Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp phát triển vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường hàng không của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I: Định hướng và chiến lược phát triển vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam
1. Phương hướng phát triển chung của Hãng đến năm 2029
- Mục tiêu của Hãng đến năm 2029
Mục tiêu chiến lược tổng quát: Xây dựng Vietnam Airlines thành hãng hàng không có tầm cỡ trong khu vực, có bản sắc riêng, an toàn, có uy tín, có năng lực cạnh tranh, kinh doanh hiệu quả, là tổng công ty trong mô hình công ty mẹ-công ty con, là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong vận tải hàng không Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu phát triển của đất nước và dẫn dắt các doanh nghiệp hàng không khác; trên cơ sở lấy kinh doanh vận tải làm cơ bản, đa dạng hoá các ngành nghề kinh doanh, nhanh chóng hiện đại hoá, làm chủ công nghệ mới.
Với mục tiêu cơ bản xác định trên, hoạt động của Hãng trong giai đoạn 2025-2029 tập trung vào những mục tiêu quan trọng sau:
- Tổng doanh thu: Hơn 123 nghìn tỷ đồng, trong đó năm 2025 là hơn 19 nghìn tỷ đồng, năm 2029: gần 30 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm: 11%/năm
- Lợi nhuận trước thuế: gần 000 tỷ, tăng bình quân hàng năm: 14,5%
- Nộp ngân sách: hơn 300 tỷ đồng; tăng bình quân hàng năm 7,8%
- Vốn chủ sở hữu: năm 2025 đạt hơn 500 tỷ đồng
- Chỉ tiêu vận chuyển đến năm 2029: Có mạng đường bay toàn cầu với quy mô hoạt động thuộc loại trung bình khá trong khu vực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
Tốc độ tăng trưởng bình quân về vận chuyển hành khách đạt 11%/năm; năm 2029 khoảng 9,6 triệu khách, trong đó có 4,5 triệu khách quốc tế.
- Tốc độ tăng trưởng bình quân về vận chuyển hàng hóa đạt 12,5%. Năm 2029 vận chuyển được 198 nghìn tấn
- Thị phần vận chuyển hành khách nội địa đạt 76%, thị phần hành khách quốc tế năm 2029 đạt 41,2%.
- Thị phần vận chuyển hàng hoá nội địa đạt 68%, thị phần vận chuyển hàng hoá quốc tế đạt 28%
Vietnam Airlines trở thành một trong 20 hãng hàng không được ưa chuộng nhất Châu Á, là một trong 5 hãng hàng đầu của Đông Nam Á, một trong các doanh nghiệp thu hút chất xám hàng đầu ở Việt Nam.
- Quan điểm phát triển chung của Hãng
Để đạt được những mục tiêu đề ra, ban lãnh đạo Hãng quán triệt các quan điểm phát triển sau:
Trong sản xuất kinh doanh, Hãng coi trọng hiệu quả kinh tế đi đôi với việc thực hiện trách nhiệm giữ vai trò chủ đạo của một bộ phận trong thành phần kinh tế nhà nước; đẩy mạnh sản xuất kinh doanh trên cơ sở chất lượng của hệ thống, đáp ứng nhu cầu của thị trường đồng thời thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao. Bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trong phát triển kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu để bảo đảm phát triển nhanh và vững chắc; nắm vững thời cơ, điều hành linh hoạt để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các hãng hàng không tiên tiến trong khu vực. Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Trong vận tải hàng không, Hãng lấy an toàn và hiệu quả làm mục tiêu hàng đầu; nâng cao uy tín chất lượng, hướng vào phục vụ các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, phục vụ khách hàng nhanh chóng, hiện đại hoá phương tiện vận tải để nâng cao năng lực cạnh tranh. Phát triển vận tải hàng không phải phù hợp với quy hoạch giao thông vận tải chung của cả nước, quy hoạch cơ sở hạ tầng sân bay và hạ tầng du lịch. Xây dựng chiến lược kinh doanh và kế hoạch mạng đường bay phù hợp từng khu vực thị trường.
Trên cơ sở lấy hoạt động vận tải hàng không làm cơ bản, Hãng cần chú trọng đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, đầu tư vốn vào các doanh nghiệp thành viên phát triển nhanh và có hiệu quả.
Phát huy nội lực là chủ yếu dựa trên cơ sở phát huy cao nhất yếu tố con người kết hợp với mở rộng hợp tác, liên kết trong và ngoài nước, đổi mới thực sự cơ chế quản lý theo hướng khoa học, hiện đại, tăng cường đoàn kết thống nhất, bảo đảm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Hãng.
Như vậy, có thể thấy, đạt được những mục tiêu đề ra của Vietnam Airlines sẽ giúp Hãng đạt được một vị thế mới so với các hãng hàng không trong khu vực cũng như trên thế giới, trong đó năng lực vận tải của Hãng đặc biệt là năng lực vận tải hàng hoá quốc tế sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập nền kinh tế thế giới ngày càng được đẩy mạnh. Để đạt được những mục tiêu chung của Hãng cũng như những mục tiêu mà Hãng để ra đối với vận tải hàng hoá quốc tế, Hãng cũng đã đề ra những chiến lược, giải pháp để nâng cao năng lực vận tải cụ thể là phát triển đội bay, phát triển mạng đường bay, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến.
2. Định hướng và chiến lược phát triển đội máy bay của Hãng
- Định hướng phát triển
Qua những nghiên cứu, phân tích chuyên môn và đặt vào trong tình hình thực tế diễn biến thị trường máy bay và kinh nghiệm của các nước khác, Vietnam Airlines đã định hướng phát triển đội bay theo hướng:
Phát triển đội bay phù hợp với kế hoạch phát triển mạng đường bay và khả năng tài chính, bảo đảm sự chủ động và linh hoạt nhằm điều chỉnh kịp thời khi thị trường biến động.
Phát triển đội bay theo hướng đơn giản về cấu trúc và số lượng chủng loại, phát triển đội máy bay theo định hướng công nghệ mới, cân đối tần suất bay với chi phí thấp, cân đối giữa các hình thức thuê và mua máy bay. Nghiên cứu xác định hình thức thuê mua phù hợp làm cơ sở cho việc chuẩn bị thành lập công ty con chuyên vận tải hàng hoá, theo hình thức tự tổ chức hoặc liên doanh liên kết với một đối tác nước ngoài có kinh nghiệm khai thác và có mạng đường bay hàng hoá mạnh.
Chủng loại máy bay bảo đảm tiết kiệm được chi phí bảo dưỡng, khai thác và tận dụng được các ưu đãi từ nhà sản xuất máy bay. Sử dụng biện pháp đấu thầu chủng loại và nhà cung cấp. Không mua máy bay đã qua sử dụng đối với các dự án đầu tư máy bay.
Sử dụng cả hai chủng loại máy bay của Châu Âu và Mỹ. Có thể áp dụng chính sách này ngay cả đối với các máy bay có cùng tầm bay; tạo thuận lợi, đảm bảo tính cạnh tranh trong công tác đấu thầu mua máy bay giữa các đối tác lớn như Boeing và Airbus.
- Chiến lược phát triển Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Vietnam Airlines đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2035, theo đó, trong lĩnh vực vận tải hàng hoá, hãng đã đề cập đến việc thuê/mua máy bay chở hàng (freighter). Để giải quyết cơ bản vấn đề tải cung ứng, phải đầu tư máy bay chuyên dụng (ít nhất là 2 chiếc) nhưng với điều kiện tài chính hạn hẹp như hiện nay, sức ép về đầu tư máy bay chở hàng chuyên dụng vẫn đang đè nặng lên các nhà hoạch định đầu tư của VNA. Hơn nữa, các mặt hàng từ Việt Nam xuất khẩu đi phần nhiều giá trị không cao, nên giá cước trở hàng chỉ ngang với Thái Lan và thấp hơn Đài Loan, Hàn Quốc. Trước tình hình đó, Vietnam Airlines xác định đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá quốc tế trên các chuyến bay chở khách kết hợp chở hàng là chính. Về mặt kinh tế, sự kết hợp đó sẽ cho phép Hãng có một nguồn doanh thu từ hàng hoá ở mức 10-15% tổng doanh thu vận chuyển.
Tuy nhiên, nhằm củng cố, tăng cường thị phần vận chuyển hàng hoá ra vào Việt Nam, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng với những loại hình vận chuyển hàng hoá chuyên dụng, với khối lượng, thể tích lớn không thể cung ứng được trên các chuyến bay chở khách thường lệ, trong giai đoạn đến năm 2029, Vietnam Airlines dự kiến đưa vào khai thác đội bay chở hàng chuyên dụng gồm 3 chiếc: 1 chiếc loại 20-30 tấn, 2 chiếc loại 70-100 tấn. Việc đưa vào khai thác những máy bay này là một bước tiến quan trọng cho việc phát triển vận chuyển hàng hoá của hãng, đồng thời nhằm đúc kết kinh nghiệm, tạo tiền đề cho việc hình thành công ty “Vietnam Airlines-Cargo” trong tương lai.
Trước mắt có thể liên doanh với một số hãng hàng không thường xuyên có chuyến bay tới Việt Nam để tận dụng vốn, nguồn hàng, kinh nghiệm khai thác của họ và chỉ nên sử dụng một số máy bay loại nhỏ, nhưng về lâu dài thì cần có một đội máy bay chở hàng lớn để đáp ứng nhu cầu chuyên chở hàng hoá bằng đường hàng không ngày càng tăng lên.
