Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

I: Giới thiệu về Vietnam Airlines

1. Lịch sử hình thành và phát triển

Lịch sử ra đời và phát triển của Hãng hàng không quốc gia (VNA) gắn liền với sự phát triển của ngành hàng không dân dụng Việt Nam. Hãng hàng không quốc gia Việt Nam trực thuộc Tổng công ty hàng không Việt Nam và là lực lượng vận chuyển chính của hàng không Việt Nam. Trong quãng thời gian từ lúc thành lập cho đến nay, Vietnam Airlines đã có sự tăng trưởng vượt bậc cả về chất lượng lẫn số lượng, thể hiện qua sự phát triển về mạng đường bay, đội tàu bay, chất lượng dịch vụ và tốc độ tăng trưởng.

Khởi đầu từ năm 1956 với đội ngũ máy bay chỉ gồm 5 chiếc, Vietnam Airlines đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trước khi trưởng thành như ngày nay. Ngày 15 tháng 1 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký Nghị định số 666/TTg thành lập Cục hàng không dân dụng Việt Nam. Với tên gọi là hãng Hàng không dân dụng Việt Nam, Vietnam Airlines bắt đầu với tư cách một hãng hàng không độc lập ngay sau khi tiếp quản sân bay Gia Lâm. Với đội bay gồm 5 chiếc, hàng không Việt Nam mở đường bay quốc tế đầu tiên tới Bắc Kinh. Tiếp đó, các đường bay quốc tế mới đến Viên Chăn và Băng Cốc được mở lần lượt vào các năm 1976 và 1978.

Năm 1976, Vietnam Airlines đổi tên thành Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam. Cũng trong năm đó hàng không Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động thường xuyên, chuyên chở 21.000 hành khách trong đó 7.000 hành khách trên chuyến bay quốc tế và 3.000 tấn hàng hoá.

Ngày 20/4/2012, Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 745QĐ/TCCB-LĐ của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải và là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Cục hàng không Dân dụng Việt Nam. Quyết định này nêu rõ: Thành lập Hãng hàng không quốc gia Việt Nam trên cơ sở các đơn vị thuộc Tổng công ty hàng không Việt Nam trước đây. Hãng hàng không quốc gia Việt Nam có tên giao dịch bằng tiếng Anh là Vietnam Airlines. Tên viết tắt đăng ký tại ICAO là HVN, tại IATA là VN. Hãng hàng không quốc gia Việt Nam có tư cách pháp nhân, có tài khoản ở ngân hàng, con dấu, cờ, trang phục và phù hiệu riêng.

Ngày 27 tháng 5 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký quyết định thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines Corporation) trên cơ sở sáp nhập 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng không mà Hãng hàng không quốc gia là nòng cốt. Hãng nằm dưới sự quản lý của 7 người do Thủ tướng chỉ định. Hãng từng là cổ đông lớn nhất của hãng hàng không thứ hai Việt Nam – Pacific Airlines nhưng cổ phần của hãng đã được chuyển sang Bộ Tài chính vào tháng 1 năm 2024. Tổng công ty hàng không Việt Nam với tư cách là một tập đoàn kinh doanh vận tải hàng không có quy mô lớn của nhà nước có chức năng nhiệm vụ kinh doanh, dịch vụ, phục vụ về vận tải hàng không đối với hành khách, hàng hóa ở trong nước và nước ngoài, trong đó có xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, xây dựng, tạo nguồn vốn, thuê và mua sắm máy bay, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị, xuất nhập khẩu vật tư thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Tổng công ty; liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài. Từ đó đến nay, Vietnam Airlines đã đạt được sự tăng trưởng vững chắc trong kinh doanh vận chuyển hành khách, hàng hoá và các loại hình dịch vụ khác.

Tiếp tục vươn tới tương lai, Vietnam Airlines đã xây dựng những định hướng lớn cho sự phát triển của mình. Đó là xây dựng Tổng công ty Hàng không Việt Nam trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh mẽ, phát huy vai trò của một đơn vị kinh tế kỹ thuật hiện đại, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng. Trên cở sở lấy kinh doanh vận tải hàng không làm cơ bản đồng thời đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, nhanh chóng hiện đại hoá, làm chủ công nghệ mới, nâng cao vị thế, xây dựng Việt Nam Airlines trở thành một hãng hàng không có tầm cỡ, có bản sắc, là một trong những hãng hàng đầu của khu vực về chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh.

2. Nguyên tắc hoạt động của VNA trên thị trường vận tải hàng không quốc tế Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Trên thị trường vận tải hàng hoá quốc tế, VNA hoạt động dựa trên nguyên tắc vừa cạnh tranh thị trường vừa tìm khả năng hợp tác kinh doanh với các đối tác. Bên cạnh các hoạt động cạnh tranh, VNA triển khai liên doanh và liên danh trao đổi chỗ với hàng loạt các hãng hàng không nước ngoài trên các đường bay quốc tế, như Cathay Pacific, Korean Airlines, Singapore Airlines, China Airlines, Philipin Airlines, Japan Airlines,…

3. Cơ cấu tổ chức của Vietnam Airlines

Sau hơn 2 năm thực hiện trách nhiệm vụ quản lý nhà nước về hàng không dân dụng và chức năng sản xuất kinh doanh vận tải hàng không, cơ chế quản lý và mô hình hạch toán tập trung toàn ngành đã bộc lộ những vấn đề bất cập, cần phải đổi mới cho phù hợp. Trước thực tế đó, ngày 30/06/2011, Hội đồng Bộ trưởng ký Nghị định số 242/HĐBT giải thể Vụ hàng không, thành lập Cục hàng không dân dụng Việt Nam, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải. Tiếp đó, ngày 1/7/2011, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị 243/CT hướng dẫn tổ chức lại ngành hàng không dân dụng Việt Nam. Theo chỉ thị 243, Tổng công ty hàng không được tổ chức lại thành các đơn vị trực thuộc Cục hàng không dân dụng Việt Nam, bao gồm 3 khối:

  • Khối sự nghiệp có: Trường hàng không Việt Nam, Viện khoa học hàng không, Trung tâm y tế hàng không, Tạp chí Hàng không Việt Nam.
  • Khối sự nghiệp kinh tế có : Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam, ba cụm cảng hàng không sân bay miền Bắc, miền Nam, miến Trung

Khối kinh doanh có 12 đơn vị hạch toán độc lập:

