Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam và những kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam cho các bạn.

4.1. So sánh những đặc trưng của án lệ ở hệ thống pháp luật Việt Nam và hai nước Đức, Pháp.

4.1.1. Vị trí của án lệ trong lịch sử pháp luật.

Pháp luật Việt Nam thực chất không chính thức được thừa nhận thuộc hệ thống pháp luật Civil law hay Common Law, tuy nhiên với đặc trưng đề cao luật thành văn thì pháp luật Việt Nam có xu hướng gần gũi hơn với hệ thống Dân luật. Do vậy, vai trò và vị trí của án lệ ít nhiều cũng thể hiện sự tương đồng với đặc điểm pháp luật Đức và Pháp. Đặc biệt đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từng là nước thuộc địa của Pháp thì sự phát triển của án lệ trong pháp luật Pháp càng có tác động đến Việt Nam.

Thuật ngữ “án lệ” lần đầu tiên được nhắc đến trong pháp luật Việt Nam là ở thời kỳ Pháp thuộc. Hòa ước Giáp Thân năm 1884 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam: Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành hai xứ thuộc bảo hộ của Việt Nam, Nam Kỳ chính thức bị chia cắt và là thuộc địa của Pháp. Bước ngoặc trong lịch sử này kéo theo một sự thay đổi hoàn toàn về cấu trúc pháp luật. Đặt trong bối cảnh lịch sử thế giới, các quốc gia chịu sự thay đổi này một phần là do hệ quả tất yếu của công cuộc thực dân của các quốc gia Châu Âu lục địa, mặt khác lại là sự chủ động du nhập pháp luật La Mã – Đức nhằm mục đích hiện đại hóa, “tây hóa” hệ thống pháp luật quốc gia. Ở Việt Nam, các học thuyết pháp lý của Pháp có tác động mạnh mẽ và làm thay đổi cơ bản hệ thống pháp luật Việt Nam, những đặc điểm của pháp luật Châu Âu lục địa gần như đã thay thế toàn bộ đặc trưng pháp luật Viễn Động của nước ta. Sự thay đổi toàn diện về mặt pháp lý đã kéo theo sự thay đổi về mặt nguồn luật, do đó án lệ giờ đây đã có một vị trí quan trọng và được ghi nhận bởi luật.

Điều 4 Dân luật Trung Kỳ quy định:

“Khi nào không có điều luật dẫn dụng được, thời quan Thẩm phán sẽ xử theo phong tục; nếu phong tục cũng không có, thời xử theo lẽ phải và sự công bằng, mà dựa theo tục riêng, cùng thói quen và tình ý của người đương sự  Quan Thẩm phán sẽ phải giải quyết theo luật học và án lệ”

Và Điều 5 Bộ Dân luật Trung Kỳ cũng quy định: Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

“Phàm quan thẩm phán nào viện lẽ rằng luật không định, luật không rõ hay là luật không đủ mà thối thác không xử một việc gì, thời có thể bị truy cứu và xử về tội bất khẳng thụ lý như điều 188 luật hình đã định”.

Đặt trong đối sánh với Điều 4, 5 Bộ luật Dân sự Pháp, ta nhận thấy rằng có một sự tương đồng trong ý tứ của nhà làm luật, đặc biệt là về nguyên tắc bất khẳng thụ lý. Theo đó, để đảm bảo yêu cầu này, thẩm phán phải xét đến mọi nguồn luật theo thứ tự ưu tiên và do đó, sử dụng án lệ là một hệ quả tất yếu. Tuy nhiên, điểm khác biệt duy chỉ có ở Bộ luật Dân sự Pháp 1804 không trực tiếp đề cập đến án lệ như ở Bộ Dân luật Trung Kỳ và cho đến tận bây giờ việc áp dụng án lệ vẫn dựa trên nguyên tắc “ngầm thừa nhận”.

Cũng cần lưu ý rằng, ở thời điểm này pháp luật Việt Nam do có sự chia cắt mà không còn tính thống nhất, thay vào đó ở mỗi vùng Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam sẽ áp dụng những bộ luật khác nhau. Tuy nhiên, nền tảng xây dựng nên các bộ luật này đều dựa trên cơ sở là Bộ Dân sự Pháp 1804. Do đó, mặt hạn chế của sự tiếp thu này đó là bối cảnh lịch sử, thực tiễn xã hội và văn hóa pháp lý khác nhau, cho nên khi đưa vào thực tiễn những các bộ luật tỏ ra kém hiệu quả, thiếu thốn các quy định trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Một xu hướng tất yếu lúc này đó là các Tòa án nghĩ tới việc giải thích pháp luật nhằm bổ sung những thiếu sót thông qua các bản án. Thêm vào đó, Tòa án Pháp ở thuộc địa có thẩm quyền rất lớn, số lượng các thẩm phán của Pháp cũng rất đông đảo đã dần dần đã tạo nên những ảnh hưởng nhất định trong quá trình giải thích pháp luật của thẩm phán thông qua việc sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử.

Thế nhưng cũng giống như pháp luật Pháp, việc áp dụng án lệ cũng bị giới hạn bởi Điều 6 Bộ Dân luật Trung kỳ:

“Cấm quan thẩm phấn khi xử án gì, không được định những điều khoản để lập ra thông lệ về sau, hễ thụ lý về sự kiện gì, thời chỉ được và chỉ nên xử riêng về sự kiện ấy. Những lời xử đoán chỉ xử thuộc về sự kiện ấy mà thôi.”

Quan điểm này thể hiện rõ: quá trình giải thích pháp luật của thẩm phán không được tạo ra những nguyên tắc mang tính khuôn mẫu cho các tranh chấp về sau đồng thời cũng khước từ nguyên tắc tuân theo án lệ trong xét xử. Quy định này có sự tương đồng với pháp luật Pháp ở chỗ án lệ chỉ có hiệu lực đối với bản án tạo ra nó.

