Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Một Số Giải pháp để nâng cao tính xã hội hoá trong các hoạt động du lịch ở thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển du lịch Hải Phòng trong thời gian tới
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hải Phòng xác định xây dựng du lịch thành ngành kinh tế quan trọng, phát triển du lịch là định hướng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.
Phương hướng phát triển du lịch Hải Phòng trong những năm tới là khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế của thành phố về cảnh quan tự nhiên, tài nguyên nhân văn, đảm bảo môi trường sinh thái, đa dạng các loại hình du lịch, thu hút đầu tư, tăng nhanh tỉ trọng du lịch trong GDP Thành phố, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao dân trí, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và đặc thù văn hoá địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành và toàn dân để phát triển du lịch góp phần thúc đẩy phát triển nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thành phố tập trung chỉ đạo rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể quốc gia vê du lịch. Trong hai năm 2008 – 2009 hoàn thành quy hoạch chi tiết phát triển du lịch Cát Bà, Đồ Sơn và lưu vực sông Đa Độ, quần thể Dương Kinh nhà Mạc, tháp Tường Long…Triển khai phát triển du lịch nội thành Hải Phòng và tiến hành thực hiện chi tiết các khu, điểm dịch vụ, hệ thống cửa hàng mua sắm dịch vụ du lịch, mời các tổ chức tư vấn trong và ngoài nước có năng lực xây dựng và thiết kế các khu du lịch. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
Mở rộng thị trường khách du lịch trong nước và quốc tế, lấy du lịch quốc tế là hướng phát triển chiến lược nhất là khách Trung Quốc và khách Đông Nam Á, phấn đấu vươn ra các thị trường Nga, Đông Âu và Bắc Âu…
Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù của Thành phố nhằm phát huy có hiệu quả nguồn tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, và các lợi thế của Thành phố.
Phát triển du lịch nhưng vẫn đảm bảo giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch gắn liền với bảo vệ tài nguyên môi trường.
Hình thành các tuor du lịch phù hợp hấp dẫn, chất lượng cao, các điểm vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao. Tổ chức giới thiệu các dịch vụ sản phẩm hàng hoá, quà lưu niệm cho khách du lịch, phát huy tổ chức các lễ hội du lịch đặc sắc của Thành phố.
Đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực du lịch đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch, đưa Hải Phòng trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực của vùng Duyên hải Bắc Bộ, trong đó đặc biệt chú trọng đến đội ngũ lao động quản lý hoạt động kinh doanh du lịch, phấn đấu đến năm 2020 đội ngũ lao động du lịch và dịch vụ của Thành phố đạt 53.000 người trong đó đã có 50% đã qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ.
Xây dựng thương hiệu du lịch Hải Phòng đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Tăng cường quản lý, bảo tồn, quảng bá, phát huy tiềm năng của các trọng điểm du lịch Cát Bà, Đồ Sơn.
Với mục tiêu trên, định hướng phát triển du lịch Hải Phòng đến năm 2020 là đưa Hải Phòng trở thành một trọng điểm du lịch Quốc gia trong đó có các khu du lịch mang tính tầm cỡ quốc gia và quốc tế như Cát Bà, Đồ Sơn, phấn đấu sớm đạt kế hoạch so với lộ trình chung của cả nước, xứng đáng là địa bàn mang tính động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch của vùng Bắc Bộ và của cả nước Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.2. Các giải pháp để nâng cao tính xã hội hoá trong các hoạt động du lịch ở Thành phố.
3.2.1. Tuyên truyền quảng bá nâng cao trách nhiệm và sự quan tâm của mọi người đến các hoạt động du lịch.
Để làm được điều này trước tiên là Thành phố cùng các ban ngành liên quan phải có những kế hoạch tuyên truyền cụ thể cho các tổ chức cá nhân, từng người dân biết được tầm quan trọng của ngành du lịch Thành phố.
Đầu tiên là bằng các biện pháp như: có các công văn, nghị quyết gửi về từng quận, huyện, phường, xã, để nêu rõ trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của người dân, trong các công tác phát triển du lịch, tận dụng nguồn tài nguyên du lịch của Thành phố.