  • Hãng hàng không quốc gia Việt Nam
  • Công ty xăng dầu hàng không
  • Công ty cung ứng dịch vụ hàng không
  • Công ty tư vấn khảo sát thiết kế tư vấn xây dựng
  • Công ty công trình hàng không
  • Công ty nhựa cao cấp hàng không
  • Công ty vận tải ô tô hàng không
  • Công ty in hàng không
  • Công ty bay dịch vụ hàng không
  • Công ty xuất nhập khẩu hàng không…

Tổ chức của hãng gồm có bộ máy phòng ban giúp việc và các đơn vị thành viên:

  • Đoàn bay 919
  • Đoàn tiếp viên
  • Các xí nghiệp sửa chữa máy bay A75 và A76
  • Các xí nghiệp phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất
  • Các xí nghiệp xuất ăn và các xí nghiệp dịch vụ khác

Đồng chí Lê Đức Tứ, nguyên Phó Tổng giám đốc Tổng công ty hàng không Việt Nam được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Hãng hàng không quốc gia Việt Nam. Hãng hàng không quốc gia Việt Nam có trụ sở chính đóng tại Hà Nội, có văn phòng tại các tỉnh, thành phố trên khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam và có đại diện hàng không ở nước ngoài.

Việc đổi mới cơ chế quản lý, chuyển sang hoạt động theo mô hình mới trong vận tải hàng không đã tạo luồng sinh khí mới, phát huy tinh thần tự chủ của Hãng và các công ty thành viên,thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Với sự ra đời của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam, vận tải hàng không dân dụng trở thành một trong những ngành kinh tế đi tiên phong trong cải cách mô hình tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhà nước. Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

4. Phạm vi kinh doanh của Vietnam Airlines

Tổng công ty hàng không Việt Nam đang hoạt động trong một phạm vi rất rộng nhưng trọng tâm là chuyên chở và các hoạt động liên quan đến chuyên chở hành khách, hàng hoá, cụ thể hoạt động của Tổng công ty hàng không bao gồm những lĩnh vực sau:

  • Vận tải hàng không thường lệ và không thường lệ đối với hàng hoá, hành khách, hành lý, bưu kiện trong và ngoài nước.
  • Bay dịch vụ
  • Dịch vụ thương mại hàng không: phục vụ kỹ thuật mặt đất, chế biến suất ăn, thực phẩm, dịch vụ tin học hàng không.
  • Dịch vụ khai thác kỹ thuật hàng không: sửa chữa máy bay, động cơ, trang thiết bị; sản xuất và cung ứng vật tư kỹ thuật hàng không, cho thuê và bán tàu bay, trang thiết bị hàng không, đào tạo, cho thuê người lái, tiếp viên, nhân viên hàng không.
  • Kinh doanh thương nghiệp, xuất nhập khẩu
  • Kinh doanh xăng dầu
  • Kinh doanh vận tải, ô tô, taxi
  • Sản xuất hàng tiêu dùng, nhựa
  • Kinh doanh xây dựng, tư vấn đầu tư
  • Kinh doanh bất động sản
  • In ấn, xuất bản
  • Kinh doanh dịch vụ khách sạn
  • Kinh doanh bảo hiểm
  • Kinh doanh tài chính
  • Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ
  • Kinh doanh các ngành nghề khác mà pháp luật không cấm

Hãng hàng không quốc gia Việt Nam được phép kinh doanh: Vận tải hành khách, hàng hóa, bưu kiện trên các đường bay quốc tế và trong nước, thường lệ và không thường lệ; Cung ứng dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng máy bay, các trang thiết bị vận tải, dịch vụ hàng không; cung ứng dịch vụ kỹ thuật thương mại mặt đất tại các cảng hàng không, sân bay; cung ứng dịch vụ hàng hoá; cung ứng suất ăn và bán hàng miễn thuế trên các chuyến bay; làm tổng đại lý cho các hãng hàng không nước ngoài; xuất nhập khẩu máy bay, trang thiết bị, tổ chức du lịch hàng không, tổ chức các dịch vụ có liên quan,…

5. Chất lượng dịch vụ của Vietnam Airlines Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Cùng với mở rộng thị trường, phát triển đội bay, trong những năm qua VNA cũng đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ trước, trong và sau chuyến bay, đổi mới trang thiết bị, đào tạo người lái xe và cán bộ nhân viên.

Chất lượng dịch vụ của Vietnam Airlines đã dần được nâng cao, thể hiện ở đồng bộ tất cả các mặt như bán vé, đặt giữ chỗ, thủ tục check-in, mức độ thân thiện trong phục vụ của tiếp viên, suất ăn, hệ thống giải trí trên chuyến bay (video, ca nhạc, sách báo…), chương trình khách hàng thường xuyên, các chương trình chăm sóc khách hàng…

Cho đến nay, để tăng cường khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng dịch vụ, Vietnam Airlines đã tham gia các chương trình và các loại hình dịch vụ mới hệ thống kiểm soát tại sân (DSC) tại sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất, tham gia vào các chương trình tìm kiếm hành lý thất lạc (World Tracer), chương trình xuất Visa tự động (ETAS) của hệ thống SITA và các hệ thống đặt giữ chỗ toàn cầu như ABACUS, AMADEUS, GALILEO…

II: Thực trạng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu tại Vietnam Airlines

1. Năng lực vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam

1.1. Về đội máy bay

  • Cơ cấu đội máy bay

Đội bay của Vietnam Airlines không ngừng được tăng cường và hiện nay thuộc hàng hiện đại và trẻ trên thế giới. Vietnam Airlines đã thay đổi hoàn toàn đội tàu bay thể hệ cũ do Liên Xô cũ sản xuất ( gồm 10 tàu bay TU134, 04YAK40) sang các tàu bay thế hệ mới của phương Tây do các hãng Boeing, Airbus, Fokker và Aviation de Transport Regional (ATR) sản xuất. Nếu năm 2019, đội máy bay của Vietnam Airlines chỉ có 21 chiếc thì đến nay con số đó đã lên tới 45 chiêc gồm:

  • Bảng 1: Số lượng máy bay của Vietnam Airlines tính đến thời điểm 31/12/2025

Vào năm 2024, Vietnam Airlines cũng đã ký Hợp đồng mua 4 tàu bay B787-8 và sẽ đưa vào khai thác trong hai năm 2028 và 2029. Chiếc Boeing 787-8 Dreamliner đầu tiên trong 4 chiếc dự kiến sẽ về đến Hà Nội vào tháng 5/2027. Một sự kiện quan trọng khẳng định quyết tâm của ban lãnh đạo Vietnam Airlines đón đầu và mạnh dạn chuyển sang dùng những dòng bay thế hệ mới, công nghệ hiện đại, đó là sự kiện Vietnam Airlines đã hoàn tất việc đàm phán một đơn hàng lớn nhất trong lịch sử hãng hàng không này, theo đó, Vietnam Airlines sẽ mua 42 chiếc máy bay thế hệ mới: 12 máy bay B787-8, 10 máy bay A350-900, và 20 máy bay A321. Sự kiện này cũng khẳng định quyết tâm của Chính phủ là sẽ đầu tư lớn cho Hãng hàng không quốc gia, đảm bảo sự phát triển lớn mạnh, phát triển với mức tăng trưởng cao trong những năm tới. Ý nghĩa này cũng được Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh nhiều lần, Hãng hàng không quốc gia phải vươn lên tầm cao mới và là hãng hàng không chủ lực của quốc gia.