Tóm lại, dựa trên cơ sở tính toán một cách tương đối nhu cầu chuyên chở hàng hoá cùng các mục tiêu phát triển thị trường vận tải hàng hoá trong những năm tới cũng như chiến lược phát triển dài hạn đến năm 2040, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam đã đưa ra chiến lược phát triển đội máy bay chở hàng như trên, tuy nguồn vốn còn nhiều hạn chế nhưng Hãng vẫn ưu tiên phát triển đội bay bởi tính chất quan trọng của loại tài sản này đối với sự tồn tại và phát triển của hãng trên thị trường vận tải hàng hoá quốc tế đầy tiềm năng tại Việt Nam, trong bối cảnh nền kinh tế mở khiến cho môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh gay gắt. Về cơ bản, kế hoạch phát triển đội bay cũng như định hướng phát triển thị trường của Hãng đòi hỏi phải đồng bộ với việc nâng cấp tổng thể và đầu tư đúng mức vào nguồn lực quan trọng nhân tố con người. Song, với những nỗ lực của mình, Hãng đã, đang và sẽ đạt được những mục tiêu đề ra trong tương lai
3. Định hướng và chiến lược phát triển mạng bay của Hãng Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
- Định hướng phát triển
Định hướng phát triển mạng bay của Vietnam Airlines được đặt ra trong bối cảnh điều kiện trong nước có nhiều yếu tố thuận lợi: tình hình an ninh chính trị ổn định, kinh tế duy trì tăng trưởng và phát triển bền vững. Trên trường quốc tế, Việt Nam đang ngày càng nâng cao uy tín và ảnh hưởng trong Hiệp hội ASEAN, tham gia APEC và mới đây là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Vì vậy ở những thời điểm hội nhập theo lộ trình đang đến gần mở ra thời cơ mới cho việc mở rộng thị trường, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh song đây cũng là thách thức trong cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nói chung và Vietnam Airlines nói riêng. Nghiên cứu kỹ những cơ hội cũng như thách thức của thị trường trong nước cũng như quốc tế với mục tiêu mở rộng thị trường vận tải, Vietnam Airlines đã xác định các đường hướng cho việc phát triển mạng bay như sau:
Xây dựng mạng đường bay phù hợp với: chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; quy hoạch phát triển kinh tế, du lịch các vùng, miền; quy hoạch toàn bộ hệ thống giao thông vận tải; quy hoạch phát triển hệ thống sân bay toàn quốc; quy hoạch tổng thể của từng cảnh hàng không; năng lực và hiệu quả khai thác của Hãng.
Mạng đường bay nội địa phải gắn liền với quy hoạch kinh tế, du lịch, giao thông của từng vùng; đảm bảo hỗ trợ cho đường bay quốc tế.
Trên mạng quốc tế Vietnam Airlines tiếp tục củng cố và phát triển các đường bay hiện có tại khu vực Đông Bắc Á, nghiên cứu mở thêm các đường bay mới tới các điểm khác của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc; nghiên cứu mở các đường bay mới giữa Đà Nẵng với các điểm của Đông Bắc Á; mở mới các đường bay quốc tế từ Hà Nội/Tp Hồ Chí Minh đến Châu Âu (Thuỵ Sỹ, Áo, Hà Lan, Ucraina,…), Bắc Mỹ (các điểm mới tại Mỹ, Canada), Trung Đông, Châu Phi và Nam Mỹ; đồng thời Hãng sẽ từng bước hoàn thiện sản phẩm bay trên “mạng đường bay khu vực Nam Á, Đông Nam Á, và Nam Thái Bình Dương”, và nghiên cứu các đường bay tới Ấn Độ và Indonesia. Bên cạnh đó Hãng tiếp tục duy trì và phát triển các đường bay hiện tại với Pháp, Nga thông qua việc khai thác đường bay thẳng tới Pháp bằng máy bay thân rộng B777.
Khuyến khích thực hiện hợp tác thương mại, liên doanh, liên kết để mở rộng mạng đường bay, tham gia liên minh và kết nối mạng đường bay với các hãng hàng không toàn cầu nhằm mở rộng phạm vi hoạt động.
- Chiến lược phát triển
Trong giai đoạn đến năm 2035, mạng đường bay được xây dựng chủ yếu theo mô hình “trục-nan” với tần suất khai thác cao. dịch vụ trung chuyển tốt tại hai trung tâm là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Trong mạng đường bay, các đường bay quốc tế khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á là các đường bay hoạt động chính, đem lại lợi nhuận chủ yếu; các đường bay xuyên lục địa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Cụ thể là: Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
- Mạng đường bay khu vực Đông Bắc Á:
Mở rộng mạng đường bay các loại máy bay thân lớn đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông bằng việc tăng tần suất bay, tăng điểm bay. Đến năm 2035 mạng đường bay sẽ nối Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng với 4 điểm của Nhật Bản (Tokyo, Osaka, Fukuoka, Nagoya), 6 điểm của Trung Quốc (Bắc Kinh, Thượng Hải, Côn Minh, Quảng Châu, Nam Ninh, Thẩm Quyến), 2 điểm của Đài Loan (Đài Bắc, Cao Hùng), 1 điểm của Hồng Kông, 3 điểm của Hàn Quốc (Seoul, Chezu, Busan)
Chú trọng khai thác thương quyền 3-4 kết hợp thương quyền 6 giữa các điểm Đông Bắc á với các nước Đông Nam á và úc. Mở rộng trao đổi thương quyền 5 với các nước Đông Bắc á.
- Mạng đường bay khu vực Đông Nam Á
Trên cơ sở quá trình tự do hoá vận tải hàng không, bao gồm cả thương quyền 5 trong ASEAN, đến năm 2035 mạng đường bay Đông Nam Á sẽ bao gồm
Mạng đường bay trong tiểu vùng CLMV: giữ vững thế cạnh tranh với cửa ngõ Bangkok, tăng tần suất bay dày đặc trên các đường bay giữa Việt Nam (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh) với Campuchia (Phnom Penh và Xiêm Riệp), đường bay xuyên Đông Dương, đường bay cố đô Huế-Xiêm Riệp-LuongPhrabang); mở đường bay từ Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh đến Giang-gun (Mianma), đường bay từ Tp Hồ Chí Minh/Đà Nẵng đi Viên Chăn. Tăng cường khai thác thương quyền 6 để hỗ trợ các đường bay dài trong mạng bay của Hãng.
Tăng cường tần suất khai thác cao trên các đường bay từ TP Hồ Chí Minh/Hà Nội đi Bangkok, Kualalampua, Singapore; mở đường bay từ Đà Nẵng đến các điểm này. Đối với các tuyến bay có tần suất từ 2 chuyến/ngày có thể kết hợp khai thác các loại máy bay thân rộng có tải trọng lớn để tăng hiệu quả và tăng khai thác chở hàng. Nghiên cứu mở đường bay giữa Hà Nội/Tp Hồ Chí Minh với các sân bay thứ cấp của Thái Lan, Malaysia. Tăng tần suất bay từ Tp Hồ Chí Minh-Giacata và nghiên cứu mở đường bay Hà Nội-Giacacta kết hợp thương quyền 5 qua các điểm khai thác của Đông Nam Á. Tăng tần suất bay Tp Hồ Chí Minh-Manila.
- Mạng đường bay Nam Á, Nam Thái Bình Dương và Trung Đông
Tăng cường tần suất khai thác bằng máy bay thân rộng đến Úc, mở đường bay đến Ấn Độ, mở đường bay đến Newzeland thông qua khai thác thương quyền 5 tại các điểm Đông Nam Á, mở đường bay đến 1-2 điểm ở Trung Đông.
- Mạng đường bay tầm xa đi Châu Âu, Bắc Mỹ Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Tăng cường khai thác các đường bay thẳng từ Hà Nội/Tp Hồ Chí Minh đến Paris (Pháp), Maxcova (Nga), Frankfurt (Đức); nghiên cứu khai thác có chọn lọc đến các trung tâm trung chuyển lớn khai thác tại Châu Âu (London, Amsterdam,…) và vùng Viễn Đông của Nga Sớm mở các đường bay đến Hoa Kỳ, kết hợp khai thác thương quyền 5 tại khu vực Đông Bắc Á hoặc Châu Âu.
Mạng đường bay vận chuyển hàng hoá riêng
- Khai thác các chuyến bay riêng chở hàng trước năm 2029 trên các đường bay đi Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc.
- Phát triển Chu Lai thành trung tâm chuyển phát nhanh và trung chuyển hàng hoá của khu vực trong giai đoạn 2029-2035
4. Định hướng và chiến lược phát triển nguồn vốn của Hãng
- Định hướng phát triển nguồn vốn
Ngành vận tải Hàng không dân dụng là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất lớn, tập trung chủ yếu vào máy bay. Trong những năm gần đây, VNA đã chú trọng tới việc đầu tư để hiện đại hoá đội máy bay, nâng cao năng lực cạnh tranh. Song, do đầu tư vốn mua máy bay là rất lớn nên việc thuê máy bay khai thác thương mại là chủ yếu, mặt khác để mua một máy bay, mua một động cơ hoặc đào tạo phi công thì việc tự bỏ vốn là rất khó đối với các hãng hàng không Việt Nam nói chung và Hãng hàng không quốc gia Việt Nam nói riêng trong điều kiện khả năng tài chính hiện nay của Hãng còn hạn hẹp. Do vậy, khi mua máy bay, đều có sự trợ giúp của Chính phủ hoặc thông qua thị trường vốn.