Tuyên truyền bằng hệ thống đài truyền thanh, truyền hình; treo pa-nô, áp- phích về các hoạt động bảo vệ môi trường cảnh quan khu du lịch, cũng như thái độ ứng xử với du khách…
Ngoài ra phải tổ chức các cuộc hội thảo về từng địa phương nơi có tài nguyên du lịch để tuyên truyền, quảng bá và kích thích nhu cầu kinh doanh của mọi người, để mọi người quan tâm và đầu tư vào du lịch Thành phố.
Tổ chức các lễ hội lớn, các liên hoan du lịch, hội chợ triển lãm, lớn để thu hút người dân tham gia như Lễ hội chọi trâu, Liên hoan du lịch Đồ Sơn, Lễ hội làng cá Cát bà…
Đưa ra các chế độ ưu đãi đối với mọi cá nhân, tập thể tham gia các hoạt động du lịch, để mọi người có thể thấy rõ các lợi thế mà họ đang có, trước hết là tạo ra lợi nhuận cho chính bản thân họ, sau đó là góp phần xây dựng ngành du lịch Thành phố phát triển, tránh lãng phí tài nguyên.
3.2.2. Đổi mới cơ chế, cấu trúc và phương thức XHHHĐDL. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
Qua những vấn đề được đề cập ở chương hai, có thể thấy bên cạnh một số điều đã đạt được, về căn bản sự XHH tự phát không phát huy được các tiềm năng về du lịch của Thành phố. Vì thế, đòi hỏi cấp thiết phải đặt ra là XHHHĐDL có tổ chức. Mặt khác, sở dĩ hoạt động du lịch sa sút đi nhiều, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn nằm trong các khâu sản xuất, khâu thúc đẩy và tiêu thụ sản phẩm vẫn bị gò bó theo cơ chế cũ. Các chính sách cho XHHHĐDL vẫn chưa có văn bản pháp quy kèm theo. Điều này là một trong các nguyên nhân khiến công việc XHHHĐDL chưa được khai thông hoặc tiến triển một cách chậm trễ.
Hơn nữa, bản chất của XHH là mở rộng, khai thác tiềm năng sáng tạo từ nhiều nguồn lực xã hội, không ngừng nâng cao, thoả mãn nhu cầu thư giãn, giải trí, nghỉ ngơi của con người. Và một trong các mục tiêu của XHH là khắc phục, thay đổi tình trạng “ Nhà nước hoá”, “ Bao cấp hoá”, tạo được sự quan tâm của toàn xã hội với các hoạt động du lịch. Nhưng thực tế cho thấy các hoạt động du lịch với sức hấp dẫn của XHH mới chỉ thu hút được các tiềm lực xã hội ở mức khiêm tốn.
Trên thực tế cho thấy để XHHHĐDL đi vào thực chất và trở thành một trong những động lực để phát triển kinh tế đòi hỏi những giải pháp khả thi. Giải pháp đầu tiên là đổi mới cơ chế hoạt động của ngành du lịch. Trước hết là cấu trúc lại ngành du lịch Thành phố, tức là đổi mới cơ chế phù hợp với nền kinh tế thị trường và định hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá. Để xác lập tính đa chủ thể một cách có hiệu quả chia các khâu của hoạt động du lịch thành ba khu vực.