Năm 2035, Vietnam Airlines dự kiến khai thác tổng số 86 tàu bay và nâng lên 110 tàu bay vào năm 2040. Với sự đầu tư nhằm hiện đại hoá đội tàu bay theo công nghệ mới tiết kiệm chi phí khai thác, cùng vơi chương trình nâng cấp chất lượng dịch vụ, đây sẽ là tiền đề để Vietnam Airlines mở rộng đường bay, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường hàng không khu vực và quốc tế. Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

  • Về đặc điểm khai thác đội máy bay

Hiện nay, đội máy bay của Vietnam Airlines có tỷ lệ sở hữu trên đầu máy bay là khoảng 40%; tỷ lệ sở hữu trên tổng số ghế cung ứng xấp xỉ 30%. Phần lớn các máy bay của Hãng là đi thuê theo hai hình thức là thuê khô (chỉ thuê máy bay không thuê phi công) và thuê ướt (thuê cả máy bay và đội ngũ phi công), trong đó tỷ trọng thuê ướt ngày càng giảm. Đội máy bay của VNA hầu hết là loại tầm ngắn và tầm trung phục vụ các đường bay dưới 5 giờ bay. Loại tầm trung xa (phục vụ các đường bay dưới 10 giờ bay) và xa (phục vụ các đường bay xuyên lục địa) đang được đầu tư nhưng số lượng còn ít. Số lượng máy bay chỉ chiến gần 1/2, còn lại là thuê khô hoặc thuê ướt. Độ tuổi trung bình của đội máy bay là 7,3 năm, trong đó khoảng 50% số này có độ tuổi từ 8-10 năm. Đặc biệt, hiện nay VNA vẫn chưa có máy bay chuyên dụng chở hàng. Đây là một hạn chế lớn đối với ngành vận tải hàng hoá của VNA.

  • Bảng 2: Các loại máy bay Vietnam Airlines đang sử dụng kết hợp vận tải hành khách với vận tải hàng hoá

Hầm hàng của máy bay này đều được trang bị hệ thống thông khí, hệ thống làm mát và sưởi ấm phục vụ vận chuyển hiệu quả một số hàng đặc biệt như động vật sống, hoa quả tươi,…

1.2 Về mạng đường bay

Trong 3 năm gần đây, Vietnam Airlines không ngừng phát triển mạng bay và tiếp tục mở thêm nhiều đường bay mới quốc tế. Ðến nay mạng đường bay của VNA đã tăng lên 37 đường bay quốc tế trực tiếp từ Hà Nội/Tp Hồ Chí Minh đến 27 điểm ngoài nước, trong đó có 23 điểm bay trực tiếp. Mạng đường bay nội địa được tổ chức theo mô hình trục-nan theo suốt chiều dài đất nước với 23 đường bay đến 17 điểm.

Ngày 18/09/2022, tại Fukuoca (Nhật Bản), Việt Nam chính thức khai trương đường bay từ Hồ Chí Minh tới Phucoca với tần suất 3 chuyến/tuần bằng A320. Ðây là đường bay đầu tiên của Vietnam Airlines tới một thành phố thuộc miền Nam nước Nhật, sau các đường bay từ Hà Nội/Tp Hồ Chí Minh đi Tokyo và Hồ Chí Minh đi Osaka. Như vậy tổng số chuyến bay hàng tuần từ Việt Nam đến Nhật do Vietnam Airlines khai thác là 20 chuyến. Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Từ 23/07/2022, Vietnam Airlines khai trương đường bay Hà Nội-Xiêm riệp va ngược lại với tần suất 3 chuyến một tuần bằng A320, đường bay Hà Nội-Kualalumpua được khai trương từ 25/10/2022 với tần suất 3 chuyến mői tuần băng A320. Cũng từ 26/10/2022, đường bay Hà Nội-Singapore và ngược lại với tần suất 4 chuyến mỗi tuần bằng A320.

Ðầu những năm 2023, cụ thễ là 20/03/2023, Vietnam Airlines và France Airlines ký hợp đồng trên đường bay Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh-Paris. Theo hợp đồng này, từ ngày 28/03/2023 hãng hàng không sẽ khai thác mộ chuyến bay thẳng mỗi tuần giữa hai nước. Trong đó Vietnam Airlines đảm trách 6 chuyến mỗi tuần bằng máy bay B777, France Airlines đảm nhận 5 chuyến mỗi tuần bằng A340-300. Hợp đồng này đánh dấu bước lớn trong quan hệ hợp tác giữa hai hãng đem lại lợi ích cho khách hàng và các hãng hàng không, đồng thời phản ánh nỗ lực của Vietnam Airlines trong quá trình hội nhập quốc tế, hợp tác cùng phát triển.

Ngày 20/06/2024, VNA khai trương đường bay thẳng đầu tiên tới Ðức, chuyến bay từ Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh đến Frankfurt với tần suất 3 chuyến/tuần. Ðây là đường bay thẳng trực tiếp thứ hai ở Châu Âu. Ðường bay đầu tiên là đến thành phố Paris của nước Pháp.

Ngày 28/7/2024, Vietnam Airlines khai trương đường bay thẳng thứ năm VNA khai thác đến Nhật Bản, đường bay Tp Hồ Chí Minh-Nagoya-TP Hồ Chí Minh có tần suất 3 chuyến/tuần bằng máy bay B767-300ER. Với việc mở đường bay đến Nagoya, hiện nay, VNA là hãng khai thác nhiều nhất cả về số lượng đường bay thẳng và tần suất giữa Việt Nam và Nhật Bản. Hàng tuần, VNA có 24 chuyến đến các thành phố lớn của Nhật Bản gồm 4 chuyến giữa Hà Nội-Tokyo, 7 chuyến TP Hồ Chí Minh-Tokyo, 7 chuyến TP Hồ Chí Minh-Osaka, 3 chuyến TP Hồ Chí Minh-Fukuoka, 3 chuyến TP Hồ Chí Minh-Nagoya.