Mặc dù còn rất nhiều khó khăn đặt ra trước mắt, nhưng Hãng hàng không quốc gia Việt Nam luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình là nâng cao năng lực vận tải, việc phát triển nguồn vốn tập trung theo định hướng:
Bảo toàn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu. Ưu tiên nguồn vốn chủ sở hữu tăng thêm cho các dự án đầu tư phát triển đội máy bay; cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác, bảo dưỡng, đa dạng hoá cơ cấu vốn chủ sở hữu theo nguyên tắc giữ tỷ trọng vốn chi phối (trên 51%) và thu hút vốn của các thành phần kinh tế; chuyển cơ chế quản lý vốn từ hình thức quản lý hành chính sang quản lý theo phương thức đầu tư tài chính đối với các doanh nghiệp thành viên. Tăng cường việc quản lý, bảo toàn và phát triển vốn thông qua các cơ chế, chính sách tài chính đồng thời với việc tham gia rộng và sâu hơn vào thị trường vốn quốc tế.
Phát huy tối đa nội lực nhằm tự cân đối một phần vốn và tăng thêm tính chủ động, khả năng thu hút nguồn vốn từ bên ngoài; tranh thủ sự hỗ trợ của Chính phủ thông qua cơ chế chính sách và tạo nguồn vốn nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và tăng tỷ lệ đội máy bay sở hữu. Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Tiếp cận và tham gia chủ động vào các thị trường vốn thương mại trong và ngoài nước để lựa chọn các hình thức giải pháp huy động vốn khả thi và có chi phí vốn thấp nhất; tranh thủ các cơ hội để thu hút các nguồn vốn ODA, FDI,…vốn hợp tác, vốn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nhà sản xuất và cung ứng để đảm bảo một phần vốn cho các dự án đào tạo thi công cơ bản, cán bộ kỹ thuật, khai thác, cán bộ quản lý.
Ngoài ra, Hãng cũng cần củng cố liên doanh liên kết đối với các dự án đầu tư có khả năng thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý.
- Chiến lược phát triển
Như đã khẳng định ở trên, vốn của Vietnam Airlines còn nhỏ bé, là một khó khăn lớn trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển đội máy bay, chuyển giao công nghệ, đào tạo và nâng cấp chất lượng dịch vụ từ đó nâng cao năng lực vận tải của VNA. Chính vì vậy một chiến lược vốn phù hợp và hiệu quả là vô cùng quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nguồn vốn
Trên cơ sở nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu đầu tư mở rộng phát triển sản xuất tới năm 2029, chiến lược phát triển vốn tập trung vào những điểm sau:
Trước hết, phát triển và tích tụ vốn theo hướng tập đoàn kinh tế, bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu đạt tối thiểu 30% tổng vốn kinh doanh, tổng nguồn vốn chủ sở hữu sẽ đạt khoảng 5000 tỷ đồng vào năm 2029. Tập trung ưu tiên nguồn lực tài chính vào đầu tư phát triển đội máy bay và cơ sở hạ tầng đảm bảo bay và kinh doanh.
Đồng thời, đa dạng hoá cơ cấu sở hữu vốn, đa dạng hoá các nguồn huy động vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn huy động từ các thị trường tiền tệ và thị trường tài chính trong và ngoài nước; từ các nguồn viện trợ phát triển và hỗ trợ kỹ thuật, vốn huy động từ các cán bộ, nhân viên trong toàn Hãng,…Bảo đảm vốn sở hữu Nhà nước chiếm tối thiểu 51% tổng vốn tự có của Hãng, riêng vốn vận tải của Hãng là 70-75%.
Bên cạnh đó, chuyển mạnh sang cơ chế quản lý và kinh doanh vốn thông qua các chế định tài chính và đầu tư (ngân hàng, công ty tài chính, quỹ đầu tư,…) để phát triển vốn và bảo đảm cho hoạt động đầu tư đúng mục đích và hiệu quả.
Cuối cùng là phải tập trung ưu tiên vốn cho đầu tư phát triển tài sản dài hạn (đặc biệt là máy bay, động cơ, phụ tùng máy bay, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và khai thác máy bay) trên cơ sở kết hợp các nguồn vốn huy động.
II: Hoạt động vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường hàng không của một số quốc gia trên thế giới Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
1. Vận tải hàng không Mỹ
Chính sách phát triển vận tải hàng không của Mỹ về cơ bản có thể nói là phi điều tiết, tự do hoá, toàn cầu hoá, mở cửa bầu trời, hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của Nhà nước trừ lĩnh vực an toàn hàng không và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Chính sách phi điều tiết của Mỹ thể hiện ở cả tự do cạnh tranh vận tải hàng không nội địa và quốc tế. Chính sách này đã làm cho khoảng hơn 200 hãng hàng không Mỹ phá sản. Tuy nhiên, chính sách này cũng đem lại những kết quả hết sức to lớn, đó là tạo ra một thị trường vận tải hàng không cạnh tranh sôi động, sản lượng và doanh thu tăng đều từ 100 lên 300% nhưng cước vân tải lại giảm 30%. Đặc biệt xuất hiện ba hãng hàng không khổng lồ có lợi thế lớn trong cạnh tranh quốc tế là American Airlines, United Airlines, Delta Airlines với số lượng máy bay khai thác đứng hàng đầu thế giới, máy bay thuộc loại hiện đại nhất, áp dụng công nghệ hàng đầu trong vận tải hàng không. Đây là yếu tố cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh mạnh mẽ của các hãng này cả trong lĩnh vực vận tải hàng hoá và vận tải hành khách.
2. Vận tải hàng không Trung Quốc
Nếu các hãng hàng không Mỹ có ưu thế về đội ngũ máy bay hiện đại nhất thế giới, ứng dụng khoa học công nghệ hàng đầu vào vận tải hàng không thì các hãng hàng không Trung Quốc nâng cao năng lực cạnh tranh bằng phương pháp tiếp thị, hướng tới phát triển các dịch vụ vận tải, cùng xu hướng phát triển hàng không giá rẻ. Một kinh nghiệm có thể nghiên cứu là trường hợp của China Airlines – Hãng hàng không lớn nhất Trung Quốc. Hãng đã xây dựng các chương trình tiếp thị, đổi mới và phát triển các dịch vụ quốc tế, đa dạng hoá cơ cấu giá cước để tận dụng hết tải cung ứng ở các đường bay. Bên cạnh đó, China Airlines cũng chú trọng ứng dụng các công nghệ hiện đại vào vận tải hàng không, ngày càng hiện đại hoá đội máy bay chở hàng với những máy bay thâm rộng, năng lực chuyên chở lớn. Hiện nay, China Airlines đang khai thác 18 máy bay Boeing 747-400 chuyên chở hàng hoá. Năm 2024, China Airlines xếp hạng thứ năm trong mười hãng chuyên chở hàng hoá thành công nhất thế giới theo điều tra của Hiệp hội vận tải quốc tế (IATA).
3. Vận tải hàng không Singapore
Singapore là một trong những quốc gia nhỏ nhất trên thế giới nhưng lại có ngành hàng không phát triển thuộc những thứ hạng đầu trên thế giới. Do diện tích nhỏ, Singapore không có đường bay nội địa nhưng lại có mạng đường bay quốc tế rất phát triển với hơn 100 điểm tại hơn 40 quốc gia khác nhau. Điểm nổi bật của hàng không Singapore là có một đội bay lớn và hiện đại, đặc biệt là có tới 11 máy bay chuyên chở hàng hoá.
Singapore tổ chức mô hình kinh doanh hàng không như mô hình của các nước có ngành hàng không phát triển như Mỹ, Pháp – mô hình tập đoàn hàng không, công ty mẹ – công ty con, kiểm soát lẫn nhau thông qua vốn đầu tư và cổ phần. Trong lĩnh vực vận tải hàng không nói chung và vận tải hàng hoá quốc tế nói riêng, các hãng hàng không Singapore, điển hình là Hãng hàng không Singapore (Singapore Airlines) luôn chú trọng tìm hiểu nhu cầu khách hàng, thoả mãn nhu cầu đó bằng hệ thống cước phí thích hợp, đồng thời có các chính sách phân phối, khuyến mại hấp dẫn hơn, khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, nói cách khác là hoạt động theo khẩu hiệu “khách hàng là thượng đế”.
Với điều kiện của Vietnam Airlines như hiện nay thì áp dụng mô hình như các hãng hàng không Singapore là phù hợp. Bởi lẽ, với nguồn vốn hạn hẹp của hãng thì việc đầu tư hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vận tải hàng không là có hạn, Hãng nên chú trọng phát triển theo hướng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ vận chuyển, tạo lập hệ thống giá cước chi tiết phù hợp với nhu cầu vận chuyển của từng đường bay để tận dụng hết tải cung ứng trên đường bay đó.