Ở chế độ Việt Nam Cộng hòa, đến tận năm 1972 các bộ luật tư nền tảng mới được pháp điển hóa, do đó chế độ Đệ Nhị Cộng hòa hầu hết vẫn lấy các bộ luật tư ban hành thời Pháp thuộc làm nền tảng đồng thời có sự thay đổi để các quy định phù hợp với thực tiễn đương thời. Hệ quả là án lệ đóng một vai trò thiết yếu, và thậm chí còn phát triển mạnh mẽ hơn nhiều so với giai đoạn trước. Bên cạnh các học thuyết pháp lý, án lệ trong thời kỳ này là một trong hai nguồn bổ túc pháp luật mà theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu thì có hai nhiệm vụ: giải thích pháp luật và dự bị cho các cuộc cách mạng pháp luật. Những tinh thần của các điều luật 4, 5, 6 Bộ Dân luật Trung kỳ vẫn còn được tiếp nối ở thời kỳ này. Thẩm phán được trao quyền giải thích pháp luật tuy nhiên để đảm bảo không xâm phạm đến quyền lập pháp của Quốc hội, thẩm phán không được tạo ra các “phán quyết có tính tổng quát và pháp quy do mình xử”. Án lệ mặc dù được công nhận song vẫn không phải là nguồn luật chính yếu, các bản án bị phá dù là chung thẩm thì cũng chỉ có giá trị đối với chính vụ kiện đó mà thôi. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Thời kỳ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc: Sau khi giành lại được độc lập từ tay người Pháp và người Nhật, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do hoàn cảnh khách quan mà tập trung vào nhiệm vụ giữ vững nền độc lập mà chưa thể tiến hành xây dựng ngay một hệ thông pháp luật mới. Do đó các bộ luật của Bắc, Trung, Nam kỳ vẫn được giữ lại để áp dụng. Sau này khi Hiến pháp 1959 được thông qua, Tòa án dân nhân Tối cao ra chỉ thị:“đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đễ quốc”. Từ đó, Việt Nam thiếu hẳn một bộ luật Dân sự thực thụ thay vào đó là áp dụng các văn bản với hình thức quyết định, mệnh lệnh hành chính. Tuy nhiên, án lệ không vì thế mà bị hủy bỏ, để nhằm bù đắp những lỗ hổng của pháp luật, án lệ vẫn được sử dụng trong quá trình xét xử các vụ hình sự và dân sự. Nhưng từ sau năm 1975 đến trước năm 2005 thì thuật ngữ “án lệ” hầu như không được sử dụng chính thức, tuy rằng trong các nghiên cứu thuật ngữ này vẫn được nhắc đến song chỉ mang tính học thuật.

Quá trình Đổi mới bắt đầu từ năm 1986 diễn ra nhiều sự thay đổi của xã hội, một trong những minh chứng rõ ràng nhất là về lĩnh vực pháp luật.

Việt Nam lúc này tiếp nhận khá nhiều học thuyết pháp lý, quá trình pháp điển hóa lúc này diễn ra mạnh mẽ, hệ quả là hàng loạt các bộ luật thành văn đã ra đời. Dù vậy, những bộ luật này tỏ ra yếu kém ở nhiều mặt, ý chí của nhà làm luật không bắt kịp sự biến đổi của xã hội, các quy định còn nhiều mâu thuẫn, không rõ ràng, nhiều vấn đề không được điều chỉnh,… Do đó, vẫn cần có một giải pháp để bù đắp những hạn chế này và án lệ là công cụ hữu hiệu nhất. Tòa án Nhân dân Tối cao sau đó đã Quyết định 74/QĐ-TANDTC phê duyệt đề án

Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân Tối cao”. Trên cơ sở đó, Bộ luật Dân sự 2015 là đạo luật đầu tiên ghi nhận án lệ là một nguồn pháp luật, tiếp sau đó là Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và luật Tố tụng Hành chính 2015. Và Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP – đến nay đã được thay thế bằng Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao ban hành là văn bản minh thị rõ ràng nhất án lệ ở Việt Nam.

Như vậy, trải qua một quá trình lịch sử, ta có thể thừa nhận rằng án lệ từ khi xuất hiện trong văn hóa pháp lý của pháp luật Việt Nam chưa từng bị chối bỏ. Điều này làm cho lịch sử án lệ của Việt Nam vừa có nét tương đồng với cả hai hệ thống pháp luật Đức và Pháp. Đối với Pháp, dễ nhận thấy rằng những quy định về án lệ ở Việt Nam ngay từ thời Bộ Dân luật Trung kỳ đã có sự ảnh hưởng rất rõ nét của Bộ luật Dân sự Pháp. Ngay cả thực tiễn xét xử, các thẩm phán người Pháp hay các án lệ của Tòa Phá án đã đóng góp không nhỏ vào quá trình hình thành và phát triển án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Ở Pháp, án lệ cũng trải qua những giai đoạn được ghi nhận rồi bị xóa bỏ và cuối cùng là tái ghi nhận thông qua vai trò giải thích pháp luât của thẩm phán. Án lệ ở Việt Nan cũng có một tiến trình tương tự khi cũng có một thời gian thuật ngữ naỳ không còn được sử dụng chính thức trong hoạt động tư pháp. Mặc dù thời điểm khác nhau, bối cảnh lịch sử cũng không tương đồng tuy nhiên không thể phủ nhận có thể nhìn thấy hình bóng lịch sử án lệ Pháp thông qua con đường phát triển án lệ ở Việt Nam. Có lẽ điểm khác biệt lớn nhất đối với Pháp lại là điểm tương đồng dễ nhận thấy của pháp luật Việt Nam với pháp luật Đức, đó là án lệ chưa bao giờ bị chối bỏ một cách chính thức kể từ khi thuật ngữ này được ra đời. Thêm vào đó, án lệ cũng đã xuất hiện trong các quy định của pháp luật, điều này không hề được thể hiện rõ ràng trong các Bộ luật của Pháp. Có thể thấy, cho dù cùng thuộc một hệ thống pháp luật thành văn mà khởi nguồn là Luật La Mã – Đức, nhưng mô hình án lệ của các quốc gia khi được cụ thể hóa vào thực tiễn áp dụng là không giống nhau.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

4.1.2. Bản chất của án lệ Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

4.1.2.1. Án lệ trong quan điểm về Nguồn pháp luật.

Dựa vào các quy định hiện hành mà điển hình là Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Dân sự 2015 đề cập đến trường hợp áp dụng án lệ như sau:

“Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.”

Và Điều 1 Nghị Quyết 04/2019/NQ-HĐTP khi định nghĩa về án lệ:

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.”

Ta có thể khẳng định án lệ hiện nay có bản chất là một nguồn pháp luật chính thức, sẽ được áp dụng khi không có luật quy định, không có tập quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật hay các nguyên tắc chung của pháp luật.