Nhằm mở rộng hợp tác và giao lưu kinh tế, du lịch với nước Lào đồng thời tiếp tục củng cố và phát triễn mạng bay của Vietnam Airlines trong khu vực tiễu vùng Lào-Campuchia-Mianma-Việt Nam, từ 6/11/2025, VNA đã mở đường bay thẳng Hà Nội-Loung Phrabang-Hà Nội với tần suất 4 chuyến/tuần, được thực hiện bằng máy bay ATR 72. Ðây là thứ ba của VNA tới Lào, sau đường bay Hà Nội-Viên Chăn-Hà Nội với tần suất 4 chuyến/tuần.

Ngày 2/8/2026, VNA chính thức mở đường bay thẳng Hà Nội-Busan (Hàn Quốc). Trước mắt, đường bay này được thực hiện với tần suất 3 chuyến/tuần, bằng máy bay A321. Ðây là đường bay thức tư của VNA đến Hàn Quốc, bên cạnh các đường bay hiện có Hà Nội/Tp Hồ Chí Minh-Seoul, Tp Hồ Chí Minh-Busan. Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Hiện VNA đang khai thác rất hiệu quả đường bay xuyên Ðông Dương thứ nhất Hà Nội-Vientiane-Phnom Penh-TP Hồ Chí Minh (và ngược lại) với tần suất 1 chuyến/ngày bằng máy bay Forker. Từ lịch bay mùa đông tới, VNA sẽ khai trương đường bay xuyên Ðông Dương thứ hai (Hà Nội-Loung Phrabang-Xiêm Riệp) và Hà Nội-Quảng Châu.

Cùng với việc đầu tư phát triển và mở rộng mạng đường bay đến Châu Âu, dự kiến vào cuối năm 2027 Vietnam Airlines sẽ mở đường bay trực tiếp giữa Thành phố Hồ Chí Minh – LosAngles với tần suất ban đầu 5 chuyến một tuần bằng máy bay Boeing B777-200ER.

Như vậy, có thế thấy được mạng đường bay quốc tế của Vietnam Airlines luôn không ngừng được mở rộng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá.

Các thị trường chủ yếu của Vietnam Airlines bao gồm Châu Âu (25% về sản lượng tấn, 59% về sản lượng tấn/km); Ðông Bắc Á (43% về sản lượng tấn, 28% về sản lượng tấn/km); Đông Nam Á (31% về sản lượng tấn và 9% về sản lượng tấn/km). Các thị trường Úc, Lào, Campuchia chiếm tỷ trọng không đáng kể. Mặc dù chưa khai thác các đường bay chuyên chở hàng hoá thường lệ, trong thời gian qua VNA đã có nhiều cố gắng trong việc tăng cường năng lực chuyên chở hàng hoá kết hợp trong các chuyến bay chở khách và thông qua việc thuê chuyến, mua tải, hợp tác với các hãng hàng không nước ngoài, thu nhập từ các hoạt động chuyên chở hàng hoá ngày càng chiếm một tỷ trọng quan trọng trong kết quả tài chính của các chuyến bay.

2. Tình hình hợp tác quốc tế trong vận tải hàng hoá của VNA

Vietnam Airlines luôn coi trọng việc duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các hãng hàng không trong khu vực và thế giới để nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng tăng.

2.1. Giai đoạn trước năm 2014

Trong thập kỷ 80, VNA trực tiếp khai thác chủ yếu các đường bay trong nước, các đường bay quốc tế còn rất hạn chế. Lúc bấy giờ, các hãng hàng không có đường bay đến Việt Nam đều ở tình trạng bay đơn phương vì phía Việt Nam chưa có đường bay trực tiếp. Hình thức trao đổi hợp tác thương mại khi ấy là các hãng nước ngoài phải trả tiền thương quyền cho hàng không Việt Nam. Để được quyền khai thác đến Việt Nam, các hãng đối tác phải ký kết với VNA hợp đồng hợp tác thương mại trong đó quy định mức tiền thương quyền phải trả VNA cho mỗi kilogram hàng hoá (điển hình là thoả thuận với Air France và Aeroflot).

Thay thế hình thức thu thương quyền trực tiếp băng một khoản tiền như trên, một số hợp đồng hợp tác thương mại sau đó được ký kết dưới hình thức cho tải. Cụ thể là phía đối tác bay đơn phương tới Việt Nam sẽ phải bù lại cho VNA bằng cách dành hay cung cấp miễn phí một lượng tải hàng để VNA được quyền khai thác.

Bước sang thập kỷ 90, khi VNA đã lớn mạnh hơn và trực tiếp khai thác đến nhiều điểm nước ngoài, các hợp đồng hợp tác thương mại với các đối tác đã ký kết từ trước được điều chỉnh. Các hợp đồng mới đều mang màu sắc mới cả về nội dung lẫn hình thức. Để cân bằng thương quyền bay, khi năng lực vận chuyển của VNA còn hạn chế, trong các hợp đồng này, VNA luôn đề xuất thực hiện các quy định khắt khe về số lượng hàng hóa được phép chuyến chở trên máy bay hay tổng cộng trong mỗi tháng, hoặc quy định hạn ngạch cung ứng cho mỗi chuyến bay theo tuần hoặc theo tháng.

2.2. Giai đoạn 2014 đến nay Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Từ năm 2014, thị trường vận tải hàng không đã có bước phát triển nhảy vọt. Với xu hướng tự do hoá bầu trời thì sự phụ thuộc lẫn nhau trong khai thác giữa các hãng hàng không ngày càng lớn, đồng thời môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt. Do đó, để có thể tồn tại và phát triển, các hãng hàng không phải cố gắng đẩy mạnh hợp tác để tham gia càng nhiều vào thị trường càng tốt. VNA cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Tháng 12/2018, Ban kế hoạch và tiếp thị hàng hoá-VNA được thành lập trên cơ sở tách từ Phòng hàng hoá của Ban kế hoạch thị trường. Từ đây, hoạt động vận chuyển hàng hoá của VNA nói chung và hoạt động hợp tác quốc tế trong ngành nói riêng đã bước vào một thời kỳ phát triển mới. Các hình thức hợp tác quốc tế trong vận chuyển hàng hoá ngày càng được áp dụng phong phú.