III: Các giải pháp phát triển vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam
1. Các giải pháp phát triển đội bay của Hãng Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Đội máy bay giữ vai trò quan trọng, là yếu tố chủ đạo tạo nên năng lực vận tải của ngành hàng không. Hiện nay, Việt Nam Airlines có một đội ngũ máy bay khá hùng hậu và hiện đại trong khu vực. Tuy nhiên, lượng máy bay đi thuê vẫn chiếm tỷ lệ cao, hơn nữa hiện VNA vẫn chưa có máy bay chở hàng chuyên dụng nào. Đây là một khó khăn lớn đối với Hãng trong việc thực hiện các kế hoạch phát triển đặc biệt trong việc giảm chi phí khai thác, tăng thị phần vận chuyển hàng hoá quốc tế. Do đó, để phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Vietnam Airlines thì một giải pháp về cơ cấu vốn, số lượng, hình thức thuê/mua máy bay phù hợp và hiệu quả là rất cần thiết. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập quốc tế thì những giải pháp này có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong việc định hướng khai thác khi Vietnam Airlines mở rộng hợp tác kinh doanh liên kết vận tải hàng không quốc gia.
Để phát triển đội máy bay một cách hợp lý, Vietnam Airlines nên áp dụng những giải pháp sau:
1.1. Các giải pháp huy động vốn để phát triển đội máy bay:
Vietnam Airlines nên tập trung quản lý và sử dụng các nguồn vốn tự có từ quỹ tích luỹ, quỹ phát triển sản xuất kinh doanh; từ các hoạt động bán, thanh lý tài sản; đồng thời đầu tư mở rộng và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh khác như du lịch, sản xuất đồ nhựa, đồ ăn. Đặc biệt, nguồn quỹ khấu hao tài sản được coi là một nguồn tái đầu tư quan trọng nhằm tạo ra nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ, tăng năng lực sản xuất trong điều kiện nguồn vốn không tăng.
Hãng cũng cần tận dụng tối đa các cơ hội để huy động vốn vay mua máy bay thông qua sự bảo lãnh của các tổ chức tín dụng xuất nhập khẩu của nước sản xuất máy bay với các điều kiện ưu đãi. Ngoài các hình thức vay thế chấp và vay mua, khi cần, hãng phải nghiên cứu tìm tòi và áp dụng các hình thức vay thế chấp và vay mua, nghiên cứu tìm tòi và áp dụng các hình thức tài trợ vốn mới nhằm tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu đầu tư vốn.
Hãng cần thực hiện dự án đầu tư theo từng nhóm, chuyên ngành đầu tư tạo cơ hội cho việc gọi vốn đầu tư theo dự án, một hình thức đầu tư phổ biến trên thị trường vốn quốc tế.
Ngoài ra, Hãng có thể huy động vốn qua việc thành lập các liên doanh trong lĩnh vực kỹ thuật và kinh doanh dịch vụ với các đối tác trong và ngoài nước, huy động vốn thông qua các hợp đồng vay thương mại gằn liền với các hợp đồng vay vốn tín dụng xuất khẩu, tận dụng tối đa các nguồn vốn ODA, vốn hỗ trợ và hợp tác của các tổ chức quốc tế, các nhà cung cấp máy bay, khí tài.
Một biện pháp hữu hiệu khác là Hãng có thể huy động vốn từ ngân sách Nhà nước bằng cách kiến nghị Nhà nước cho VNA miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số năm. Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
1.2. Hoàn thiện hệ thống bảo dưỡng và đảm bảo kỹ thuật
Hãng cần củng cố hệ thống điều hành khai thác và kỹ thuật theo quy chế VAR-OPS và JAR-145 nhằm đảm bảo kiểm soát các quy trình khai thác kỹ thuật và bảo dưỡng máy bay tuân thủ theo đúng các yêu cầu chất lượng và an toàn của các nhà chức trách hàng không trong nước và quốc tế có liên quan. Đây cũng là nội dung cơ bản và quan trọng đảm bảo cho VNA trở thành nhà khai thác hàng không có độ tin cậy và an toàn cao, được quốc tế thừa nhân, tạo cơ sở quan trọng cho các hình thức hợp tác và liên minh liên kết về kỹ thuật và bảo dưỡng máy bay sau này.
Về cơ sở bảo dưỡng sửa chữa máy bay: Hãng nên thành lập công ty bảo dưỡng sửa chữa máy bay, thành lập công ty liên doanh với nước ngoài về bảo dưỡng sửa chữa máy bay và động cơ nhằm nhanh chóng kết hợp trình độ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn công nghiệp hàng không lớn trên thế giới, với lợi thế về chi phí thấp và chất lượng cao của đội ngũ người lao động Việt Nam. Trên cơ sở đó, từng bước cung ứng các dịch vụ kỹ thuật và bảo dưỡng đa dạng có chất lượng và giá cả cạnh tranh phục vụ cho VNA, đồng thời là tiền đề cho sự hợp tác liên minh kỹ thuật trong khu vực, mở rộng cung ứng các dịch vụ kỹ thuật cho cả các hãng hàng không đối tác và các khách hàng khác trong tương lai. Để thực hiện nội dung này, Hãng phải xúc tiến tìm kiếm và đàm phán với đối tác có uy tín về công nghệ kỹ thuật bảo dưỡng máy bay nước ngoài nhằm thiết lập công ty liên doanh kỹ thuật trên cơ sở các xí nghiệp sửa chữa, bảo dưỡng máy bay A75, A76. Mục tiêu đặt ra là: đến năm 2029, có thể tự sửa chữa, đại tu về thân và cánh các chủng loại máy bay chính của VNA, 70-80% thiết bị cơ giới, 50-60% các thiết bị điện tử.
2. Các giải pháp phát triển mạng bay của Hãng Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
2.1. Hoàn thiện chính sách phát triển mạng đường bay
Đối với toàn mạng đường bay: Nhằm tạo khả năng chi phối tuyệt đối đối với các luồng vận chuyển nội địa, giành thế cạnh tranh cao đối với các luồng vận chuyển quốc tế đến Việt Nam cũng như trong khu vực Đông Dương, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, Hãng cần từng bước chuyển dịch cấu trúc toàn mạng đường bay của mình theo hướng mô hình trục-nan với ưu thế tần suất cao và hai trung tâm trung chuyển khép kín là Hà Nội-Tp Hồ Chí Minh. Từ đó từng bước tăng thị phần vận chuyển của Hãng trong khu vực và xây dựng Vietnam Airlines thành một trong các trung tâm trung chuyển hàng không quan trọng vùng Đông Nam Á.
Đối với mạng đường bay theo trục Bắc-Nam và quốc tế trong khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á: Có thể khẳng định đây sẽ là mảng hoạt động sinh lời chính của Hãng. Trong đó, mạng đường bay khu vực tầm ngắn, trung giữ vai trò chủ đạo, bao gồm các đường bay quốc tế 1-3 giờ bay từ Việt Nam tới các nước quanh vùng. Mạng này lấy các yếu tố bay thẳng và tần suất cao làm thế mạnh cạnh tranh và hướng phát triển chủ đạo.
Đối với các thị trường xuyên lục địa trọng điểm: VNA cần phát triển một cách thận trọng và có chọn lựa căn cứ trên năng lực nội tại cũng như tương quan về cạnh tranh. Hãng cần bảo đảm quy mô hoạt động trung bình về tần suất bay và tải cung ứng nhằm hỗ trợ trước hết cho mạng đường bay khu vực, mặt khác tạo thuận tiện phát triển lâu dài các luồng vận chuyển lớn. Đồng thời, thực hiện liên minh liên kết về tiếp thị và mạng đường bay với các tập đoàn hàng không quốc tế toàn cầu nhằm mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế của Hãng trên các đường bay xuyên lục địa quan trọng. Việc liên minh liên kết này được dựa trên cơ sở tận dụng được các ưu thế quy mô lớn của các hãng nước ngoài và khắc phục những hạn chế về mạng đường bay phạm vi hoạt động nói riêng và hệ thống sản phẩm đồng bộ nói chung của Hãng hiện nay.
Đối với mạng đường bay xuyên Thái Bình Dương tới bờ tây bắc Mỹ: Đây là một thị trường lớn với mức độ cạnh tranh khốc liệt và chứa nhiều rủi ro. Do đó, Hãng chỉ nên tham gia khi đã thực sự đảm bảo được quy mô hoạt động tương đối lớn và có hiệu quả, các nguồn lực đặc biệt là đội ngũ cán bộ lao động kỹ thuật và thương mại cần có sự chuẩn bị kỹ càng. Đồng thời phải có một hệ thống quản trị đủ năng lực và hiệu quả trong cơ chế thị trường.
2.2. Lập kế hoạch mở các đường bay mới Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Để mở rộng mạng bay, Hãng phải không ngừng tìm kiếm và gia tăng các đường bay mới. Tuy nhiên, việc mở đường bay mới phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thế lực của các hãng hàng không khác đã tham gia khai thác đường bay đó, chính sách của chính quyền sở tại, tập quán của cảng hàng không, tần suất khai thác tối đa của đường bay… Do đó, trước khi mở đường bay, Hãng cần nghiên cứu kỹ lợi ích kinh tế trước mắt và lâu dài mà Hãng có thể đạt được khi khai thác đường bay, tiềm lực của Hãng so với các hãng hàng không khác, … Từ đó đưa ra các chính sách đàm phán thích hợp với chính quyền sở tại, ban quản lý cảng hàng không, và với các hãng hàng không khác để cùng chia sẻ đường bay.
Ngoài ra, vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu của Hãng đều kết hợp trên các chuyến bay chở khách nên Hãng còn cần phải nghiên cứu nhu cầu đi lại của hành khách trên tuyến đường bay đó để có biện pháp kết hợp tải cung ứng hàng hoá và đề xuất tần suất bay hợp lý, từ đó có thể đạt được lợi ích tối ưu trên cả thị trường vận tải hàng hoá và hành khách.