Khu vực thứ nhất là do Nhà nước (Thành phố) trực tiếp quản lý. Ở khu vực này các công ty du lịch, khu du lịch được cấp ngân sách và được Thành phố tài trợ xây dựng các dự án du lịch, hay trong việc tổ chức các lễ hội du lịch…nhưng chủ yếu để phục vụ các nhu cầu du lịch, nghỉ ngơi, thư giãn của cán bộ công nhân viên của Thành phố như là các hệ thống khách sạn Công Đoàn, hay nhà khách Thành phố, phục vụ các hoạt động chính trị của Thành phố…Thành phố cần có sự đầu tư ban đầu cơ sở vật chất, trang thiết bị, vốn hoạt động. Ở khu vực này việc đổi mới cơ chế XHHHĐDL về căn bản là đổi mới phương thức đầu tư, và nếu xác định sự sở hữu thì khu vực này có một chủ thể là Nhà nước. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
Khu vực thứ hai là khu vực năng động hơn, với bản chất của nó là sự hợp tác, tức Nhà nước và nhân dân cùng làm, nói cách khác là sự hợp tác giữa tư nhân và Nhà nước. Ở khu vực này hoạt động du lịch cần thiết XHH ở nhiều khâu, nhiều mặt, đa dạng và nhiều chiều. Các phương thức XHH đòi hỏi được tiến hành một cách phong phú. Chẳng hạn các tập thể tổ chức quần chúng, hay công đoàn của một cơ quan có thể đứng ra tổ chức các hoạt động du lịch, kinh doanh du lịch nếu điều kiện mọi mặt cho phép. Hoặc các tập thể có thể huy động vốn và thành lập công ty cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp nếu tập thể ấy là đơn vị tự hoặch toán không phải là đơn vị sự nghiệp. Mặt khác, sự hợp tác có thể được tiến hành giữa một bên là Nhà nước có mặt bằng, có tư cách pháp nhân, với một bên là tư nhân có nguồn vốn đâu tư để xây dựng các cơ ở lưu trú , khu du lịch. Mọi hoạt động được hợp tác theo hợp đồng kinh tế. Cũng chính ở khu vực này các phương thức đầu tư cũng cần thiết đa dạng hơn. Một ví dụ như việc XHH ở ngành thể thao, ngân hàng cổ phần Á Châu đã mua cả đội bóng Đường Sắt và đầu tư, kinh doanh thể thao bằng việc xây dựng đội bóng này thành đội chuyên nghiệp, hoạt động theo luật bóng đá nhà nghề. Giải pháp tương tự là một ngân hàng cổ phần nào đó mua lại như vậy đối với một công ty du lịch, hay một khách sạn…nhất là các dự án du lịch đó đang khó khăn vì thiếu vốn. Nói rộng hơn, sự XHHHĐDL ở khu vực này cần thiết sự tham gia đầu tư, thậm chí của cả tổng công ty mạnh thuộc ngành kinh tế khác nhau, nhất là các ngân hàng cổ phần, các tổ chức kinh tế…
Mặt khác, để giải quyết vấn đề vốn đầu tư cho các hoạt động du lịch ở khu vực này có thể thực hiện các giải pháp: các tổ chức xã hội, xí nghiệp góp vốn kinh doanh du lịch; sự đầu tư từ nước ngoài; vay các cá nhân ( tức là ba giải pháp: xã hội, nước ngoài và cá nhân). Đồng thời có thể thực hiện giải pháp phối hợp giữa tập thể, gia đình và cá nhân, tổ chức thành những đơn vị khép kín đầu tư vốn, hay vay vốn để kinh doanh du lịch. Đồng thời Nhà nước hỗ trợ cho tư nhân bằng việc xây dựng các quỹ góp vốn cho ngành du lịch, hoặc có các cơ chế chính sách thích hợp để khuyến khích thu hút nguồn vốn từ việt kiều. Khu vực thứ hai là khu vực nhạy cảm nhất, xét cả về phương diện các chủ thể sở hữu.
Ở khu vực thứ ba là khu vực tư nhân hoàn toàn, có thể xác định được chủ sở hữu duy nhất là tư nhân. Trong thời kỳ XHH tự phát sở dĩ nguồn lực nhiều mặt ở khu vực tư nhân chưa được khai thác hết, thậm chí sự đầu tư của tư nhân nhanh chóng đi vào bế tắc, chính vì chưa có chế độ bảo hộ của Nhà nước. Hơn bao giờ hết điều cấp bách đặt ra lúc này để khu vực tư nhân tham gia vào XHHHĐDL một cách hiệu quả và XHHHĐDL thực sự có sức hấp dẫn lâu bền với họ là những văn bản pháp quy, quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của tư nhân, với tư cách là một chủ sở hữu. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
Một cơ chế đổi mới được coi là hoàn thiện chỉ khi nó không mang tính chất nửa vời. Vì vậy một khi đã có cấu trúc lại ngành thì cũng cần thiết một cơ chế đối với con người – yếu tố quan trọng số một của XHHHĐDL. Một trong những giải pháp có thể áp dụng là cho phép các nhân viên trong ngành dù đang ở biên chế hay không, nếu hội đủ điều kiện có thể ra ngoài hành nghề tự do, có thể đầu tư kinh doanh du lịch, thành lập công ty riêng, kinh doanh khách sạn nhà hàng, tự tìm đối tác kinh doanh…
Trong cơ chế đổi mới lại cần có giải pháp cho từng giai đoạn và các bước đi. Nếu XHHHĐDL được chia thành giai đoạn 10 năm / 1 giai đoạn thì năm thứ nhất nên dành cho sự hoàn thiện về mặt luật pháp các văn bản đối với XHHHĐDL tức là hoàn thiện đổi mới cơ chế. Trong 3 năm tiếp theo có thể thực hiện XHHHĐDL ở khu vực tư nhân hoàn toàn mà sự thành bại của giai đoạn này phụ thuộc rất nhiều vào năm đầu tiên. Giai đoạn 5 năm tiếp theo dành cho XHH ở các khu vực còn lại. Giai đoạn cuối, tức là năm cuối của thời kỳ 10 năm đầu để dành cho tổng kết, điều chỉnh, bổ sung những cơ chế tiếp theo cho giai đoạn mới.