  • Các hình thức hợp tác của VNA:

Công nhận chứng từ (Interlines): là loại hình hợp tác sơ khai nhất trong các hình thức hợp tác của các hãng hàng không. Loại hợp đồng này cho phép một hãng (hãng xuất vé) được xuất vé có bao gồm chặng bay của hãng kia (hãng khai thác) để khai thác, chấp nhận chuyên chở.

Hiện nay, VNA đã ký 89 hợp đồng công nhận chứng từ vận chuyển với các hãng hàng không quốc tế kể cả các hãng chưa khai thác đường bay đến Việt Nam.

Chia chặng đặc biệt (SPA): là loại hợp đồng trong đó các hãng tham gia dành cho nhau mức giá ưu đãi trên các chặng bay của nhau. Các điều khoản phân chia doanh thu do các hãng tham gia tự thoả thuận.

Tính tới thời điểm này, VNA đã có 71 hợp đồng chia chặng đặc biệt với các hãng như: Malaysia Airlines, Laudar Air, Air Ukraine,…

Hợp tác liên danh: là thoả thuận mà theo đó một hãng hàng không khai thác một đường bay/chuyến bay cụ thể (hãng khai thác) cho phép một hãng khác không khai thác (hãng tham gia) được công bố và bán trên các chuyến bay của hãng này với số hiệu chuyến bay của hãng tham gia.

Liên danh hợp tác với các hãng hàng không lớn như Cathay Pacific (CX), Korean Air (KF), Asiana Airlines (OZ), China Airlines (CI) và Eva Airways (BR),… là chủ trương lâu dài của VNA. Thông qua hợp tác chặt chẽ với các đối tác, hàng hoá của khách hàng được vận chuyển tới nhiều điểm trên thế giới một cách nhanh chóng và an toàn.

Hợp tác liên doanh: là hình thức mà hãng tham gia khai thác bên cạnh việc liên danh trên các đường bay/chuyến bay của nhau sẽ còn chịu chung doanh thu, chi phí trên các đường bay/chuyến bay này.

Từ năm 2014, VNA đã ký Hợp đồng liên doanh với Cathay Pacific (CX) phân chia tải, doanh thu và chi phí theo tỷ lệ 50:50 trên chặng HAN/SGN-HKG.

Hãng cũng có tham gia liên doanh với Korean Air (KE), trong đó, VNA khai thác ba đường bay SGN-PUS-SGN; HAN-ICN-HAN; SGN-ICN-SGN; và là hãng tham gia trên đường bay HAN-PUS-HAN.

  • Liên minh

Cho đến thời điểm này, VNA mới chỉ tham gia liên minh tiểu vùng CLMV. Đây là liên minh chung cho cả khu vực vận tải hàng hoá và hành khách. Tuy nhiên, VNA vẫn chưa tham gia liên minh toàn cầu nào về vận chuyển hàng hoá.

Các hợp đồng hợp tác quốc tế này thường được ký kết theo thoả thuận từng năm một. Sau thời hạn 1 năm, VNA lại phải tiến hành đàm phán ký kết lại HĐ để phù hợp với sự biến đổi chung của thị trường.

III: Nguồn nhân lực của Vietnam Airlines Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

1. Đặc điểm và cơ cấu nguồn nhân lực

Số cán bộ nhân viên của Tổng công ty hàng không Việt Nam là 13.887 người, là lực lượng đông đảo nhất của ngành hàng không dân dụng Việt Nam, chiếm 66,4% tổng số cán bộ nhân viên của Ngành hàng không dân dụng Việt Nam tính tới thời điểm 31/12/2025.

Theo số liệu thống kê của Cục hàng không Việt Nam thì hiện trạng lao động của Tổng công ty hàng không Việt Nam tính tới thời điểm 31/12/2025 như sau:

  • Bảng 3: Một số chỉ tiêu chung đánh giá thực trạng lao động của Vietnam Airlines
  • Bảng 4: Cơ cấu lao động theo trình độ
  • Bảng 5: Cơ cấu lao động theo độ tuổi

Do chính sách tuyển dụng và đào tạo nên Tổng công ty hàng không Việt Nam ngày nay đã có được một lực lượng lao động nhiều thế hệ, kết hợp được những người có kinh nghiệm lâu năm với thế hệ trẻ được đào tạo cơ bản trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử của nước ta nên vẫn có nhiều cán bộ công nhân viên chưa được đào tạo cơ bản và đồng bộ, số lượng cán bộ có trình độ trên đại học chưa cao đòi hỏi Hãng phải liên tục mở các khoá đào tạo và đào tạo lại để bồi dưỡng và cập nhật thêm các kiến thức về vận tải hàng không cho các nhân viên.

  • Tình hình đào tạo nguồn nhân lực tại Vietnam Airlines

Đặc thù của hoạt động vận tải hàng không là sử dụng công nghệ cao, gồm nhiều công đoạn với những yêu cầu cao và sự phối hợp chặt chẽ theo những quy trình nghiêm ngặt đối với mỗi mắt xích trong dây truyền công nghệ đó. Chính vì thế mà một yêu cầu bắt buộc đối với Hãng hàng không quốc gia Việt Nam là phải thực thi chiến lược đào tạo nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn quốc tế để vận hành và khai thác có hiệu quả hệ thống đó.

Trong 10 năm qua, Hãng đã triển khai đào tạo huấn luyện chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước cho gần 18.000 lượt người, trong đó chủ yếu là người lái, kỹ thuật viên và cán bộ quản lý. Từ chỗ đi thuê toàn bộ tổ lái và máy bay vào những năm 2012-2013, đến nay, Hãng đã đào tạo và đáp ứng được 80% lái chính; 90% lái phụ cho B-777/767, A-320/321; 100% người lái cho ATR-72 và Fokker-70. Hơn 900 kỹ sư, thợ máy được đào tạo và chuyển loại tại nước ngoài năm 2021, gần 1100 lượt người năm 2022, khoảng 1350 lượt người vào năm 2023, và trong năm vừa qua là 1600 lượt người. Đến nay đội ngũ kỹ thuật có khả năng đảm nhận hầu hết các vị trí chủ chốt trong lĩnh vực bảo dưỡng máy bay mà trước đây phải đi thuê của nước ngoài. Các xí nghiệp máy bay đã bắt đầu cung ứng dịch vụ bảo dưỡng cho bản thân Hãng và các hãng hàng không khác trên thị trường Việt Nam.