Xung quanh vấn đề vị trí nguồn luật của án lệ, có nhiều quan điểm cho rằng khoa học pháp lý Việt Nam nên công nhận học thuyết về nguồn luật bổ sung và án lệ sẽ chỉ nên là một nguồn luật bổ sung. Lập luận cho quan điểm này, các học giả dựa vào cơ sở hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc pháp điển hóa và các đạo luật, đồng thời cũng không có yếu tố lịch sử như Anh, Mỹ về một truyền thống coi trọng án lệ. Hầu hết các quốc gia Châu Âu lục địa mà điển hình là Pháp, Đức nhìn chung đều công nhận án lệ với hiệu lực thực tế thay vì được đảm bảo bởi luật. Thậm chí, theo Fushihara Hirota, án lệ chỉ là một hình thái đặc biệt của bản án và chỉ nên là công cụ giải thích, tìm kiếm, khẳng định nội hàm của quy phạm pháp luật được quy định trong luật thành văn khi giải quyết các tranh chấp cụ thể chứ không thể được coi là một nguồn luật chỉ bởi sự thay đổi về mặt từ ngữ trong Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Đây là quan điểm đặc trưng của hệ thống pháp luật các nước Châu Âu lục địa, thể hiện sự phân định rõ ràng về nguồn luật chính thức và nguồn luật tham khảo.

Theo quan điểm của người viết, cách tiếp cận án lệ với vai trò là nguồn luật bổ sung đặt trong bối cảnh pháp lý của Việt Nam là không phù hợp. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Thứ nhất, án lệ của Việt Nam có một lịch sử phát triển không phải là quá ngắn nhưng quá trình để đưa án lệ vào thực tiễn áp dụng lại mất một khoảng thời gian rất dài và đến nay vẫn đang trong thời kỳ ngày càng hoàn thiện mà chưa đạt được đến trình độ được coi là chuẩn mực. Và với một thực tiễn đòi hỏi hoạt động tư pháp phải kịp thời bổ sung án lệ vào những trường hợp khuyết thiếu luật thành văn thì cần thiết phải có một sự công nhận bởi luật thì hiệu lực của án lệ mới có thể được đảm bảo tối đa nhất và nhanh chóng đi vào thực tiễn. Cần lưu ý rằng án lệ đối với pháp luật Việt Nam là dạng án lệ giải thích pháp luật, nếu như chỉ có hiệu lực thuyết phục thì rất khó để có thể đảm bảo được một sự đồng bộ trong quá trình áp dụng của hoạt động xét xử. Đối với một quốc gia coi trọng pháp điển hóa thì sự công nhận chính thức bằng quy định pháp luật sẽ là căn cứ tường minh và thuyết phục nhất đối với hiệu lực của án lệ.

Thứ hai, đối với các nước Đức, Pháp trên thực tế hiệu lực của án lệ không phải tất cả lĩnh vực đều chỉ là hiệu lực thuyết phục. Án lệ của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức có hiệu lực tối cao và được đảm bảo bởi luật, trong khi án lệ đối với lĩnh vực luật hành chính của Pháp thì được công nhận là nguồn chính thức. Nhiều quan điểm cũng cho rằng, mô hình Tòa án của Pháp và Việt Nam khá tương đồng về một hệ thống tòa án được tổ chức theo cấp, do đó án lệ ngay cả khi là một nguồn luật bổ sung thì vẫn đảm bảo được hiệu lực khi tòa án cấp dưới sẽ có xu hướng tuân theo đường lối xử lý của tòa cấp trên. Lập luận này đúng về mặt nhận định mối quan hệ giữa tòa án các cấp nhưng lại không thỏa đáng khi đặt trong cách tiếp cận với án lệ từ góc nhìn đối sánh. Án lệ của Pháp có một cách thức khá đặc biệt là “tự chứng minh” giá trị trong thực tiễn thì mới có thể dễ dàng tương thích với mô hình về nguồn luật bổ sung. Nhìn vào quá trình phát triển của án lệ có thể thấy, sơ dĩ nguyên tắc pháp điển hóa được coi là nền tảng bởi lẽ lịch sử của Pháp đã chứng kiến một sự thất bại của tư pháp thời kỳ trước Cách mạng khi thẩm phán xét xử không dựa vào căn cứ pháp luật để rồi sản sinh ra hậu quả là phán quyết bất công của quan tòa dành cho giai cấp công nhân, nông dân. Sau này, do muốn hạn chế tối đa lịch sử lặp lại, các nhà làm luật Pháp có vẻ có một cái nhìn khá khắt khe đối với án lệ và không muốn trao quyền trực tiếp tạo ra án lệ vào tay thẩm phán thay vào đó án lệ phải được công nhận từ thực tiễn. Lý giải này đưa đến hai vấn đề: quá trình hình thành một án lệ sẽ mất một thời gian khá dài và án lệ không nên được đặt ngang hàng với luật thành văn vì những “nỗi sợ” từ quá khứ. Thực chất, mô hình này của Pháp cũng dẫn đến một đặc thù đó là hiệu lực của án lệ chỉ ở mức độ “thuyết phục”, bản thân Tòa án Tối cao cũng đã có những phán quyết đi ngược lại với các nguyên tắc trong án lệ trước đó do chính nó ban hành. Đối với pháp luật Việt Nam, hiển nhiên chúng ta không trải qua những giai đoạn lịch sử như vậy, và thực tiễn pháp lý đương thời đòi hỏi tập trung giải quyết các vấn đề sau: tính kịp thời của án lệ để hỗ trợ hoạt động xét xử, hiệu lực chính thức để đảm bảo quá trình áp dụng đồng bộ và chất lượng của bản án. Hai yêu cầu đầu tiên rõ ràng với tư cách là một nguồn luật chính thức án lệ sẽ làm tốt vai trò của nó hơn là nguồn luật bổ sung. Ở yêu cầu cuối cùng, đây có thể coi là điều kiện tiên quyết nếu như muốn trang bị một mô hình “tự chứng minh” cho án lệ giống như pháp luật Pháp, tuy nhiên đây lại là vấn đề mà tư pháp nước ta còn chưa giải quyết được đồng bộ. Do vậy, án lệ trong pháp luật của Việt Nam với vị trí là một nguồn luật bổ sung, dựa vào những lập luận trên theo quan điểm của người viết là một sự công nhận sai lầm. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Án lệ nói chung với vai trò là nguồn luật chính thức hay bổ sung là một vấn đề thuộc khoa học pháp lý trong các học thuyết về nguồn luật. Do vậy dù với vị trí nào thì nó cũng sẽ có nhưng ưu – nhược điểm nhất định, nhưng chỉ khi đặt trong bối cảnh pháp lý của một quốc gia thì chắc chắn án lệ chỉ có thể thuộc về một bên ranh giới hoặc là chính thức hoặc là bổ sung để có thể tương thích với thực tiễn. Và với pháp luật nước ta, công nhận án lệ với tư cách một nguồn luật chính thức là một thành công lớn trong công cuộc cải cách tư pháp của Việt Nam.

4.1.2.2. Hiệu lực của án lệ.

Theo Khoản 2 Điều 8 về “Áp dụng án lệ trong xét xử” của Nghị quyết 04/2019/NQ-HDTP thì hiệu lực cảu án lệ được gián tiếp quy định như sau:

Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau. Trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhưng Tòa án không áp dụng án lệ thì phải nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án.

