng khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn là rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng ngày càng tăng là do sự biến động tình hình kinh tế trong nước trong những năm vừa qua đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho việc thu hồi vốn của ngân hàng trở nên khó khăn. Tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng làm cho chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày càng giảm xuống ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, ngân hàng cần đưa ra các chính sách thích hợp để giảm thiểu các khoản nợ xấu này.
- Tỷ lệ sinh lời của tín dụng.
Tỷ lệ sinh lời từ hoạt tín dụng phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng. Tỷ lệ sinh lời từ hoạt tín dụng của ngân hàng năm 2024 là 2,77% có nghĩa là số tiền lãi mà ngân hàng thu được trên 100 đồng dư nợ là 2,77 đồng, năm 2025 tỷ lệ này là 2,45% giảm 0,32% so với năm 2024.
- Hiệu suất sử dụng vốn
- Hiệu suất sử dụng vốn ( H1 )
Đây là chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay trực tiếp khách hàng, nhận thấy chỉ tiêu hiệu suất sử vốn trên của ngân hàng đều nhỏ hơn 1, điều này cho thấy trong những năm vừa qua ngân hàng huy động đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn, hiệu suất sử dụng vốn mà ngân hàng có được là khá cao.
- Hiệu suất sử dụng vốn ( H2 )
Năm 2023 chỉ tiêu này là 96,92% có nghĩa là cứ trong 100 đồng thuộc tài sản có thì có 96,92 đồng được sử dụng để cho vay trực tiếp khách hàng, đến năm 2024 thì giảm đi còn 95,74 đồng và đến năm 2025 là 90,76 đồng.Tuy hệ số này có giảm nhưng đây vẫn là một mức khá lớn, ngân hàng đang sử dụng vốn cho vay quá nhiều nên có thể đẫn đến rủi ro thanh khoản.
- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
So với năm 2024 thì năm 2025 ngân hàng đã giảm tỷ lệ này đi khá nhiều, năm 2025 tỷ lệ trích lập DPRR tín dụng của ngân hàng là 1,05% nhưng đến năm 2025 tỷ lệ này chỉ còn 0,20%. Điều này cho thấy năm 2025 ngân hàng đã giảm thiểu được rủi ro tín dụng rất nhiều so với năm 2024, ngân hàng đã đưa ra được các giải pháp đúng đắn và kịp thời nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Công tác quản lý chất lượng tín dụng trong những năm vừa qua đã được chi nhánh hết sức quan tâm. Chi nhánh vẫn luôn xác định mở rộng tín dụng phải gắn chặt với kiểm soát và quản lý chất lượng tín dụng. Để thực hiện được điều đó, chi nhánh đã đưa ra một số biện pháp sau:
- Ban lãnh đạo Chi nhánh luôn bám sát định hướng hoạt động kinh doanh gắn với tình hình thực tế tại Chi nhánh để chỉ đạo cụ thể và có nhiều biện pháp giải quyết, xử lý nghiệp vụ phù hợp, cụ thể, kịp thời.
- Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng, tổ chức đào tạo tập huấn nâng cao trình độ cho các cán bộ tín dụng và cán bộ kiểm soát. Cương quyết điều chuyển các cán bộ tín dụng có trình độ yếu kém, nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp.
- Tập thể cán bộ tín dụng đoàn kết, nhất trí, có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ được giao, phong cách làm việc dứt khoát.
- Tăng cường công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, bám sát diễn biến và nâng cao chất lượng các khoản vay.
- Tăng cường công tác thẩm định các khoản cho vay.
- Theo dõi sát sao mục đích sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhằm tránh hiện tượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích.
- Ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động tín dụng.
Trong hoạt động kinh doanh luôn tồn tại những rủi ro thường trực do vậy các doanh nghiệp có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào và nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng đến việc trả nợ của doanh nghiệp từ đó sẽ gây ra kết quả bất lợi cho Ngân hàng.
2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hải Phòng.
2.4.1. Những thành quả đã đạt được. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Trong những năm vừa qua, ban lãnh đạo chi nhánh và toàn thể nhân viên ngân hàng đã nỗ lực hết mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hiệu quả hoạt động tín dụng nói riêng, chi nhánh đã đưa ra và triển khai được những biện pháp nhất định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng:
Quy mô hoạt động tín dụng tại chi nhánh ngày càng được mở rộng, đặc biệt là trong năm 2024, so với năm 2023 dư nợ cho vay tại ngân hàng đã tăng lên 46,48 %, đến năm 2025 do tăng trưởng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước kiểm soát dưới 20% nên ngân hàng chỉ tập trung giải ngân cho nhóm khách hàng sản xuất có hiệu quả làm cho dư nợ cho vay trong năm 2025 bị giảm đi so với năm 2024 nhưng lượng giảm không quá lớn.