Ngoài ra, vận tải hàng hóa quốc tế là lĩnh vực liên quan nhiều đến luật pháp, luật lệ, tập quán của nước ngoài, các cảng hàng không nước ngoài, do đó các cán bộ nhân viên của Hãng ngoài trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn về vận tải còn cần phải bổ sung các kiến thức về luật pháp các nước. Trước yêu cầu đó, trong những năm gần đây, Hãng đã chú trọng hơn đến việc đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn về vận tải hàng hoá, hàng năm Hãng cũng cử những cán bộ có thành tích tốt đi học tập ở nước ngoài.

2. Kết quả vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Vietnam Airlines Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

2.1. Khối lượng hàng hoá vận chuyển

Nếu như năm 2010, tổng khối lượng hàng hoá chuyên chở bằng đường hàng không đi và đến Việt Nam chỉ khoảng 18 nghìn tấn thì tới năm 2023, con số này đã lên tới 208 nghìn tấn. Tốc độ tăng trưởng bình quân chung cho cả thời kỳ 2010-2023 là 22,7%. Với tốc độ tăng trưởng như vậy, tổng khối lượng hàng hoá trong nước và quốc tế sẽ đạt 270 nghìn tấn vào năm 2029.

  • Bảng 6: Kết quả vận chuyển hàng hoá giai đoạn 2019-2025

Từ bảng trên, ta thấy thị phần vận chuyển hàng hoá VNA khai thác được trong giai đoạn 2019-2025 chiếm trung bình khoảng 41,4% tổng thị trường. Nguyên nhân của tình trạng này là do hoạt động chuyên chở hàng hoá của VNA còn kém phát triển hơn nhiều so với các hãng hàng không trong khu vực và trên thế giới. Tổng công ty hàng không Việt Nam nói chung và VNA nói riêng chưa có đội máy bay chuyên chở hàng hoá như các hãng khác. Hầu hết các chuyến bay khai thác của hãng đều là chuyến bay chở khách kết hợp với chở hàng nên tải cung ứng còn phụ thuộc lượng hành khách, hành lý chuyên chở trên mỗi chuyến bay.

2.2. Khối lượng hàng hoá vận chuyển của VNA trên thị trường quốc tế

Chính sách mở cửa nền kinh tế cùng các biện pháp hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật của Nhà nước đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển một cách mạnh mẽ, nhu cầu chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng đường hàng không cũng do vậy mà ngày càng tăng lên. Vietnam Airliness với tư cách là hãng vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu chính của Nghành hàng không dân dụng Việt Nam trong những năm vừa qua đã đạt được những kết quả tốt trong lĩnh vực này. Điều đó thể hiện ở sự tăng trưởng đều về khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu mà Hãng vận chuyển qua các năm thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 7: Kết quả vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu giai đoạn 2019-2025

Từ bảng trên ta có thể thấy khối lượng vận tải hàng hoá quốc tế của Vietnam Airlines không ngừng tăng lên vơi tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 18%, tuy có những giai đoạn sự tăng trưởng này là không ổn định. Sự kiện 11/9/2020 và những hậu quả của nó như một cơn địa chấn lớn đối với nền kinh tế toàn cầu và đặc biệt đối với ngành hàng không thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đó. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của VNA không quá nặng và khối lượng vận chuyển hàng hóa quốc tế của hãng vẫn tăng so với năm 2019.

Đến năm 2021, do vẫn chịu hậu quả của sự kiện 11/9/2020 nên tốc độ tăng trưởng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu không bằng năm trước. Tuy nhiên với nỗ lực của mình Hãng đã dần khắc phục được khó khăn đi vào hoạt động bình thường vào những năm tiếp theo. Đặc biệt, Hiệp định thương mại Việt Mỹ chính thức có hiệu lực vào năm 2020 đã tạo cơ hội cho thị trường vận chuyển hàng hoá quốc tế của VNA đạt tốc độ tăng trưởng cao là 17% vào năm 2022 và 30% vào năm 2023 (chủ yếu là hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ tăng mạnh gấp hơn 3 lần). Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Cuối năm 2023 đầu năm 2024, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm cũng như dịch viêm đường hô hấp cấp SARS đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động vận tải hãng không nói chung và hoạt động vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng của Hãng, khiến cho khối lượng vận tải hàng hoá quốc tế tuy có tăng nhưng không bằng năm trước.

Sang đến năm 2025, với tiến trình hội nhập kinh tế mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung và của ngành hàng không dân dụng nói riêng, Hãng đã không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, chú trọng hơn đến lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu nên đã đạt tốc độ tăng trưởng vượt bậc 31% so với năm trước.

Như vậy, ta có thể thấy vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường hàng không là lĩnh vực rất nhạy cảm với điều kiện kinh tế-xã hội đòi hỏi Hãng phải rất nhạy bén để có thể ứng phó với những thay đổi bất thường của thị trường.

Tuy nhiên, hiện tồn tại một nghịch lý là thị trường vận tải hàng hoá quốc tế ở Việt Nam đang tăng trưởng, nhưng thị phần vận tải hàng hoá của VNA thời gian qua lại giảm. Cụ thể: từ năm 2019-2021, thị phần của VNA chiếm khoảng 33% tổng thị trường; năm 2023-2024, còn 30%; năm 2025 chỉ còn khoảng 28%. Sở dĩ có hiện tượng này vì cùng với sự phát triển của thị trường vận tải hàng hoá ở Việt Nam thì mức độ cạnh tranh trên lĩnh vực này tăng lên. Bằng chứng là sự “nhảy vào” của một số đại gia trong lĩnh vực này như China Airlines, Korean Air, Eva Air, Asian Airlines, Shanghai Airlines và mới đây là Cargoitalia (bay từ Malpensa, Milano, Ý).