Theo đó, mô hình án lệ hiện nay được trao cho hiệu lực bắt buộc, các thẩm pháp có nghĩa vụ phải tôn trọng, áp dụng các bản án đã được công bố. Ở quy định trên, có thể dễ dàng nhìn thấy hình bóng của một nguyên tắc điển hình trong truyền thống pháp luật Anh, Mỹ bắt nguồn từ tư tưởng của Aristol: những vụ việc giống nhau phải được xét xử như nhau. Mặc dù không đề cập rõ liệu rằng Tòa án cấp trên có bị ràng buộc bởi án lệ của chính nó hay không, tuy nhiên với quy định như vậy đã tạo cho thẩm phán một nghĩa vụ phải áp dụng án lệ vào quá trình xét xử. Đối với những trường hợp không tuân thủ thì phải nêu rõ lý do trong bản án. Nếu đặt trong đối sánh với pháp luật Đức thì hiệu lực ràng buộc của án lệ ở nước này được khẳng định quyết liệt hơn rất nhiều, bởi một bản án của tòa án cấp dưới nếu không tuân thủ án lệ của Tòa Hiến pháp Cộng hòa Liên bang thì có thể sẽ là căn cứ để Tòa Hiến pháp Liên bang tuyên hủy bản án. Đối với Pháp, mặc dù không có quy định nào bắt buộc sự tuân thủ án lệ dành cho các Tòa án cấp dưới tuy nhiên, án lệ của Tòa án Tối cao lại có một “uy lực tinh thần” trong việc áp dụng. Quy này của Việt Nam một mặt đảm bảo hiệu lực của án lệ trong quá trình xét xử, tuy nhiên mặt khác cũng có ý kiến cho rằng nó lại tạo ra sự mâu thuẫn nếu như đặt trong mối quan hệ về sự ưu tiên với các nguồn luật khác.

Theo Điều 6 Bộ luật Dân sự 2015, thẩm phán chỉ áp dụng án lệ khi không có luật thành văn và các nguồn luật ưu tiên khác.69 Cần lưu ý pháp luật Việt Nam với nền tảng là đề cao luật thành văn thì án lệ chủ yếu được xây dựng trên hình thức là sự giải thích các quy định pháp luật. Trong trường hợp tồn tại quy phạm pháp pháp luật và tập quán pháp cùng nhằm điều chỉnh một tranh chấp thì đương nhiên quy phạm pháp pháp luật sẽ là lựa chọn hàng đầu, theo đó án lệ giải thích quy phạm cũng vì thế mà được ưu tiên áp dụng. Đây là một hệ quả hoàn toàn hợp lý bởi thẩm phán trong quá trình xét xử có nghĩa vụ đảm bảo sự thống nhất và chặt chẽ của pháp luật. Tuy vậy, xét về mặt quy định, nó vẫn được coi là không tuân thủ thứ tự ưu tiên áp dụng các nguồn luật.  Bên cạnh đó, mô hình án lệ của Việt Nam và cả hai hệ thống Dân luật và Thông luật đều có một đặc điểm chung trong học thuyết về án lệ là hiệu lực của án lệ phụ thuộc vào thứ bậc vị trí của tòa án tạo ra nó. Theo lẽ thường thì án lệ của tòa án tối cao bao giờ cũng có hiệu lực cao hơn các án lệ được tạo ra bởi các tòa án cấp dưới của nó trong cùng hệ thống tòa án. Thực tế, ở các quốc gia trong hệ thống tòa án không phải tòa nào cũng có thẩm quyền tạo ra án lệ. Ở Anh, chỉ các tòa án từ Tòa án Cấp cao trở lên mới có thẩm quyền tạo ra án lệ. Ở Pháp, chỉ có Tòa án Phá án, Hội đồng Nhà nước mới có quyền tạo ra án lệ. Còn ở Đức thì án lệ được xây dựng bởi Tòa án Hiến pháp CHLB có hiệu lực ràng buộc như luật. Tương tự vậy, Tòa án Tối cao của Việt Nam có vai trò trung tâm và duy nhất trong việc hình thành án lệ.

Thực chất, quy định về hiệu lực của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam là quy định thể hiện rõ ràng nhất sự pha trộn giữa hai truyền thống pháp luật Common Law và Cilvil Law. Một mặt, án lệ có hiệu lực bắt buộc khi nghĩa vụ của các thẩm phán trong quá trình xét xử phải nghiên cứu, áp dụng; mặt khác chúng ta  trao cho Tòa án Tối cao vai trò chủ chốt trong công cuộc kiến tạo và phát triển án lệ – điều mà hầu hết hệ thống pháp luật các quốc gia Dân luật đang duy trì.

Như vậy, bản chất là một nguồn luật của án lệ đã được đảm bảo bởi luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiệu lực bắt buộc của án lệ đối với nghĩa vụ áp dụng của Tòa án trong quá trình xét xử lại càng là một căn cứ minh thị cho sự thừa nhận này.

4.1.3. Vai trò của án lệ Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Quy định hiện hành hiện nay không trực tiếp quy định những vai trò của án lệ, tuy nhiên ta có tiếp cận gián tiếp nội dung này thông qua “Tiêu chí lựa chọn án lệ” được quy định tại Khoản 1, 3 Điều 2 Nghị Quyết 04/2019/NQ-HĐTP. Theo đó, án lệ có thể có 2 vai trò sau: (1) giải thích pháp luật khi các quy định bao hàm nhiều cách hiểu hoặc thiếu tường minh, (2) chỉ ra đường lối xét xử khi luật chưa quy định và (3) hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Như đã đề cập, án lệ của Việt Nam được hình thành chủ yếu dựa trên quá trình giải thích pháp luật của thẩm phán. Đây cũng là một đặc điểm dễ nhận thấy ở các nước thuộc truyền thống dân luật, trong hệ thống pháp luật của Đức và Pháp chúng ta thấy rất ít các trường hợp các án lệ được tạo ra mà không liên quan đến việc giải thích văn bản quy phạm pháp luật. Phương

pháp diễn dịch được sử dụng trong quá trình giải thích pháp luật cũng được coi là công cụ phổ biến của thẩm phán. Tuy nhiên, cũng không phải tất cả các án lệ được tạo ra thông qua quá trình làm rõ các quy định pháp luật. Đối với những trường hợp không có quy định điều chỉnh, thẩm phán tạo ra án lệ nhằm “thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn để chưa có điều luật quy định”. Bên cạnh đó, án lệ với vai trò là sự cụ thể hóa của luật thành văn còn nhằm định hình một đường lối áp dụng thống nhất pháp luật. Trong trường hợp quy định pháp luật không rõ ràng, các tranh chấp sẽ rất dễ bị rơi vào trường hợp mỗi thẩm phán sẽ xử theo một lý lẽ khác nhau bởi không có một quy chuẩn giải thích làm chuẩn mực. Như vậy, án lệ không chỉ có nhiệm vụ tường minh hóa quy định pháp luật, bổ sung những lỗ hổng của pháp luật mà còn phải đảm bảo một sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật.