Tuy vậy, sự phân chia giai đoạn và các bước chuẩn bị như trên chỉ có thể là tính chất cơ học và tương đối, bởi đi vào đời sống, XHHHĐDL không phải là một thực tế cứng nhắc, nghĩa là nó đòi hỏi liên tục nhận được sự điều chỉnh, hỗ trợ, giám sát của Nhà nước. Bởi vì XHHHĐDL không chỉ đồng nghĩa với việc thay đổi một cơ chế mới, một phương thức mới mà còn là sự thay đổi cả một cung cách quản lý mới.
Dù XHH ở khu vực Nhà nước hay tư nhân thì đều không thể không đề cập tới giải pháp về thị trường. Đó là sự cần thiết của một giải pháp mà việc xác định quan niệm về thị trường toàn diện trong suốt quá trình từ đầu tư cho đến tiêu thụ, từ tiếp cận thị trường trong nước tới thị trường quốc tế là rất quan trọng. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
3.2.3. Phát huy vai trò chủ đạo của Nhà nước trong hoạt động du lịch.
Trong bối cảnh hiện thực ngày nay, một trong những giải pháp để du lịch mau chóng phát triển là thực hiện XHH một cách triệt để, thực tế, biện chứng, không bình quân. Trong đó điều kiện tiên quyết là chủ động trong mọi khâu, đặc biệt là các khâu: quản lý nhà nước bằng hệ thống văn bản pháp quy, cơ chế vận hành và chính sách thích hợp, nhà nước đầu tư toàn diện và ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực; đồng thời, Nhà nước xây dựng một số cơ sở du lịch mạnh và độc quyền. Phải coi tất cả các đơn vị này là những đơn vị sự nghiệp, những tấm gương, những phần tử khơi dậy, kích thích sự năng động và cạnh tranh hiệu quả trong công cuộc XHHHĐDL. Có như vậy vai trò của Nhà nước mới trở nên thiết thực. Hơn nữa khi kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường quy luật của nó tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống, đến hết thảy mọi chủ thể lớn nhỏ trong xã hội trong đó có du lịch. Vì vậy vai trò định hướng của Nhà nước càng trở nên quan trọng.
Những khó khăn trở thành “căn bệnh kinh niên” của ngành du lịch là vấn đề tài chính, cho nên vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết tài chính, thuế là rất quan trọng. Khó khăn về tài chính ở các công ty du lịch quốc doanh trong các dự án lớn cho thấy nhu cầu cấp bách của vấn đề. Khi thực hiện XHH bất kỳ một ngành sản xuất kinh doanh, quốc doanh nào, có nghĩa là thực hiện đưa ngành đó sang cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của Nhà nước bằng luật định. Cho nên định hướng thực hiện XHH toàn diện hoạt động du lịch, bao gồm ba thành phần kinh tế cơ bản (quốc doanh, tập thể và tư nhân) đồng thời với thực hiện sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng, chấp nhận sự phân hoá…chỉ có thể xây dựng trên cơ sở điều tiết của chính sách tài chính Nhà nước. Điều nay rất quan trọng, bởi vì thông qua phân công hợp tác và cạnh tranh mới có thể nâng cao mức phố biến hoá, XHH giá trị mới hài hoà với giá trị truyền thống. Mặt khác, ở đây đòi hỏi sự đầu tư tài trợ đúng mức trong việc xây dựng, tạo ra các khu du lịch, các sản phẩm mới…điều tiết tài chính, thuế cho phù hợp với tình hình thực tế của các hoạt động du lịch.