Thị trường hàng hoá quốc tế của Việt Nam có quy mô nhỏ so với thị trường của các nước lân cận nhưng vẫn tạo được sự quan tâm lớn của các hãng hàng không nước ngoài, thể hiện qua số lượng ngày càng nhiều các hãng đã khai thác hoặc chuẩn bị khai thác các chuyến bay chuyên chở hàng hoá bằng máy bay có năng lực chuyên chở lớn như B747F, hoặc khai thác kết hợp chở khách với chở hàng. China Airlines, với 18 chiếc Boeing 747-400 chuyên chở hàng hoá, đang là một hãng lớn ở chuyên ngành này, hiện đang khai thác dịch vụ vận chuyển hàng hoá tuyến Đài Bắc-Hà Nội với tần suất hai chuyến/tuần. Tính theo kết quả kinh doanh tấn hàng cargo/km thì trong năm 2024, China Airlines Cargo xếp hạng năm trong mười hãng chở hàng hoá thành công nhất thế giới, theo điều tra của Hiệp hội vận chuyển hàng không quốc tế (IATA). Ngoài China Airlines, còn có một hãng hàng không lớn của Châu Á cũng có máy bay chuyên chở hàng hoá đến và đi khỏi Việt Nam là Korean Air Cargo (IATA cho biết Korean Air Cargo khai thác 19 chiếc 747F, xếp hạng nhất vận chuyển hàng hoá thế giới năm 2024 với 7,89 tỷ FTK). Hãng vận chuyển nhanh Federal Express cũng có máy bay loại trung chở hàng hoá đến Việt Nam. Hầu hết các hãng khác đều chở hàng hoá trong máy bay chở khách đến/đi từ Việt Nam, chẳng hạn như Malaysia Airlines System (10 tấn/chuyến nếu dùng máy bay Airbus; 2,5 tấn/chuyến nếu dùng máy bay Boeing 747-400) nay mỗi ngày có hai chuyến Kuala Lumpur-TP Hồ Chí Minh và một chuyến Kuala Lumpur-Hà Nội. Hoặc như các chuyến hàng ngày từ Paris đi từ Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh của hãng Air France.

2.3. Cơ cấu hàng hoá và thị trường vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu

Trên thị trường quốc tế, VNA đã và đang tập trung khai thác một số thị trường Châu Âu, Bắc Mỹ, khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á. Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

  • Biểu đồ : Các phân thị quốc tế của VNA giai đoạn 2019-2025

Cơ cấu hàng hoá vận chuyển của Hãng

Lượng hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt may, giầy dép (70%), hàng thuỷ sản (22%), rau quả tươi và các loại hàng khác. Các mặt hàng gia công về may mặc, giày dép, hoa quả chủ yếu xuất đi Châu Âu, Châu Mỹ, còn thực phẩm sơ chế, đồ tươi sống chủ yếu xuất sang các nước trong khu vực và Nhật Bản

Lượng hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên phụ liệu cho các ngành dệt may, da giầy (85%), linh kiện máy tính, đồ điện tử (10%), dược phẩm và các dụng cụ y tế (3%) và các hàng hoá khác. Các thị trường lớn nhất là Tây Âu, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Nguồn hàng từ các thị trường này thường là ổn định và xu hường ngày càng tăng do xu thế nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng cao cấp, mỹ phẩm, dược phẩm và các linh kiện máy móc của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế và hợp tác phát triển ngày càng tăng.

3. Đánh giá hoạt động vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Vietnam Airlines

3.1. Thuận lợi

Trong giai đoạn hiện nay, Vietnam Airlines có nhiều thuận lợi do nhiều yếu tố trong đó có cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Đầu tiên phải kể đến là những chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách mở cửa, khuyến khích đầu tư,… chính điều này đã tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và ổn định để Hãng có điều kiện mở rộng hoạt động vận tải hàng không nói chung và vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng.

Bên cạnh đó, ta cũng có thể thấy rằng Việt Nam có vị trí địa lý rất quan trọng trong khu vực, nằm trong đường giao lưu hàng không từ Đông Bắc xuống Tây Nam khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, là cầu nối giữa khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Về mặt hàng không, vị trí thuận lợi đó khiến Việt Nam có thể trở thành trung tâm trung chuyển hàng hoá quan trọng của khu vực, tạo điều kiện hết sức thuận lợi để Vietnam Airlines có thể mở rộng mạng bay hoặc kết hợp với các hãng hàng không khác để khai thác các đường bay nối chuyến để vận chuyển hàng hoá sang các nước trong khu vực.

Về đội bay: Đội bay của Vietnam Airlines đang dần được hiện đại hóa với những máy bay thuộc loại tiên tiến trên thế giới, chủ yếu do hai hãng chế tạo máy bay thương mại hàng đầu là Boeing (Mỹ), và Airbus (Châu Âu) chế tạo. Số lượng máy bay của hãng cũng đang dần tăng lên theo hướng tăng tỷ lệ sở hữu, tiết kiệm được chi phí và chủ động hơn trong viêc khai thác máy bay.

Về mạng bay: Hãng hàng không quốc gia Việt Nam đã khai thác tốt tất cả các thị trường có đường bay thẳng tới Việt Nam để phục vụ vận chuyển hàng hoá trong hợp tác. Đối với các thị trường này, VNA đã tăng tần suất, đáp ứng như cầu vận tải hàng hoá ngày càng cao và tạo tiện lợi cho khách hàng trong việc lựa chọn các chuyến bay, ngày bay để vận chuyển.

Bên cạnh đó, VNA đã đẩy mạnh hợp tác để khai thác có hiệu quả cả những thị trường mà hãng chưa có đường bay trực tiếp đến. Hiện nay, VNA chưa có đường bay thẳng trực tiếp sang Mỹ trong khi đây là một thị trường có nhu cầu lớn về vận chuyển hàng hoá và được xem là thị trường đầy tiềm năng với hàng không Việt Nam. Thông qua các hợp tác liên doanh với các hãng khác (Korean Air, Asiana Airlines,…) VNA đã gián tiếp khai thác được nhu cầu vận chuyển hàng hoá đến thị trường này.

Về nguồn nhân lực: Vietnam Airlines có đội ngũ nhân lực phần lớn được đào tạo cơ bản đồng đều, có chất lượng cao. Lực lượng lao động của VNA khá trẻ và năng động, trong đó độ tuổi dưới 30% chiếm tới 49%, độ tuổi 30-40% chiếm 30%, số người có trình độ đại học khá cao. Với đội ngũ nhân lực như vậy Hãng có đủ tự tin để tiếp nhận các công nghệ mới trong ngành hàng không, luôn luôn chủ động, sáng tạo để nâng cao năng suất và hiệu quả công việc Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Lực lượng vận tải của Vietnam Airlines là một đội ngũ có bản lĩnh, năng động và có trình độ chuyên môn, đã từng trải qua nhiều khó khăn, thử thách để đứng vững trong thời kỳ đổi mới. Kết quả vận chuyển hành khách cũng như hàng hoá trong những năm vừa qua đã minh chứng cho điều đó. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính tiến tệ Châu Á , các hãng hàng không trong khu vực hầu hết đều chịu ảnh hưởng nặng nề, bị lỗ lớn. Tuy Vietnam Airlines cũng bị ảnh hưởng không nhỏ nhưng với bản lĩnh và năng lực của mình Hãng đã khắc phục được khó khăn, giảm chi phí, giảm lỗ và nhanh chóng phục hồi, tiếp tục phát triển.