2.3. Duy trì và phát triển các đường bay mà Hãng đang khai thác
Đối với các đường bay đã và đang khai thác, Hãng phải có các biện pháp tăng cường mối quan hệ hợp tác với ban quản lý sân bay và với các hãng hàng không cùng khai thác đường bay từ đó có thể tăng tần suất bay trên các đường bay đang khai thác. Cũng trên cơ sở phân tích tiềm lực và lợi ích của Hãng cũng như của các hãng hàng không khác, Hãng có thể tiến hành đàm phán để tăng tần suất ở một đường bay này và giảm tần suất ở một đường bay khác để chia sẻ đường bay với các hãng khác trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Hãng cũng cần có các biện pháp tiếp thị về giá cước, giá vé, dịch vụ vận chuyển, … để thu hút khách hàng tránh tình trạng đường bay mở ra nhưng lại không có khách hoặc mất khách bởi các hãng hàng không khác.
3. Các giải pháp tăng cường khả năng huy động vốn của Hãng
Trong những năm qua, vốn của Hãng vẫn tăng lên không ngừng nhờ nguồn vốn tự bổ sung do kinh doanh có lãi, vay thương mại và vay của các tổ chức xuất khẩu. Ngoài ra, một nguồn vốn rất quan trọng khác nữa là liên doanh với các tổ chức trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên tổng vốn của Hãng so với nhu cầu vốn vẫn không kịp đáp ứng, do đó để giải quyết tốt vấn đề vốn, cần phải có các biện pháp hợp lý và hiệu quả.
3.1. Huy động vốn từ nội bộ Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam
Huy động vốn từ nội bộ Hãng, huy động từ các đơn vị thành viên trong nội bộ là chiến lược lâu dài và hiệu quả nhất trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển. Tự đầu tư phát triển là tiền đề định hướng nhằm vào tiềm lực nội bộ. Huy động mọi nguồn lực xuất phát từ biện pháp tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh mới thực sự tạo nguồn để huy động nhằm phục vụ cho đầu tư phát triển. Mặt khác, chính đầu tư phát triển mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả đầu tư là tiền đề tăng nhanh nguồn thu, tăng tích luỹ vốn từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Tích luỹ vốn từ khấu hao cơ bản là một biện pháp hợp lý để tăng cường đổi mới thiết bị và duy trì đội máy bay. Từ năm 2015, VNA đã quy định là: Quỹ khấu hao thiết bị mặt đất và quỹ khấu hao máy bay chỉ chuyên dùng để đầu tư cho máy bay. Đây là một giải pháp đúng đắn, cần được duy trì. Khuyến khích các đơn vị trong Hãng khấu hao nhanh tài sản cố định để tái đầu tư, tăng tỷ lệ trích lợi nhuận sau thuế để đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng, công nghệ cao và có khả năng cạnh tranh tốt.
Một hình thức huy động vốn có hiệu quả nữa là vay vốn trực tiếp của cán bộ công nhân viên trong Hãng. Đây là hình thức được nhiều doanh nghiệp thực hiện khá thành công. Đối với VNA, đây là một nguồn vốn rất tiềm năng, nếu Hãng có hướng đi đúng thì sẽ thu hút được một lượng tiền nhàn rỗi khá lớn của các cán bộ công nhân viên. Hãng hàng không quốc gia Việt Nam là một doanh nghiệp lớn, với số cán bộ công nhân viên khoảng hơn 13.000 người với thu nhập bình quân tương đối cao. Mặt khác, Hãng có đủ tiềm năng to lớn để tạo lòng tin vào sự phát triển trong tương lai nên việc khơi thông nguồn vốn này là hoàn toàn có khả năng thực hiện được. Hơn nữa, việc huy động vốn trực tiếp từ cán bộ công nhân viên còn có rất nhiều ý nghĩa, nó vừa là nguồn huy động vốn không nhỏ cho công ty, nó lại vừa tạo cho người lao động có điều kiện đầu tư, và hơn hết nó làm cho người lao động gắn bó và có trách nhiệm hơn với doanh nghiệp của mình. Tuy vậy, cũng cần có chính sách đảm bảo thoả đáng lợi ích đối với các cán bộ công nhân viên cho vay về lãi suất, ít nhất cũng không thấp hơn lãi suất ngân hàng thương mại.
3.2. Huy động vốn từ bên ngoài Hãng
Xuất phát từ thực tiễn kinh doanh trong điều kiện thiếu vốn trầm trọng, Vietnam Airlines luôn chú trọng tới việc khai thác các nguồn vốn từ bên ngoài. Tuy nhiên huy động từ bên ngoài có nghĩa là doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí cho việc sử dụng vốn đó. Vì vậy cần xác định tính chính xác, khoa học của từng dự án huy động vốn, chỉ huy động khi thực sự cần thiết, tránh tình trạng huy động tràn lan.
Một số giải pháp huy động vốn có tính thực thi cao được dự tính như sau:
- Vốn ngân sách Nhà nước Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh doanh, hàng không dân dụng là ngành đặc biêt, là cánh cửa giao lưu quốc tế, có ảnh hưởng đến nhiều ngành kinh tế khác trong cả nước. Hơn nữa, hàng không thuộc về cơ cấu hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà chỉ riêng Hãng thì không thể đảm nhận được. Do đó yêu cầu cấp thiết là phải có sự đầu tư quan tâm thích đáng của Nhà nước.
Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam do tỷ lệ sở hữu thấp, chi phí thuê máy bay chiếm tỷ trọng cao nên lợi nhuận kinh doanh thấp, trong khi đó mức thuế thu nhập cao doanh nghiệp hiện nay nộp là 28% làm cho lợi nhuận để tái đầu tư thấp. Vì Vietnam Airlines là doanh nghiệp Nhà nước nên Nhà nước có quyền yêu cầu phải nộp một khoản lợi nhuận mang lại do Nhà nước đầu tư. Nhưng trong điều kiện hiện nay, VNA có thể huy động vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước bằng cách kiến nghị Nhà nước cho phép Hãng miễn nộp thuế thu nhập trong một số năm để đầu tư phát triển đội máy bay. Ngoài ra có thể đề nghị Nhà nước hỗ trợ xem xét cấp thêm một phần vốn để giảm bớt tỷ lệ vốn vay mua máy bay từ 85% xuống 70% nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Thuế thu nhập doanh nghiệp để lại và vốn ngân sách bổ sung nêu trên có thể thuộc sở hữu Nhà nước trong vốn của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam hoặc dưới hình thức Nhà nước cho hoãn nộp ngân sách và cho vay ưu đãi trong vòng 20 năm để Hãng có điều kiện đầu tư hiện đại hoá cơ sở vật chất, nhanh chóng rút ngắn sự tụt hậu về công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Vốn do phát hành cổ phiếu
Cổ phần hoá là giải pháp có khả năng giải quyết được những khó khăn về vốn cho ngành hàng không Việt Nam, tuy nhiên nếu không có sự chuẩn bị thì chúng ta khó có thể thực hiện có hiệu quả. Mặc dù vậy, về chiến lược lâu dài thì giải pháp cổ phần hoá là giải pháp cần thiết, hữu hiệu để huy động tạo vốn phát triển, không chỉ cho ngành hàng không mà còn cho tất cả các ngành kinh tế kỹ thuật khác.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, khi mà thị trường chứng khoán đã được hình thành và dần đi vào phát triển ổn định thì Hãng hàng không quốc gia hoàn toàn có khả năng xâm nhập vào thị trường tài chính trực tiếp này. Vietnam Airlines nên đẩy mạnh việc cổ phần hoá các doanh nghiệp trực thuộc, trước mắt là các đơn vị ngoài vận tải hàng không, nhằm huy động thêm các nguồn vốn, tạo thêm môi trường hoạt động phù hợp cơ chế thị trường và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh. Cho tới nay, Vietnam Airlines đã cổ phần hoá xong 12 công ty trực thuộc hạch toán độc lập. Theo chỉ đạo của Chính phủ, VNA sẽ xây dựng chương trình cổ phần hoá một phần Hãng hàng không Quốc gia từ năm 2027.
- Vốn do phát hành trái phiếu Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Hiện nay, ở Việt Nam, lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư vẫn còn khá lớn nên việc phát hành trái phiếu là cần thiết cho việc huy động nguồn tiền nhàn rỗi này.
Về thực chất phát hành trái phiếu cũng là một hình thức huy động vốn trực tiếp từ dân cư. Với nhiều ưu điểm trái phiếu được coi là một công cụ huy động vốn có hiệu quả. Nếu thực hiện tốt hình thức huy động này và có những thành công hơn trong sản xuất kinh doanh thì trong tương lai Hãng có khả năng khai thác hướng đi này. Nguồn tài chính huy động bằng trái phiếu sẽ là một trong những nguồn tài trợ của Hãng. Vietnam Airlines là một doanh nghiệp nhà nước có vị thế và uy tín trong nền kinh tế quốc dân nên các nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn khi mua trái phiếu của công ty. Đây sẽ là cơ sở huy động vốn trong dài hạn cho Hãng.