Quy định này của Nghị Quyết 04 được làm mới khá nhiều so với Nghị Quyết 03 được ban hành trước đó. Ở các quy định trước, vai trò bổ sung pháp luật của án lệ không được quy định hoặc được quy định một cách rất tiềm ẩn. Thực chất, đối với việc tạo ra những án lệ có tính độc lập không phụ thuộc vào quá trình giải thích pháp luật trong quy định hiện hành hiện nay còn rất hạn chế. Thậm chí, thẩm quyền giải thích pháp luật chỉ được trao cho Tòa án Tối cao thì vai trò sáng tạo ra pháp luật của thẩm phán vẫn là một điều bỏ ngỏ. Trên thực tế, chúng ta không có một mô hình án lệ cụ thể do đó việc sử dụng án lệ còn gây khá nhiều những tranh luận. Có ý kiến cho rằng vai trò của án lệ có thể làm suy yếu quyền lập pháp của Quốc Hội. Một lần nữa ta nhìn thấy điểm tương đồng trong lịch sử phát triển án lệ ở Pháp. Như đã phân tích, nhằm đảm bảo tuyệt đối quyền năng độc lập của cơ quan lập pháp, pháp luật Pháp từng sử dụng một cơ chế đó là nhờ vào sự giải thích của lập pháp đối với các tranh chấp không có quy định điều chỉnh. Và mô hình này rất nhanh chóng đã bị hủy bỏ bởi sự kém hiệu quả khi không đáp ứng được tính kịp thời của luật pháp. Sau đó, thẩm quyền này được trao cho các thẩm phán thông qua một sự ủy quyền ngầm định, tức là tòa án lúc này như là một cơ quan thuộc Quốc hội, được Quốc hội trao cho thẩm quyền. Ở Việt Nam, việc thừa nhận án lệ là một nguồn pháp luật cũng là ngầm thừa nhận quyền giải thích pháp luật của hoạt động tư pháp. Cơ chế này trong nền khoa học pháp lý của thế giới được gọi là lập pháp ủy quyền (deligated legislation). Như vậy, rõ ràng không có sự mâu thuẫn trong thẩm quyền của cơ quan lập pháp và tư pháp. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Có thể thấy, án lệ có một vai trò rất lớn trong việc tạo lập một sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật của thẩm phán. Quan điểm mà các luật gia trong hệ thống dân luật thường nhận xét về các thẩm phán trong hệ thống thông luật đó là thiếu chặt chẽ do không có cơ sở từ quy định thành văn. Tuy nhiên, chính các nhà luật gia của hệ thống thông luật đã nhận thấy chính các quy phạm pháp luật với quy định chung chung trong các bộ luật đã trao cho các thẩm phán trong hệ thống dân luật một sự tùy nghi rất rộng trong hoạt động xét xử của họ. Học giả Marrryman cũng đã từng nhận xét: “sự chắc chắn là giá trị pháp luật trừu tượng (abstract legal value). Giống như quân Hậu trong bàn cờ, nó có thể di chuyển bất cứ vị trí nào trong bàn cờ”. Thực tế cho thấy, trong các bản án của các quốc gia như Anh, Mỹ phần lập luận dẫn đến phán quyết của thẩm phán thường rất dài và viện dẫn rất nhiều căn cứ từ các án lệ trước đó. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta mặc định một sự tùy nghi của hệ thống án lệ nào, bởi lẽ thẩm phán của hệ thống dân luật vẫn thường có những lập luận dựa trên căn cứ là các nguyên tắc và quy phạm. Điều mấu chốt ở đây đó là án lệ thông qua việc giải thích pháp luật của thẩm phán đã làm việc lập luận trở nên chặt chẽ và có cơ sở hơn.

4.2. Một số kiến nghị về áp dụng án lệ ở Việt Nam.

Thứ nhất, vị trí của án lệ trong thứ tự ưu tiên áp dụng nguồn luật.

Án lệ với tư cách là một nguồn luật chính thức trong pháp luật Việt Nam đã được minh thị thông qua quy định hiện hành mà đặc biệt là Bộ Luật Dân sự 2015 với vai trò bổ sung cho các trường hợp luật thành văn, tập quán khuyết thiếu và không có tương tự pháp luật. Đây là một sự công nhận mang tính thức thời của pháp luật Việt Nam khi án lệ ngày càng trở nên thiết yếu đối với hoạt động tư pháp. Hiệu lực được đảm bảo bởi luật sẽ rút ngắn một quá trình rất dài để đi vào thực tiễn so với hiệu lực thực tế của pháp luật một vài các các quốc gia Châu Âu lục địa. Tuy nhiên điều đáng nói đó là vị trí của án lệ trong các nguồn luật chính thức vẫn chưa được sắp xếp một cách thỏa đáng.

Như đã trình bày, án lệ trong pháp luật Việt Nam đa phần là dạng án lệ giải thích pháp luật. Do đó, án lệ sẽ mang tính cụ thể hóa của luật thành văn. Đặt trong trường hợp cùng tồn tại án lệ với các nguồn luật khác, điển hình như tập quán, để điều chỉnh cùng một vấn đề pháp lý thì theo quy định hiện hành tại Bộ luật Dân sự 2015, tập quán sẽ được ưu tiên áp dụng. Án lệ chỉ được áp dụng khi các nguồn luật chính thức là quy định pháp luật, tập quán, nguyên tắc pháp luật và tương tự pháp luật không thể trở thành căn cứ pháp lý. Tuy nhiên trong thực tiễn nguyên tắc này có thể đễ dàng bị xáo trộn. Luật thành văn là nguồn luật ưu tiên áp dụng hàng đầu và do đó những án lệ nhằm giải thích những quy định của luật thành văn cũng nên phải được đặt cao hơn tập quán. Hơn nữa để đảm bảo một sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật thì ưu tiên lựa chọn án lệ là phương pháp tối ưu hơn cả. Dù vây, về mặt quy định thì sự ưu tiên này hiển nhiên là trái với nguyên tắc. Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào nhằm giải quyết sự mâu thuẫn nêu trên và do vậy giữa quy định và thực tiễn vẫn tồn tại những khoảng trống nhất định. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, ghi nhận về quyền giải thích pháp luật cho thẩm phán.