Việc thực hiện các điều trên cũng cần thiết như sự phân định rạch ròi về mối quan hệ, vai trò của Nhà nước với các thành phần kinh tế cùng tham gia vào quá trình XHHHĐDL, nhằm ngăn ngừa những tồn tại trong thời kỳ này. Có những ý kiến cho rằng, XHH là một cách để cho tư nhân lúp bóng, tạo điều kiện cho họ kinh doanh các hoạt động văn hoá, du lịch, bởi khi tiến hành XHH tất yếu sẽ có tình trạng thương mại hoá. Và khi các hoạt động du lịch được phổ biến rộng rãi, sẽ tồn tại những mối quan ngại như du lịch không lành mạnh, chất lượng dịch vụ yếu kém, làm ảnh hưởng tới du khách…Rồi khâu quản lý từ lúc duyệt dự án cho đến khi hoàn thành nếu không chặt chẽ sẽ không ngăn ngừa được tình trạng hoạt động không có hiệu quả; hay những trường hợp đầu tư không hiểu biết, không nắm vững thị trường dẫn đến việc thua lỗ nặng như đã xảy ra với một số các công ty du lịch tư nhân…Tất cả những vấn đề này đỏi hỏi việc thực thi XHHHĐDL, thì người quản lý xây dựng cho mình sự nhạy bén, có phương hướng hoạt động cụ thể rã ràng. Thực tế cho thấy không thể khoán trắng cho các thành phần kinh tế tư nhân. Thí dụ như các dự án du lịch lớn trong Thành phố cần được đặt ra chế độ xét duyệt, lựa chọn phương án chặt chẽ qua từng khâu kiểm duyệt, rồi mới được cấp phép xây dựng và đưa vào sử dụng. Những vấn đề này ít nhiều liên quan đến Luật Du lịch, và Luật Đầu tư…
3.2.4. Đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
- Yêu cầu cấp bách của đổi mới trang thiết bị, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.
Trong hoạt động du lịch nói chung, mối quan hệ hữu cơ, sự tác động qua lại giữa các yếu tố hạ tầng, trang thiết bị đạt tới mức trực tiếp, mạnh mẽ, không thể tách rời nhau. Vì du lịch là một ngành nhằm thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của du khách, vậy nếu trang thiết bị không hiện đại, cơ sở hạ tầng không đâu tư thì sẽ không đi kịp thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá của đất nước, không đi kịp với nhu cầu của đại đa số khách du lịch.
Trong hội nghị triển khai công tác ngành năm 2010 mới đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có những đề xuất Chính phủ cho tiếp tục chương trình hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011- 2015 theo hướng tập trung ưu tiên tại một số địa phương có khu du lịch quốc gia, địa bàn trọng điểm du lịch, các điểm du lịch có khả năng thu hút nhiều khách ở vùng phụ cận các trung tâm du lịch; hình thành các tua, tuyến du lịch liên hoàn giữa các vùng du lịch trọng điểm, giữa các địa phương. Tập trung dứt điểm các công trình chuyển tiếp để phát huy hiệu quả dự án đầu tư và nghiên cứu ban hành cơ chế nhằm huy động các nguồn lực đầu tư CSHT du lịch, giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước.
Ðể nâng cao tính hiệu quả của vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch, ngành du lịch Thành phố sẽ phải tập trung chủ động xây dựng quy hoạch đầu tư CSHT du lịch, căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của Thành phố; đưa ra được các dự án ưu tiên đầu tư cho từng năm của giai đoạn tới, các dự án thuộc địa bàn trọng điểm phát triển du lịch để tạo nên được các khu du lịch nổi trội, có thương hiệu, có tính cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.
Thành phố nên xây dựng cơ chế huy động vốn đầu tư CSHT du lịch từ việc đấu giá quyền sử dụng đất, phát hành trái phiếu; thực hiện hình thức BOT (xây dựng – khai thác – chuyển giao) trong việc đầu tư CSHT du lịch gắn với các cơ sở dịch vụ kinh doanh du lịch; điều tiết các khoản thu ngân sách địa phương và có cơ chế về sử dụng các ưu đãi đầu tư trong đầu tư phát triển CSHT du lịch… Các địa phương cũng nên xây dựng một chương trình cụ thể về vận động nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các dự án CSHT du lịch.