- Vốn vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng xuất khẩu
Hiện nay các ngân hàng trong nước chủ yếu cho vay ngắn hạn và trung hạn với lãi suất thấp. Tổng công ty là một đơn vị kinh doanh lớn và có uy tín nên việc vay vốn không khó khăn. Tuy nhiên vốn này không thể đầu tư dài hạn được cho nên cần kết hợp với các nguồn vốn vay dài hạn của các tổ chức tín dụng xuất nhập khẩu để có thể đầu tư mua máy bay và kinh doanh cơ sở bảo dưỡng máy bay, cơ sở trang thiết bị mặt đất.
- Vốn tài trợ
Tận dụng cơ hội hợp tác của Nhà nước và của bản thân Hãng để có thể có được sự hỗ trợ sử dụng vốn ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong các dự án đầu tư, mở rộng, khuyến khích các dạng đầu tư khác như BT, BOT,…
Tận dụng các nguồn vốn ODA, vốn hợp tác và hỗ trợ các tổ chức quốc tế và các nhà cung cấp máy bay, khí tài để đảm bảo nhu cầu vốn đầu tư cho đào tạo cơ bản người lái, cán bộ kỹ thuật và quản lý kinh doanh với số lượng lớn.
- Vốn liên doanh liên kết
Trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay thì việc huy động vốn từ liên doanh liên kết là không thể thiếu. Hình thức liên doanh liên kết với các đối tác hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến vận tải hàng không vừa tận dụng được nguồn vốn của đối tác để thực hiện sản xuất kinh doanh đem lại lợi ích cho Hãng nhằm nhanh chóng làm chủ công nghệ hiện đại và thực hiện tốt việc chuyển giao công nghệ hiện đại và thực hiện tốt việc chuyển giao công nghệ mới để nâng cao chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế.
3.3. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn huy động Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Huy động vốn gắn liền với việc sử dụng vốn có hiệu quả. Huy động vốn đã khó nhưng việc sử dụng nguồn vốn huy động sao cho có hiệu quả lại càng khó khăn hơn. Để tránh tình trạng thất thoát, lãng phí vốn, sử dụng vốn không đúng mục đích, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam cần có những biện pháp sau:
Thứ nhất, cần sử dụng hiệu quả các nguồn vốn huy động. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thực chất là giảm chi phí tới mức thấp nhất các loại chi phí vốn như chi phí lãi vay, chi phí bảo hành thế chấp, chi phí khác liên quan đến quá trình đàm phán huy động vốn, đồng thời tổ chức tốt việc lựa chọn đối tác cung ứng vốn đảm bảo chi phí vốn thấp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn huy động trước tiên phải định hướng chiến lược phát triển lâu dài, xác định mục tiêu chiến lược cho sự phát triển bền vững. Sử dụng vốn có hiệu quả còn phụ thuộc vào việc lựa chọn dự án đầu tư. Đối với những dự án huy động vốn trong nội bộ Hãng phải tính toán kỹ lưỡng trên cơ sở cân đối chung nguồn lực có tính đến yếu tố phát triển của các đơn vị thành viên, những dự án huy động vốn ngắn hạn chủ yếu dựa vào nội lực chính là cơ sở để giảm chi phí vốn đến mức thấp nhất. Đối với những dự án dài hạn phải dựa trên cơ sở tính toán hiệu quả của từng dự án để có cơ sở chính xác trong việc huy động vốn.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng cách nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý huy động vốn. Đây là một trong những giải pháp quan trọng của Hãng trong giai đoạn hiện nay. Hãng cần kiện toàn lại bộ máy và tổ chức lại bộ máy quản lý huy động vốn cho phù hợp với tính thực tế và đáp ứng nhu cầu cho tương lai. Bộ máy hợp lý đòi hỏi phải gọn nhẹ, linh hoạt, tinh thông nghiệp vụ, thống nhất chỉ huy điều hành từ trên xuống cơ sở, đồng thời nên có cán bộ chuyên trách theo dõi, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện huy động và sử dụng vốn. Mỗi dự án đầu tư cần huy động phải có những luận cứ khoa học chính xác nhằm đưa ra những quy định đúng đắn tránh rủi ro trong kinh doanh.
4. Các giải pháp hoàn thiện hệ thống dịch vụ vận tải Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
4.1. Hoàn thiện chính sách sản phẩm, dịch vụ hàng hoá
Xác định kinh doanh vận chuyển hàng hoá là một bộ phận quan trọng của hệ thống sản phẩm kinh doanh vận tải, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực vận tải của Hãng. Chính sách sản phẩm hàng hoá cần được tập trung ưu tiên khai thác tối đa các luồng vận chuyển hàng hoá lớn (từ Việt Nam đi Đông Bắc Á, Châu Âu, Bắc Mỹ) thông qua việc vận dụng tải hàng trên các chuyến bay chở khách bằng máy bay thâm rộng, kết hợp với việc mở rộng khai thác bằng các chuyến bay chở hàng.
Loại hình sản phẩm mới cần được phát triển ở lĩnh vực hàng chuyển nhanh nhằm vào thị trường hàng khối lượng nhỏ, có yêu cầu chở nhanh để kết hợp khai thác trên các chuyến bay chở khách có tải cung ứng chở hàng thấp nhưng hoạt động rất thường xuyên. Hệ thống sản phẩm hàng chuyển nhanh trước mắt nên tổ chức giữa Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Singapore, Bangkok, Hồng Kông cho phép nâng cao thu suất hàng hoá, tăng tải suất và doanh thu chuyến bay. Việc mở rộng sản phẩm này sang các điểm bay khác sẽ được thực hiện dần thông qua liên kết với các công ty dịch vụ chuyển phát nhanh ở trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, Hãng phải liên tục cải tiến chất lượng dịch vụ cung ứng, chuyên chở hàng hoá một cách an toàn và theo đúng lịch trình thoả thuận, mở rộng dịch vụ vận tải đa phương thức giao hàng đến tận cửa, giải quyết khiếu nại của khách hàng nhanh chóng và thoả đáng.
4.2. Hoàn thiện chính sách giá cả
Xây dựng một quy định phù hợp về chính sách giá cước vận tải, khẳng định rõ những nguyên tắc xây dựng giá và áp dụng trong toàn hệ thống. Đề ra một hệ thống giá cả hợp lý với nhiều mức giá khác nhau để phù hợp với từng loại hàng với mục đích lấp đầy chỗ trống trên máy bay. ở những chuyến bay thừa tải cung ứng hàng hóa, Hãng có thể thực hiện chính sách giảm cước phí để thu hút khách hàng, tận dụng được hết công suất chở hàng của máy bay, còn ở những chuyến bay có lượng hàng hóa cần vận chuyển lớn thì Hãng không nên để mức cước quá thấp. Tuy nhiên, đa dạng hệ thống giá Hãng cũng phải chứ ý thực hiện đi đôi với kiểm soát đánh giá hiệu quả của chính sách giá.
Ngoài ra, Hãng cũng cần nghiên cứu kỹ giá của các hãng cạnh tranh để đưa ra được những đối sách thích hợp, có tính cạnh tranh cao. Tuy nhiên chính sách giá cần được xây dựng trên tinh thần hợp tác với các hãng hàng không khác trên địa bàn khai thác để tránh những cạnh tranh bất lợi về giá.
- Hoàn thiện chính sách xúc tiến hỗ trợ kinh doanh Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Hãng cần phải năng động và linh hoạt hơn trong việc sư dụng những kỹ thuật yểm trợ và xúc tiến bán hàng. Bên cạnh những hình thức quảng cáo trên báo chí, tạp chí chuyên ngành, Hãng nên tăng cường ra quảng cáo trên các báo thường nhật, có số lượng người đọc lớn và chú trọng quảng cáo trên các phương tiện khác như áp phích, biển hiệu ở các trục giao thông lớn.
Mặt khác, Hãng nên tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị khách hàng, đưa ra các hình thức khuyến mãi, giảm giá cước đối với các khách hàng thường xuyên, khách hàng lớn,…
Để xúc tiến hỗ trợ kinh doanh vận tải hàng hoá tốt hơn, Hãng cần có chương trình điều tra nghiên cứu thị trường với mỗi thị trường riêng biệt hãng cần tìm hiểu các thông tin như: nhu cầu vận chuyển của thị trường, các hãng đã tham gia khai thác, các dịch vụ vận tải và cước phí của các hãng đó, … để có thể đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp.
4.4. Đưa hệ thống vé điện tử vào hoạt động
Hiện nay, sử dụng vé điện tử trong việc đặt chỗ cung ứng tải trên máy bay đang là xu thế của nhiều hãng hàng không lớn trên thế giới bởi những ưu việt do hệ thống vé điện tử mang lại. Đặt chỗ thông qua hệ thống vé điện tử sẽ giúp Hãng giảm tới mức tối đa các chi phí giúp Hãng có khả năng cạnh tranh trên thị trường vận tải hàng hóa bằng đường hàng không. Tuy nhiên, để áp dụng hệ thống vé điện tử, Hãng cần phải đầu tư khá lớn về hệ thống thiết bị mạng cũng như đội ngũ cán bộ quản lý. Do vậy, Hãng cần cân nhắc và triển khai hợp lý để tránh tính trạng đầu tư không mang lại hiệu quả, lãng phí nguồn lực của Hãng.
5. Các giải pháp hỗ trợ khác
5.1. Phát triển nguồn nhân lực
Mục tiêu phát triển: xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong Hãng đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đủ trình độ với loại hình lao động hàng không, đáp ứng yêu cầu, hoàn thành các nhiệm vụ được giao; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, phi công được đào tạo cơ bản và có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ nghiệp vụ tốt, giỏi ngoại ngữ, nắm vững khoa học quản lý, biết làm việc hiệu quả trong cơ chế thị trường; phát huy cao nhất yếu tố con người.