Chúng ta biết rằng, án lệ là sản phẩm do thẩm phán tạo ra, do đó hiển nhiên án lệ được thừa nhận thì quyền giải thích pháp luật của thẩm phán cũng nên được thừa nhận. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay không có quy định nào về thẩm quyền này của thẩm phán. Theo pháp luật hiện hành, án lệ được tòa án tạo ra do sự ủy quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuy nhiên phạm vi ủy quyền còn rất hạn chế – chỉ dành cho Tòa án Tối cao. Quy định này nhìn chung làm giới hạn sự phát triển của án lệ, theo đó theo quy định tại Khoản 6 Điều 2 Nghị quyết chỉ khi án lệ thuộc một trong ba trường hợp sau đây thì mới được xem xét:

Án lệ được xem xét thông qua khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  1. Được phát triển từ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đã được lấy ý kiến theo hướng dẫn tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết này; b) Được Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất;
  2. Được Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao đề xuất;
  3. Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Quy định hiện hành tập trung vào thẩm quyền của Tòa án Tối cao trong việc phát triển án lệ nhiều hơn là trao cho thẩm phán quyền giải thích pháp luật, mặc dù hiển nhiên án lệ được tạo ra trực tiếp bởi thẩm phán. Án lệ nên được tạo ra bởi bất kỳ Tòa án hay thẩm phán nào thay vì phải qua một quy trình xét chọn, đề xuất của Tòa án Tối cao hay Thường vụ Quốc hội. Cần lưu ý rằng những án lệ không phải do Tòa án Tối cao ban hành không cần phải là những án lệ chính thức. Ở Đức, Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang có một vai trò rất lớn trong việc khuyến khích các thẩm phán của tòa án cấp dưới góp phần vào quá trình tạo ra án lệ, cho dù chỉ án lệ của Tòa Hiến pháp Liên bang mới có hiệu lực bắt buộc. Ở Pháp, sau một vòng tròn lịch sử, thẩm quyền giải thích pháp luật cuối cùng vẫn được trao cho thẩm phán, cho dù chỉ khi được Tòa án Phá án thừa nhận thì án lệ mới có giá trị thực sự nhưng án lệ được tạo ra bởi các tòa cấp dưới vẫn tạo ra một “khuynh hướng án lệ”. Quy định hiện nay của Việt Nam, những khái niệm sáng tạo ra pháp luật của thẩm phán vẫn còn là những lý thuyết khá phong kín và ngay cả những quy định về thẩm quyền giải thích pháp luật cũng rất mơ hồ và. Theo quan điểm của người viết, chấp nhận sự tồn tại của án lệ nhưng không thừa nhận thẩm quyền giải thích pháp luật của thẩm phán là một sự vô lý.

Thứ ba, thay đổi quy trình chọn lọc án lệ. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Quy trình chọn lọc án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam là một thủ tục gồm nhiều bước. Trước tiên, hãy xét đến tiêu chí dược đưa ra để lựa chọn án lệ, tiêu chí này từng được nhắc đến ở phần phân tích về vai trò của án lệ như sau:

Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

  1. Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể;
  2. Có tính chuẩn mực;
  3. Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.” Có thể tóm tắt các điều kiện được đưa ra như sau: (1) phải làm rõ được các vấn đề pháp lý mà pháp luật quy định không rõ ràng hoặc không có quy định, (2) phải chỉ ra được đường lối giải quyết, cách thức áp dụng pháp luật trong vụ việc cụ thể và (3) có tính chuẩn mực về mặt nội dung và hình thức.

Với những tiêu chí cốt lõi như vậy, theo quan điểm của người viết quy định trên của Nghị Quyết 04 được thể hiện một cách khá dài dòng và thiếu tường minh. Ở Khoản 3 tiêu chí “có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” nên là một nội dung về vai trò của án lệ hơn là điều khoản về tiêu chí lựa chọn, khi mà khoản 1 đã đề cập án lệ “phải chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật áp dụng trong một vụ việc cụ thể”. Hai quy định này một bên là đề cập đến “một vụ việc” – là cái cụ thể, một bên khẳng định về sự “thống nhất trong xét xử” – là cái tổng quát, vì thế bề ngoài chúng khác biệt về mặt phạm vi. Tuy nhiên hai nội dung này thực chất cùng nhằm đến một mục đích đó là tính nguyên tắc chung của án lệ trong đường lối xét xử đối với những vụ việc tương tự nhau mà không có sự điều chỉnh bởi luật thành văn. Theo đó, nếu án lệ đã có thể “hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật” đối với các vụ việc giống nhau thì đương nhiên nó phải có khả năng giải quyết từng vụ việc cụ thể, và bản thân án lệ đã là một vụ việc cụ thể. Vì vậy, thiết nghĩ phân chia nội dung này thành hai quy định có phần thiếu đi sự mạch lạc. Khi áp dụng những tiêu chí này vào thực tế, không ít ý kiến cho rằng từ góc độ so sánh với các bản án chuẩn mực thì các án lệ đã công bố của Việt Nam nhiều khi không giải thích một cách hợp lý các vấn đề pháp lý hoặc chỉ đơn thuần mang tính tổng kết, hướng dẫn đối với hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân Tối cao.

Về quy trình tuyển chọn các bản án, Nghị quyết 04/2019 thông qua các điều luật đặt ra 4 tiêu chí sau: (1) Đề xuất án lệ, (2) Lấy ý kiến đối với án lệ được đề xuất, (3) Thông qua án lệ, và (4) Công bố án lệ. So sánh với quy định của Nghị quyết 03/2015 về quy trình công bố án lệ, thì các quy định của Nghị quyết 04/2019 nhìn chung đã được cô đọng lại rất nhiều. Đây là mô hình chọn lọc án lệ khá hiếm gặp trong các hệ thống pháp luật, tuy nhiên nhìn nhận một cách khách quan thì quy trình này có những ưu điểm nhất định. Thứ nhất, vai trò nòng cốt của Tòa án Tối cao đem lại tính thuyết phục cho án lệ khi mà việc lựa chọn án lệ được thực hiện bởi đội ngũ thẩm phán của Tòa án Tối cao và các án lệ được ban hành sẽ có tính thống nhất. Bên cạnh đó, quy trình này cũng sẽ không mất quá nhiều thời gian để đi vào thực tiễn như án lệ của Pháp. Trong mô hình pháp luật Pháp, án lệ cần phải trải qua một thời gian để tự chứng minh giá trị của mình trong thực tiễn thông qua việc đảm bảo một cơ số các tranh chấp giống nhau được xét xử như nhau thì quyết định của Tòa án mới được coi là chuẩn mực. Theo quy trình của Việt Nam, về mặt thời gian, có lẽ sẽ được đảm bảo hơn bởi quá trình xét chọn của Tòa Tối cao. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, mô hình này của Việt Nam vẫn còn nặng về thủ tục hành chính khi mà phải thông qua quá nhiều bước để án lệ đi vào thực tiễn. Hệ quả là án lệ không đảm bảo được nhiệm vụ bổ sung kịp thời những hạn chế của luật thành văn. Minh chứng là kể từ khi được chính thức được thừa nhận tại Luật Tổ chức Tòa án 2014, gần 3 năm sau mới có 10 án lệ được ban hành, và tính đến thời điểm hiện tại mới chỉ có 20 án lệ được công bố tại Việt Nam. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Thứ tư, cải thiện chất lượng của bản án.