Với những thuận lợi trên, Vietnam Airlines có thể tự tin tham gia hội nhập với khu vực và thế giới. Quá trình hội nhập, tự do hoá vận tải hàng không đem lại nhiều vận hội mới cho VNA trong cả lĩnh vực vận tải hành khách và vận tải hàng hoá. Tuy nhiên, môi trường cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt hơn do giảm bớt sự bảo hộ của Nhà nước đối với Hãng, điều này đòi hỏi Hãng phải phát huy hơn nữa nội lực của bản thân và tận dụng các cơ hội hợp tác để có thể tranh thủ nguồn lực của các đối tác, nâng cao hiệu quả kinh doanh và hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ vận tải hàng không, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng sôi động tại Việt Nam.

3.2. Khó khăn

Thị trường vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường hàng không ở Việt Nam mang tính cạnh tranh gay gắt với sự tham gia của nhiều hãng hàng không lớn với đội máy bay chuyên dụng chở hàng tham gia khai thác nên Vietnam Airlines với tiềm lực hạn chế như hiện nay thì gặp rất nhiều khó khăn trong việc khai thác lĩnh vực vận tải hàng hoá quốc tế ngay trên “sân nhà” chứ chưa nói đến thâm nhập sang thị trường các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Điều này đòi hỏi Hãng phải rất cố gắng mới có thể tồn tại và phát triển được.

Bên cạnh đó là một loạt hãng thuê chuyến khác gia tăng hoạt động trong khi VNA luôn thiếu tải cung ứng ở những chuyến bay có nhiều hàng và thừa tải ở những tuyến đường có nhu cầu cao về vận chuyển hành khách, nhưng nhu cầu vận chuyển hàng hoá lại chưa phát triển. Chẳng hạn như, trên đường bay từ Việt Nam đi Mỹ, mỗi tuần có khoảng 300-400 tấn hàng, nhưng do chưa có đường bay thẳng của Hãng đi Mỹ nên VNA chỉ có thể cung cấp khoảng 10-15 tấn/tuần. Hay như đường bay đi Australia, lượng tải cung ứng chiều về Việt Nam luôn dư thừa, nhu cầu thị trường thấp, giá cước rẻ, nhiều khi chỉ bù đắp được các chi phí phục vụ mặt đất. Trên đường bay đi Châu Âu, lượng tải cung ứng cũng không đủ cầu. Cũng như vậy, đường bay từ Việt Nam đi Thái Lan, Hàn Quốc có tải thì lượng hàng hoá ít.

  • Về hình thức hợp tác quốc tế: Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

Các hình thức hợp tác quốc tế trong vận chuyển hàng hoá của VNA còn chưa phong phú, chủ yếu vẫn là hình thức Interlines, liên doanh mua/bán và trao đổi tải. Đặc biệt, cho đến thời điểm này, VNA vẫn chưa tham gia vào một liên minh về vận chuyển hàng hoá nào trong khi đây được coi là hình thức hợp tác cao nhất hiện nay.

Công tác đàm phán ký kết hợp đồng hợp tác thương mại vẫn còn yếu kém. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do các chuyên viên đường bay của VNA còn chưa phân tích hết những lợi ích và thiệt hại do hợp tác đem lại, chưa tìm hiểu kỹ đối tác và thị trường, thông tin đưa ra còn nghèo nàn, đôi khi không cập nhật.

Về đội máy bay: Đội máy bay của Hãng tuy đã được hiện đại hoá nhưng phần lớn vẫn là đi thuê, chưa có máy bay tầm xa, máy bay chở hàng nên khả năng đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá còn hạn hẹp. Số máy bay hiện tại của Hãng là 45 chiếc, vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu đều phải kết hợp trên các máy bay chở khách đó nên lượng tải cung ứng không đáp ứng đủ nhu cầu vận tải hàng hoá ngày cảng tăng, hơn nữa do sự kết hợp vận chuyển đó nên Hãng không chủ động được lượng tải cung ứng trên mỗi chuyến bay vì còn phụ thuộc vào lượng hành khách và hành lý trên máy bay.

Về vần đề nguồn nhân lực: Tuy Hãng có đội ngũ lao động được đào tạo cơ bản, nhưng những lao động thực sự có năng lực chuyên môn cao, có trình độ quản lý cũng như trình độ ứng dụng, sáng tạo các công nghệ mới trong vận tải hàng không thì chưa nhiều.

Một vấn đề nữa cũng gây khó khăn không nhỏ cho Hãng trong việc ra quyết định đầu tư, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật là vấn đề về vốn. So với các hãng hàng không trong khu vực và trên thế giới thì năng lực tài chính của Hãng là vô cùng hạn hẹp. Ngân sách Nhà nước giao khi thành lập Hãng là khoảng 100 triệu USD. Số vốn này là quá nhỏ so với nhu cầu vốn đầu tư của Hãng khi mà chỉ tính riêng vốn đầu tư mua một máy bay đã kiên tới hàng trăm triệu USD. Do đó, tuy Hãng đã có đầu tư cho đội máy bay và các trang thiết bị kỹ thuật khác nhưng vẫn còn rất hạn chế. Với số vốn ít ỏi này thì việc đầu tư cho máy bay chuyên dụng chở hàng là một vấn đề nan giải với Hãng trong những năm tới. Hãng cần xây dựng kế hoạch kêu gọi đầu tư từ nhiều phía, và phải có biện pháp sử dụng vốn cho hợp lý.

Như vậy môi trường kinh doanh vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu đan xen cả những yếu tố thuận lợi và bất lợi cho sự phát triển của Hãng. Do đó, Hãng cần có những chiến lược phát triển phù hợp để có thể tận dụng tối đa những điều kiện thuân lợi và khắc phục được khó khăn. Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp vận tải hàng hoá XNK đường hàng không

One thought on “Khóa luận: Thực trạng vận tải hàng hoá XNK Hãng hàng không”

  1. Pingback: Khóa luận: Phát triển vận tải hàng hoá XNK đường hàng không

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537