Để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng tốt cho lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam cần xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực theo hướng có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ cao, có khả năng ứng phó với các tình huống khó khăn bất ngờ xảy ra trong quá trình chuyên chở hàng hoá bằng đường hàng không, ngoài ra các cán bộ cần được đào tạo để có thể ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong quản lý cũng như trong sản xuất kinh doanh. Để đạt được những mục tiêu đó, Hãng có thể áp dụng các giải pháp sau:
Hãng cần tập trung đầu tư cho công tác đào tạo, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, đa dạng hoá các hình thức, phương thức đào tạo: ngắn hạn, dài hạn, đào tạo trong nước, đào tạo ngoài nước, đào tạo theo trường lớp và tự đào tạo. Song song với việc phát triển các cơ sở đào tạo trong Ngành (như Trường hàng không Việt Nam, trung tâm huấn luyện của Tổng công ty hàng không), Hãng phải tân dụng tối đa năng lực và khả năng đào tạo của các cơ sở đào tạo trong nước.
Hãng nên có chính sách lương bổng, đãi ngộ phù hợp khuyến khích người lao động tham gia học tập, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, thường xuyên cập nhật kiến thức; lập kế hoạch tái đào tạo người lao động để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tế sản xuất, kinh doanh Hãng cũng nên chú trọng phát triển nguồn nhân lực làm công tác quản lý. Việc lựa chọn, đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực quản lý là đòi hỏi tất yếu trước sức ép cạnh tranh toàn cầu. Bản chất của quá trình đổi mới và hiện đại hoá công nghệ quản lý – điều hành là đổi mới tổ chức, thiết lập và vận hành hệ thống các quy trình theo tiêu chuẩn quốc tế tiên tiến. Vì vậy, Hãng cần trang bị và cập nhật kịp thời những kiến thức quản lý hiện đại cho nguồn nhân lực này, đặc biệt là những người có kiến thức và năng lực lãnh đạo, quản lý. Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách nhanh chóng, Hãng có thể thực hiện biện pháp tài trợ cho những sinh viên ưu tú trong các trường đại học chuyên ngành vận tải hàng không. Họ là những người trẻ tuổi, năng động, nhiệt tình trong công việc, có tài trí tiếp thu các công nghệ tiến tiến một cách nhanh chóng, và họ sẽ trở thành nguồn lao động chất lượng cao tiềm năng cho Hãng trong tương lai.
Hơn nữa, Hãng nên áp dụng chế độ tuyển dụng công khai thông qua thi tuyển, thử việc trên cơ sở hệ thống tiêu chuẩn chặt chẽ, khoa học và công bằng cho mọi đối tượng. Từ đó có thể bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ đúng người theo đúng năng lực vào đúng vị trí.
Ngoài ra, Hãng cũng cần có chính sách và giải pháp thích hợp để giải phóng bộ phận cán bộ bất cập trình độ, đồng thời duy trì sử dụng các cán bộ có kinh nghiệm và trình độ quản lý, trình độ chuyên môn cao.
5.2. Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ
Phát triển khoa học công nghệ không chỉ là biện pháp trước mắt mà còn mang tính chiến lược lâu dài cho vận tải hàng không Việt Nam. Do vậy, Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam trong những năm tới đề ra chủ trương tập trung nghiên cứu các đề tài và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của hàng không quốc tế; bảo đảm tăng hiệu quả kinh doanh; tăng năng lực cạnh tranh của Hãng. Hướng ưu tiên là đổi mới và chuyển giao công nghệ trước hết trong lĩnh vực vận tải; nghiên cứu xây dựng và phát triển công nghiệp hàng không; công nghệ thông tin; tổ chức quản lý.
- Các giải pháp đề ra đối với Hãng là:
Phát triển khoa học công nghệ và công nghiệp hàng không theo hướng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến; tiếp cận trình độ khoa học-công nghệ hàng không của các nước trong khu vực và trên thế giới; đổi mới công nghệ dựa vào tiếp thu chuyển giao công nghệ tiên tiến của nước ngoài là chính, đồng thời tích cực xây dựng năng lực nội sinh để từng bước xây dựng nền công nghiệp hàng không tiên tiến, có thể chủ động giải quyết có hiệu quả những vấn đề về khoa học công nghệ do thực tiễn sản xuất kinh doanh đặt ra. Trong quá trình chuyển giao công nghệ cần có sự nhất trí, đồng thuận cao trong Ban lãnh đạo, có tính đến các yếu tố, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam cũng như năng lực của Hãng để lựa chọn phương án, thời gian chuyển giao công nghệ, chọn đúng đối tác có đủ năng lực và kinh nghiệm chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, các cam kết phải được hợp pháp hoá thông qua các điều khoản của hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Ưu tiên chuyển giao công nghệ khai thác và bảo dưỡng máy bay với kết quả cuối cùng là đảm bảo cho Hãng có đủ năng lực và cơ sở pháp lý để làm chủ công nghệ khai thác, bảo dưỡng đội máy bay đang khai thác và từng bước tiến tới xuất khẩu dịch vụ cho các hãng hàng không nước ngoài. Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Phát triển công tác nghiên cứu và triển khai theo hướng đi từ thấp đến cao, chú trọng phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt công nghệ thông tin trong quản lý điều hành đảm bảo theo kịp sự phát triển nhanh của thị trường, tiếp thu những công nghệ mới, phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế hiện đại.
Đi đôi với việc tăng cường chuyển giao công nghệ phải chú trọng tới yếu tố con người công nghệ để ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ một cách có hiệu quả nhất. Con người phải được đào tạo và phát triển toàn diện năng lực cá nhân, tích luỹ kinh nghiệm và có tính kỷ luật cao, sẵn sàng cho việc tiếp thu khoa học-công nghệ mới. Muốn giảm thời gian chuyển giao công nghệ (để giảm chi phí), phải có chiến lược dài hạn và sách lược ngắn hạn; chủ động đào tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng.
5.3. Tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế
Về mặt hợp tác quốc tế, Hãng nên đa dạng hoá các hình thức hợp tác để có thể tận dụng tối đa năng lực của các hãng hàng không khác. Hãng cần thiết lập, tham gia các liên minh tiếp thị và kết nối mạng đường bay toàn cầu. Trước mắt, VNA cần chủ động tăng cường hợp tác song phương với một số hãng hàng không lớn ở một số khu vực thị trường chủ chốt, sử dụng các hình thức hợp tác từ đơn giản đến phức tạp, tiến tới hợp tác đa phương và toàn cầu.
Hiện nay, bên cạnh việc tận dụng tối đa lượng tải cung ứng từ các máy bay chở khách của mình, các chuyên gia về vận tải hàng hoá của VNA phải gắn bó hợp tác hơn nữa với các đối tác truyền thống từ Hàn Quốc, Đài Loan,… để mua tải cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá trong điều kiện Vietnam Airlines chưa có đội máy bay chuyên chở hàng hoá riêng.
Chủ trương tăng cường hội nhập quốc tế của Hãng cần phải phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tranh thủ được các nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, tham gia quá trình tự do hoá theo lộ trình trong vận tải hàng không, khi Việt Nam gia nhập APEC, AFTA, WTO,…Đa dạng hoá các hình thức hợp tác để mở rộng thị trường.
Trong thời gian tới cần tích cực tìm kiếm các cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài có tiềm lực về vốn, công nghệ và thế mạnh thị trường nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm của Hãng trên thị trường trong nước và khu vực, từng bước đầu tư vào các lĩnh vực sinh lời cao trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Hãng cũng phải tham gia Hiệp hội Hàng không Châu Á -Thái Bình Dương (AAPA), Hiệp hội Hàng không thế giới (IATA) một cách tích cực hơn nữa vừa để nâng cao uy tín của VNA vừa được hưởng những dịch vụ mà tổ chức này dành cho các hội viên.
IV: Một số kiến nghị với Nhà nước Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Để nâng cao năng lực vận tải hàng hoá cũng như năng lực vận tải hành khách, Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam phải nghiên cứu và thực hiện những biện pháp hữu hiệu và phù hợp. Bên cạnh đó, Hãng cũng cần đến sự hỗ trợ của Chính phủ một cách gián tiếp và trực tiếp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình dưới nhiều hình thức khác nhau. Sau đây là một số đề xuất về sự hỗ trợ chính sách của Chính phủ đối với Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam:
1. Nhà nước nên hỗ trợ cho VNA trong hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu
Đặc thù của vận tải hàng không là cần một lượng vốn đầu tư lớn về trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực,… nhiều khi nhu cầu về vốn vượt quá khả năng của các hãng hàng không nến rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Thật vậy, chi phí để mua một chiếc Boeing 777 là khoảng 140 triệu USD, mua một chiếc Boeing 767 cũng cần tới 80-120 triệu USD, ngoài ra chi phí để đào tạo đội ngũ phi công cũng rất lớn với thời gian đào tạo dài (5-7 năm). DO đó sự hỗ trợ của Nhà nước là rất cần thiết để Hãng có thể tồn tại và phát triển trước những hãng hàng không lớn trong khu vực và quốc tế. Nhà nước có thể hỗ trợ Hãng về các mặt như:
Nhà nước có thể cho phép Hãng chậm hoặc miễn thuế thu nhập trong một số năm nhằm tạo cơ hội cho Hãng tái đầu tư, tăng tích luỹ trong cơ cấu vốn.