Án lệ ở hệ thống pháp luật Việt có điểm đặc trưng mà không một mô hình pháp luật nào đang áp dụng, đó là án lệ không thực sự là các bản án mà được hình thành từ việc lựa chọn và tổng hợp các bản án chung thẩm ở các cấp liên quan đến một vụ việc cụ thể đặc biệt là các bản án Giám đốc thẩm của Tòa án Nhân dân Tối cao.

Lý giải cho điều này chúng ta không thể phủ nhận chất lượng của các bản án hiện nay còn yếu kém và thực chất đó đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến một quy trình dài dòng trong việc lựa chọn án lệ như đã phân tích ở nội dung trên. Cấu trúc án lệ hiện nay là một chủ đề đáng để bàn cãi. Đối với hệ thống Thông Luật, án lệ sẽ bao gồm hai phần: phần bắt buộc đối các vụ việc tương tự nảy sinh sau được gọi là “ratio decidendi”, (phần này các thẩm phán phải đưa ra lập luận về lý do ra quyết định của mình); và phần có giá trị tham khảo được gọi là “obiter” (phần chứa các thông tin lập luận không bắt buộc). Theo đó, lập luận của các thẩm phán thường rất dài có riêng một phần mang tính chuẩn mực cho các vụ vệc về sau, do đó hình thành nên những căn cứ viện dẫn rất chặt chẽ. Ngay cả đối với pháp luật Pháp, vì án lệ chỉ có giá trị thuyết phục và lập luận thường là không chi tiết như các nước Anh Mỹ, tuy nhiên lý lẽ đưa ra đều bám sát vào các nguyên tắc pháp luật do đó căn cứ của Tòa Phá án cũng vô cùng quan trọng. Đối với Việt Nam, phần “Xét thấy” trong các bản án được quy định phải thể hiện các đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử đối với tình tiết của vụ án, tức là sẽ bao gồm những lập luận cho các vấn đề pháp lý. Dù vậy, thực tế cho thấy, các bản án ngay cả khi đã được trở thành án lệ thì lập luận vẫn còn rất yếu và trong 10 án lệ đầu tiên chỉ có án lệ số 2 và số 4 thì lập luận của thẩm phán mới được thể hiện. Hiển nhiên, một khi nguồn pháp luật không chặt chẽ thì khi trở thành căn cứ viện dẫn cho hoạt động xé xử cũng rất khó đảm bảo tính thuyết phục. Thiết nghĩ, cải thiện chất lượng của bản án là yêu cầu thiết yếu khi mà cùng lúc ta có thể giải quyết được rất nhiều vấn đề hạn chế của thực tiễn về án lệ.

Thứ năm, vai trò của cơ quan lập pháp trong quá trình phát triển án lệ.

Án lệ của Việt Nam hiện nay đặt trong đối sánh với các nước Pháp, Đức còn khá yếu kém do chúng ta chưa xác định một con đường phát triển án lệ một cách cụ thể và phù hợp. Nhiều ý kiến cho rằng pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Pháp, Đức do đó sự vận dụng về mô hình điều chỉnh án lệ từ hai hệ thống này vào thực tiễn pháp lý ở Việt Nam là điều nên làm. Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, ý tưởng này dường như bất khả thi bởi những lý do sau đây. Đối với pháp luật Đức, hiển nhiên mô hình Tòa Án được xây dựng hoàn toàn khác biệt với mô hình Tòa án tại Việt Nam, do đó cơ chế án lệ chính thức của Tòa án Hiến pháp Liên Bang và không chính thức của Tòa án Tối cao đều không thể áp dụng vào mô hình án lệ ở Việt Nam. Cụ thể, đối với việc công nhận hiệu lực tối cao của án lệ được ban hành bởi Tòa Hiến pháp Liên Bang như pháp luật Đức, văn hóa pháp lý ở Việt Nam không phù hợp để trao cho án lệ hiệu lực lớn hơn luật thành văn. Đối với pháp luật Pháp với một mô hình Tòa án theo cấp khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, thì việc học hỏi cơ chế “tự chứng minh” và hiệu lực thực tiễn của án lệ liệu có khả thi hay không? Câu trả lời là rất khó, không thể và không nên. Quá trình công nhận lại án lệ ở Pháp trước đó đứng trước yêu cầu phải bổ sung pháp luật bằng những nguồn luật mang tính kịp thời nhưng đồng thời không muốn công nhận nguyên tắc Stare Decisis nhằm đảm bảo quyền lực của Quốc Hội không bị xâm phạm bởi Tư pháp thông qua án án lệ. Và cơ chế “ngầm thừa nhận” án lệ phù hợp ở chỗ nó điều tiết được cả hai yêu cầu này, không những vậy do không phải là một nguồn luật chính thức nên đời sống pháp lý của án lệ được vận động một cách khá cởi mở, ít bị gò bó. Tuy nhiên đặt trong bối cảnh Việt Nam, tại sao xây dựng án lệ theo một mô hình cởi mở như vậy lại không phù hợp? Câu trả lời nằm ở chỗ để có một sự công nhận từ việc “ngầm thừa nhận”, án lệ ở Pháp phải tự chứng minh giá trị của nó trong thực tiễn. Thẩm phán tạo ra bản án nhưng để bản án thành án lệ thì cần rất nhiều bản án tương đồng và một thời gian nhất định đủ để công nhận tính hợp lý của nó. Theo đó, chất lượng bản án chính là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để hình thành nên án lệ, nói cách khác giá trị chuẩn mực phải được thể hiện trong từng bản án mới có thể tạo nên sự chuẩn mực tương đồng trong các vụ việc tương đồng. Đối với Việt Nam hiện nay, án lệ được coi là những bản án mang tính chuẩn mực, vượt trội hơn những bản án thông thường nhưng thực tế cho thấy ngay cả với án lệ đã công bố của chúng ta vẫn còn rất hạn chế cả về mặt nội dung lẫn hình thức. Bản thân chất lượng án lệ chưa đủ tốt thì rất khó để có thể tự chứng minh giá trị trong thực tế ngay cả khi được trao cho một khoảng thời gian hợp lý. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Vấn đề mấu chốt đến đây có lẽ nên được quy về việc làm sao để cải thiện chất lượng và thúc đẩy án lệ phát triển. Bởi lẽ việc công nhận án lệ với hiệu lực được đảm bảo bởi luật hay ghi nhận quyền giải thích pháp luật của thẩm phán cho dù được giải quyết thì vẫn sẽ chỉ là một sự hoàn thiện về mặt khoa học pháp lý nếu như án lệ trong thực tế không phát huy được giá trị của nó. Chúng ta không nên chỉ bàn luận xoay quanh vấn đề năng lực của thẩm phán và Tòa án trong việc xét xử hay chọn lọc án lệ. Có lẽ, sự độc lập của Tư pháp đối với việc sáng tạo ra án lệ đặt trong bối cảnh thực tiễn hiện nay của pháp luật Việt Nam chưa hẳn đã là giải pháp tốt nhất để khắc phục những hạn chế đương thời.