Bên cạnh đó, công tác quản lý đầu tư CSHT du lịch cần được nhanh chóng chấn chỉnh lại theo hướng phát huy trách nhiệm của Sở Văn hoá Thể thao & Du lịch Thành phố là đầu mối trong việc quản lý, từ khâu lập dự án, thẩm định, phân bổ vốn và trong suốt quá trình quản lý, thực hiện dự án; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đầu tư.
Nên đề xuất cơ chế giao kế hoạch và chế độ báo cáo tình hình thực hiện đầu tư CSHT du lịch phù hợp, nhằm bảo đảm đầu tư đúng mục tiêu phát triển, tránh đầu tư dàn trải, phân tán, tăng tính tự chủ của các địa phương trong việc huy động các nguồn vốn và sử dụng ngân sách Nhà nước. Việc giao kế hoạch hằng năm về đầu tư CSHT du lịch nên có danh mục dự án hướng dẫn kèm theo, dựa trên cơ sở thống nhất về mục tiêu phát triển du lịch giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư và UBND Thành phố. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
- Đào tạo nguồn nhân lực:
Vấn đề con người và trình độ nghiệp vụ là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển của ngành du lịch Thành phố. Ngành này đòi hỏi trình độ nghiệp vụ, phong cách và thái độ của người trực tiếp tiếp xúc với khách du lịch rất cao và đặc biệt là các hướng dẫn viên, thuyết minh viên tại điểm du lịch, nhân viên lễ tân, buồng, bàn, bar. Do đó phải tăng cường công tác đào tạo.
Đối với việc đào tạo có thể thực hiện việc XHHHĐDL là tiến hành thử nghiệm huy động nhiều nguồn lực để xây dựng các trường đào tạo. Chẳng hạn như các trường hiện nay đào tạo nguồn nhân lực du lich như: Đại học dân lập Hải Phòng; Đại học Hải Phòng; Cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng; Cao đẳng Cộng Đồng…Thành phố có thể xem xét và cấp phép cho mở và xây dựng những trường chuyên đào tạo nhân lực phục vụ du lịch như trường Cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng, còn hầu hết các trường hiện nay trên địa bàn thành phố chỉ có các khoa trực thuộc như khoa Việt Nam học, khoa Văn hoá du lịch, khoa Du lịch…
Nhưng với vấn đề “trồng người” hết sức quan trọng cho du lịch Thành phố cho nên không thể không đầu tư để khắc phục, cải tiến, đổi mới và xây dựng cơ sơ vật chất cho các cơ sở đào tạo, bởi vì chúng đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Thực tế đòi hỏi trong quá trình XHHHĐDL, trong thực hiện những vấn đề có tính chiến lược thì công tác đào tạo được coi là có tính vĩ mô.
Vấn đề đào tạo lại nguồn nhân lực cũng là một vấn đề lớn hiện nay. Tại thời điểm này Hải Phòng có trên 21 nghìn lao động phục vụ trong ngành, nhưng quá 40% là không qua đào tạo, bởi vậy cần thiết phải có những biện pháp đào tạo lại nguồn nhân lục này bằng cách: tổ chức các câu lạc bộ hiệp hội chuyên ngành, ngoài tổ chức sinh hoạt nghiệp vụ cho hội viên các câu lạc bộ, hội có thể mở các lớp đào tạo ngắn hạn về nghiệp vụ ở dạng nâng cao.
3.2.5. Cơ chế chính sách tài chính đầu tư cho du lịch và XHHHĐDL.
Chính sách tài chính với tầm quan trọng hàng đầu.
Chính sách tài chính có thể nói là đòn bẩy cho du lịch nói chung và cho cả quá trình XHHHĐDL nói riêng.Trong đó điều trước tiên là sự xem xét những chính sách về cấp vốn, vay vốn, thuế, các cơ chế khác, cũng như các chính sách đầu tư thích đáng. Vấn đề này cũng có những giải pháp cụ thể. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
Trước hết, về cấp vốn: do tình hình giá cả có nhiều biến động nên Nhà nước cũng như Thành phố phải có những chính sách bổ sung vốn lưu động cho các dự án du lịch lớn của các công ty là doanh nghiệp của Nhà nước.