Nhà nước cũng nên ưu tiên cho Hãng sử dụng vốn vay như ODA để đầu tư phát triển, đặc biệt là phát triển đội máy bay chở hàng trong những năm tới, hiện đại hoá cơ sở vật chất phục vụ vận tải hàng không, đào tạo đội ngũ nhân lực có trình độ như phi công, cán bộ quản lý chuyên ngành thương mại,…
Nhà nước xây dựng các chính sách nhằm đơn giản hoá các thủ tục về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đối với lĩnh vực thuê/mua, sửa chữa bảo dưỡng máy bay thế hệ mới, áp dụng hệ thống pháp lý về khai thác và bảo dưỡng tiến tiến của JAA (châu Âu) và FAA (của Mỹ) tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động hàng không dân dụng, tạo sự yên tâm cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng, chủ đầu tư và người cho thuê phương tiện vận tải.
Bên cạnh đó, nên có chính sách ưu tiên về giá phục vụ dịch vụ kỹ thuật thương mại mặt đất như: giá cất hạ cánh, giá thuê bao sân bay, giá thuê các phương tiện phục vụ bố dỡ,… cho Hãng nhất là trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay trong khi tiềm lực của Hãng còn rất hạn chế.
2. Nhà nước đóng vai trò trung gian bảo lãnh cho Hãng vay vốn Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Với số vốn quá nhỏ bé như hiện nay thì Vietnam Airlines rất khó có thể thực hiện một cách có hiệu quả những kế hoạch phát triển đã đề ra, đặc biệt là kế hoạch hiện đại hoá đội bay, đầu tư cho máy bay chở hàng. Trước tình hình đó, Nhà nước cần hỗ trợ Hãng trong những mặt sau:
Nhà nước đứng ra bảo lãnh (thông qua Bộ Tài chính hoặc ngân hàng Nhà nước) để Hãng có thể vay vốn mua máy bay thông qua các tổ chức tín dụng xuất nhập khẩu và miễn lệ phí bảo lãnh cho các khoản vay này.
Nhà nước cần có những biện pháp phát triển quan hệ ngoại giao, mở rộng quan hệ hợp tác với các hãng hàng không lớn trên thế giới nhằm tạo điều kiện cho VNA có thể tiếp thu được các công nghệ tiên tiến, học hỏi các kinh nghiệm quản lý và kinh doanh hiện đại, tăng khả năng huy động vốn quốc tế.
3. Nhà nước cần tăng cường, đẩy nhanh hội nhập và cạnh tranh quốc tế.
Bên cạnh những biện pháp bảo hộ hợp lý đối với Hãng hàng không quốc gia Việt Nam, Nhà nước cũng cần tích cực đẩy nhanh quá trình hội nhập, tham gia mạnh mẽ vào môi trường cạnh tranh quốc tế theo hướng:
Chủ động hội nhập quốc tế theo hướng tự do hoá theo lộ trình hợp tác vận tải hàng không CLMV, ASEAN, APEC, WTO song song với việc tiến tới xoá bỏ sự bảo hộ của Nhà nước vào quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
Nhà nước có những chính sách phát triển thị trường hàng không theo hướng mở, gắn với thị trường hàng không khu vực và thế giới.
Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định các chính sách hội nhập phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng vận tải hàng không Việt Nam, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó trên thị trường quốc tế. Việc chuyển dịch chính sách từ điều tiết và bảo hộ triệt để ngành vận tải hàng không sang quản lý hàng không tự do hơn, nới lỏng sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước, chấp nhận những nguyên tắc cạnh tranh quốc tế sẽ tạo ra một môi trường thúc đẩy sự lớn mạnh của các hãng hàng không.
4. Nhà nước cần có biện pháp giảm thiểu phiền hà về thủ tục hành chính, hải quan tạo điều kiện cho hoạt động chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu phát triển.
Các thủ tục hành chính quan liêu là một trở ngại lớn cho sự phát triển của các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu của Hãng nói riêng. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vận tải hàng hoá quốc tế thì Nhà nước và Cục hàng không dân dụng Việt Nam cần sớm ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn đối với các ngành và bộ phận liên quan như hải quan, an ninh hàng không,…hoạt động nhịp nhàng với hãng vận chuyển, từ đó giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết, tạo điều kiện cho hàng hoá lưu chuyển nhanh chóng, dễ dàng, không gây phiền hà cho các chủ hàng xuất nhập khẩu mà vẫn đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật.
5. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và nhất quán, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế
Yêu cầu đặt ra ở đây là Nhà nước cần thiết lập một hệ thống pháp luật đồng bộ và nhất quán nhằm tạo nên một hành lang pháp lý ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh vận tải hàng không nói chung và hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng.
Trước hết, các văn bản dưới luật cần được ban hành đầy đủ với mục đích hướng dẫn, giải thích và làm rõ quy định của Luật hàng không dân dụng và hướng dẫn các doanh nghiệp vận tải hàng không trong đó có VNA thi hành. Mặt khác, như đã phân tích ở trên, vận tải hàng không mang tính quốc tế và toàn cầu hoá sâu sắc, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về hàng không dân dụng (Luật hàng không dân dụng) sao cho phù hợp với công ước và hiệp định quốc tế song phương và đa phương về hàng không dân dụng mà Việt Nam đã tham gia.
6. Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các hãng hàng không, các doanh nghiệp tham gia các hoạt động hàng không: Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Rà soát, sửa đổi bổ sung các văn bản pháp quy nhằm bảo đảm sự bình đẳng trong cơ hội đầu tư kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp tiếp cận về ngành nghề, đất đai, thông tin cũng như các chính sách, chế độ ưu đãi hiện hành của Nhà nước trong lĩnh vực hàng không dân dụng.
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi đối với các lĩnh vực, sản phẩm và dịch vụ cần ưu tiên hoặc khuyến khích phát triển, không phân biệt thành phần kinh tế. Phải có cơ chế bảo vệ, khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh, hợp tác bình đẳng cùng phát triển.
Thi hành chính sách tự do hoá từng bước vận tải hàng không quốc tế, mở rộng mạng sân bay quốc tế nhằm mở rộng thị trường hàng không Việt Nam, thu hút các hãng hàng không nước ngoài khai thác đến Việt Nam.
Đẩy nhanh việc thực hiện lộ trình thống nhất chính sách thuế, phí và lệ phí để áp dụng không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, đặc biệt phải sớm hoàn thành việc thống nhất các loại giá, phí và lệ phí áp dụng đối với các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không trong và ngoài nước.
Trong xu thế hội nhập kinh tế ngày càng tăng khiến cho cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, sự hỗ trợ từ phía Chính phủ là rất quan trọng trong chiến lược phát triển của VNA bởi lẽ so với các hãng hàng không quốc tế, tiềm lực tài chính và năng lực vận tải của Hãng vẫn còn rất hạn hẹp, nếu không có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước rất có thể Hãng sẽ thất bại ngay trên “sân nhà”.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
Thực hiện chính sách đổi mới do Đảng đưa ra, những năm qua, ngành hàng không dân dụng (HKDD) Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, là cầu nối và công cụ quan trọng của Việt Nam trong hợp tác và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, nguồn vốn còn hạn hẹp, công nghệ chưa phát triển thì năng lực vận tải của Hãng vẫn còn ở trình độ thấp so với các hãng trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt thị phần vận tải hàng hoá quốc tế của Hãng còn rất khiêm tốn do chưa được đầu tư chú trọng đúng mức. Đây thực sự là một bất cập lớn khi mà thị trường vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường hàng không ở nước ta ngày càng nhộn nhịp nhất là khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Từ thực trạng ấy, một bài toán lớn đặt ra cho Hãng là làm thế nào nâng cao năng lực vận tải hàng hoá, thúc đẩy sản xuất kinh doanh để lấy lại thị phần vận chuyển hàng hoá quốc tế đã mất vào tay các hãng hàng không nước ngoài trong những năm qua, từ đó đưa Hãng lên một tầm cao mới ngang tầm với các hãng lớn trong khu vực và trên thế giới. Mặt khác, từ việc nghiên cứu đề xuất cho đến khi thực hiện thành công các giải pháp là cả một quá trình lâu dài và khó khăn, do vậy không chỉ bản thân Hãng phải cố gắng nỗ lực mà còn cần sự hỗ trợ đắc lực từ phía Chính phủ.
Như vậy, nâng cao năng lực vận tải nói chung và nâng cao năng lực vận tải hàng hóa quốc tế nói riêng là một vấn đề lớn đối với bất kỳ một hãng hàng không nào, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng tăng như hiện nay. Đối với Hãng hàng không quốc gia Việt Nam vấn đề này không chỉ cần giải quyết trong trong ngày một ngày hai mà phải xây dựng thành một chiến lược lâu dài khi mà cạnh tranh trong lĩnh vực vận tải ngày càng gay gắt. Giải quyết được vấn để đó sẽ mở ra một cánh cửa mới cho Hãng thâm nhập vào một đẳng cấp cao trên thị trường hàng không thế giới, từ đó góp phần xây dựng đất nước đưa đất nước sánh ngang với các đối thủ tầm cỡ trên thế giới cả trong lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực văn hoá-xã hội. Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Phát triển vận tải hàng hoá XNK đường hàng không


Pingback: Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không