Lập pháp hiển nhiên là cơ quan xây dựng và kiến tạo pháp luật, án lệ cũng là một loại nguồn của pháp luật và do đặc thù mà loại nguồn này được tạo ra bởi Tư pháp trong quá trình xét xử. Do đó, không có gì là vô lý nếu như lập pháp có sự hỗ trợ và tham gia vào quá trình hình thành án lệ. Biết rằng, quan tòa chỉ khi độc lập mới có thể xét xử theo nguyên tắc công bằng và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, với thực tiễn pháp lý hiện nay của Việt Nam nếu phó mặc hoàn toàn công cuộc kiến tạo án lệ cho Tư pháp thì hiện trạng này có lẽ sẽ còn rất lâu nữa mới có thể được cải thiện. Hiện nay, hoạt động Tư pháp của Việt Nam vẫn chưa đạt đến một trình độ được coi là chuẩn mực và phát huy hết tiềm năng vốn có của nó, trong khi đó Lập pháp vẫn chiếm một vị thế có phần bao quát hơn và ảnh hưởng khá nhiều đến Tư pháp. Và sự ảnh hưởng này nên được vận dụng kịp thời vào quá trình phát triển án lệ. Thứ nhất, thông qua việc đặt ra những yêu cầu, những điều kiện cơ bản, cơ quan Lập pháp có thể tạo ra một khung pháp lý vừa đủ để án lệ với tư cách là một nguồn luật phải thể hiện được những chuẩn mực của nó. Đương nhiên Tư pháp vẫn là cơ quan chủ chốt và trực tiếp trong việc kiến tạo án lệ; nhưng với sự hỗ trợ của Lập pháp, một mối quan hệ ràng buộc giữa chủ thể tạo ra án lệ và luật pháp đã được hình thành. Tất yếu, lúc này sẽ tồn tại một sự điều chỉnh nhất định của lập pháp đối với các thẩm phán; nhằm hạn chế sự tùy tiện, thiếu chặt chẽ trong hoạt động xây dựng án lệ. Thứ hai, cơ quan lập pháp nên giữ vai trò định hướng một con đường phát triển cho án lệ. Cụ thể ở Pháp, án lệ được thừa nhận là bởi quyền sáng tạo ra pháp luật được Quốc hội ngầm ủy quyền cho Tư pháp, bản chất cũng chính là việc lập pháp công nhận một mô hình phát triển cho án lệ (mô hình “tự chứng minh”). Đối với pháp luật Việt Nam, mặc dù đã được công nhận là nguồn pháp luật tuy nhiên những vấn đề pháp lý xung quanh án lệ lại chưa được nhận diện một cách triệt để và thỏa đáng. Mô hình án lệ hiện nay ở Việt Nam ít có đặc thù là bởi vì chúng ta chưa định hình được một cơ chế cụ thể để vận hành án lệ đi vào khuôn khổ. Những vấn đề còn bị bỏ ngỏ như thứ tự ưu tiên áp dụng nguồn luật, trao quyền giải thích pháp luật cho thẩm phán,…hoàn toàn có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của lập pháp. Muốn bảo toàn sự ổn định của luật thành văn, bản thân cơ quan lập cũng nên chú trọng vào vấn đề thúc đẩy các nguồn luật khác phát triển. Do đó, sự hỗ trợ kịp thời của lập pháp không những sẽ tạo nên sự cải thiện cho mô hình án lệ nói riêng mà còn góp phần tạo nên sự ổn định và kịp thời của pháp luật nói chung.

KẾT LUẬN Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Từ góc độ so sánh, có thể khẳng định án lệ của các nước thuộc hệ thống Dân luật và Việt Nam đã, đang được hình thành và phát triển trong phạm vi và trên cơ sở luật thực định quy định. Thông qua nghiên cứu hệ thống pháp luật của các quốc gia Đức, Pháp và Việt Nam; có thể nhận thấy mỗi mô hình án lệ vừa thể hiện được đặc trưng của truyền thống pháp luật vừa mang những văn hóa pháp lý rất riêng biệt, điều này tạo nên một sự đa sắc diện trong khoa học pháp lý về án lệ. Như Giáo sư sư. Tiến sĩ Khoa học Đào Trí Úc đã nói: “Sự phát triển của các hệ thống pháp luật hiện đại trên thế giới đang chứng kiến một sự thâm nhập lẫn nhau giữa quan điểm của luật thực định với quan điểm của luật tự nhiên cả trên bình diện cao nhất là Hiến pháp, cả trong quá trình xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật. Điều đó đã làm thay đổi một cách căn bản nhận thức về các nguồn của pháp luật theo hướng đa dạng hóa và linh hoạt hơn, kịp thời hơn trước đòi hỏi của cuộc sống”. Pháp luật Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này, bằng chứng là những năm gần đây đời sống pháp lý của án lệ đã có một hình thái rõ ràng hơn cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Tuy nhiên thiết nghĩ, án lệ với một lịch sử hình thành không phải là ngắn ngủi như ở Việt Nam đáng lẽ có thể phát triển mạnh mẽ hơn thực tại, điều này khiến ta buộc phải có một cái nhìn thẳng thắn vào những hạn chế của án lệ trong thực tiễn. Án lệ với tư cách là một nguồn luật, chỉ có thể phát huy hết chức năng của nó nếu như pháp luật trao cho nó một mô hình phát triển phù hợp. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Án lệ ở một số quốc gia Civil Law và ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537