Hoạt động sử dụng vốn tại ngân hàng tương đối hiệu quả, hiệu suất sử dụng vốn H1 luôn đạt trên 80% ( năm 2023 là 99,57%, năm 2024 là 97,32 %, năm 2025 là 87,59% ) còn hiệu suất sử dụng vốn H2 luôn đạt trên 90% ( năm 2023 là 96,92%, năm 2024 là 95,74% , năm 2025 là 90,76% ). Điều đó chứng tỏ ngân hàng đã cân đối khá tốt được nguồn vốn để cho vay, không sử dụng vốn quá mức để tránh rủi ro thanh khoản nhưng cũng không lãng phí nguồn vốn.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại chi nhánh năm 2025 giảm đi đáng kể so với năm 2024, năm 2024 tỷ lệ này là 1,05% nhưng đến năm 2025 thì chỉ còn 0.20%. Thực hiện được điều này là do bên cạnh việc mở rộng quy mô tín dụng, ngân hàng cũng rất chú ý đến việc tăng cường công tác kiểm soát chất lượng tín dụng.
Công tác huy động vốn tại ngân hàng có mức tăng trưởng khá ổn định, tổng lượng vốn mà ngân hàng huy động được trong những năm gần đây có xu hướng ngày càng tăng, năm 2024 nguồn vốn ngân hàng huy động được tăng 49,88% so với năm 2023, năm 2025 nguồn vốn ngân hàng huy động được tiếp tục tăng lên và tăng 3,6 % so với năm Việc tăng nguồn vốn huy động giúp ngân hàng đáp ứng yêu cầu về vốn cho nhu cầu tín dụng tại ngân hàng, giúp ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng.
2.4.2. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân.
Để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tín dụng thì không chỉ nhìn vào những mặt mạnh đã đạt được mà bên cạnh đó cũng cần phải nhìn thấy những yếu kém của ngân hàng để từ đó hạn chế khắc phục những thiếu sót. Sau đây là những điểm còn hạn chế tại ngân hàng: Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
2.4.2.1. Những vấn đề còn tồn tại.
Thông qua việc đánh giá tình hình các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại ngân hàng trong những năm gần đây, nhận thấy các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại ngân hàng có xu hướng ngày càng tăng làm cho chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày càng giảm xuống ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, ngân hàng cần đưa ra các chính sách thích hợp để giảm thiểu các khoản nợ này.
Do mới đi vào hoạt động nên danh mục sản phẩm huy động và cho vay còn hạn chế, ngân hàng mới tập trung vào các sản phẩm truyền thống, chưa đa dạng được các loại hình sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Đội ngũ cán bộ nhân viên đa số còn trẻ nên bị hạn chế về kinh nghiệm thực tế cũng như trình độ chuyên môn trong quá trình thẩm định tín dụng do đó có thể dẫn đến việc cho vay vốn với các khách hàng không đủ tiêu chuẩn đẫn đến rủi ro tín dụng
Nhìn chung, hoạt động huy động vốn tại ngân hàng tuy có tăng trưởng trong những năm vừa qua nhưng đang có xu hướng chậm lại, từ năm 2023 đến năm 2024 tăng 49,88% nhưng từ năm 2024 đến năm 2025 chỉ tăng 3,6%, do đó ngân hàng cần chú trọng hơn đến hoạt động này.
2.4.2.2. Nguyên nhân.
- Nguyên nhân chủ quan:
Việc kiểm soát quy trình và chính sách tín dụng tại ngân hàng chưa được thực hiện chặt chẽ làm các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại ngân hàng ngày càng tăng ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Chưa đầu tư đúng mức cho công tác nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà đặc biệt là rủi ro tín dụng dẫn đến việc kiểm tra rủi ro tín dụng trở nên khó khăn.
Chưa xây dựng được văn hóa doanh nghiệp nhằm nâng cao hơn nữa tinh thần làm việc cũng như phẩm chất đạo đức của cán bộ công nhân viên ngân hàng nói chung và cán bộ công nhân viên phòng tín dụng nói riêng, các phòng ban chuyên môn chưa có sự đoàn kết và phối hợp nhịp nhàng với nhau. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
- Nguyên nhân khách quan:
Sự biến động của nền kinh tế thế giới và gia tăng lạm phát trong nước trong những năm vừa qua có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đẫn đến ngân hàng thu hồi vốn khó khăn, nợ xấu gia tăng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Môi trường pháp lý còn bộc lộ nhiều yếu kém về mặt hiệu lực, tính đồng bộ giữa các văn bản luật, cơ quan ban ngành liên quan, đặc biệt là các văn bản liên quan tới cơ chế cho vay.
Hiện nay trên địa bàn thành phố cũng có khá nhiều ngân hàng hoạt động nên khó tránh khỏi đến việc phát triển của chi nhánh. Bên cạnh đó có khá nhiều ngân hàng có nền tảng vững chắc, uy tín và sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của chi nhánh trong thời gian vừa qua.
Các doanh nghiệp thường có vốn kinh doanh ít nên việc tham gia vào các phương án, dự án thấp từ đó ảnh hưởng phần nào đến rủi ro cho ngân hàng khi đầu tư vào các doanh nghiệp này.
Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp không đủ độ tin cậy, không được kiểm toán hàng năm hoặc có kiểm toán nhưng ở những doanh nghiệp kiểm toán cho có nhiều uy tín, tài sản đảm bảo của doanh nghiệp rất ít không đủ đảm bảo cho nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư mới tài sản cố định. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank.
Trình độ quản lý, năng lực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn yếu, đa phần chưa được đào tạo bài bản và chính quy dẫn đến chưa theo kịp được cung cách quản lý hiện đại, có tổ chức.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank


Pingback: Khóa luận: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Navibank
Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng Navibank