Về vay vốn: nên có những chính sách hạ lãi suất cho vay đối với các cơ sở, các công ty du lịch, cần thiết phải cải tiến chính sách cho vay đối với việc xây dựng các dự án phát triển du lịch Thành phố vì còn nhiều điều bất hợp lý. Ví dụ như lãi suất cho vay của ngân hàng không có gì ưu đãi hơn đối với các ngành khác vay. Mặt khác chu kỳ vay vốn của ngân hàng cũng cần thiết được điều chỉnh thích hợp với chu kỳ xây dựng, đưa vào sử dụng, và thu hồi vốn của các sản phẩm du lịch.
Về Thuế: Thực tế cho thấy, “ cần có chính sách tránh đánh thuế chồng chéo như hiện nay, có thể chỉ đánh thuế một lần qua doanh thu của du lịch. Ngoài ra các loại thuế đất, thuế vốn cũng cần có chính sách ưu đãi hợp lý.Có thể nói nguồn thu từ thuế là đáng kể với một nền kinh tế. Trong quá trình XHHHĐDL Nhà nước chỉ có thể điều tiết bằng pháp luật và thuế. Luật thuế thể hiện bản lĩnh và nguyên tắc chính trị, kinh tế, văn hoá…đối với du lịch. Nếu như Luật là cái tương đối ổn định thì Thuế là cái năng động tương đối. Nó thể hiện chính sách của Nhà nước với du lịch. Nó là công cụ cho Nhà nước tăng thu nhập về ngân sách, chế ngự nhanh những dự án phát triển không phù hợp. Đồng thời nhà nước thiết lập và thực thi hệ thống ngân sách để điều tiết và bảo trợ cho sự phát triển ngành du lịch.
Nhưng cũng chính từ thực trạng khó khăn về tài chính này càng thấy nhu cầu cấp bách của XHHHĐDL trong việc phát huy nội lực ở cơ sở cũng như việc tìm kiếm nguồn vốn. Bởi vì, hoạt động du lịch sẽ tiếp tục ở trong trạng thái thiếu sức sống, thậm chí có thể khó có thể tìm được lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng, nếu như chính sách tài chính và cơ chế tài chính đối với ngành du lịch vẫn cứ theo cơ chế bao cấp với một nguồn kinh phí hoạt động duy nhất từ ngân sách Nhà nước. Vậy ngoài phần chính sách tài chính đã đề cập, phần XHHHĐDL từ góc độ tài chính và đầu tư cần được xem xét như thế nào?
Một trong các nội dung của XHHHĐDL là cần đa dạng hoá hoạt động để khai thác nhiều hơn các nguồn lực tài chính cho hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch được đặt trong bối cảnh nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Phù hợp với bối cảnh ấy hoạt động du lịch không thể và không nên chỉ trông chờ vào một nguồn cấp phát từ ngân sách Nhà nước mà phải đa dạng hoá kết hợp nhiều nguồn tài chính cho hoạt động ( nguồn trong nước, nguồn tài trợ, liên doanh, liên kết…). Nhìn vào mục tiêu và định hướng phát triển hoạt động du lịch thành phố đến năm 2020 của ngành du lịch Hải Phòng như tăng về lượng khách du lịch từ 4250 nghìn lượt lên 6000 lượt khách, tăng về doanh thu từ 527,5 triệu USD lên 2364,0 triệu USD thì có thể thấy được nhu cầu về khối lượng vốn đầu tư lớn. Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn của Nhà nước thì sẽ không thể nào đáp ứng được. Vì vậy đòi hỏi có chính sách tài chính mạnh mẽ, cởi mởi, và thông thoáng hơn nữa để hấp dẫn, thu hút động viên các nguồn vốn khác trong xã hội cho các mục tiêu phát triển du lịch thành phố.
Điều quan trọng là việc cho phép thành lập với cơ chế tài chính ưu đãi thí điểm một số các công ty du lịch tư nhân, cổ phần, các dự án du lịch lớn…nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động du lịch.
Chính sách khuyến khích XHH nhằm thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật ngành du lịch. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
Ngày 19/08/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định 73/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao…( trong đó có du lịch). Chính sách này mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội…Ngoài việc khai thác đa dạng các nguồn đầu tư trong nước còn có việc kahi thác đầu tư nước ngoài. Nhưng đầu tư nước ngoài cũng cần thiết có những nguyên tắc rõ ràng. Chúng ta mở cửa để kêu gọi tư bản nước ngoài đầy tư. Người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đâu phải để xây dựng xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam. Họ đến vì có lợi, họ được một phần kha khá giá trị thặng dư đem về nước. Chắc không sai khi có một người nói họ đến bóc lột công nhân. Đây chỉ là một vế nhưng còn một vế nữa là dù đau nhưng chúng ta cũng được lợi. Đời sống nhân dân một phần được cải thiện, kinh tế đất nước một phần được phát triển. Vậy nên những đối sách để kêu gọi đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết.
Nhưng để các công ty du lịch, hay các nhà đầu tư phát huy được nội lực cần thiết thì đòi hỏi phải áp dụng cơ chế kinh doanh đa năng để tăng nguồn thu. Cụ thể là đối với mỗi một công ty du lịch, một khách sạn, hay một khu du lịch có thể tạo ra nhiều sản phẩm du lịch, để tận dụng tối đa cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng như tận dụng sức lao động trí óc và chân tay của toàn bộ nguồn nhân lực của công ty,hay khách sạn. Khuyến khích các công ty, khu du lịch không chỉ trông chờ vào nguồn tài trợ của Nhà nước để các khu du lịch có thể hoạt động bằng nhiều nguồn vốn khác. Ngoài ra họ còn có thể kinh doanh tổng hợp với mức thuế ưu đãi để tạo nguồn thu cho các dự án du lịch mới.
Tiểu kết chương III
Qua những thực trạng đã nêu nên ở chương hai của khoá luận, ta đã thấy được những mặt mạnh và mặt tồn tại của công tác XHHHĐDL nên trong chương ba, tác giả đã nêu nên một số các viện pháp để nâng cao tính xã hội hoá trong các hoạt động du lịch của Thành phố Hải Phòng.
- Trước tiên phải kể đến việc tuyên truyền quảng bá và nâng cao trách nhiệm của mọi người đối với các hoạt động du lịch
- Hai là phải đổi mới cơ chế, cấu trúc và phương thức hoạt động của XHHHĐDL.
- Ba là phát huy vai trò chủ đạo của Nhà nước ( Thành phố).
- Bốn là đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực.
- Năm là thay đổi cơ chế chính sách tài chính đầu tư cho du lịch và XHHHĐDL.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
Với những vấn đề đã được phân tích và qua kinh nghiệm thực tiễn thực hiện XHHHĐDL ở một số địa phương, trên nhiều bình diện và bằng nhiều phương thức, có thể khẳng định lại nguyên tắc của XHHHĐDL. Đó là từ chỗ Nhà nước bao cấp, thống nhất quản lý, du lịch chuyển sang thể chế Nhà nước cùng với các tập thể cá nhân cùng tham gia vào các hoạt động du lịch, tức là XHHHĐDL.
Cần khẳng định rằng xã hội hoá trong một đất nước đang tiến lên công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình tất yếu. Du lịch là một ngành dịch vụ nhưng cũng là một ngành công nghiệp nên nó mang tính sản xuất vật chất. Vì vậy, một trong những thước đo trình độ phát triển của một ngành sản xuất là mức độ xã hội hoá cao hay thấp, nói cách khác mức độ XHH thể hiện trình độ phát triển của đất nước, của Thành phố đó được công nghiệp hoá – hiện đại hoá đến mức nào. Hai quá trình này liên quan một cách hữu cơ.
Bởi vậy bản thân tác giả mong rằng công trình nghiên cứu này đóng góp một phần nhỏ vào công tác XHHHĐDL ở Thành phố Hải Phòng, để ngành phát triển, tận dụng tránh để lãng phí nguồn tài nguyên du lịch của Thành phố, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận người dân. Khóa luận: Giải pháp xã hội hoá hoạt động du lịch tại Hải Phòng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Nâng cao tính xã hội hoá trong các hoạt động du lịch

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
